Ởtrên địa cầu Loc xo là đường xoắn ốc, vì vậy để dễ dàng thao tác thì phépchiếu phải bảo đảm yêu cầu đường loc xo trên hải đồ là đường thẳng 6.1.3 Độ biến dạng phép chiếu phải nằm trong
Trang 1V - ĐƯỜNG LOC XÔ
Đường Lốc xô trên địa cầu là một đường xiên, luôn cắt các kinh tuyến
dưới những góc có giá trị không thay đổi
Nếu dẫn tàu theo đường lốc xô sẽ rất tiện lợi vì hướng chạy tàu đượcgiữ nguyên, không phải bẻ lái liên tục để thay đổi hướng trong quá trình hànhhải
5.2 Phương trình đường Lốc xô trên địa cầu
Giả sử tàu hành trình từ điểm A đến điểm B theo hướng không đổi H Kẻ các kinh tuyến và vĩ tuyến qua 2 điểm A,B Nếu coi đoạn AB là mộtcung lốc xô vô cùng bé thì tam giác ABC coi như một tam giác phẳng, và ta có:
) sin 1
( cos
) sin )(cos
1 ( 2
1
2 2
2 2
e
Và:
Trang 2
2 1 2
1
2
1 2
) 2 4 ( ln ) 2 4 (
) 2 4 ( )
2 4
2
) 2 4 cos(
) 2 4 cos(
) 2 4 sin(
2 ) 2 /
sin(
2 1 :
) sin 1
(
cos cos
dtg d
ctg
d d
d
I
Ì Í I ra Chia d
e
e d
1
1 1
1
2
2 2
e e
1
1 1 2
e e
C
B
B
C
H A
(4.5)
Trang 31- Khi tàu chạy dọc theo kinh tuyến (1 =2 ) thì H=0, đường kinh tuyến và đường lốc xô sẽ trùng nhau
Điều đó chứng tỏ rằng đường Loc xo là một đường xoắn ốc tiến dần vềcực trái đất Song, Loc xo không bao giờ đi tới cực vì khi 2=90 thì giá trị 2 -
2 =, điều đó không thể có
Hình 43 Lốc xô trên địa cầu
6.1 Những yêu cầu đối với phép chiếu
6.1.1 Ở trên hải đồ đi biển chúng ta sẽ tiến hành thao tác đường tàuchạy (kẻ hướng đi), thao tác các đường phương vị, đo khoảng cách tới mụctiêu, hay đo góc kẹp giữa chúng Muốn làm được điều đó thì các gía trị góckẹp ngoài thực địa và trên hải đồ phải bảo đảm sao cho chúng bằng nhau
Điều đó có nghĩa là phép chiếu hải đồ phải bảo đảm tính đẳng giác.
Trang 46.1.2 Tàu phải dẫn theo đường Loc xo để tránh đổi hướng liên tục Ởtrên địa cầu Loc xo là đường xoắn ốc, vì vậy để dễ dàng thao tác thì phép
chiếu phải bảo đảm yêu cầu đường loc xo trên hải đồ là đường thẳng
6.1.3 Độ biến dạng phép chiếu phải nằm trong giới hạn cho phép đểdễ dàng sử dụng các đơn vị đo trong phạm vi hải đồ mà không ảnh hưởng đến
độ chính xác cần thiết.
Người ta thấy rằng sử dụng phép chiếu hình tru,ï pháp tuyến, đẳng giác
do nhà bác học Mercator đề xướng thỏa mãn được các yêu cầu nói trên
6.2 Cơ sở của phép chiếu Mercator
6.2.1 Đặt vấn đề
Cho một hình trụ bao quanh trái đất hình Spheroid, tiếp xúc tại xích
đạo, tâm chiếu đặt tại tâm trái đất Chiếu một diện tích VCB ABCD được giới hạn bởi 2 kinh tuyến và 2 vĩ tuyến lên mặt trụ, được hình chiếu là abcd
“Trải” mặt trụ trên mặt phẳng, hình chiếu của các kinh tuyến dọc theođường sinh mặt trụ là những đường thẳng song song với nhau, các vĩ tuyếncũng song song với nhau và vuông góc với các đường kinh tuyến (H 40)
6.2.2 Xét các điều kiện để phép chiếu bảo đảm các yêu cầu
của hải đồ 6.2.2.1 Điều kiện đẳng giác của phép chiếu
Để cho đơn giản, người ta chọn tỉ lệ chuẩn cho toàn bộ phép chiếu C =
1 và lấy tại xích đạo Lúc đó:
- Độ tăng tỉ lệ xích dọc theo kinh tuyến: m = ad/AD
- Độ tăng dọc theo vĩ tuyến : n = ab/AB
Ps
Trang 5
Hình 44 Phép chiếu Mercator
Trong hình 40 ta thấy:
ad = D (Hiệu 2 vĩ độ trên mặt phẳng chiếu)AD= M = ( a e( sine )) /
1 1
Muốn có điều kiện đẳng giác thì độ tăng tỉ lệ xích dọc theo kinh tuyến
và vĩ tuyến phải bằng nhau: m = n Nghĩa là:
2
Trang 6D trong công thức (4.6) là khoảng cách tính từ xích đạo tới một vĩ tuyến
nào đó trên hình chiếu (hải đồ)
Như vậy để bảo đảm tính đẳng giác cho phép chiếu hải đồ thì các vĩ tuyến phải cách đường xích đạo một khoảng cách theo quy luật của công thức (4.6)
6.2.2.2 Vĩ độ tiến
Ở trên hải đồ Mercator, khoảng cách tính từ Xích đạo tới một vĩ tuyến
nào đó (D) được gọi là Vĩ độ tiến
Vĩ độ tiến có thể được đo bằng bất kỳ đơn vị chiều dài nào, nhưngtrong hàng hải người ta chọn đơn vị đo là chiều dài 1 phút cung xích đạo
(Thường gọi là hải lý xích đạo) Thay giá trị của bán kính xích đạo R vào công
thức (4.6) và chuyển đổi sang cơ số mười logarit trong công thức ta được:
sin 1 )(
2 4 ( lg 705 ,
e
e tg
6.2.2.3 Hiệu vĩ độ tiến
Hiệu vĩ độ tiến là khoảng cách giữa 2 vĩ độ nào đó trên hải đồ
Mercator Nếu kí hiệu D1 là giá trị vĩ độ tiến tại vĩ độ 1, D2 là vĩ độ tiến tại vĩđộ 2 , hiệu vĩ độ tiến là :
Ht = D 2 – D 1 (hlý xích đạo)
6.3 Điều kiện hình chiếu đường Loc xô là đường thẳng
Phương trình tổng quát của đường thẳng có dạng:
y2 – y1 = A (x2 - x1)
76 (4.6)
Trang 7Nếu thay A = tgH; y1= a1; y2 = a2 (a: bán kínhcong cung xích đạo, chọn bằng 1 đơn vị), và:
x1 = D1; x2 = D2 vào phương trình đường thẳng, sẽ có:
1
2
2 2
e e
1
1
1 2
e e
e
}
Hình 45 Vĩ độ tiến và hình chiếu đường Lốc xô
So sánh với phương trình (4.5) ta thấy (4.8) chính là phương trình đườngLocxo Hay nói một cách khác, phép chiếu hình trụ pháp tuyến đảm bảo được
điều kiện hình chiếu của đường lốc xô là đường thẳng.
6.4 Đường Oác tô
Đường ngắn nhất nối 2 điểm trên địa cầu gọi là đường Oác tô Nếu coi
trái đất có dạng Spheroid thì đường đó gọi là đường trắc địa, còn nếu coi tráiđất là hình cầu thì đó chính là một cung vòng lớn
Xét trên địa cầu:
Trong tam giác cầu vuông ABN (H37), công thức liên hệ giữa 2 cạnhgóc vuông và một cạnh là : tg = tg(90-Ho) sin (1 -0)
tg = ctg Ho sin (1 -0)
tg Ho = sin (1 -0) ctg (a)Trong phương trình (a), thấy rằng: khi kinh độ, vĩ độ thay đổi thì giá trị
Ho cũng thay đổi theo Điều đó có nghĩa là hướng của đường Oác tô là một đạilượng biến đổi, không cố định như hướng của đường Locxo, vì vậy sử dụng nóđể dẫn tàu không thuận tiện
Giả sử đường Octo trên hải đồ Mercator là một cung cong qua 2 điểnA,B
2
1
Trang 8Đặt trục Y trùng với xích đạo, trục X trùng với kinh tuyến (h 42)
Hình 46 Tìm phương trình đường Oác tô Nếu coi trái đất là địa cầu, ta có tọa độ điểm B như sau: X=D= Rln tg (/4 + /2) (vì độ lệch tâm e=0) Y= R. = R.( 1 -0) = R1 - R0 Nếu coi R = 1 thì (Y1 = 1 ; Yo = 0 ) và: X= ln tg (/4 + /2) eX = tg (/4 + /2) (b) Biến đổi (a) : - tg = ctg (90 + ) = ctg2(/4 + /2), hay: tg tg tg tg tg tg tg 1 2 4 2 1 2 4 2 1 4 2 1 4 2 2 4 2 2 2 ( ) ( ) ( ) ( ) ( ) (c) Thay (c) vào (b) ta có:
e
e e
tg e e shX
x x
2
(d)
So sánh (d) với (a) thấy rằng phương trình hình chiếu của đường octo trong phép chiếu Mercator có dạng Hypebol Vậy trên hải đồ Mercator hình chiếu của đường Oác to là một đường cong dạng hypebol, có bề lồi quay về cực (h.43)
78
Trang 9Hình 47 Hình chiếu đường Oác tô trên hải đồ Mercator
VII ĐO KHOẢNG CÁCH TRÊN HẢI ĐỒ MERCATOR
Trên mỗi hải đồ có khung ngang và khung dọc Khung ngang ghi giá trịkinh độ, các kinh tuyến phân bổ một cách đều đặn và được chia tới phút Trênkhung dọc người ta ghi giá trị vĩ độ và được chia thành từng phút, tương ứng
mỗi phút là một hải lý Mercator Trên hải đồ Việt nam thì mép trong là đơn vị
hải lý còn mép ngoài ghi đơn vị hệ mét (Kilomet)
Do đặc điểm biến dạng của hải đồ Mercator như đã phân tích ở cácphần trên, giá trị độ dài 1 phút cung kinh tuyến thay đổi dọc theo kinh tuyến
Vì vậy nếu chỉ sử dụng cùng một đơn vị độ dài để đo khoảng cách giữa 2 điểmcách xa nhau trên hải đồ sẽ gây ra sai số lớn Đặc biệt khi 2 vị trí đo đạc cách
xa nhau theo hướng kinh tuyến Để khắc phục, người ta nêu ra một số phươngpháp sử dụng như sau:
Phương pháp I
“Xoay” đoạn Loc xô cần đo song song với kinh tuyến, gióng 2 đầu mútcủa đoạn thẳng lên khung dọc hải đồ, gía trị đọc được trên khung dọc giữa 2điểm là khoảng cách cần đo (Trong thực tế ta sử dụng compa đo trực tiếp trênđoạn thẳng, sau đó đăït lên khung dọc hải đồ tại vị trí gần tương xứng với 2 đầumút của đoạn thẳng đó)
Đây là phương pháp thường dùng nhất
Phương pháp này có sai số, xác định bằng:
Oác tô
Lốc tô Oác tô
Trang 10Phương pháp 2: Gióng điểm giữa của đoạn đo sang khung dọc hải đồ,lấy đơn vị hải lý ngay tại đó để làm đơn vị đo cho cả đoạn Đây là phươngpháp thường dùng khi đoạn thẳng cắt kinh tuyến ở góc tương đối lớn.
Sai số của phương pháp:
Hình 48 Đo khoảng cách trên hải đồ Mercator
8.1 Đặt vấn đề
Ở các vùng có vĩ độ cao, nếu sử dụng phép chiếu Mercator để biểu diễnmặt đất thì độ biến dạng rất lớn Mặt khác, hình chiếu của các cung vòng lớn,đường Oác tô trên hải đồ Mercator là những đường cong, việc thao tác nó rấtkhó khăn Trong lúc chúng ta cần chúng là những đường thẳng để thao tácđược đơn giản hơn
Phép chiếu phương vị phối cảnh Gnomonic giải quyết được những thiếu sót trên của phép chiếu Mercator.
8.2 Tính chất của phép chiếu Gnomonic
Cho một mặt phẳng tiếp xúc với địa cầu ở tại một điểm nào đó, giả sử làZ’ Để đơn giản ta chọn điểm tiếp xúc tại cực trái đất Tâm chiếu trùng tâm
A B
Trang 11trái đất, coi trái đất có hình dạng cầu Chiếu các đường kinh, vĩ tuyến và cáccung cong lên mặt phẳng chiếu ta được:
Cung Z’A thành Z’A’; Z’B thành Z’B’ Để xét xem phép chiếu có tínhđẳng giác hay không, ta xét độ tăng tỉ lệ xích dọc theo kinh tuyến và vĩ tuyến.Lưu ý rằng AB chính là một đoạn cung vĩ tuyến
Giả sử độ tăng tỉ lệ xích dọc theo kinh tuyến là m, dọc theo vĩ tuyến là n,
m = Z’B’/Z’B = / Z’B hay m = / R Z , nếu xét cho một đoạn nhỏ:
m = d / R.dZ (4.12)Giả sử trên thực địa có góc cầu kẹp giữa 2 cung Z’A và Z’B với giá trị
Tương tự: n = A’B’/AB = / EB D = / RsinZ D
(4.13)Thay = Rtg Z hay d = Rsec2Z dZ vào (4.12) và (4.13) ta có:
+ m= sec 2 Z
+ n = sec Z
Như vậy m n Chứng tỏ phép chiếu không đẳng giác.
A’
R
Z
Trang 12Hình 49 Phép chiếu Gnomonic
8.3 Hình chiếu của các cung vòng lớn, các kinh tuyến trên hải đồ Gnomonic
Trong trường hợp điểm tiếp xúc với mặt phẳng chiếu là một điểm Z bấtkỳ trên mặt đất Giả sử cho Z nằm giữa mặt phẳng chiếu (hải đồ) Kinh tuyến
đi qua tâm hải đồ được gọi là kinh tuyến trung tâm.
Chọn các điểm: P (cực trái đất), A( một điểm bất kỳ, là giao của kinhtuyến trung tâm và một cung vòng lớn); T (giao của 2 cung vòng lớn); K( giaocủa vòng thẳng đứng và một kinh tuyến) là góc kẹp giữa 2 kinh tuyến tạicực (hiệu kinh độ)
Ta thấy một cách trực quan rằng các đường pZ; pt; at; Zk là hình chiếu
của các cung vòng lớn (kể cả kinh tuyến), chúng đều là đường thẳng Đó làcác giao tuyến của mặt phẳng chiếu với một mặt phẳng đi qua tâm hình cầu
Riêng hình chiếu của các kinh tuyến sẽ gặp nhau tại hình chiếu của cực(p)
t k
Trang 13
Hình 50 Hình chiếu các cung vòng lớn trên hải đồ Gnomonic
8.4 Hình chiếu các vĩ tuyến
Hình 51 Hình chiếu các đường vĩ tuyến trong phép chiếu GnomonicXét tại một điểm T bất kỳ Qua T vẽ một vĩ tuyến (aTC), một cung vòng lớn (ZT) và 1 kinh tuyến (PT) Xét tam giác cầu ZPT và tìm phương trình của hình chiếu đường vĩ tuyến đi qua điểm T, thấy rằng:
+ Khi T < 90 - Z : thì hình chiếu của vĩ tuyến là những đường hypebol
+ Khi T = 90 - Z Parabol
-+ Khi T > 90 - Z elip
-(Trong tài liệu này chúng tôi không giới thiệu phần gỉai để tìm phươngtrình hình chiếu của đường vĩ tuyến đi qua T vì tương đối dài, mà chỉ lấy phầnkết luận để ứng dụng)
Kết luận:
- Phép chiếu Gnomonic là phép chiếu địa cầu lên mặt phẳng
- Phép chiếu không đảm bảo tính đẳng giác và đẳng tích
Y p t
A R
P
Z
T
a Z
Trang 14- Hình chiếu của đường Oác tô nói riêng và của các cung vòng lớn là những đường thẳng
- Hình chiếu của các đường kinh tuyến là những đường thẳng quy tụ tại 1 điểm Hình chiếu của các vĩ tuyến là những cung hypebol, parabol hoặc elip (phụ thuộc vào mối quan hệ tương quan giữa điểm đang xét (T) và điểm trung tâm (Z)
9.1 Phân loại hải đồ
Bản đồ phục vụ cho mục đích hàng hải gọi là Hải đồ Hải đồ được phânloại dựa vào các cơ sở sau:
Phân loại theo phép chiếu
- Hải đồ Mercator (theo phép chiếu Mercator)
- Hải đồ Gnomonic (dựa vào phép chiếu Gnomonic)
- Hải đồ theo phép chiếu hình nón
Phương pháp kỹ thuật
- Hải đồ giấy: là các hải đồ bằng giấy vẫn dùng rất phổ biến hiệnnay, được xuất bản thông qua in ấn
84
Trang 15- Hải đồ điện tử: Thông qua công nghệ kỹ thuật số và tin học đểsản xuất hải đồ Nó có rất nhiều ưu điểm so với hải đồ bằng giấy nhưng cònmôt số vấn đề về mặt kỹ thuật và gía thành nên chưa thể thay thế hoàn toànhải đồ giấy trên đội tàu biển thế giới (sẽ giới thiệu sau)
Phân loại theo công dụng (theo mục đích sử dụng)
9.1.1 Dựa vào công dụng, hải đồ có thể phân ra các loại sau:
9.1.1.1 Hải đồ tham khảo: thường sử dụng phép chiếu Mercator
hay phép chiếu Gnomonic với tỉ lệ xích rất nhỏ (<1:1.000.000), biểu diễn mộtkhu vực rộng lớn trên bề mặt Trái đất, như các bản đồ về độ lệch địa từ, bảnđồ khí hậu, hải lưu, bản đồ thời tiết , và sử dụng cho mục đích tham khảo,không dùng để dẫn tàu
9.1.1.2 Hải đồ hàng hải:
Dưa vào tỉ lệ xích và mục đích phục vụ dẫn tàu, ở các nước khác nhaucó cách phân loại có thể khác nhau
Hải đồ Việt nam:
- Tổng đồ: Tỉ lệ xích thường nhỏ hơn 1:500.000, bao trùm khu vực rộng,
trên đó không thể hiện hết các đặc điểm vùng biển như độ sâu, tính chất đáy
Vì tỉ lệ xích nhỏ nên sai số về khoảng cách tương đối lớn và hình dạng của cácmục tiêu cũng như những thông tin trên hải đồ này không được chính xác.Người ta sử dụng nó để hành hải xa bờ - những khu vực không có hải đồ đibiển, và dùng để kẻ đường đi sơ bộ giữa hai vị trí cách xa nhau trên tuyến hànhtrình
- Hải đồ ven biển: Tỉ lệ xích thường từ 1:200.000 - 1:300.000 Trên hải
đồ này thể hiện khá chi tiết về địa hình, đáy biển, bố trí mục tiêu, các hảiđăng, phao tiêu Độ chính xác cho phép dùng để thao tác đường đi của tàu vàdùng để hành trình gần bờ
- Các hải đồ có tỉ lệ xích lớn, thường có tỉ lệ lớn hơn 1:100.000 Đây là
những hải đồ chi tiết, biểu diễn một khu vực nhỏ nào đó như vùng cảng, eobiển, những nơi có nhiều chướng ngại vật mà mật độ giao thông lớn Hải đồbiểu diễn đầy đủ các mục tiêu, các công trình trên biển, các khu vực quy địnhcho việc neo đậu tàu, kiểm dịch, khu vực làm hàng Độ chính xác của hải đồlớn, nhưng bao phủ trên một diện tích nhỏ, vì vậy người ta chỉ dùng khi phảihành hải qua khu vực đó
Những hải đồ có tỉ lệ xích lớn (1: 10.000) còn được gọi là bình đồ Ví dụ
bộ hải đồ luồng Sông Sài gòn từ Vũng tàu đến cầu Sai gòn có 9 tờ
Hải đồ của Vương quốc Anh (được chia thành 2 loại)
.1 Hải đồ hàng hải:
- Ocean charts: có tỉ lệ từ 1:1.800.000 đến 1:5.000.000, được sử dụng để
diễn đạt một khu vực lớn, có tính tham khảo và kẻ đường đi sơ bộ để chọn cáchải đồ cho tuyến hành trình
Trang 16- General charts: có tỉ lệ từ 1: 350.000 – 1:3.500.000, sử dụng để hành
hải ngoài khơi
- Coast charts: có tỉ lệ từ 1:50.000 – 1:350.000, sử dụng cho tàu hành hải
ven bờ với độ chính xác khá cao
- Plan charts: có tỉ lệ từ 1: 1.000 – 1:25.000, dùng diễn đạt các khu vực
nguy hiểm
- Special charts (Hải đồ chuyên dụng): tỉ lệ từ 1:750.000 – 3.500.000, sử
dụng cho một mục đích riêng nào đó như hải đồ biểu diễn các mạng lưới đẳngtrị của hệ thống vô tuyến điện hàng hải (hải đồ Decca, Hải đồ LoranC ) Hảiđồ này cũng có tỉ lệ xích thường từ 1:300.000 hoặc nhỏ hơn, nhưng chỉ dùng đểxác định vị trí tàu, không nên dùng để thao tác đường đi và dẫn tàu, vì trên đókhông thể hiện đầy đủ các thông tin và chướng ngại vật
- Hải đồ trắng (ploting sheets): Đây là những tờ hải đồ được dựng theo
phép chiếu Mercator, trên đó chỉ có các đường kinh tuyến và vĩ tuyến, khôngthể hiện một thông tin nào khác như các hải đồ bình thường Chúng được sửdụng để hành hải ở các khu vực ngoài đại dương Hải đồ trắng được xây dựng
dọc theo vĩ tuyến vì chúng phân bố theo quy luật vĩ độ tiến Các kinh tuyến
được phân bố cách đều ở tại mọi khu vực trên địa cầu Cũng chính vì nguyêntắc này, khi hướng chạy tàu gần song song với các vĩ tuyến thì chỉ cần dùngmột tờ hải đồ là đủ Khi tàu đã đi hết phạm vi của hải đồ, chúng ta sử dụng lạitờ hải đồ đó với các gía trị của vĩ tuyến được giữ nguyên, còn các gía trị kinhtuyến cũ được thay thế bằng các giá trị mới tương ứng (sử dụng bút chì để ghikinh độ của các đường kinh tuyến)
Khi tàu hành trình cắt các vĩ tuyến thì lại phải thay các tờ hải đồ tiếptheo nếu chúng ta đã vượt ra khỏi phạm vi hải đồ cũ
Hải đồ trắng có thể đặt mua ở các đại lý hoặc tự dựng lấy trên tàu theonguyên lý của phép chiếu Mercator Nếu phải dựng, chúng ta phải chọn các
đại lượng: tỉ lệ hải đồ, vĩ độ chuẩn, đơn vị hải đồ, các kinh tuyến và vĩ tuyến giới hạn cho biên của hải đồ
- Sổ danh mục hải đồvà danh mục các ấn phẩm hàng hải ( Catalogues
of Admiralty charts and publications)
Sổ Danh mục này dùng để tìm kiếm các hải đồ và ấn phẩm hàng hảicần thiết (hải đồ hàng hải, các hải đồ tham khảo, một số xuất bản phẩm hànghải và thông tin khác) Các nước xuất bản hải đồ sẽ có sự bố trí danh mụckhác nhau, tuy nhiên mục đích thì giống nhau Danh mục hải đồ xuất bản hàngnăm để cung cấp thông tin về tất cả các số hải đồ hiện có cũng như những xuấtbản mới, bao trùm các khu vực địa lý của đại dương thế giới (Hải đồ hàng hảicủa Anh có khoảng 3400 tờ để bao phủ tất cả các vùng biển thế giới và khoảng
600 tờ hải đồ chuyên dụng cho hệ thống hàng hải vô tuyến điện) Để tìm kiếmhải đồAnh, trước hết các sỹ quan hàng hải phải tìm khu vực biển thế giới màmình đang quan tâm, chúng được phân vùng theo thứ tự (từ A đến X) Từ đó cóthể tìm được các hải đồ có tỉ lệ xích nhỏ Các hải đồ có tỉ lệ xích lớn hơn sẽ
86
Trang 17nằm trong phạm vi của hải đồ có tỉ lệ xích nhỏ Trong phần 2 của Sổ danh mụclà tên các vùng, từ đó tìm được các trang Trong mỗi trang của vùng là danhsách các hải đồ, gồm các thông tin: số hải đồ, tiêu mục của tờ hải đồ (ghi khuvực từ đâu tới đâu), tỉ lệ xích, tháng năm phát hành, tháng năm xuất bản mới(nếu có) Các hải đồ trong khu vực được đóng khung nối tiếp nhau và ghi sốngay góc khung
Trong thời gian xuất bản Sổ danh mục có thể có những thay đổi hayxuất bản mới về hải đồ, về các ấn phẩm, khác với nội dung của sổ Để cậpnhật sỹ quan hàng hải cần dựa vào Thông báo hàng tuần cho người đi biển(ANM) và hiệu chỉnh vào mẫu cho sẵn trong sổ danh mục này
.2 Hải đồ tham khảo (Thematic charts): Meteorological charts,
routeing charts, Astronomical charts, manegtic variation charts, tidalcharts…
Hải đồ Mỹ, phân loại theo NOS (National Ocean Service)
- Sailing charts: có tỉ lệ xích nhỏ (<1:600.00), dùng để kẻ đường đi, xác
định vị trí tàu khi hành trình ngoài khơi, dự đoán đường đi, nó chỉ biểu diễnđược ít chi tiết
- General charts: dùng hàng hải ở vùng biển gần bờ Tỉ lệ xích từ
Số của hải đồ Mỹ:
- Loại 2 số: hải đồ đặc biệt, là những hải đồ có tỉ lệ xích nhỏ
(1:9.000.000 và nhỏ hơn) Một số hải đồ tham khảo lấy 2 số, từ 30 đến 49 và
70 đến 79
Ví dụ số 33: bản đồ địa từ trường, 42: bản đồ độ lệch địa từ, 76: bản đồphân múi giờ thế giới
- Loại 3 số: có tỉ lệ từ 1:2.000.000 đến 1:9.000.000, thường là hải đồ
trắng, xây dưng dọc theo vĩ tuyến, dùng chung cho mọi kinh tuyến
- Loại 4 số: hải đồ đặc biệt, ví dụ chart 5101; hải đồ Gnomonic vùng Bắc
đại tây dương; 7707: hải đồ Omega
- Loại 5 số : có tỉ lệ từ 1:2.000.000 và lớn hơn, là hải đồ đi biển Những
hải đồ này được đánh số như sau: Số đầu tiên chỉ số vùng bao phủ trênthế giới (từ 1 đến 9), 2 số tiếp theo chỉ phân vùng, 2 số cuối chỉ vị tríđịa lý trong phân vùng
Theo khung chuẩn của thế giới, những hải đồ đi biển được dựng với tỉlệ từ 1: 250.000 hoặc lớn hơn (Một số nước lấy tỉ lệ 1:2000.000) Các số thứ
Trang 18tự phân vùng địa lý được sắp xếp theo quy luật ngược chiều kim đồng hồ dọctheo biển xung quanh các vùng đất liền.
Hải đồ quốc tế – International Charts (INT)
Nhu cầu hiểu và sử dụng hải đồ của các nhà hàng hải cũng như nhữngngười sản xuất hải đồ ở các nước khác nhau ngày một tăng Các quốc gia pháttriển hàng hải đã tự mình sản xuất và biên soạn hải đồ dựa vào số liệu khảosát của các cơ quan thủy văn của nước mình Với yêu cầu thống nhất về khảosát, xây dựng và xuất bản hải đồ, đại diện cho 20 cơ quan thủy văn của cácquốc gia đã nhóm họp tại Luân đôn năm 1919, và vào 1921 tại Monaco đãthành lập Cục Thủy văn quốc tế – International Hydrographic Bureau (IHB),ngày nay đổi thành Tổ chức Thủy văn Quốc tế (IHO)
Bằng sự cố gắng của tổ chức này và của các nước thành viên, IHO đãgiới thiệu Hải đồ Quốc tế đầu tiên vào năm 1967 83 hải đồ tỉ lệ xích nhỏ đãđược phê chuẩn, sau đó cơ quan thủy văn các nước thành viên chịu tráchnhiệm biên soạn các hải đồ khác Khi một nước thành viên xuất bản hải đồquốc tế thì các nước thành viên khác có quyền sao chép lại Trên đầu mục hảiđồ có in chữ “INT”
Hải đồ là một phương tiện không thể thiếu trong việc điều khiển tàu,nhưng mức độ tin cậy của chúng thì lại khác nhau Để đánh giá mức độ tin cậycủa một hải đồ cần phải xét tới các yếu tố sau:
9.2.1 Thời gian giám định số liệu khảo sát và thời gian tu chỉnh hải đồ:
Những hải đồ mà thời gian giám định càng gần thời gian sử dụng hoặcđã được tu chỉnh mới thì có độ tin cậy càng lớn, vì đầy đủ thông tin nhất.Những hải đồ dựa vào số liệu giám định rất cũ sẽ không chính xác do kỹ thuậtgiám định còn lạc hậu Số liệu ngày, tháng, năm xuất bản và hiệu chỉnh đượcghi ở góc bên trái, phía dưới hải đồ
9.2.2 Tỉ lệ hải đồ:
Hải đồ có tỉ lệ xích càng lớn thì càng thể hiện được chi tiết và độ chínhxác càng cao
9.2.3 Giá trị độ sâu ghi trên hải đồ:
Nếu độ sâu được ghi một cách liên tục, có hệ thống, mật độ dày đặc thìchứng tỏ đáy biển đã được khảo sát kỹ càng và độ tin cậy sẽ cao
Hải đồ có những khoảng trống không được ghi độ sâu hoặc có nhữngđường đẳng sâu ngắt quãng thì chứng tỏ việc khảo sát đáy biển chưa đầy đủ vànhư vậy chưa đáng tin cậy
9.2.4 Hình thể và chất của đáy biển:
88
Trang 19Hình thể đáy biển biết được qua độ sâu và chất đáy ghi trên hải đồ ,nếu độ sâu biến thiên đều đặn chứng tỏ đáy biển không phức tạp, không cónhững sự đột biến của núi san hô, núi lửa, đá ngầm Ngoài ra chất đáy là bùn,đất sét, cát, sỏi mịn hay bằng đá… cho ta biết tính chất phức tạp hay thuần túycủa nó để lựa chọn khu vực thả neo hoặc dẫn tàu đi qua.
9.2.5 Nguồn gôùc của hải đồ
Ở những nước có nền khoa học kỹ thuật phát triển sẽ phát hành nhữnghải đồ có chất lượng cao Tuy nhiên, nhiều khi họ phải sử dụng số liệu do cácnước bản xứ cung cấp (ví dụ hải đồ vùng biển Việt nam do Anh xuất bản đã sửdụng số liệu khảo sát từ các hải đồ của Pháp trước đây) Những hải đồ như vậyvà hải đồ do các nước kém phát triển xuất bản sẽ có độ tin cậy kém
Khi sử dụng hệ thống GPS để xác định vị trí tàu chúng ta cần lưu ý xuấtxứ của hải đồ Hệ thống GPS được xây dựng để xác định toạ độ trên hải đồtheo hệ trắc địa chuẩn WGS-84 Điều đó có nghĩa là nếu sử dụng các hải đồkhông theo hệ này sẽ dẫn đến sai số trong vị trí xác định, cần phải đưa số hiệuchỉnh vào máy phù hợp với chỉ dẫn của máy đó Nếu trên hải đồ có khuyến
cáo rằng việc xác định vị trí tàu bằng hệ GPS sẽ có độ chính xác không xác định được thì ta không được đưa vào tọa độ chỉ báo trên máy thu vào hải đồ mà
phải sử dụng các phương pháp khác để xác định vị trí tàu trực tiếp trên hải đồđó
Trang 20Hình 52 Những chi tiết trên một mảng hải đồ
Chuẩn bị hải đồ cho một chuyến hành trình là việc làm bắt buộc và cầnthiết đối với thuyền trưởng hoặc một sĩ quan dưới quyền được thuyền trưởnggiao nhiệm vụ Theo quy định về chức trách thuyền viên Việt nam thì thuyềnphó 2 có trách nhiệm chuẩn bị hải đồ cho chuyến đi theo lệnh của thuyềntrưởng Chuẩn bị hải đồ một cách chu đáo và chi tiết sẽ giúp cho thuyền trưởngvà các sỹ quan có trước các phương án để điều khiển tàu một cách tin tưởng và
an toàn
Nguyên tắc việc chuẩn bị hải đồ: Đầy đủ – Chính xác – Rõ ràng
9.3.1 Dựa vào kế hoạch chuyến đi, người sỹ quan hàng hải sử dụng
“Danh mục hải đồ” (Catalogue of charts) để chọn đầy đủ số hải đồ, sao chochúng phải bao trùm hết vùng biển mà tàu sẽ hành trình, trong đó bao gồm cácloại hải đồ có tỉ lệ xích phù hợp, những hải đồ chuyên dụng và các hải đồ thamkhảo phục vụ cho việc tra cứu khi cần Những vùng đặc biệt như luồng lạch,vùng cảng, khu vực eo biển cần phải có hải đồ với tỉ lệ xích lớn và độ tin cậycao
9.3.2 Phải tiến hành tu chỉnh hoặc kiểm tra việc tu chỉnh hải đồ trướckhi sử dụng Đọc kỹ những điểm đặc biệt, những khuyến cáo đã ghi trên hảiđồ Sử dụng chì mềm để đánh dấu các mục tiêu sẽ sử dụng xác định vị trí tàu,các phao tiêu, hải đăng cần lưu ý, các khu vực neo đậu theo quy định, các điểmcó độ sâu khác thường , khoanh vùng giới hạn (safety margins) đối với nhữngkhu vực chướng ngại hàng hải Kẻ các đường đẳng trị an toàn (đẳng trị khoảngcách, phương vị, hiệu khoảng cách…) Các đường này cách xa hay gần khu vựcchướng ngại, phụ thuộc các yếu tố: kích thước, mớn nước, tốc độ, hướng đi của tàu, và những yếu tố ảnh hưởng bên ngoài như sóng gió, dòng chảy, bố trícủa các hệ thống đảm bảo an toàn hàng hải Thường sử dụng nhất là đườngđẳng trị khoảng cách (kẻ những đường song song với hướng hành trình, tiếpxúc với mục tiêu đã chọn và ở một khoảng cách an toàn nào đó so với đườngchạy tàu), nhằm sử dụng chức năng PI (Paralel Index) của radar để dẫn tàu.Ngoài ra còn sử dụng các mạng lưới đẳng trị khác (sẽ giới thiệu trong phần
‘DLập kế hoạch hành trình’) Cũng cần tham khảo những ghi chú, thao tác cósẵn của chuyến trước trên hải đồ để sử dụng cho chuyến hiện tại Tuy nhiênmỗi chuyến đi đều không giống nhau về đặc điểm hành trình, vì vậy phải cóchọn lọc
90