1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thử nghiệm trồng và bước đầu đánh giá sinh trưởng phát tri ển cây chò chỉ tại viện nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp – trường đại học nông lâm thái nguyên

62 571 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 870,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỖ CÔNG HUÂN Tên đề tài: “THỬ NGHIỆM TRỒNG VÀ BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CÂY CHÒ CHỈ PARASHOREA CHINENSIS WANG HSIE TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP TRƯỜNG

Trang 1

ĐỖ CÔNG HUÂN

Tên đề tài:

“THỬ NGHIỆM TRỒNG VÀ BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG

PHÁT TRIỂN CÂY CHÒ CHỈ (PARASHOREA CHINENSIS WANG HSIE)

TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Lâm nghiệp Khoa : Lâm nghiệp Khoá học : 2011 - 2015

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

ĐỖ CÔNG HUÂN

Tên đề tài:

“THỬ NGHIỆM TRỒNG VÀ BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG

PHÁT TRIỂN CÂY CHÒ CHỈ (PARASHOREA CHINENSIS WANG HSIE)

TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Lâm nghiệp Khoa : Lâm nghiệp

Khoá học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : TS Trần Công Quân

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực Khóa luận đã được giáo viên hướng dẫn xem và sửa

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015

Giảng viên hướng dẫn Sinh viên

TS Trần Công Quân Đỗ Công Huân

Giảng viên phản biện

(ký và ghi rõ họ tên)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết đối với mỗi sinh viên, nhằm gắn liền các kiến thức đã được học với công tác nghiên cứu khoa học về Lâm nghiệp Quá trình thực tập giúp cho sinh viên củng cố kiến thức đã được các thầy cô giáo trau dồi suốt trong những năm tháng trên giảng đường, đồng thời quá trình học tập giúp cho sinh viên trực tiếp cọ sát với công việc sản xuất nông, lâm nghiệp từ

đó vững vàng hơn trong công tác sau này

Xuất phát từ yêu cầu về đào tạo và thực tiễn Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã tiến hành thực

hiện nghiên cứu đề tài “Thử nghiệm trồng và bước đầu đánh giá sinh trưởng phát triển cây Chò chỉ (Parashorea chinensis Wang Hsie) tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp – Trường Đại học Nông lâm Thái nguyên”

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của

các thầy cô giáo trong khoa Lâm nghiệp, các cán bộ Viện Nghiên cứu và Phát

triển Lâm nghiệp, bạn bè trong lớp, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy

giáo TS Trần Công Quân để tôi hoàn thành đề tài Xin trân trọng cảm ở các

thầy các cô giáo; các bạn đã giúp đỡ

Do thời gian có hạn, năng lực bản thân còn hạn chế nên bài luận văn chắc

sẽ không tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung từ phía các thầy cô giáo và bạn bè để bài luận văn hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Đỗ Công Huân

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN

Trang

Bảng 4.1 Chiều cao vút ngọn trung bình của hai nhóm cây điều tra 31

Bảng 4.2 Đường kính cổ rễ trung bình của hai nhóm cây điều tra 33

Bảng 4.3: Đường kính tán trung bình của hai nhóm cây điều tra 34

Bảng 4.4 Đánh giá chất lượng cây Chò chỉ 38

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ TRONG KHÓA LUẬN

Trang

Hình 2.1: Ảnh cây Chò chỉ tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp 11

Hình 3.1: Biểu đồ sinh trưởng (Y) và tăng trưởng (Y') 26

Hình 4.1: Đồ thị phân bố N/D00 có dạng lệch trái 36

Hình 4.2: Đồ thị phân bố N/Hvn có dạng lệch phải 37

Hình 4.3: Sâu cuốn lá trên cây Chò chỉ 39

Hình 4.4: Cây bị câu cấu nhỏ và sâu cuốn lá hại 40

Hình 4.5: Gỉ sắt trên lá Chò chỉ 41

Trang 7

Hướng ĐT - NB Hướng Đông tây – Nam bắc

Pt Suất tăng trưởng

SCLN Sâu cuốn lá nhỏ

Thuốc BVTV Thuốc bảo vệ thực vật

Trung tâm KHSX Trung tâm khoa học sản xuất

Trường ĐHNL Trường Đại học Nông lâm

Viện NC&PTLN Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp

Zt Tăng trưởng thường xuyên hàng năm

Znt Tăng trưởng thường xuyên định kỳ

∆nt Tăng trưởng bình quân định kỳ

∆t Tăng trưởng bình quân chung

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học và trong học tập 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học 4

2.1.1 Thế nào là cây bản địa, ưu nước điểm trong trồng rừng cây bản địa 4

2.1.2 Khái niệm sinh trưởng và phát triển rừng 5

2.2 Tình hình nghiên cứu ở trên thế giới và Việt Nam 6

2.2.1 Những nghiên cứu mang tính chất cơ sở trên thế giới 6

2.2.2 Những nghiên cứu về trồng cây bản địa ở Việt Nam 7

2.3 Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Chò chỉ 11

2.3.1 Đặc điểm hình thái 11

2.3.2 Đặc tính sinh thái 12

2.3.3 Giống và tạo cây con 13

2.3.4 Trồng và chăm sóc rừng 16

2.3.5 Khai thác, sử dụng 18

2.4 Điều kiện tự nhiên của khu vực tiến hành nghiên cứu đề tài 18

2.4.1 Vị trí địa lý 18

2.4.2 Địa hình, địa mạo 19

4.2.3 Khí hậu, thủy văn 19

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21

Trang 9

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 21

3.3 Nội dung nghiên cứu 21

3.4 Phương pháp nghiên cứu 22

3.4.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 22

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 22

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 24

3.4.4 Phương pháp điều tra sâu bệnh hại 28

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 Đánh giá sinh trưởng và phát triển của cây Chò chỉ 31

4.1.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển về chiều cao vút ngọn 31

4.1.2 Đánh giá khả năng sinh trưởng về đường kính cổ rễ 32

4.1.3 Đánh giá khả năng sinh trưởng và tăng trưởng về đường kính tán 34

4.2 Nghiên cứu một số quy luật cấu trúc rừng Chò chỉ 35

4.2.1 Quy luật phân bố số cây theo đường kính 35

4.2.2 Quy luật phân bố số cây theo chiều cao 36

4.3 Đánh giá chất lượng cây 37

4.4 Tình hình sâu bệnh hại 38

4.4.1 Những loại sâu bệnh hại cây Chò chỉ 38

4.4.2 Đánh giá mức độ hại 42

4.4.3 Biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại cây Chò chỉ 43

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Kiến nghị 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

Trang 10

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Cây Chò chỉ (Parashorea chinensis Wang Hsie) là cây gỗ lớn có giá trị

kinh tế và giá trị đa dạng sinh học cao, có tên trong sách đỏ của Việt Nam và

đang có nguy cơ bị tuyệt chủng cao và cần được bảo tồn Chò chỉ có biên độ sinh

thái hẹp, mọc rải rác trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùa ẩm, cùng

với các loài Gội (Aglaia gigantea), Sấu (Dracontonelum duperreanum), Sâng (Amesiodendron chinense) Tái sinh tốt ở ven suối hay ở nơi có độ tàn che nhỏ

Là loài cây ưa sáng nên khi sinh trưởng trong rừng quá rậm cây non sẽ có nguy

cơ bị chết cao Gỗ Chò chỉ vàng nhạt hay hơi hồng, rất bền, chịu nước, chịu chôn vùi Là loài thực vật thuộc họ Dầu có ở hầu hết các tỉnh phía Bắc Việt Nam, từ Quảng Bình trở ra Gặp nhiều ở Thái Nguyên (xã Tân Thịnh, huyện Định Hoá), Tuyên Quang (Na Hang, Chiêm Hoá), Vĩnh Phú (Thanh Sơn), Thanh Hoá (Quan Hóa), Nghệ An (Quỳ Châu), Hà Tĩnh (Hương Khê, Hương Sơn) Do gỗ Chò chỉ tốt nên Chò chỉ đang bị săn lùng ráo riết để khai thác Mức độ đe doạ: Bậc K Việc trồng cây Chò chỉ cũng gặp rất nhiều khó khăn vì thiếu thông tin và những

cơ sở khoa học cần thiết

Hiện tại, Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp miền núi phía Bắc (nay là Viện NC&PTLN) đang gieo ươm và thử nghiệm một số kỹ thuật nhân giống từ hom, nuôi cấy mô, đã trồng thử nghiệm một số cây xung quanh Viện NC&PTLN, cây trồng có

tỷ lệ sống cao và sinh trưởng tốt Số lượng cây giống ngày càng tăng tại Trung tâm,

để Trung tâm và khuôn viên trường thêm xanh, đẹp, có giá trị kinh tế từ cây Chò chỉ, đặc biệt góp phần bảo tồn loài cây, cũng như có thêm mô hình học tập nghiên cứu

cho sinh viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Trang 11

Được sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp Và xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Thử nghiệm trồng và bước đầu đánh giá sinh trưởng phát triển cây Chò chỉ (Parashorea chinensis Wang Hsie) tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp - trường Đại học Nông lâm Thái nguyên”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

- Trồng thử nghiệm 50 cây Chò chỉ tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp và một số tuyến đường trong khuôn viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

- Bước đầu đánh giá khả năng sinh trưởng của cây Chò chỉ sau 3 năm trồng tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh chủ yếu nhằm tăng khả năng sinh trưởng, hình dáng đẹp

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học và trong học tập

Việc nghiên cứu đề tài trước hết là một phương pháp tốt để tự hệ thống, củng

cố kiến thức đã học Giúp sinh viên bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt trong lĩnh vực gây trồng và chăm sóc cây lâm nghiệp

Từ kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm cơ sở để nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trong việc nhân giống, trồng và chăm sóc, phát triển

mô hình trồng cây Chò chỉ Đồng thời khuyến nghị các biện pháp, giải pháp trong công tác bảo tồn, phát triển loài cây Chò chỉ ngoài thực địa nơi phân

bố loài này

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Góp phần làm xanh, sạch, đẹp thêm cho khuân viên nhà trường

Trang 12

Kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tế nhằm nâng cao hiểu biết của người dân về kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Chò chỉ

Đặc biệt góp phần bảo tồn loài cây Chò chỉ, cũng như có thêm mô hình

học tập nghiên cứu cho sinh viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Trang 13

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Thế nào là cây bản địa, ưu nước điểm trong trồng rừng cây bản địa

Khi viết về định nghĩa và ưu nhược điểm cây bản địa có nhiều tác giả đề xuất, như: Phùng Ngọc Lan, Ngô Quang Đê (2007), Nguyễn Văn Trương (1999); v.v…nhưng theo chúng tôi thấy viết về định nghĩa, ưu nhược điểm cây bản địa của Nguyễn Xuân Quát, Nguyễn Hữu Vĩnh và Phạm Đức Tuấn (2001) [7], cụ thể:

* Định nghĩa: Theo nghĩa hẹp, cây bản địa là là những loài cây có phân bố

tự nhiên tại địa phương; Ở một mức độ rộng hơn, là những loài cây được quy hóa trong nội bộ một quốc gia; Thậm chí có lúc còn được hiểu bao gồm cả những loài cây nhập nội nhưng đã sống lâu đời, đã thích nghi và hòa nhập vào các hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn tại chỗ Nhưng trong đề tài này chúng tôi

sử dụng định nghĩa cây bản địa theo nghĩa hẹp

Việt Nam với đặc thù hình chữ S trải dài từ Bắc vào Nam với nhiều sự thay đổi khác nhau về độ cao, địa hình, khí hậu tạo thành nhiều vùng khác nhau

Điều này cũng đồng nghĩa với sự đa dạng về thực vật nói chung và các loài cây

bản địa tại mỗi vùng nói riêng

* Ưu nhược điểm: Cây bản địa có ưu nhược điểm gì trong trồng rừng nước

ta hiện nay:

- Ưu điểm: Cây bản địa thích nghi với một số dạng lập địa trong vùng phân bố,

ít bị tổn hại bởi các tác nhân gây tổn hại nên có tính ổn định cao, như: khả năng kháng sâu bệnh hại cao, sống lâu năm, thường cho gỗ lớn và tốt, hoặc đặc hữu, gắn

Trang 14

bó với đời sống của người dân vùng núi Nguồn giống thường có sẵn, nhiều và tương

đối rẻ tiền; dễ dàng lựa chọn được những loài cây có đặc tính mong muốn do tính đa

dạng cao; khi được trồng thì tạo ra cảnh quan phù hợp với tiềm thức và văn hóa dân tộc; người dân địa phương có nhiều kinh nghiệm trong việc nhân biết, sử dụng và phát triển; có giá trị kinh tế cao…

- Nhược điểm: Cây bản địa rất đa dạng và phong phú, nhiều loài cây có vùng phân bố nên không trồng được phổ biến, chưa có quy trình nhân giống và trồng các loài cây bản địa; thường có đời sống dài nên đầu tư lâu và chậm thu hồi

Việc gieo ươm, trồng, bảo vệ cây bản địa là mục tiêu quan trọng trong triết

lý hành động của những người làm lâm nghiệp Do đó định hướng khôi phục và bảo tồn cây bản địa nhằm đa dạng hóa và làm giàu mầm xanh những khu vực rừng nghèo kiệt đã bị tàn phá trước đây là một chiến lược cấp bách Gieo ươm, trồng và bảo vệ không những có ý nghĩa về mặt bảo tồn mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo, chia sẻ cho những thế hệ trẻ hiểu được giá trị của cuộc sống khi ươm và phát triển những mầm xanh tương lai; không bị mất đi những nguồn gen cây rừng quý…

2.1.2 Khái niệm sinh trưởng và phát triển rừng

Sinh trưởng và phát triển là một trong những nội dung quan trọng nhất của

động thái rừng, nó ảnh hưởng lớn đến mục tiêu kinh doanh của ngành Lâm

nghiệp Rừng sinh trưởng, phát triển theo những quy luật nhất định, các quy luật

đó chi phối bởi di truyền và điều kiện lập địa

- Sinh trưởng: là sự tăng lên về kích thước và trọng lượng của cây (hoặc từng

bộ phận) có liên quan đến sự tạo thành mới các cơ quan, các tế bào cũng như các yếu tố cấu trúc của tế bào Sinh trưởng là quá trình không đi ngược lại

Trang 15

- Phát triển: cá thể là tiến trình có tính quy luật của những biến đổi về

chất lượng của các chất chứa trong tế bào và quá trình tạo hình (phát sinh cơ quan bộ phận, thành phần cấu trúc mới) mà thực vật trải qua trong chu trình sống của mỗi cá thể

Sinh trưởng và phát triển có liên quan chặt chẽ với nhau Không có sinh trưởng thì không có phát triển và ngược lại phát triển là tiền đề cho sinh trưởng Sinh trưởng ảnh hưởng quyết định đến mục tiêu kinh doanh rừng gỗ, phát triển

ảnh hưởng quyết định đến kinh doanh rừng giống

2.2 Tình hình nghiên cứu ở trên thế giới và Việt Nam

2.2.1 Những nghiên cứu mang tính chất cơ sở trên thế giới

- E.P.ODUM (1971) [13] với nhiều công trình nghiên cứu về sinh thái học làm cơ sở cho nghiên cứu hệ sinh thái rừng Đây là cơ sở lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu, xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho rừng mưa nhiệt đới

- Geoge N Baur (1952, 1964, 1976) [12], đã nghiên cứu cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa, phục hồi và quản lý rừng nhiệt đới Tác giả đã tổng kết những biện pháp xử lý kỹ thuật lâm sinh nhằm đem lại rừng đồng tuổi và không đồng tuổi trong kinh doanh rừng nhiệt đới ở các châu lục khác nhau

- Richards PW (1952), Cantinot (1965) [14], đã đi sâu vào biểu diễn hình thái cấu trúc rừng bằng biểu đồ các nhân tố cấu trúc được mô tả, phân loại theo dạng sống, tầng phiến, tầng thử

- Parde (1961), Bottam (1972), Rollet (1979) đã vận dụng toán học thống

kê để nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng, định lượng hoá các quy luật, đồng thời làm cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật

Trang 16

Kraft (1884) lần đầu tiên đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng, ông phân chia cây rừng thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất lượng cây rừng Phân cấp của Kraft phản ánh được tình hình phân hoá cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp với rừng thuần loài đều tuổi Việc phân cấp cây rừng cho rừng tự nhiên hỗn loài nhiệt đới là một vấn đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra phương án phân cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên được chấp nhận rộng rãi

Các công trình đi sâu vào nghiên cứu áp dụng các kỹ thuật về tái sinh các loài cây gỗ bản địa bằng phương pháp trồng dặm, trồng thêm vào rừng nghèo, rừng tái sinh kém Nhằm nâng cao chất lượng và trữ lượng gỗ bằng nhiều phương pháp như trồng theo rạch, theo băng, theo đám, trồng dưới tán Và đã được áp dụng ở nhiều nước như: Nijênia, Cônggô, Camerun, Gabon, Côtdivoa

- Tại Nhật Bản: Kasama Forest Technology Center đã thiết lập hàng loạt các mô hình rừng nhiều tầng tán bao gồm nhiều loài cây và ở nhiều cấp tuổi, trồng ở nhiều độ cao khác nhau ở vùng Tsucuba (có độ cao 876m so với mực nước biển ) cho cả loài cây Tuyết tùng (Japanese Cedar) và đã đưa ra sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các loài cây khi trồng hỗn giao với nhau và ảnh hưởng của môi trường đến từng cây

- Tại Đài Loan và một số nước châu Á đã đưa cây bản địa trồng ở những vùng đất trống đồi núi trọc sau khi đã trồng phủ xanh bằng cây lá kim kết quả là tạo ra những mô hình rừng hỗn giao bền vững, đạt năng suất cao, có tác dụng tốt trong việc bảo vệ, chống xói mòn đất

2.2.2 Những nghiên cứu về trồng cây bản địa ở Việt Nam

* Về cấu trúc rừng: có rất nhiều tác giả đã sử dụng hàm thống kê toán học để nghiên cứu định lượng cấu trúc: Đồng Sỹ Hiển (1974) [2], Nguyễn Hải

Trang 17

Tuất (1986, 1990) [10], Vũ Tiến Hinh (1990) [4] đã sử dụng các hàm hồi quy

và hàm thống kê để mô tả hiện trạng cấu trúc rừng cho cả rừng tự nhiên và rừng trồng

- Nguyễn Văn Trương (1983), Phùng Ngọc Lan (1986) [5] và Vũ Tiến Hinh (1987,1988) đã nghiên cứu và tìm ra những kết quả làm căn cứ xây dựng mô hình rừng

có sản lượng, tăng trưởng ổn định (về một số nhân tố chủ đạo)

* Về phân loại trạng thái rừng: Có các công trình của Trần Ngũ Phương (1963), Thái Văn Trừng (1978) [6], Vũ Biệt Linh (1984) đã nghiên cứu và có những thành tựu có tầm quan trọng to lớn

* Về sinh thái học: Có các công trình của Thái Văn Trừng (1948) về đặc

điểm hình thành rừng ngập mặn ở Cà Mau, thảm thực vật trên những đồi trọc

vùng trung du miền núi phía Bắc (1959)

- Trần Nguyên Giảng (1961- 1963 và 1960 - 1962), Trần Xuân Tiếp - Lê Xuân Tám (1963 - 1967) đã đưa ra các biện pháp kỹ thuật gây trồng và phục hồi cây bản địa nhằm đem lại hiệu quả trong quá trình tu bổ lại tầng cây cao có giá trị trong lâm phần rừng

Trong công trình nghiên cứu này, tác giả Trần Nguyên Giảng đã xây dựng thành công mô hình trồng hỗn loài cây bản địa dưới tán cây phù trợ và đã có báo cáo tổng kết sơ bộ tình hình sinh trưởng của rừng ở khu vực nghiên cứu, nhưng vẫn chưa có đánh giá về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái cũng như mối quan hệ tương hỗ giữa các loài cây này

- Năm 1996, Trần Nguyên Giảng đã nghiên cứu trồng 10 loài cây bản địa dưới tán rừng Keo lá tràm và Keo Tai tượng tại vườn Vườn Quốc gia Cát Bà – Hải Phòng Tác giả cho rằng hai loài cây này có tác dụng cải tạo bảo vệ đất, phù trợ cho cây bản địa mọc và phát triển nên chứng tỏ cách làm như vậy là đúng

Trang 18

Nhưng đến năm 1998, kết qủa đạt được lại không giống như vậy, cây bản địa trồng dưới tán rừng Keo lá tràm có tỷ lệ sống cao, sinh trưởng và phát triển tốt, trong khi đó cây bản địa trồng dưới tán rừng Keo tai tượng thì có tỷ lệ sống thấp, sinh trưởng, phát triển kếm không có triển vọng tồn tại Tác giả giải thích đó có thể là do nhu cầu nước của Keo tai tượng là rất lớn làm cho đất luôn khô cứng nên không cải thiện được môi trường đất

- Trường Đại học Lâm nghiệp (Xuân Mai - Chương Mỹ - Hà Tây) đã xây dựng vườn sưu tập các loài cây trồng dưới tán rừng Thông nhựa và đã tìm ra

được các loài cây thích nghi cũng như những loài cây không thích nghi khi trồng

dưới tán rừng cây lá kim

- Trung tâm KHSX Lâm Nghiệp Đông Bắc Bộ (Ngọc Thanh - Phúc Yên –Vĩnh Yên) đã thử nghiệm cây bản địa dưới tán rừng Thông mã vĩ những năm

2000 và 2001 trên diện tích 10 ha tại khu vực Lũng Đồng Đành bao gồm 5 loài cây bản địa có giá trị kinh tế cao: Lim xanh, Lim xẹt, Re hương, Ràng ràng xanh

và Dẻ Yên Thế

Ngoài ra trung tâm cũng xây dựng một khu vườn sưu tập thực vật trồng trên 180 loài cây bản địa cùng với cây phù trợ là Keo lá tràm và Keo tai tượng (1996 - 2001)

Trong chiến lược phát triển Lâm nghiệp (2006 - 2020), nghành Lâm nghiệp

đã chú trọng đến việc bảo tồn và phát triển các loài cây bản địa đang ngày càng bị

thu hẹp lại về cả diện tích cũng như số loài do những hiểu biết về chúng ngày càng

được hé mở Ngày nay, người ta đã biết được những lợi ích to lớn mà các loài cây

bản địa mang lại, không chỉ đơn thuần là cung cấp lâm đặc sản mà chúng còn là những loài cây "của tự nhiên", có sự phát sinh và tiến hoá trong thời gian dài nên

có khả năng thích nghi cao với điều kiện nơi mọc và có tính bền vững cao, "thân

Trang 19

thiện với môi trường sinh thái" Ngoài ra, chúng mang những ý nghĩa nhân văn to lớn trong đời sống của các cộng đồng dân cư sống gần rừng, gắn liền với kiến thức bản địa và phong tục tập quán của họ, do vậy việc đem gây trồng chúng cũng sẽ

có nhiều thuận lợi hơn

Trung tâm Khoa học và sản xuất Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ là trung tâm vùng trực thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tiến hành gây trồng một số mô hình trồng cây bản địa dưới tán rừng, điển hình là mô hình trồng 10 loài cây bản địa dưới tán rừng Thông mã vĩ tại khu vực Lũng

Đồng Đành và trồng 180 loài cây bản địa dưới tán rừng Keo lá tràm tạo

thành một vườn sưu tập thực vật tại khu vực Năm Xà Lũng Theo đánh giá ban đầu, các mô hình này đã đạt được những thành công nhất định

Trang 20

2.3 Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Chò chỉ

Sơ lược nghiên cứu về cây Chò chỉ

Tên Việt Nam: Chò Chỉ

Tên khác: Mạy kho, mạy Rào

Tên khoa học: Parashorea chinensis Wang Hsie

Lá đơn, hình trái xoan Cây non lá to, dài 13 - 15cm, rộng 6 - 7 cm, có lá kèm màu lục nhạt Cây lớn, lá nhỏ hơn, có 15 - 18 đôi gân thứ cấp gần song song Mặt dưới lá và mặt trên của gân lá có phủ lông hình sao, gốc mỗi lá có 2 lá kèm

Trang 21

Hoa mọc đầu cành, cánh hoa màu vàng, có mùi thơm nhẹ Quả màu xanh xám, có đường kính 4 - 6mm, dài 13 - 16mm, có 5 cánh không đều, khi non màu hồng nhạt, khi khô màu nâu sẫm

2.3.2 Đặc tính sinh thái

Chò chỉ phân bố tự nhiên ở các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá, Ninh Bình, Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Hà Giang Thường gặp chúng trong rừng tự nhiên, có độ cao từ 100m đến 700m so với mực nước biển, nơi có lượng mưa bình quân từ 1600 - 2300mm, nhiệt độ bình quân 20 -

240C Chò chỉ gặp trên nhiều loại đất như feralit đỏ vàng, nâu vàng trên đá vôi, tầng trung bình đến dày, hơi ẩm

Trong rừng nguyên sinh, Chò chỉ hỗn giao với các loài gỗ lớn như Trường, Sấu, Re xanh, Trám, Sâng Ở rừng thứ sinh, Chò chỉ hỗn giao với các loài như Dẻ, Kháo vàng, Vàng anh, Máu chó, Côm Trong tự nhiên Chò chỉ không tồn tại ở những nơi đất trống đồi trọc, hoặc đất bạc màu thoái hoá

Ở rừng nguyên sinh cũng như rừng thứ sinh nghèo kiệt (rừng gỗ pha tre

nứa), thảm tươi dưới tán rừng Chò chỉ thường dày đặc, gồm các loại ẩm sinh như Khoai mài, Sẹ, Lá dong, Quyển bá, Dương xỉ cây bụi có các loài như Bọt ếch, Cơm nguội, Xương gà, Chẩn, Trọng đũa

Chò chỉ tái sinh tự nhiên ở những nơi có cây mẹ gieo giống, nơi tán rừng không quá rậm Chò chỉ thường mọc ở những nơi ven khe suối, chân hoặc sườn núi, ẩm, ở độ cao £700 m so với mực nước biển và thích hợp với các loại đất như Feralit đỏ nâu hoặc vàng đỏ phát triển trên các loại đá mẹ Phiến thạch sét, Granit, Phiến thạch mica, có tầng dày, tơi xốp, thành phần chủ yếu là sét pha thịt Càng lên cao thì màu vàng ở tầng B càng chiếm ưu thế Hàm lượng mùn tương

đối khá ở tầng đất mặt và càng lên cao thì hàm lượng mùn càng tăng (từ 3 - 7 %)

Trang 22

Đất có phản ứng chua và độ bão hoà Bazơ thấp (pHH2Otừ 4 - 5) Hàm lượng các chất dinh dưỡng P2O5 và K2O dễ tiêu đều nghèo

2.3.3 Giống và tạo cây con

- Hạt giống:

Cây trồng 10 - 12 năm bắt đầu ra quả, nhưng thu hái ở các lâm phần từ 15 tuổi trở lên mới có chất lượng hạt tốt Chu kỳ sai quả 4 - 6 năm, ở những năm này tỷ lệ cây ra quả đạt 70-80% Mùa ra hoa tháng 4 - 5, mùa quả chín tháng 7 -

8 Chò chỉ thường ra hoa không đều, có khi 3 - 4 năm ra hoa một lần, khả năng

đậu quả không cao Quả dễ bị sâu phá hại Mỗi quả có 3 - 4 hạt

Thu hái quả vào tháng 8-9 khi quả chín vỏ mầu nâu nhạt Hạt và cánh hạt mầu nâu, nhân hạt chắc và có mầu trắng Thu hái tốt nhất là khi lâm phần có từ

50 - 60% số cây có quả rụng Quả thu hái về phải ủ ngay vào cát, tưới nước đều

đặn luôn để đống ủ có độ ẩm 80% Đống ủ không cao quá 50cm và phải để nơi

thông gió Mỗi ngày đảo 1 lần Bảo quản hạt ở điều kiện thông thường có thể duy trì sức sống được 1 thời gian nhưng tỷ lệ nảy mầm giảm tương đối nhanh Sau 1,5 tháng đã mất sức nảy mầm 50-60% Một kg quả có 300 - 350 quả, độ thuần > 95%, tỷ lệ nảy mầm <50%

- Gieo ươm:

Dùng vỏ bầu Polyetylen cỡ 8 x 12cm, không đáy và đục lỗ xung quanh Thành phần hỗn hợp ruột bầu gồm: Phân chuồng ủ hoai, supe lân Lâm thao (có hàm lượng P2O5 dễ tiêu 14%) 2%, đất tầng A dưới tán rừng 88% Đất rừng tầng A, có hàm lượng mùn từ 3% và độ pHKCl = 5 - 6, thành phần cơ giới là thịt nhẹ, pha cát (sét vật lý 20-25%)

Trang 23

Đất tập kết tại vườn ươm, được đập nhỏ và sàng có đường kính mắt sàng

4mm, loại bỏ rễ cây, sỏi đá, đất sét, rồi vun thành đống cao 15 - 20cm Sau đó phun ẩm và phủ vải mưa, giấy bóng ủ 4 - 5 ngày ngoài nắng

Luống để xếp bầu rộng 1m, dài 10 - 20m và cao 15 - 20cm Rãnh luống rộng 40 - 0cm Xếp bầu theo hàng, cứ 2 hàng để cách 1 hàng Mật độ bầu trên luống khoảng 260 - 280 bầu/m2

Khi rễ cọc phát triển ra ngoài đáy bầu phải tiến hành đảo bầu kết hợp phân loại cây để tiện chăm sóc Chỉ tiến hành đảo bầu vào những ngày râm mát hoặc

có mưa nhỏ

Hạt sau khi thu hái cần được cắt bỏ bớt 3/4 cánh Diệt khuẩn bằng cách ngâm hạt trong dung dịch thuốc tím KMnO4 nồng độ 0,1% (1gam thuốc tím pha với 1 lít nước) với thời gian 30 phút Sau đó ủ hạt trong cát ẩm

Hàng ngày tiến hành tưới nước cho đến khi hạt nứt nanh thì đem gieo, tránh để nanh quá dài khi gieo có thể bị gẫy mầm

Có thể gieo hạt thẳng vào bầu Tạo 1 lỗ sâu 1,5cm giữa bầu và gieo 1 hạt

đã nứt nanh, sau đó phủ lớp đất mỏng 3 - 5mm Dùng rơm rạ phủ trên mặt luống

giữ độ ẩm, tránh nắng

Khi cây mầm được 5 - 7 ngày tuổi, dài 1 - 1,5cm thì bứng cây vào bầu Cấy cây vào ngày râm mát hoặc mưa nhẹ, tránh những ngày nắng gắt, gió mùa Đông Bắc Trước hôm cấy cần tưới nước cho đất ướt đều với lượng 4 - 6 lít/m2 Sau khi nhổ cần nhúng cây vào bát nước để tránh khô rễ mầm Cấy đến đâu nhổ đến đấy Loại bỏ những cây xấu Dùng que nhọn chọc 1 lỗ sâu 2 - 3 cm ở giữa bầu, hướng cây mầm sao cho cổ rễ ngang mặt bầu và dùng que ép chặt đất với rễ mầm

Sau khi cấy xong tiến hành cắm ràng ràng che mặt luống và tưới nước cho cây Dùng lưới che sáng 50% che cho luống cây

Trang 24

Tưới nước giữ độ ẩm đất sau khi gieo hoặc cấy cây nếu trời không mưa Không được để khô luống Khi hạt mọc, dỡ bỏ rơm rạ phủ mặt luống và cắm ràng ràng che bóng Từ thời gian hạt chưa bỏ mũ thường xuyên tưới mỗi ngày ít nhất 1 lần vào buổi sáng sớm hoặc buổi chiều Lượng nước tưới 2 - 4 lít/m2 Tưới liên tục trong 20 ngày đầu, sau đó chỉ tưới khi đất khô Ở giai đoạn sau, tuỳ theo tình hình thời tiết mà điều tiết lịch tưới cho phù hợp

Trước khi xuất vườn 1 - 2 tháng tuyệt đối không được bón thúc, hạn chế tưới nước để hãm cây Sau khi cấy cây 5 - 10 ngày, cây nào chết cần tiến hành cấy dặm ngay Thời gian đầu cứ sau 10 - 15 ngày cần làm cỏ, kết hợp phá váng 1 lần Dùng que vót nhọn xới nhẹ phá lớp váng tạo trên mặt bầu, tránh không làm

hư tổn đến bộ rễ

Giai đoạn đầu cần có độ che bóng 50%, sau đó dỡ bỏ dần giàn che Trước khi xuất vườn 1 - 2 tháng cần dỡ bỏ hoàn toàn Có thể bón thúc để thúc đẩy sinh trưởng của cây con trường hợp cây sinh trưởng kém ở các thời điểm cây 120 ngày, 180 ngày, 240 ngày Sau 15 - 20 ngày thúc 1 lần Dùng loại phân hỗn hợp

Đạm Amôn – Supe lân và Cloruakali tưới thúc với tỷ lệ 3N:6P:1K Hoặc dùng

phân Supe lân Lâm Thao khi cây có biểu hiện tím lá 2 kg bón cho 1000 bầu chia làm 6 lần (Mỗi lần bón 0,340kg/1000bầu) Hoà phân với nồng độ 0,5% (1kg phân/200 lít nước) Tưới dung dịch nước phân bằng bình hương sen Sau khi tưới phân phải tưới rửa lá bằng nước lã

Không tưới phân thúc vào những ngày nắng gắt, vào lúc buổi trưa nắng Tốt nhất nên tưới vào những ngày râm mát hoặc mưa phùn

Chò chỉ bị Sâu đục nõn và sâu ăn lá cả ở vườn ươm và ngoài rừng trồng Cách phòng trừ là thường xuyên kiểm tra và bắt sâu vào buổi sáng

Trang 25

- Tiêu chuẩn cây con:

Cây ươm đạt 12 - 15 tháng tuổi, đường kính cổ rễ 0,5 - 0,6cm, cao 60 - 80cm, thân hoá gỗ hoàn toàn, không bị nhiễm sâu bệnh hại, không bị cụt ngọn, không nhiều thân là đủ tiêu chuẩn đem trồng Không trồng cây khi đã có lá non

2.3.4 Trồng và chăm sóc rừng

Trồng thuần loài hoặc hỗn giao ở nơi còn tính chất đất rừng, có cây bụi, cây gỗ mọc rải rác Ở nơi đất trống trọc cần trồng cây phù trợ như Cốt khí, Đậu tràm trong giai đoạn đầu

Trồng hỗn giao giữa Chò chỉ với các loài cây tái sinh mục đích sẵn có trong lâm phần Trồng theo rạch song song với đường đồng mức Trong rạch trồng cây phát rộng 2m, dọn sạch cây bụi, cỏ dại, cây tái sinh không mục đích và

để lại những cây mục đích khoẻ mạnh có tương lai Băng chừa để lại rộng 3m

Xử lí thực bì phải được tiến hành trước khi trồng rừng 1 tháng

Trồng hỗn giao với các loài cây lá rộng bản địa khác như Sấu, Re Cứ trồng 1 rạch Chò chỉ lại xen tiếp theo 1 rạch loài cây lá rộng thứ hai Trong rạch trồng cây, phát dọn dây leo, cây bụi, cây tái sinh phi mục đích, chỉ để lại cây mục đích có tương lai

Trồng thuần loài với mật độ 540 cây/ha, cự li 3,5 x 5 m

Trồng hỗn giao tỷ lệ 1:1 với các loài Sấu, Re, mật độ 540 cây/ha, cự li 3,5

x 5m Trong đó có 270 cây Chò chỉ và 270 cây Sấu, Re, 1 hàng Chò chỉ xen 1 hàng Sấu / Re

Thời vụ trồng: Vụ chính là vụ Xuân từ 10/2 đến 30/3, vụ Hè Thu từ tháng

6 đến tháng 8

Cuốc hố trồng với kích thước 40 x 40 x 40cm Các hố bố trí giữa hàng và

so le giữa các hàng theo hình nanh sấu Khi cuốc hố tách riêng phần đất tốt, đất

Trang 26

xấu Vun hố hình mui rùa Hoàn thành cuốc hố trước lúc trồng rừng 30 ngày Bón lót 200g đạm sunfat + 100g supe lân + 100g clorua kali cho mỗi hố khi lấp

hố và bón thúc 200g NPK(5:10:3) vào lần chăm sóc thứ nhất

Trồng cây vào những ngày có mưa nhỏ hoặc râm mát Tránh trồng vào những lúc trưa nóng hoặc có gió mùa Đông Bắc Dùng dao lam hay kéo sắc rạch bầu, tránh làm tổn thưởng cây Dùng cuốc hoặc xẻng bới 1 lỗ giữa hố sâu bằng chiều cao của bầu cây trồng Đặt cây sao cho cổ rễ ngang mặt hố, rồi vun đất xung quanh cho kín Có thể dùng tay hoặc chân dẫm chặt xung quanh gốc cây, tránh dẵm vào bầu làm vỡ bầu

Sau khi trồng rừng, cần được chăm sóc và bảo vệ liên tục cho đến khi rừng khép tán, đặc biệt trong 3 năm đầu

Năm thứ nhất chăm sóc 2 lần với cây trồng vụ xuân và 1 lần với cây trồng vụ thu Lần 1 vào tháng 5 - 6, lần 2 vào tháng 11 - 12 Trồng dặm những cây đã chết Phát dọn toàn bộ dây leo, cây bụi cỏ dại và cây phi mục đích trong rạch trồng cây với chiều rộng 2m Xới đất xung quanh hố với đường kính rộng

40 – 50cm Tiến hành bón thúc sau đó vun đất xung quanh gốc Bảo vệ không cho gia súc phá cây

Năm thứ hai chăm sóc 2 lần, lần 1 vào tháng 5 - 6, lần 2 vào tháng 11 - 12 Phát dọn toàn bộ dây leo, cỏ dại, cây bụi và cây phi mục đích trong rạch trồng cây với chiều rộng 2m Xới đất xung quanh gốc đường kính rộng 50cm, sâu 3 – 4cm, vun gốc Phát luỗng dây leo, cây sâu bệnh, sau đó đánh dấu những cây mục

đích cần nuôi dưỡng ở băng chừa

Năm thứ ba chăm sóc 2 lần vào đầu và cuối mùa mưa Phát dọn dây leo,

cỏ dại, cây bụi trong rạch trồng cây Nơi nào cây tái sinh ở băng chừa lấn át chèn

Trang 27

ép cây trồng thì phải chặt thấp xuống hoặc loại bỏ Xới đất xung quanh gốc rộng 60cm, sâu 3 – 4cm, vun gốc

Năm thứ tư tiến hành phát luỗng dây leo, loại bỏ cây sâu bệnh, cây bụi, cây tái sinh phi mục đích chèn ép cây trồng và cây mục đích trên toàn bộ lô trồng rừng Những khoảng trồng không có cây mục đích, cần giữ lại cây tái sinh, cây bụi thảm tươi để phòng hộ

Khi cây rừng đạt chiều cao 3 - 5m, phải bảo vệ không để cháy rừng Những nơi có thực bì rậm rạp, cần phát luỗng thực bì dọn ra khỏi rừng trước mùa hanh khô Điều chỉnh không gian dinh dưỡng: Khi cây trồng bị cây bụi hoặc cây tái sinh phi mục đích chèn ép cần tiến hành phát loại bỏ những cây chèn ép Tỉa những cành khô, những cành thấp không có khả năng quang hợp

Khi cây rừng chuẩn bị khép tán vào năm thứ 4 - 5, trường hợp mật độ đủ, cần chặt bỏ những cây cong queo, sâu bệnh, cụt ngọn, nhiều thân, còi cọc, tán lệch Khi cây rừng đạt 8 - 10 tuổi, tiếp tục loại bỏ những cây cong queo, sâu bệnh, cụt ngọn, tán lệch, nhiều thân

2.3.5 Khai thác, sử dụng

Gỗ Chò chỉ cứng, thớ thẳng, mịn, nặng, tỷ trọng 0,83, xếp nhóm V Gỗ có giác lõi phân biệt, giác màu xám trắng, lõi màu hồng, không bị mối mọt, chịu

nước nên được dùng để đóng đồ, làm gỗ xây dựng và đóng tàu thuyền

2.4 Điều kiện tự nhiên của khu vực tiến hành nghiên cứu đề tài

Trang 28

Xã nằm ở phía tây của khu vực trung tâm thành phố và tất cả đơn vị tiếp giáp xã này đều thuộc thành phố Thái Nguyên:

- Phía Bắc giáp xã Phúc Hà, phường Quan Triều

- Phía Nam giáp phường Thịnh Đán, xã Thịnh Đức và xã Phúc Trìu

- Phía Đông giáp phường Tân Thịnh và Thịnh Đán

- Phía Tây giáp xã Phúc Trìu và Phúc Xuân

Trên địa bàn xã có tuyến đường tránh thành phố Thái Nguyên chạy qua, ngoài ra, tuyến tỉnh lộ 260 nối giữa trung tâm thành phố và huyện Đại Từ cũng

đi qua phần cực nam của xã

2.4.2 Địa hình, địa mạo

* Địa hình: Quyết Thắng là một trong các xã có diện tích lớn nhất thuộc thành

phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

* Địa mạo: Địa hình của xã không phức tạp lắm nên đây chính là một thuận lợi

của xã cho việc phát triển kinh tế xã hội

4.2.3 Khí hậu, thủy văn

- Khí hậu: Khí hậu của xã Quyết Thắng được chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa

từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6:35,90C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 10,20C) Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1400

đến 1800 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm Nhìn chung

khí hậu của xã Quyết Thắng thuận lợi cho việc phát triển ngành nông, lâm nghiệp

- Lượng mưa: Trung bình năm khoảng 2.100mm – 2.600mm, cao nhất vào tháng

8 và thấp nhất vào tháng 1

Trang 29

- Độ ẩm: Độ ẩm không khí trên địa bàn xã khá cao Mùa nóng độ ẩm dao động

từ 80% đến 85%, mùa lạnh từ 62% đến 77%

Trang 30

Phần 3

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Cây Chò chỉ (Parashorea chinensis Wang Hsie)

được trồng tại viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp – trường Đại học Nông

lâm Thái nguyên

- Phạm vi nghiên cứu: Thực hiện nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát

triển của cây Chò chỉ tại viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp, một số tuyến đường trong khuân viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm: Tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

- Thời gian tiến hành: Từ tháng 01/2015 đến tháng 05/2015

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của số cây Chò chỉ trồng từ

vụ xuân năm 2013 và số cây trồng mới năm 2015 về các chỉ số:

+ Chiều cao vút ngọn

+ Đường kính cổ rễ

+ Đường kính tán

- Nguyên cứu một số quy luật cấu trúc của cây Chò chỉ

- Đánh giá sơ bộ mức độ sâu bệnh hại trên cây Chò chỉ trồng tại trường

Đại học Nông lâm Thái Nguyên

- Đánh giá chất lượng cây Chò chỉ

Trang 31

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Phân tích là chia những cái toàn thể của đối tượng nghiên cứu thành những bộ phận, những mặt, những yếu tố cấu thành đơn giản để nghiên cứu, phát hiện ra những thuộc tính và bản chất của từng yếu tố một cách mạch lạc hơn, hiểu được những yếu tố chung phức tạp

Phân tích để phân loại các số liệu, tài liệu theo các lĩnh vực khác nhau Nhiệm

vụ của phân tích là thông qua những yếu tố riêng để tìm được cái chung, thông qua hiện tượng tìm ra bản chất, thông qua đặc thù tìm ra cái phổ biến

Tổng hợp là quá trình ngược lại với phân tích tài liệu Nhưng hỗ trợ cho quá trình phân tích để tìm ra cái khái quát

Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp gắn bó chặt chẽ và bổ sung cho nhau trong quá trình nghiên cứu, có cơ sở khách quan trong cấu tạo

Trong phân tích, việc xây dựng một cách đúng đắn theo tiêu thức phân loại làm cơ sở khoa học hình thành đối tượng nghiên cứu, có ý nghĩa rất quan trọng

Phần này đề cập đến phương pháp chung nhất thực hiện đề tài, từ bước thu thập cho đến xử lý số liệu cũng như giải quyết từng nội dung cụ thể Nguyên tắc chung là, các phương pháp được sử dụng phải nhất quán từ bước thu thập số liệu đến xây dựng và đánh giá mô hình lý thuyết Sự nhất quán về mặt phương pháp còn thể hiện ở mặt kế thừa Kết quả nghiên cứu ở nội dung này là cơ sở để giải quyết những

nội dung tiếp theo, mà không giải quyết độc lập từng vấn đề một

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

3.4.2.1 Tính kế thừa tài liệu

Kế thừa các tài liệu hiện có để hệ thống hóa các thông tin có liên quan đến nội dung của đề tài như:

Ngày đăng: 11/05/2016, 15:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Ảnh cây Chò chỉ tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp - Thử nghiệm trồng và bước đầu đánh giá sinh trưởng phát tri ển cây chò chỉ tại viện nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp – trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 2.1 Ảnh cây Chò chỉ tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp (Trang 20)
Bảng 4.2. Đường kính cổ rễ trung bình của hai nhóm cây điều tra - Thử nghiệm trồng và bước đầu đánh giá sinh trưởng phát tri ển cây chò chỉ tại viện nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp – trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.2. Đường kính cổ rễ trung bình của hai nhóm cây điều tra (Trang 42)
Hình 4.2:  Đồ thị phân bố N/D 00  có dạng lệch trái - Thử nghiệm trồng và bước đầu đánh giá sinh trưởng phát tri ển cây chò chỉ tại viện nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp – trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.2 Đồ thị phân bố N/D 00 có dạng lệch trái (Trang 45)
Hình 4.3: Đồ thị phân bố N/H vn  có dạng lệch phải - Thử nghiệm trồng và bước đầu đánh giá sinh trưởng phát tri ển cây chò chỉ tại viện nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp – trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.3 Đồ thị phân bố N/H vn có dạng lệch phải (Trang 46)
Hình 4.4: Sâu cuốn lá trên cây Chò chỉ - Thử nghiệm trồng và bước đầu đánh giá sinh trưởng phát tri ển cây chò chỉ tại viện nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp – trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.4 Sâu cuốn lá trên cây Chò chỉ (Trang 48)
Hình 4.5: Cây bị câu cấu nhỏ và sâu cuốn lá hại - Thử nghiệm trồng và bước đầu đánh giá sinh trưởng phát tri ển cây chò chỉ tại viện nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp – trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.5 Cây bị câu cấu nhỏ và sâu cuốn lá hại (Trang 49)
Hình 4.6: Gỉ sắt trên lá Chò chỉ - Thử nghiệm trồng và bước đầu đánh giá sinh trưởng phát tri ển cây chò chỉ tại viện nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp – trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 4.6 Gỉ sắt trên lá Chò chỉ (Trang 50)
Bảng 4.5. Thành phần và mức độ phổ biến của các loại sâu bệnh hại - Thử nghiệm trồng và bước đầu đánh giá sinh trưởng phát tri ển cây chò chỉ tại viện nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp – trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.5. Thành phần và mức độ phổ biến của các loại sâu bệnh hại (Trang 51)
Mẫu bảng 1.2: Bảng thu thập số liệu về tình hình sâu bệnh hại - Thử nghiệm trồng và bước đầu đánh giá sinh trưởng phát tri ển cây chò chỉ tại viện nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp – trường đại học nông lâm thái nguyên
u bảng 1.2: Bảng thu thập số liệu về tình hình sâu bệnh hại (Trang 58)
Mẫu bảng 1.3: Bảng đánh giá phẩm chất cây - Thử nghiệm trồng và bước đầu đánh giá sinh trưởng phát tri ển cây chò chỉ tại viện nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp – trường đại học nông lâm thái nguyên
u bảng 1.3: Bảng đánh giá phẩm chất cây (Trang 59)
Bảng 2: Kết quả tính toán X tn  cho phân bố số cây N/H vn - Thử nghiệm trồng và bước đầu đánh giá sinh trưởng phát tri ển cây chò chỉ tại viện nghiên cứu và phát triển lâm nghiệp – trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 2 Kết quả tính toán X tn cho phân bố số cây N/H vn (Trang 61)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm