ĐỖ CÔNG HUÂN Tên đề tài: “THỬ NGHIỆM TRỒNG VÀ BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CÂY CHÒ CHỈ PARASHOREA CHINENSIS WANG HSIE TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP TRƯỜNG
Trang 1ĐỖ CÔNG HUÂN
Tên đề tài:
“THỬ NGHIỆM TRỒNG VÀ BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG
PHÁT TRIỂN CÂY CHÒ CHỈ (PARASHOREA CHINENSIS WANG HSIE)
TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Lâm nghiệp Khoa : Lâm nghiệp Khoá học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2ĐỖ CÔNG HUÂN
Tên đề tài:
“THỬ NGHIỆM TRỒNG VÀ BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG
PHÁT TRIỂN CÂY CHÒ CHỈ (PARASHOREA CHINENSIS WANG HSIE)
TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Lâm nghiệp Khoa : Lâm nghiệp
Khoá học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : TS Trần Công Quân
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực Khóa luận đã được giáo viên hướng dẫn xem và sửa
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Giảng viên hướng dẫn Sinh viên
TS Trần Công Quân Đỗ Công Huân
Giảng viên phản biện
(ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết đối với mỗi sinh viên, nhằm gắn liền các kiến thức đã được học với công tác nghiên cứu khoa học về Lâm nghiệp Quá trình thực tập giúp cho sinh viên củng cố kiến thức đã được các thầy cô giáo trau dồi suốt trong những năm tháng trên giảng đường, đồng thời quá trình học tập giúp cho sinh viên trực tiếp cọ sát với công việc sản xuất nông, lâm nghiệp từ
đó vững vàng hơn trong công tác sau này
Xuất phát từ yêu cầu về đào tạo và thực tiễn Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã tiến hành thực
hiện nghiên cứu đề tài “Thử nghiệm trồng và bước đầu đánh giá sinh trưởng phát triển cây Chò chỉ (Parashorea chinensis Wang Hsie) tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp – Trường Đại học Nông lâm Thái nguyên”
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của
các thầy cô giáo trong khoa Lâm nghiệp, các cán bộ Viện Nghiên cứu và Phát
triển Lâm nghiệp, bạn bè trong lớp, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy
giáo TS Trần Công Quân để tôi hoàn thành đề tài Xin trân trọng cảm ở các
thầy các cô giáo; các bạn đã giúp đỡ
Do thời gian có hạn, năng lực bản thân còn hạn chế nên bài luận văn chắc
sẽ không tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung từ phía các thầy cô giáo và bạn bè để bài luận văn hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Đỗ Công Huân
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN
Trang
Bảng 4.1 Chiều cao vút ngọn trung bình của hai nhóm cây điều tra 31
Bảng 4.2 Đường kính cổ rễ trung bình của hai nhóm cây điều tra 33
Bảng 4.3: Đường kính tán trung bình của hai nhóm cây điều tra 34
Bảng 4.4 Đánh giá chất lượng cây Chò chỉ 38
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ TRONG KHÓA LUẬN
Trang
Hình 2.1: Ảnh cây Chò chỉ tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp 11
Hình 3.1: Biểu đồ sinh trưởng (Y) và tăng trưởng (Y') 26
Hình 4.1: Đồ thị phân bố N/D00 có dạng lệch trái 36
Hình 4.2: Đồ thị phân bố N/Hvn có dạng lệch phải 37
Hình 4.3: Sâu cuốn lá trên cây Chò chỉ 39
Hình 4.4: Cây bị câu cấu nhỏ và sâu cuốn lá hại 40
Hình 4.5: Gỉ sắt trên lá Chò chỉ 41
Trang 7Hướng ĐT - NB Hướng Đông tây – Nam bắc
Pt Suất tăng trưởng
SCLN Sâu cuốn lá nhỏ
Thuốc BVTV Thuốc bảo vệ thực vật
Trung tâm KHSX Trung tâm khoa học sản xuất
Trường ĐHNL Trường Đại học Nông lâm
Viện NC&PTLN Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp
Zt Tăng trưởng thường xuyên hàng năm
Znt Tăng trưởng thường xuyên định kỳ
∆nt Tăng trưởng bình quân định kỳ
∆t Tăng trưởng bình quân chung
Trang 8MỤC LỤC
Trang
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học và trong học tập 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Thế nào là cây bản địa, ưu nước điểm trong trồng rừng cây bản địa 4
2.1.2 Khái niệm sinh trưởng và phát triển rừng 5
2.2 Tình hình nghiên cứu ở trên thế giới và Việt Nam 6
2.2.1 Những nghiên cứu mang tính chất cơ sở trên thế giới 6
2.2.2 Những nghiên cứu về trồng cây bản địa ở Việt Nam 7
2.3 Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Chò chỉ 11
2.3.1 Đặc điểm hình thái 11
2.3.2 Đặc tính sinh thái 12
2.3.3 Giống và tạo cây con 13
2.3.4 Trồng và chăm sóc rừng 16
2.3.5 Khai thác, sử dụng 18
2.4 Điều kiện tự nhiên của khu vực tiến hành nghiên cứu đề tài 18
2.4.1 Vị trí địa lý 18
2.4.2 Địa hình, địa mạo 19
4.2.3 Khí hậu, thủy văn 19
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
Trang 93.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 21
3.3 Nội dung nghiên cứu 21
3.4 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 22
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 22
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 24
3.4.4 Phương pháp điều tra sâu bệnh hại 28
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Đánh giá sinh trưởng và phát triển của cây Chò chỉ 31
4.1.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển về chiều cao vút ngọn 31
4.1.2 Đánh giá khả năng sinh trưởng về đường kính cổ rễ 32
4.1.3 Đánh giá khả năng sinh trưởng và tăng trưởng về đường kính tán 34
4.2 Nghiên cứu một số quy luật cấu trúc rừng Chò chỉ 35
4.2.1 Quy luật phân bố số cây theo đường kính 35
4.2.2 Quy luật phân bố số cây theo chiều cao 36
4.3 Đánh giá chất lượng cây 37
4.4 Tình hình sâu bệnh hại 38
4.4.1 Những loại sâu bệnh hại cây Chò chỉ 38
4.4.2 Đánh giá mức độ hại 42
4.4.3 Biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại cây Chò chỉ 43
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
5.1 Kết luận 45
5.2 Kiến nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây Chò chỉ (Parashorea chinensis Wang Hsie) là cây gỗ lớn có giá trị
kinh tế và giá trị đa dạng sinh học cao, có tên trong sách đỏ của Việt Nam và
đang có nguy cơ bị tuyệt chủng cao và cần được bảo tồn Chò chỉ có biên độ sinh
thái hẹp, mọc rải rác trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùa ẩm, cùng
với các loài Gội (Aglaia gigantea), Sấu (Dracontonelum duperreanum), Sâng (Amesiodendron chinense) Tái sinh tốt ở ven suối hay ở nơi có độ tàn che nhỏ
Là loài cây ưa sáng nên khi sinh trưởng trong rừng quá rậm cây non sẽ có nguy
cơ bị chết cao Gỗ Chò chỉ vàng nhạt hay hơi hồng, rất bền, chịu nước, chịu chôn vùi Là loài thực vật thuộc họ Dầu có ở hầu hết các tỉnh phía Bắc Việt Nam, từ Quảng Bình trở ra Gặp nhiều ở Thái Nguyên (xã Tân Thịnh, huyện Định Hoá), Tuyên Quang (Na Hang, Chiêm Hoá), Vĩnh Phú (Thanh Sơn), Thanh Hoá (Quan Hóa), Nghệ An (Quỳ Châu), Hà Tĩnh (Hương Khê, Hương Sơn) Do gỗ Chò chỉ tốt nên Chò chỉ đang bị săn lùng ráo riết để khai thác Mức độ đe doạ: Bậc K Việc trồng cây Chò chỉ cũng gặp rất nhiều khó khăn vì thiếu thông tin và những
cơ sở khoa học cần thiết
Hiện tại, Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp miền núi phía Bắc (nay là Viện NC&PTLN) đang gieo ươm và thử nghiệm một số kỹ thuật nhân giống từ hom, nuôi cấy mô, đã trồng thử nghiệm một số cây xung quanh Viện NC&PTLN, cây trồng có
tỷ lệ sống cao và sinh trưởng tốt Số lượng cây giống ngày càng tăng tại Trung tâm,
để Trung tâm và khuôn viên trường thêm xanh, đẹp, có giá trị kinh tế từ cây Chò chỉ, đặc biệt góp phần bảo tồn loài cây, cũng như có thêm mô hình học tập nghiên cứu
cho sinh viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Trang 11Được sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp Và xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thử nghiệm trồng và bước đầu đánh giá sinh trưởng phát triển cây Chò chỉ (Parashorea chinensis Wang Hsie) tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp - trường Đại học Nông lâm Thái nguyên”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Trồng thử nghiệm 50 cây Chò chỉ tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp và một số tuyến đường trong khuôn viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
- Bước đầu đánh giá khả năng sinh trưởng của cây Chò chỉ sau 3 năm trồng tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh chủ yếu nhằm tăng khả năng sinh trưởng, hình dáng đẹp
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học và trong học tập
Việc nghiên cứu đề tài trước hết là một phương pháp tốt để tự hệ thống, củng
cố kiến thức đã học Giúp sinh viên bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt trong lĩnh vực gây trồng và chăm sóc cây lâm nghiệp
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm cơ sở để nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trong việc nhân giống, trồng và chăm sóc, phát triển
mô hình trồng cây Chò chỉ Đồng thời khuyến nghị các biện pháp, giải pháp trong công tác bảo tồn, phát triển loài cây Chò chỉ ngoài thực địa nơi phân
bố loài này
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Góp phần làm xanh, sạch, đẹp thêm cho khuân viên nhà trường
Trang 12Kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tế nhằm nâng cao hiểu biết của người dân về kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Chò chỉ
Đặc biệt góp phần bảo tồn loài cây Chò chỉ, cũng như có thêm mô hình
học tập nghiên cứu cho sinh viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Thế nào là cây bản địa, ưu nước điểm trong trồng rừng cây bản địa
Khi viết về định nghĩa và ưu nhược điểm cây bản địa có nhiều tác giả đề xuất, như: Phùng Ngọc Lan, Ngô Quang Đê (2007), Nguyễn Văn Trương (1999); v.v…nhưng theo chúng tôi thấy viết về định nghĩa, ưu nhược điểm cây bản địa của Nguyễn Xuân Quát, Nguyễn Hữu Vĩnh và Phạm Đức Tuấn (2001) [7], cụ thể:
* Định nghĩa: Theo nghĩa hẹp, cây bản địa là là những loài cây có phân bố
tự nhiên tại địa phương; Ở một mức độ rộng hơn, là những loài cây được quy hóa trong nội bộ một quốc gia; Thậm chí có lúc còn được hiểu bao gồm cả những loài cây nhập nội nhưng đã sống lâu đời, đã thích nghi và hòa nhập vào các hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn tại chỗ Nhưng trong đề tài này chúng tôi
sử dụng định nghĩa cây bản địa theo nghĩa hẹp
Việt Nam với đặc thù hình chữ S trải dài từ Bắc vào Nam với nhiều sự thay đổi khác nhau về độ cao, địa hình, khí hậu tạo thành nhiều vùng khác nhau
Điều này cũng đồng nghĩa với sự đa dạng về thực vật nói chung và các loài cây
bản địa tại mỗi vùng nói riêng
* Ưu nhược điểm: Cây bản địa có ưu nhược điểm gì trong trồng rừng nước
ta hiện nay:
- Ưu điểm: Cây bản địa thích nghi với một số dạng lập địa trong vùng phân bố,
ít bị tổn hại bởi các tác nhân gây tổn hại nên có tính ổn định cao, như: khả năng kháng sâu bệnh hại cao, sống lâu năm, thường cho gỗ lớn và tốt, hoặc đặc hữu, gắn
Trang 14bó với đời sống của người dân vùng núi Nguồn giống thường có sẵn, nhiều và tương
đối rẻ tiền; dễ dàng lựa chọn được những loài cây có đặc tính mong muốn do tính đa
dạng cao; khi được trồng thì tạo ra cảnh quan phù hợp với tiềm thức và văn hóa dân tộc; người dân địa phương có nhiều kinh nghiệm trong việc nhân biết, sử dụng và phát triển; có giá trị kinh tế cao…
- Nhược điểm: Cây bản địa rất đa dạng và phong phú, nhiều loài cây có vùng phân bố nên không trồng được phổ biến, chưa có quy trình nhân giống và trồng các loài cây bản địa; thường có đời sống dài nên đầu tư lâu và chậm thu hồi
Việc gieo ươm, trồng, bảo vệ cây bản địa là mục tiêu quan trọng trong triết
lý hành động của những người làm lâm nghiệp Do đó định hướng khôi phục và bảo tồn cây bản địa nhằm đa dạng hóa và làm giàu mầm xanh những khu vực rừng nghèo kiệt đã bị tàn phá trước đây là một chiến lược cấp bách Gieo ươm, trồng và bảo vệ không những có ý nghĩa về mặt bảo tồn mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo, chia sẻ cho những thế hệ trẻ hiểu được giá trị của cuộc sống khi ươm và phát triển những mầm xanh tương lai; không bị mất đi những nguồn gen cây rừng quý…
2.1.2 Khái niệm sinh trưởng và phát triển rừng
Sinh trưởng và phát triển là một trong những nội dung quan trọng nhất của
động thái rừng, nó ảnh hưởng lớn đến mục tiêu kinh doanh của ngành Lâm
nghiệp Rừng sinh trưởng, phát triển theo những quy luật nhất định, các quy luật
đó chi phối bởi di truyền và điều kiện lập địa
- Sinh trưởng: là sự tăng lên về kích thước và trọng lượng của cây (hoặc từng
bộ phận) có liên quan đến sự tạo thành mới các cơ quan, các tế bào cũng như các yếu tố cấu trúc của tế bào Sinh trưởng là quá trình không đi ngược lại
Trang 15- Phát triển: cá thể là tiến trình có tính quy luật của những biến đổi về
chất lượng của các chất chứa trong tế bào và quá trình tạo hình (phát sinh cơ quan bộ phận, thành phần cấu trúc mới) mà thực vật trải qua trong chu trình sống của mỗi cá thể
Sinh trưởng và phát triển có liên quan chặt chẽ với nhau Không có sinh trưởng thì không có phát triển và ngược lại phát triển là tiền đề cho sinh trưởng Sinh trưởng ảnh hưởng quyết định đến mục tiêu kinh doanh rừng gỗ, phát triển
ảnh hưởng quyết định đến kinh doanh rừng giống
2.2 Tình hình nghiên cứu ở trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Những nghiên cứu mang tính chất cơ sở trên thế giới
- E.P.ODUM (1971) [13] với nhiều công trình nghiên cứu về sinh thái học làm cơ sở cho nghiên cứu hệ sinh thái rừng Đây là cơ sở lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu, xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho rừng mưa nhiệt đới
- Geoge N Baur (1952, 1964, 1976) [12], đã nghiên cứu cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa, phục hồi và quản lý rừng nhiệt đới Tác giả đã tổng kết những biện pháp xử lý kỹ thuật lâm sinh nhằm đem lại rừng đồng tuổi và không đồng tuổi trong kinh doanh rừng nhiệt đới ở các châu lục khác nhau
- Richards PW (1952), Cantinot (1965) [14], đã đi sâu vào biểu diễn hình thái cấu trúc rừng bằng biểu đồ các nhân tố cấu trúc được mô tả, phân loại theo dạng sống, tầng phiến, tầng thử
- Parde (1961), Bottam (1972), Rollet (1979) đã vận dụng toán học thống
kê để nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng, định lượng hoá các quy luật, đồng thời làm cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật
Trang 16Kraft (1884) lần đầu tiên đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng, ông phân chia cây rừng thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất lượng cây rừng Phân cấp của Kraft phản ánh được tình hình phân hoá cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp với rừng thuần loài đều tuổi Việc phân cấp cây rừng cho rừng tự nhiên hỗn loài nhiệt đới là một vấn đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra phương án phân cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên được chấp nhận rộng rãi
Các công trình đi sâu vào nghiên cứu áp dụng các kỹ thuật về tái sinh các loài cây gỗ bản địa bằng phương pháp trồng dặm, trồng thêm vào rừng nghèo, rừng tái sinh kém Nhằm nâng cao chất lượng và trữ lượng gỗ bằng nhiều phương pháp như trồng theo rạch, theo băng, theo đám, trồng dưới tán Và đã được áp dụng ở nhiều nước như: Nijênia, Cônggô, Camerun, Gabon, Côtdivoa
- Tại Nhật Bản: Kasama Forest Technology Center đã thiết lập hàng loạt các mô hình rừng nhiều tầng tán bao gồm nhiều loài cây và ở nhiều cấp tuổi, trồng ở nhiều độ cao khác nhau ở vùng Tsucuba (có độ cao 876m so với mực nước biển ) cho cả loài cây Tuyết tùng (Japanese Cedar) và đã đưa ra sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các loài cây khi trồng hỗn giao với nhau và ảnh hưởng của môi trường đến từng cây
- Tại Đài Loan và một số nước châu Á đã đưa cây bản địa trồng ở những vùng đất trống đồi núi trọc sau khi đã trồng phủ xanh bằng cây lá kim kết quả là tạo ra những mô hình rừng hỗn giao bền vững, đạt năng suất cao, có tác dụng tốt trong việc bảo vệ, chống xói mòn đất
2.2.2 Những nghiên cứu về trồng cây bản địa ở Việt Nam
* Về cấu trúc rừng: có rất nhiều tác giả đã sử dụng hàm thống kê toán học để nghiên cứu định lượng cấu trúc: Đồng Sỹ Hiển (1974) [2], Nguyễn Hải
Trang 17Tuất (1986, 1990) [10], Vũ Tiến Hinh (1990) [4] đã sử dụng các hàm hồi quy
và hàm thống kê để mô tả hiện trạng cấu trúc rừng cho cả rừng tự nhiên và rừng trồng
- Nguyễn Văn Trương (1983), Phùng Ngọc Lan (1986) [5] và Vũ Tiến Hinh (1987,1988) đã nghiên cứu và tìm ra những kết quả làm căn cứ xây dựng mô hình rừng
có sản lượng, tăng trưởng ổn định (về một số nhân tố chủ đạo)
* Về phân loại trạng thái rừng: Có các công trình của Trần Ngũ Phương (1963), Thái Văn Trừng (1978) [6], Vũ Biệt Linh (1984) đã nghiên cứu và có những thành tựu có tầm quan trọng to lớn
* Về sinh thái học: Có các công trình của Thái Văn Trừng (1948) về đặc
điểm hình thành rừng ngập mặn ở Cà Mau, thảm thực vật trên những đồi trọc
vùng trung du miền núi phía Bắc (1959)
- Trần Nguyên Giảng (1961- 1963 và 1960 - 1962), Trần Xuân Tiếp - Lê Xuân Tám (1963 - 1967) đã đưa ra các biện pháp kỹ thuật gây trồng và phục hồi cây bản địa nhằm đem lại hiệu quả trong quá trình tu bổ lại tầng cây cao có giá trị trong lâm phần rừng
Trong công trình nghiên cứu này, tác giả Trần Nguyên Giảng đã xây dựng thành công mô hình trồng hỗn loài cây bản địa dưới tán cây phù trợ và đã có báo cáo tổng kết sơ bộ tình hình sinh trưởng của rừng ở khu vực nghiên cứu, nhưng vẫn chưa có đánh giá về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái cũng như mối quan hệ tương hỗ giữa các loài cây này
- Năm 1996, Trần Nguyên Giảng đã nghiên cứu trồng 10 loài cây bản địa dưới tán rừng Keo lá tràm và Keo Tai tượng tại vườn Vườn Quốc gia Cát Bà – Hải Phòng Tác giả cho rằng hai loài cây này có tác dụng cải tạo bảo vệ đất, phù trợ cho cây bản địa mọc và phát triển nên chứng tỏ cách làm như vậy là đúng
Trang 18Nhưng đến năm 1998, kết qủa đạt được lại không giống như vậy, cây bản địa trồng dưới tán rừng Keo lá tràm có tỷ lệ sống cao, sinh trưởng và phát triển tốt, trong khi đó cây bản địa trồng dưới tán rừng Keo tai tượng thì có tỷ lệ sống thấp, sinh trưởng, phát triển kếm không có triển vọng tồn tại Tác giả giải thích đó có thể là do nhu cầu nước của Keo tai tượng là rất lớn làm cho đất luôn khô cứng nên không cải thiện được môi trường đất
- Trường Đại học Lâm nghiệp (Xuân Mai - Chương Mỹ - Hà Tây) đã xây dựng vườn sưu tập các loài cây trồng dưới tán rừng Thông nhựa và đã tìm ra
được các loài cây thích nghi cũng như những loài cây không thích nghi khi trồng
dưới tán rừng cây lá kim
- Trung tâm KHSX Lâm Nghiệp Đông Bắc Bộ (Ngọc Thanh - Phúc Yên –Vĩnh Yên) đã thử nghiệm cây bản địa dưới tán rừng Thông mã vĩ những năm
2000 và 2001 trên diện tích 10 ha tại khu vực Lũng Đồng Đành bao gồm 5 loài cây bản địa có giá trị kinh tế cao: Lim xanh, Lim xẹt, Re hương, Ràng ràng xanh
và Dẻ Yên Thế
Ngoài ra trung tâm cũng xây dựng một khu vườn sưu tập thực vật trồng trên 180 loài cây bản địa cùng với cây phù trợ là Keo lá tràm và Keo tai tượng (1996 - 2001)
Trong chiến lược phát triển Lâm nghiệp (2006 - 2020), nghành Lâm nghiệp
đã chú trọng đến việc bảo tồn và phát triển các loài cây bản địa đang ngày càng bị
thu hẹp lại về cả diện tích cũng như số loài do những hiểu biết về chúng ngày càng
được hé mở Ngày nay, người ta đã biết được những lợi ích to lớn mà các loài cây
bản địa mang lại, không chỉ đơn thuần là cung cấp lâm đặc sản mà chúng còn là những loài cây "của tự nhiên", có sự phát sinh và tiến hoá trong thời gian dài nên
có khả năng thích nghi cao với điều kiện nơi mọc và có tính bền vững cao, "thân
Trang 19thiện với môi trường sinh thái" Ngoài ra, chúng mang những ý nghĩa nhân văn to lớn trong đời sống của các cộng đồng dân cư sống gần rừng, gắn liền với kiến thức bản địa và phong tục tập quán của họ, do vậy việc đem gây trồng chúng cũng sẽ
có nhiều thuận lợi hơn
Trung tâm Khoa học và sản xuất Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ là trung tâm vùng trực thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tiến hành gây trồng một số mô hình trồng cây bản địa dưới tán rừng, điển hình là mô hình trồng 10 loài cây bản địa dưới tán rừng Thông mã vĩ tại khu vực Lũng
Đồng Đành và trồng 180 loài cây bản địa dưới tán rừng Keo lá tràm tạo
thành một vườn sưu tập thực vật tại khu vực Năm Xà Lũng Theo đánh giá ban đầu, các mô hình này đã đạt được những thành công nhất định
Trang 202.3 Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Chò chỉ
Sơ lược nghiên cứu về cây Chò chỉ
Tên Việt Nam: Chò Chỉ
Tên khác: Mạy kho, mạy Rào
Tên khoa học: Parashorea chinensis Wang Hsie
Lá đơn, hình trái xoan Cây non lá to, dài 13 - 15cm, rộng 6 - 7 cm, có lá kèm màu lục nhạt Cây lớn, lá nhỏ hơn, có 15 - 18 đôi gân thứ cấp gần song song Mặt dưới lá và mặt trên của gân lá có phủ lông hình sao, gốc mỗi lá có 2 lá kèm
Trang 21Hoa mọc đầu cành, cánh hoa màu vàng, có mùi thơm nhẹ Quả màu xanh xám, có đường kính 4 - 6mm, dài 13 - 16mm, có 5 cánh không đều, khi non màu hồng nhạt, khi khô màu nâu sẫm
2.3.2 Đặc tính sinh thái
Chò chỉ phân bố tự nhiên ở các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá, Ninh Bình, Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Hà Giang Thường gặp chúng trong rừng tự nhiên, có độ cao từ 100m đến 700m so với mực nước biển, nơi có lượng mưa bình quân từ 1600 - 2300mm, nhiệt độ bình quân 20 -
240C Chò chỉ gặp trên nhiều loại đất như feralit đỏ vàng, nâu vàng trên đá vôi, tầng trung bình đến dày, hơi ẩm
Trong rừng nguyên sinh, Chò chỉ hỗn giao với các loài gỗ lớn như Trường, Sấu, Re xanh, Trám, Sâng Ở rừng thứ sinh, Chò chỉ hỗn giao với các loài như Dẻ, Kháo vàng, Vàng anh, Máu chó, Côm Trong tự nhiên Chò chỉ không tồn tại ở những nơi đất trống đồi trọc, hoặc đất bạc màu thoái hoá
Ở rừng nguyên sinh cũng như rừng thứ sinh nghèo kiệt (rừng gỗ pha tre
nứa), thảm tươi dưới tán rừng Chò chỉ thường dày đặc, gồm các loại ẩm sinh như Khoai mài, Sẹ, Lá dong, Quyển bá, Dương xỉ cây bụi có các loài như Bọt ếch, Cơm nguội, Xương gà, Chẩn, Trọng đũa
Chò chỉ tái sinh tự nhiên ở những nơi có cây mẹ gieo giống, nơi tán rừng không quá rậm Chò chỉ thường mọc ở những nơi ven khe suối, chân hoặc sườn núi, ẩm, ở độ cao £700 m so với mực nước biển và thích hợp với các loại đất như Feralit đỏ nâu hoặc vàng đỏ phát triển trên các loại đá mẹ Phiến thạch sét, Granit, Phiến thạch mica, có tầng dày, tơi xốp, thành phần chủ yếu là sét pha thịt Càng lên cao thì màu vàng ở tầng B càng chiếm ưu thế Hàm lượng mùn tương
đối khá ở tầng đất mặt và càng lên cao thì hàm lượng mùn càng tăng (từ 3 - 7 %)
Trang 22Đất có phản ứng chua và độ bão hoà Bazơ thấp (pHH2Otừ 4 - 5) Hàm lượng các chất dinh dưỡng P2O5 và K2O dễ tiêu đều nghèo
2.3.3 Giống và tạo cây con
- Hạt giống:
Cây trồng 10 - 12 năm bắt đầu ra quả, nhưng thu hái ở các lâm phần từ 15 tuổi trở lên mới có chất lượng hạt tốt Chu kỳ sai quả 4 - 6 năm, ở những năm này tỷ lệ cây ra quả đạt 70-80% Mùa ra hoa tháng 4 - 5, mùa quả chín tháng 7 -
8 Chò chỉ thường ra hoa không đều, có khi 3 - 4 năm ra hoa một lần, khả năng
đậu quả không cao Quả dễ bị sâu phá hại Mỗi quả có 3 - 4 hạt
Thu hái quả vào tháng 8-9 khi quả chín vỏ mầu nâu nhạt Hạt và cánh hạt mầu nâu, nhân hạt chắc và có mầu trắng Thu hái tốt nhất là khi lâm phần có từ
50 - 60% số cây có quả rụng Quả thu hái về phải ủ ngay vào cát, tưới nước đều
đặn luôn để đống ủ có độ ẩm 80% Đống ủ không cao quá 50cm và phải để nơi
thông gió Mỗi ngày đảo 1 lần Bảo quản hạt ở điều kiện thông thường có thể duy trì sức sống được 1 thời gian nhưng tỷ lệ nảy mầm giảm tương đối nhanh Sau 1,5 tháng đã mất sức nảy mầm 50-60% Một kg quả có 300 - 350 quả, độ thuần > 95%, tỷ lệ nảy mầm <50%
- Gieo ươm:
Dùng vỏ bầu Polyetylen cỡ 8 x 12cm, không đáy và đục lỗ xung quanh Thành phần hỗn hợp ruột bầu gồm: Phân chuồng ủ hoai, supe lân Lâm thao (có hàm lượng P2O5 dễ tiêu 14%) 2%, đất tầng A dưới tán rừng 88% Đất rừng tầng A, có hàm lượng mùn từ 3% và độ pHKCl = 5 - 6, thành phần cơ giới là thịt nhẹ, pha cát (sét vật lý 20-25%)
Trang 23Đất tập kết tại vườn ươm, được đập nhỏ và sàng có đường kính mắt sàng
4mm, loại bỏ rễ cây, sỏi đá, đất sét, rồi vun thành đống cao 15 - 20cm Sau đó phun ẩm và phủ vải mưa, giấy bóng ủ 4 - 5 ngày ngoài nắng
Luống để xếp bầu rộng 1m, dài 10 - 20m và cao 15 - 20cm Rãnh luống rộng 40 - 0cm Xếp bầu theo hàng, cứ 2 hàng để cách 1 hàng Mật độ bầu trên luống khoảng 260 - 280 bầu/m2
Khi rễ cọc phát triển ra ngoài đáy bầu phải tiến hành đảo bầu kết hợp phân loại cây để tiện chăm sóc Chỉ tiến hành đảo bầu vào những ngày râm mát hoặc
có mưa nhỏ
Hạt sau khi thu hái cần được cắt bỏ bớt 3/4 cánh Diệt khuẩn bằng cách ngâm hạt trong dung dịch thuốc tím KMnO4 nồng độ 0,1% (1gam thuốc tím pha với 1 lít nước) với thời gian 30 phút Sau đó ủ hạt trong cát ẩm
Hàng ngày tiến hành tưới nước cho đến khi hạt nứt nanh thì đem gieo, tránh để nanh quá dài khi gieo có thể bị gẫy mầm
Có thể gieo hạt thẳng vào bầu Tạo 1 lỗ sâu 1,5cm giữa bầu và gieo 1 hạt
đã nứt nanh, sau đó phủ lớp đất mỏng 3 - 5mm Dùng rơm rạ phủ trên mặt luống
giữ độ ẩm, tránh nắng
Khi cây mầm được 5 - 7 ngày tuổi, dài 1 - 1,5cm thì bứng cây vào bầu Cấy cây vào ngày râm mát hoặc mưa nhẹ, tránh những ngày nắng gắt, gió mùa Đông Bắc Trước hôm cấy cần tưới nước cho đất ướt đều với lượng 4 - 6 lít/m2 Sau khi nhổ cần nhúng cây vào bát nước để tránh khô rễ mầm Cấy đến đâu nhổ đến đấy Loại bỏ những cây xấu Dùng que nhọn chọc 1 lỗ sâu 2 - 3 cm ở giữa bầu, hướng cây mầm sao cho cổ rễ ngang mặt bầu và dùng que ép chặt đất với rễ mầm
Sau khi cấy xong tiến hành cắm ràng ràng che mặt luống và tưới nước cho cây Dùng lưới che sáng 50% che cho luống cây
Trang 24Tưới nước giữ độ ẩm đất sau khi gieo hoặc cấy cây nếu trời không mưa Không được để khô luống Khi hạt mọc, dỡ bỏ rơm rạ phủ mặt luống và cắm ràng ràng che bóng Từ thời gian hạt chưa bỏ mũ thường xuyên tưới mỗi ngày ít nhất 1 lần vào buổi sáng sớm hoặc buổi chiều Lượng nước tưới 2 - 4 lít/m2 Tưới liên tục trong 20 ngày đầu, sau đó chỉ tưới khi đất khô Ở giai đoạn sau, tuỳ theo tình hình thời tiết mà điều tiết lịch tưới cho phù hợp
Trước khi xuất vườn 1 - 2 tháng tuyệt đối không được bón thúc, hạn chế tưới nước để hãm cây Sau khi cấy cây 5 - 10 ngày, cây nào chết cần tiến hành cấy dặm ngay Thời gian đầu cứ sau 10 - 15 ngày cần làm cỏ, kết hợp phá váng 1 lần Dùng que vót nhọn xới nhẹ phá lớp váng tạo trên mặt bầu, tránh không làm
hư tổn đến bộ rễ
Giai đoạn đầu cần có độ che bóng 50%, sau đó dỡ bỏ dần giàn che Trước khi xuất vườn 1 - 2 tháng cần dỡ bỏ hoàn toàn Có thể bón thúc để thúc đẩy sinh trưởng của cây con trường hợp cây sinh trưởng kém ở các thời điểm cây 120 ngày, 180 ngày, 240 ngày Sau 15 - 20 ngày thúc 1 lần Dùng loại phân hỗn hợp
Đạm Amôn – Supe lân và Cloruakali tưới thúc với tỷ lệ 3N:6P:1K Hoặc dùng
phân Supe lân Lâm Thao khi cây có biểu hiện tím lá 2 kg bón cho 1000 bầu chia làm 6 lần (Mỗi lần bón 0,340kg/1000bầu) Hoà phân với nồng độ 0,5% (1kg phân/200 lít nước) Tưới dung dịch nước phân bằng bình hương sen Sau khi tưới phân phải tưới rửa lá bằng nước lã
Không tưới phân thúc vào những ngày nắng gắt, vào lúc buổi trưa nắng Tốt nhất nên tưới vào những ngày râm mát hoặc mưa phùn
Chò chỉ bị Sâu đục nõn và sâu ăn lá cả ở vườn ươm và ngoài rừng trồng Cách phòng trừ là thường xuyên kiểm tra và bắt sâu vào buổi sáng
Trang 25- Tiêu chuẩn cây con:
Cây ươm đạt 12 - 15 tháng tuổi, đường kính cổ rễ 0,5 - 0,6cm, cao 60 - 80cm, thân hoá gỗ hoàn toàn, không bị nhiễm sâu bệnh hại, không bị cụt ngọn, không nhiều thân là đủ tiêu chuẩn đem trồng Không trồng cây khi đã có lá non
2.3.4 Trồng và chăm sóc rừng
Trồng thuần loài hoặc hỗn giao ở nơi còn tính chất đất rừng, có cây bụi, cây gỗ mọc rải rác Ở nơi đất trống trọc cần trồng cây phù trợ như Cốt khí, Đậu tràm trong giai đoạn đầu
Trồng hỗn giao giữa Chò chỉ với các loài cây tái sinh mục đích sẵn có trong lâm phần Trồng theo rạch song song với đường đồng mức Trong rạch trồng cây phát rộng 2m, dọn sạch cây bụi, cỏ dại, cây tái sinh không mục đích và
để lại những cây mục đích khoẻ mạnh có tương lai Băng chừa để lại rộng 3m
Xử lí thực bì phải được tiến hành trước khi trồng rừng 1 tháng
Trồng hỗn giao với các loài cây lá rộng bản địa khác như Sấu, Re Cứ trồng 1 rạch Chò chỉ lại xen tiếp theo 1 rạch loài cây lá rộng thứ hai Trong rạch trồng cây, phát dọn dây leo, cây bụi, cây tái sinh phi mục đích, chỉ để lại cây mục đích có tương lai
Trồng thuần loài với mật độ 540 cây/ha, cự li 3,5 x 5 m
Trồng hỗn giao tỷ lệ 1:1 với các loài Sấu, Re, mật độ 540 cây/ha, cự li 3,5
x 5m Trong đó có 270 cây Chò chỉ và 270 cây Sấu, Re, 1 hàng Chò chỉ xen 1 hàng Sấu / Re
Thời vụ trồng: Vụ chính là vụ Xuân từ 10/2 đến 30/3, vụ Hè Thu từ tháng
6 đến tháng 8
Cuốc hố trồng với kích thước 40 x 40 x 40cm Các hố bố trí giữa hàng và
so le giữa các hàng theo hình nanh sấu Khi cuốc hố tách riêng phần đất tốt, đất
Trang 26xấu Vun hố hình mui rùa Hoàn thành cuốc hố trước lúc trồng rừng 30 ngày Bón lót 200g đạm sunfat + 100g supe lân + 100g clorua kali cho mỗi hố khi lấp
hố và bón thúc 200g NPK(5:10:3) vào lần chăm sóc thứ nhất
Trồng cây vào những ngày có mưa nhỏ hoặc râm mát Tránh trồng vào những lúc trưa nóng hoặc có gió mùa Đông Bắc Dùng dao lam hay kéo sắc rạch bầu, tránh làm tổn thưởng cây Dùng cuốc hoặc xẻng bới 1 lỗ giữa hố sâu bằng chiều cao của bầu cây trồng Đặt cây sao cho cổ rễ ngang mặt hố, rồi vun đất xung quanh cho kín Có thể dùng tay hoặc chân dẫm chặt xung quanh gốc cây, tránh dẵm vào bầu làm vỡ bầu
Sau khi trồng rừng, cần được chăm sóc và bảo vệ liên tục cho đến khi rừng khép tán, đặc biệt trong 3 năm đầu
Năm thứ nhất chăm sóc 2 lần với cây trồng vụ xuân và 1 lần với cây trồng vụ thu Lần 1 vào tháng 5 - 6, lần 2 vào tháng 11 - 12 Trồng dặm những cây đã chết Phát dọn toàn bộ dây leo, cây bụi cỏ dại và cây phi mục đích trong rạch trồng cây với chiều rộng 2m Xới đất xung quanh hố với đường kính rộng
40 – 50cm Tiến hành bón thúc sau đó vun đất xung quanh gốc Bảo vệ không cho gia súc phá cây
Năm thứ hai chăm sóc 2 lần, lần 1 vào tháng 5 - 6, lần 2 vào tháng 11 - 12 Phát dọn toàn bộ dây leo, cỏ dại, cây bụi và cây phi mục đích trong rạch trồng cây với chiều rộng 2m Xới đất xung quanh gốc đường kính rộng 50cm, sâu 3 – 4cm, vun gốc Phát luỗng dây leo, cây sâu bệnh, sau đó đánh dấu những cây mục
đích cần nuôi dưỡng ở băng chừa
Năm thứ ba chăm sóc 2 lần vào đầu và cuối mùa mưa Phát dọn dây leo,
cỏ dại, cây bụi trong rạch trồng cây Nơi nào cây tái sinh ở băng chừa lấn át chèn
Trang 27ép cây trồng thì phải chặt thấp xuống hoặc loại bỏ Xới đất xung quanh gốc rộng 60cm, sâu 3 – 4cm, vun gốc
Năm thứ tư tiến hành phát luỗng dây leo, loại bỏ cây sâu bệnh, cây bụi, cây tái sinh phi mục đích chèn ép cây trồng và cây mục đích trên toàn bộ lô trồng rừng Những khoảng trồng không có cây mục đích, cần giữ lại cây tái sinh, cây bụi thảm tươi để phòng hộ
Khi cây rừng đạt chiều cao 3 - 5m, phải bảo vệ không để cháy rừng Những nơi có thực bì rậm rạp, cần phát luỗng thực bì dọn ra khỏi rừng trước mùa hanh khô Điều chỉnh không gian dinh dưỡng: Khi cây trồng bị cây bụi hoặc cây tái sinh phi mục đích chèn ép cần tiến hành phát loại bỏ những cây chèn ép Tỉa những cành khô, những cành thấp không có khả năng quang hợp
Khi cây rừng chuẩn bị khép tán vào năm thứ 4 - 5, trường hợp mật độ đủ, cần chặt bỏ những cây cong queo, sâu bệnh, cụt ngọn, nhiều thân, còi cọc, tán lệch Khi cây rừng đạt 8 - 10 tuổi, tiếp tục loại bỏ những cây cong queo, sâu bệnh, cụt ngọn, tán lệch, nhiều thân
2.3.5 Khai thác, sử dụng
Gỗ Chò chỉ cứng, thớ thẳng, mịn, nặng, tỷ trọng 0,83, xếp nhóm V Gỗ có giác lõi phân biệt, giác màu xám trắng, lõi màu hồng, không bị mối mọt, chịu
nước nên được dùng để đóng đồ, làm gỗ xây dựng và đóng tàu thuyền
2.4 Điều kiện tự nhiên của khu vực tiến hành nghiên cứu đề tài
Trang 28Xã nằm ở phía tây của khu vực trung tâm thành phố và tất cả đơn vị tiếp giáp xã này đều thuộc thành phố Thái Nguyên:
- Phía Bắc giáp xã Phúc Hà, phường Quan Triều
- Phía Nam giáp phường Thịnh Đán, xã Thịnh Đức và xã Phúc Trìu
- Phía Đông giáp phường Tân Thịnh và Thịnh Đán
- Phía Tây giáp xã Phúc Trìu và Phúc Xuân
Trên địa bàn xã có tuyến đường tránh thành phố Thái Nguyên chạy qua, ngoài ra, tuyến tỉnh lộ 260 nối giữa trung tâm thành phố và huyện Đại Từ cũng
đi qua phần cực nam của xã
2.4.2 Địa hình, địa mạo
* Địa hình: Quyết Thắng là một trong các xã có diện tích lớn nhất thuộc thành
phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
* Địa mạo: Địa hình của xã không phức tạp lắm nên đây chính là một thuận lợi
của xã cho việc phát triển kinh tế xã hội
4.2.3 Khí hậu, thủy văn
- Khí hậu: Khí hậu của xã Quyết Thắng được chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa
từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6:35,90C) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 10,20C) Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1400
đến 1800 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm Nhìn chung
khí hậu của xã Quyết Thắng thuận lợi cho việc phát triển ngành nông, lâm nghiệp
- Lượng mưa: Trung bình năm khoảng 2.100mm – 2.600mm, cao nhất vào tháng
8 và thấp nhất vào tháng 1
Trang 29- Độ ẩm: Độ ẩm không khí trên địa bàn xã khá cao Mùa nóng độ ẩm dao động
từ 80% đến 85%, mùa lạnh từ 62% đến 77%
Trang 30Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cây Chò chỉ (Parashorea chinensis Wang Hsie)
được trồng tại viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp – trường Đại học Nông
lâm Thái nguyên
- Phạm vi nghiên cứu: Thực hiện nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát
triển của cây Chò chỉ tại viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp, một số tuyến đường trong khuân viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
- Thời gian tiến hành: Từ tháng 01/2015 đến tháng 05/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của số cây Chò chỉ trồng từ
vụ xuân năm 2013 và số cây trồng mới năm 2015 về các chỉ số:
+ Chiều cao vút ngọn
+ Đường kính cổ rễ
+ Đường kính tán
- Nguyên cứu một số quy luật cấu trúc của cây Chò chỉ
- Đánh giá sơ bộ mức độ sâu bệnh hại trên cây Chò chỉ trồng tại trường
Đại học Nông lâm Thái Nguyên
- Đánh giá chất lượng cây Chò chỉ
Trang 313.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Phân tích là chia những cái toàn thể của đối tượng nghiên cứu thành những bộ phận, những mặt, những yếu tố cấu thành đơn giản để nghiên cứu, phát hiện ra những thuộc tính và bản chất của từng yếu tố một cách mạch lạc hơn, hiểu được những yếu tố chung phức tạp
Phân tích để phân loại các số liệu, tài liệu theo các lĩnh vực khác nhau Nhiệm
vụ của phân tích là thông qua những yếu tố riêng để tìm được cái chung, thông qua hiện tượng tìm ra bản chất, thông qua đặc thù tìm ra cái phổ biến
Tổng hợp là quá trình ngược lại với phân tích tài liệu Nhưng hỗ trợ cho quá trình phân tích để tìm ra cái khái quát
Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp gắn bó chặt chẽ và bổ sung cho nhau trong quá trình nghiên cứu, có cơ sở khách quan trong cấu tạo
Trong phân tích, việc xây dựng một cách đúng đắn theo tiêu thức phân loại làm cơ sở khoa học hình thành đối tượng nghiên cứu, có ý nghĩa rất quan trọng
Phần này đề cập đến phương pháp chung nhất thực hiện đề tài, từ bước thu thập cho đến xử lý số liệu cũng như giải quyết từng nội dung cụ thể Nguyên tắc chung là, các phương pháp được sử dụng phải nhất quán từ bước thu thập số liệu đến xây dựng và đánh giá mô hình lý thuyết Sự nhất quán về mặt phương pháp còn thể hiện ở mặt kế thừa Kết quả nghiên cứu ở nội dung này là cơ sở để giải quyết những
nội dung tiếp theo, mà không giải quyết độc lập từng vấn đề một
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
3.4.2.1 Tính kế thừa tài liệu
Kế thừa các tài liệu hiện có để hệ thống hóa các thông tin có liên quan đến nội dung của đề tài như: