1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổng kết lấy ý kiến các bên liên quan về chuẩn đầu ra các chương trình đào tạo

33 291 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 726,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG VIỆC CỦA SINH VIÊN KHOA SƯ PHẠM – NGOẠI NGỮ Nguyễn Văn Lượng - Trường TCNN Thái Bình Trường Trung cấp nông nghiệp Thái Bình được thành lập từ tháng 10.196

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TRUNG TÂM ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG

TÀI LIỆU HỘI NGHỊ

Tổng kết lấy ý kiến các bên liên quan

về Chuẩn đầu ra các chương trình đào tạo

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TRUNG TÂM ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG

CHƯƠNG TRÌNH HỘI NGHỊ Tổng kết lấy ý kiến các bên liên quan về Chuẩn đầu ra

các chương trình đào tạo của Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Thời gian: Thứ 6, ngày 05 tháng 6 năm 2015

Địa điểm: Phòng hội thảo, Nhà Hành chính, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

8.00 – 8.10 Tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu,

thông qua chương trình hội nghị TT.ĐBCL

8.10 – 8.20 Phát biểu khai mạc PGS.TS Phạm Văn Cường,

Phó Giám đốc Học viện

8.20 – 8.40 Báo cáo tổng kết ý kiến phản hồi

các bên liên quan về chuẩn đầu ra

TS.Nguyễn Xuân Thiết, Phó Giám đốc phụ trách

TT.ĐBCL

8.40 – 8.50

Tham luận về:“ Mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của sinh viên

khoa Sư phạm & Ngoại ngữ

Thầy Nguyễn Văn Lượng Trường TCNN Thái Bình

8.50- 9.00 Bài phát biểu về chuẩn đầu ra ngành

Bảo vệ thực vật khoa Nông học GS.TS.Vũ Triệu Mân

9.00 - 9.10

Tham luận về: “Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực nhìn từ góc độ Viện nghiên cứu”

TS Chu Mạnh Thắng (Viện Chăn nuôi)

Trang 3

9.10 – 9.20

Tham luận về: “Thực trạng đáp ứng yêu cầu tuyển dụng hiện nay của sinh viên CNTP”

Ông Trần Thế Xuân Công ty FrieslandCampina

VN

9.20 – 9.30

Bài phát biểu về: “Tiêu chí tuyển dụng bác sĩ Thú y; Đánh giá về sự đáp ứng của sinh viên tốt nghiệp đối với yêu cầu của nhà tuyển dụng và

sự cần thiết phải thay đổi chuẩn đầu

ra theo yêu cầu của xã hội”

Đại diện Công ty thuốc thú y

TS.Nguyễn Xuân Thiết, Phó Giám đốc phụ trách

TT.ĐBCL

10.40- 11.00 Tổng kết hội nghị

PGS.TS Phạm Văn Cường Phó Giám đốc Học viện

Từ 11.15 Ăn trưa tại nhà hàng Kim Thanh

Ban giám đốc Học viện, khách mời, Lãnh đạo các khoa, Ban TC &KT, Ban QLĐT, TT.ĐBCL

Trang 4

5 ĐÓNG GÓP Ý KIẾN VỀ CHUẨN ĐẦU RA NGÀNH KẾ TOÁN 15

6 GỢI MỞ MỘT SỐ ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG TRONG CHUẨN ĐẦU RA CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THỜI ĐẠI HỘI NHẬP 17

Trang 5

MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG VIỆC CỦA SINH VIÊN

KHOA SƯ PHẠM – NGOẠI NGỮ

Nguyễn Văn Lượng - Trường TCNN Thái Bình

Trường Trung cấp nông nghiệp Thái Bình được thành lập từ tháng 10.1961, trên nửa thế kỷ qua, trường đã đào tạo ra nhiều vạn học sinh trung cấp các chuyên ngành nông nghiệp, người lao động có trình độ Trung cấp, sơ cấp KTNN và dạy nghề nông nghiệp ngắn hạn, góp phần quan trọng và kết quả của ngành nông nghiệp Tỉnh Thái Bình - một địa phương nổi tiếng trong toàn quốc nhiều thập kỷ qua về thành tích trong nông nghiệp Nhà trường đã được tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý, nhiều giáo viên từng đạt giải nhất nhì GV dạy giỏi toàn quốc…học sinh ra trường làm cán bộ chủ chốt phụ trách nông nghiệp

có mặt ở khắp 267 xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh và các tỉnh lân cận Có được các thành tích đó là do chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên của nhà trường quyết định Suốt nửa thế kỷ qua các thế hệ lãnh đạo nhà trường luôn chú trọng tuyển dụng và thu hút lực lượng giáo viên có tài năng, có tâm huyết về công tác tại trường, trong đó trường đặc biệt ưu tiên tuyển dụng những người là sinh viên của trường Học viện nông nghiệp Việt Nam Hiện nay nhà trường có 50 biên chế thì có tới 35 người tốt nghiệp từ Học viện nông nghiệp Việt Nam, chiếm tới 70% cán bộ , giáo viên trong trường Trong đó có 20 người đã tốt nghiệp Thạc sĩ của Học viện nông nghiệp Việt Nam và 2 người đang làm NCS cũng tại Học viện nông nghiệp Việt Nam Như vậy đang công tác tại trường TCNN Thái Bình

đa số là sinh viên, học viên và NCS của Học viện nông nghiệp Việt Nam Nhìn chung đội ngũ cán bộ, giáo viên được đào tạo từ Học viện nông nghiệp Việt Nam đều có kiến thức chuyên ngành rất vững vàng, đa số say mê với chuyên môn, luôn có ý thức học tập nâng cao trình độ và khát khao trau dồi kiến thức mới để hoàn thiện mình… Tuy nhiên, đối với lĩnh vực làm thày thì chuyên môn rất giỏi cũng chưa đủ mà còn phải có nghiệp vụ sư phạm thành thạo, đáp ứng

Trang 6

được yêu cầu giảng dạy đa dạng các đối tượng Giáo viên trường TCNN Thái Bình hiện nay đang phải giảng dạy cho rất nhiều đối tượng khác nhau như:

- Tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật theo các chương trình khuyến nông cho bà con nông dân các xã, mỗi lớp khoảng 100 học viên, đối tượng rất đa dạng về trình độ, về lứa tuổi, về tính cách, về mục đích đi học…

- Dạy nghề nông nghiệp thường xuyên dưới 3 tháng cho LĐNT theo đề án 1956/QĐ-TTg mỗi lớp không quá 35 học viên - chủ yếu dạy tại nhà văn hóa các thôn làng, không đồng đều về độ tuổi (từ 16 - 60 đối với nữ, đến 65 đối với nam)

đa dạng về trình độ, lệch nhau về kỹ thuật, có người chưa thạo việc nhà nông, nhưng cũng có nhiều người đã thành những lão nông tri điền rất giỏi…

- Dạy sơ cấp kỹ thuật nông nghiệp tổng hợp thời gian đào tạo dưới 1 năm, số lượng từ 70 - 100 người/1lớp, rất da dạng về trình độ, lứa tuổi và mục đích học

Để hấp dẫn họ theo đuổi học 1 năm là rất khó khăn…

- Dạy Trung cấp Nông nghiệp, số lượng 30 - 50/1lớp Cũng rất đa dạng về trình độ, lứa tuổi và mục đích học Những năm gần đây, học sinh tốt nghiệp phổ thông vào học TCCN là rất ít, có chăng đa số là học sinh cuối nguồn, thường phải học lẫn với cán bộ địa phương cần chuẩn hóa Vì vậy rất khó dạy ở các lớp này

- Ngoài ra giáo viên trong trường còn tham gia các mô hình, đề tài, dự án tập huấn hướng dẫn nông dân sản xuất an toàn và chăn nuôi an toàn, tham gia thỉnh giảng cho trung tâm dạy nghề các huyện…

Tất cả những công việc đó đòi hỏi người giáo viên vừa phải giỏi lý thuyết, thạo thực hành, vững vàng và linh hoạt nghiệp vụ sư phạm, giỏi kỹ năng giao tiếp… đồng thời phải có đạo đức "trọng dân" Từ những yêu cầu này người giáo viên mới luôn luôn đặt trách nhiệm vì dân, vì người học lên làm đầu, để từ

đó dần hoàn thiện mình, đáp ứng được yêu cầu của đa dạng các đối tượng

Từ mục tiêu của chương trình đào tạo ngành sư phạm kỹ thuật nông nghiệp là đào tạo giáo viên dạy kỹ thuật nông nghiệp tại các Trường THPT,

Trang 7

Trung cấp chuyên nghiệp, trung tâm dạy nghề, tuy nhiên sau khi ra trường các

em công tác ở nhiều lĩnh vực khác nhau như khuyến nông, kinh doanh do vậy những kiến thức các em được đào tạo ở nhà trường còn thiếu nhiều so với yêu cầu công việc

Thư nhất: Về kỹ năng sư phạm và tâm lý lứa tuổi: chủ yếu các em được học về tâm sinh lý lứa tuổi mới lớn (học sinh THPT), nhưng thực tế giảng dạy ở các trường TCCN, Trung tâm dạy nghề, khuyến nông thì đối tượng người học đa dạng về lứa tuổi, trình độ, nghề nghiệp, động cơ học tập do vậy kỹ năng, nghiệp

vụ sư phạm về giảng dạy, tư vấn, truyền đạt cho đối tượng này chưa mang lại hiệu quả

Thứ hai: Về kiến thức chuyên môn: sinh viên ngành sư phạm kỹ thuật nông nghiệp thường được đào tạo kiến thức dàn trải về lĩnh vực nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản ), kiến thức để giảng dạy cho học sinh THPT thì yêu cầu ở mức độ vừa phải (chương trình, nội dung, sách giáo khoa có sẵn) Nhưng khi các em về công tác tại các Trường TCCN, khuyến nông thì yêu cầu kiến thức chuyên môn cao hơn, sâu hơn rất nhiều, lúc này việc giảng dạy không

còn theo phương pháp truyền thống “đọc - chép”, lớp học không chỉ diễn ra ở

trên phòng học, hội trường mà có thể diễn ra ở ngoài ruộng, vườn, ao, chuồng, lúc này giáo viên không có sẵn giáo án, giáo trình trong tay nữa nhưng phải giảng giải được, biết làm, hướng dẫn thực hành, thực tập theo phương châm

“cầm tay chỉ việc”, giải đáp thắc mắc, tình huống xẩy ra trong sản xuất, đối

thoại trực tiếp với người học - những người sống bằng nghề nông nghiệp đã có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất Do vậy những kiến thức, kỹ năng thực hành, thực tập các em được học từ nhà trường là rất ít và thiếu so với thực tế và yêu cầu công việc

Để sinh viên tốt nghiệp khoa Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp có thể giảng dạy tốt tại các trường cao đẳng, trung cấp, các trung tâm dạy nghề, các trung tâm khuyến nông về kỹ thuật nông nghiệp Đòi hỏi sau khi ra trường họ phải có kiến thức, năng lực và phẩm chất cá nhân

Trang 8

Về kiến thức: Họ phải có kiến thức đầy đủ về các lĩnh vực kỹ thuật nông nghiệp; kiến thức xã hội học và đời sống nông thôn; kiến thức về đường lối, chủ trương và những chính sách cơ bản của nhà nước về phát triển nông nghiệp và nông thôn; kiến thức về giáo dục học, các phương pháp dạy học

Về năng lực: Họ phải có năng lực tổ chức và lập kế hoạch, năng lực

truyền đạt thông tin, năng lực phân tích và đánh giá; năng lực lãnh đạo, phải tự tin và biết tin tưởng vào những nông dân, phải gương mẫu trước quần chúng và

có khả năng lãnh đạo quần chúng thực hiện các chương trình khuyến nông; có khả năng sáng tạo chứ không phải lúc nào cũng dựa vào sự chỉ đạo của cấp trên

Về phẩm chất cá nhân: Sẵn sàng làm việc ở những vùng nông thôn xa xôi

hẻo lánh với tinh thần vì dân; phải có lòng nhân đạo, tình cảm yêu mến đối với bà con nông dân, có tính hài hước nhẹ nhàng trong công việc; phải biết tôn trọng

và lắng nghe ý kiến của nông dân

Từ yêu cầu thực tế trên, tôi thấy ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, sinh viên năm 2, năm 3, Khoa Sư phạm - Ngoại ngữ nên cho các em đi kiến tập, thực tập nhiều hơn, liên hệ cho các em về các địa phương, về các trường CĐ, Trung cấp, các trung tâm dạy nghề… để các em sớm có kiến thức thực tế thấy rõ yêu cầu của thực tế Cho các em được làm thử, ướm thử, dạy thử… từ đó khi trở lại Học viện học tiếp, các em sẽ thấm hơn, thấu hơn những điều thầy cô giảng dạy Đồng thời Học viện cũng nên thường xuyên tổ chức cho giáo viên khoa Sư phạm - Ngoại ngữ đi thực tế, giao lưu với các địa phương, tổ chức các buổi hội thảo có sự tham gia của nhiều đối tượng… để thấy rõ được yêu cầu của thực tế rất đa dạng và phong phú, từ đó xây dựng được bộ chương trình sát hơn, trúng hơn, hấp dẫn và thiết thực với người học hơn

Tóm lại, ngoài việc đào tạo chuyên môn là cơ bản, thì sinh viên khoa Sư phạm - Ngoại ngữ của Học viện nông nghiệp Việt Nam còn phải giỏi về nghiệp

vụ sư phạm, giỏi về kỹ năng giao tiếp, giỏi về tâm lý lứa tuổi… và phải có tư tưởng "trọng dân"… thì mới đáp ứng được sự vô cùng đa dạng của người học

Trang 9

nông nghiệp hiện nay Khoa Sư phạm - Ngoại ngữ nên thâm nhập thực tế nhiều hơn nữa, tổ chức cho sinh viên tham gia thực tế nhiều hơn nữa, để khi ra trường sinh viên tiếp cận được ngay với các yêu cầu công việc - xứng danh là sinh viên của ngồi trường có gần 60 năm xây dựng và phát triển - Học viện số 1 Việt Nam

về lĩnh vực Nông nghiệp

Trên đây là một vài suy nghĩ của tôi về những yêu cầu thực tế mà chúng tôi đang điều hành giáo viên thực hiện tại địa phương, mong góp 1 phần nhỏ để khoa Sư phạm - Ngoại ngữ tham khảo khi xây dựng các chương trình đào tạo sinh viên

Trang 10

GÓP Ý VỀ CHUẨN ĐẦU RA CHUYÊN NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT

CỦA KHOA NÔNG HỌC

GS TS Vũ Triệu Mân Nguyên cán bộ bộ môn bệnh cây khoa nông học

1 Góp ý chuẩn đầu ra cho chuyên ngành bảo vệ thực vật (BVTV) bậc đại

học

* Về chuẩn kiến thức:

Trong mục 1.1.2 nên bỏ cụm từ “Mô tả và giải thích…” chưa mang tính

toàn diện, nên thay bằng cụm từ thể hiện sự thu nhận kiến thức toàn diện cho

sinh viên … Bởi vì đã là kỹ sư thì cái gì thuộc về chuyên ngành hẹp của mình

đều phải nắm được Có cái sâu sắc, có cái không sâu lắm nhưng phải có đủ khái

niệm đúng, nếu chỉ giới hạn trong nội dung sau cụm từ mô tả và giải thích là

hạn chế sự năng động của người học

Trình độ đại học BVTV của ta nói chung ngày một khá hơn nhưng về lý

thuyết sinh viên ta thiếu phần kiến thức cơ bản về độc tố và men- một vấn đề rất

quan trọng trong BVTV ,đặc biệt là với môn bệnh lý học thực vật Cần bổ sung

phần này vào chương trình và chuẩn đầu ra nên ghi nắm được kiến thức cơ bản

về độc tố và men

Trong mục 1.1.4 tiểu mục 1141 không nên hạn chế sinh viên chỉ ở mức

độ “Mô tả và giải thích….” giống như phần trên đã ghi

* Về chuẩn kỹ năng:

Mục 1.2.1(Về kỹ năng cứng) nên sửa:

Tiểu mục 1.2.1.1 thành “Điều tra, chẩn đoán……” nên thêm từ phát hiện

Tiểu mục 1.2.1.2 nên đổi là : Khai thác được thông tin liên quan

đến lĩnh vực được giao nghiên cứu cả bằng tiếng Việt và tiếng Anh … (Bỏ từ

“thu” và thêm cụm từ “được giao nghiên cứu”) vì nếu nắm hết tiếng anh BVTV

thì sinh viên khó mà đạt được,ngay cả ở nước ngoài khi trao đổi tiếng Anh từ

bệnh cây sang côn trùng các kỹ sư đều trả lời thẳng là họ không biết

Trang 11

Tiểu mục 1.2.1.3 nên sửa là : Sử dụng,bảo quản đúng kỹ thuật

các thiết bị phun rải thuốc hóa học, sinh học vv Bảo quản và pha chế đúng

cách Biết phân tích tài liệu và nhãn thương phẩm các loại thuốc khi sử

dụng Viết như vậy rõ hơn vì nếu ghi là thuốc BVTV sinh viên chỉ nghĩ đến

thuốc hóa học Nếu ghi là biết cách đọc nhãn thuốc chỉ là phản ánh tình trạng

thấp kém của sinh viên tốt nghiệp hiện nay không thể lấy đó làm chuẩn đầu ra

Tiểu mục 1.2.1.7 nên viết là: Có kỹ năng để tham gia sản xuất,phát triển

được ….vì nếu ghi là sản xuất thì số đông sinh viên sẽ không đạt chuẩn đầu ra

Mục 1.2.2 Kỹ năng mềm nên sửa: Tiểu mục 1.2.2.2 nên thay từ “Hoạt

động dễ dàng” bằng từ Có kỹ năng trong môi trường làm việc theo nhóm

Mục 1.3 về phẩm chất đạo đức: Nên nhấn mạnh Có ý thức tổ chức kỷ luật và có trách nhiệm chuyên môn cao trong hoạt động nghề nghiệp

*Phần 2 (Định hướng nghề nghiệp của người tốt nghiệp):

Ý thứ 3 “Các doanh nghiệp sản xuất ,kinh doanh giống cây trồng,thuốc

BVTV” nên đổi là “Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nông nghiệp”

2 Góp ý chuẩn đầu ra cho chuyên ngành bảo vệ thực vật (BVTV) bậc Thạc sĩ

Hiện nay trong thực tế học viên cao học của ta gần như sinh viên năm thứ năm hay năm thứ sáu đại học Báo cáo tốt nghiệp của một số học viên thậm chí chất lượng còn thua kém sinh viên nhưng điểm tốt nghiệp quá cao so với trình

độ Chính vì vậy chuẩn đầu ra của học viên cao học cần cao hơn kỹ sư

Thạc sĩ ở nhiều nước hiện nay phải là người nắm dược phương pháp và thành thạo sử dụng các thiết bị phục vụ cho nghiên cứu như một nghiên cứu viên

Trang 12

Ý thứ 3 nên sửa là “Các doanh nghiệp sản xuất ,kinh doanh nông nghiệp”

3 1 Góp ý chuẩn đầu ra cho chuyên ngành bảo vệ thực vật (BVTV) bậc tiến sĩ

* Mục 1.1 (Chuẩn kiến thức)

Tiến sĩ cần có nghiên cứu có chất lượng cao hơn để đạt trình độ cao hơn Mục 1.1.5 (kiến thức bổ trợ) : Bổ sung thêm nội dung phần kiến thức bổ trợ và có lẽ nên ghi là có kiến thức cơ bản về sinh học phân tử và sinh thái học BVTV

Mục 1.1.6 (Kiến thức tốt nghiệp): Tạo tri thức khoa học mới là quá cao so với 1 nghiên cứu sinh (NCS) Đây phải là một nhà khoa học lớn mới làm được

Vậy nên ghi là Đóng góp một nội dung hay một sản phẩm khoa học mới

trong lĩnh vực BVTV hay trong một số lĩnh vực liên quan đến khoa học BVTV dựa trên các bằng chứng thực nghiệm

*Mục 1.2 (Về kỹ năng)

Mục 1.2.1 (Kỹ năng cứng): Nên viết là Chủ động và chuyên nghiệp trong

thiết kế,tổ chức thực hiện các thí nghiệm của đề tài,dự án thuộc lĩnh vực nghiên cứu

Nếu viết như trong tài liệu NCS khó mà đạt chuẩn đầu ra vì sau khi ra trường nhiều năm may ra mới làm chủ đề tài cấp cơ sở hay cấp bộ

Trang 13

Muc 1.2.2(Kỹ năng mềm): Nên viết là Giao tiếp bằng tiếng Anh thành

thạo trong lĩnh vực chuyên môn nghiên cứu và giao tiếp đƣợc bằng tiếng Anh các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và BVTV

*Phần 2(Định hướng nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp)

Nên bổ sung giống các chức danh Kỹ sƣ,thạc sĩ mục thứ 3 là “Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nông nghiệp)

Trang 14

NHU CẦU ĐÀO TẠO NGUỒN NHAN LỰC NHÌN TỪ GÓC ĐỘ

VIỆN NGHIÊN CỨU

TS Chu Mạnh Thắng, Trưởng Phòng Đào tạo và Thông tin, Viện Chăn nuôi

Thực trạng

Viện Chăn nuôi là tổ chức sự nghiệp khoa học công lập trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, có chức năng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, nuôi giữ giống gốc, thông tin, đào tạo sau đại học, hợp tác quốc tế, tư vấn, dịch vụ về chăn nuôi trong phạm vi cả nước phục vụ quản lý nhà nước của Bộ Hiện nay Viện Chăn nuôi gồm 26 đơn vị trực thuộc, với tổng

số 12 cán bộ trong đó 01 GS, 03 PGS, 57 TS, 167 ThS, 332 cán bộ đại học, còn lại cán bộ trung cấp, công nhân lành nghề Viện được đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng, trang thiết bị thí nghiệm đầy đủ phục vụ tốt nhất cho công tác nghiên cứu khoa học cùng với số lượng kinh phí đề tài, dự án cấp Nhà nước, cấp Bộ mỗi năm của Viện khoảng 80-90 tỷ được đầu tư cho công tác nghiên cứu đã tạo môi trường thuận lợi cho các cán bộ đam mê khoa học Những năm gần đây, thông qua chương trình liên kết giữa Viện Chăn nuôi và Học viện Nông nghiệp Việt nam đã có rất nhiều sinh viên tốt nghiệp từ Học viện đã được nhận vào làm việc tại Viện Hàng năm Viện có nhu cầu tuyển dụng 10-20 cán bộ mới vào các vị trí nghiên cứu thuộc các lĩnh vực chuyên sâu ở các Trung tâm, Bộ môn, Phòng nghiên cứu như Công nghệ sinh học; Di truyền giống vật nuôi; Dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi; Động vật quý hiếm và ĐDSH; Môi trường chăn nuôi; Nghiên cứu và phát triển công nghệ chăn nuôi; Sinh lý, sinh hóa và TTVN; Chế biến, bảo quản SPCN; Kinh tế và HTCN Tuy nhiên đứng trước một số thách thức như thực tế hiện nay Nhà nước đang có xu hướng tinh giản biên chế, đòi hỏi nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác nghiên cứu Một số chính sách mới có hiệu lực như NĐ 108/2014/ND-CP năm 2014 về tinh giản biên chế đã phần nào tạo rào cản và tăng tính cạnh tranh giữa các sinh viên khi thi tuyển vào các vị trí công việc Do vậy những năm gần đây Viện đã tập trung tuyển chọn đội ngũ cán bộ phải đảm bảo có đẩy đủ trình độ, kiến thức chuyên môn và kinh

Trang 15

nghiệm thực tế Năm 2013 Viện đã xây dựng và ban hành Đề án "Đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ thông qua thực tiễn sản xuất" Theo đó đối tượng của đề án là các cán bộ sau khi được tuyển dụng hoặc cán bộ trẻ chưa có hoặc thiếu kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vưc chăn nuôi

Tồn tại - giải pháp

Nhìn từ góc độ là đơn vị nghiên cứu khoa học, chúng tôi thầy rằng, mặc dù chất lượng đào tạo các em sinh viên tốt nghiệp ra trường ở các Trường và đặc biệt của Học Viện Nông nghiệm Việt Nam những năm gần đây đã được cải thiện rõ rệt,

số sinh viên ra trường có việc làm theo đúng ngành đào tạo đã tăng đáng kể, các nhà tuyển dụng phần nào tin tưởng vào uy tín chất lượng đào tạo từ Học Viện Song thẳng thắn nhìn nhận một cách khách quan, vẫn còn một số bất cập sau:

+ Hạn chế về kiến thức kỹ năng thực tế gắn với chuyên môn, ở đây chưa

đề cập đến vấn đề kinh nghiệm

+ Thứ hai, nhiều em vẫn quan niệm ra trường cố gắng vào được vị trí công việc nào đó, làm đủ 8 tiếng, mà thiếu sự phấn đấu, sự đam mê, tìm tòi học hỏi Điều này có thể phần nào đúng khi các em vào làm tại các doanh nghiệp, công ty nước ngoài (làm theo dây chuyền), tuy nhiên trong môi trường nghiên cứu khoa học như ở các Viện nghiên cứu thì cái đó chưa đủ, nếu các em không thực sự có đam mê, không chủ động bám sát, tìm tòi những vấn đề cần giải quyết trong sản xuất thực tiễn thì khó có thể phát huy hết những kiến thức, những kinh nghiệm được truyền dạy, cũng như có thể "sống được" với nghề nghiên cứu khoa học

Từ một số tồn tại trên, chúng tôi thấy rằng cần có được gắn kết chặt chẽ hơn nữa giữa đơn vị đào tạo với đơn vị đặt hàng (đơn vị tuyển dụng) và cần được cụ thể hóa thành chương trình kế hoạch cụ thể, từ góc độ cá nhân tôi thấy rằng:

+ Thứ nhất, những sinh viên mới nên có được cơ hội tiếp xúc với các nhà tuyển dụng (Viện nghiên cứu, công ty, doanh nghiệp ) ngay từ những năm đầu,

để các em chủ động vạch ra mục tiêu định hướng Nghề cho chính mình Em nào

có thế mạnh về đam mê nghiên cứu sẽ tập trung nhờ các thầy cô định hướng những kỹ năng phù hợp với môi trường nghiên cứu, còn những em có thiên

Trang 16

hướng kinh doanh thị trường, sẽ định hướng bám sát những lĩnh vực phục vụ cho yêu cầu của các doanh nghiệp, công ty Góc độ phía đơn vị tuyển dụng cũng

sẽ hiểu được và hoạch định kế hoạch, định hướng vị trí công việc của đơn vị phát huy hiệu quả sản xuất của công ty, để từ đó (nếu được) có thể nên chia sẻ, cùng phối hợp đầu tư (thông qua tài trợ học bổng ) với Trường/Học viện trong việc đào tạo định hướng cho một mảng/lĩnh vực nào đó đang là yêu cầu cấp thiết của đơn vị mình

+ Thứ hai, chương trình giảng dạy môn học cho sinh viên ở các Trường/Học Viện cũng nên có sự thay đổi theo hướng linh hoạt, ngoài nhưng môn bắt buộc cho chuyên ngành đào tạo, thì các môn tự chọn cần được mở rộng hơn để phù hợp và đáp ứng với các yêu cầu của nhà tuyển dụng Một số môn có thể đào tạo sâu hơn theo yêu cầu của nhà tuyển dụng đáp ứng vị trị công việc

+ Thứ ba, trong phạm vi nâng cao kỹ năng chuyên môn, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Trường/Học viện đưa các em về thực tập tại các đơn vị đang

có nhu cầu, để từng bước các em sớm quen dần với tác phong làm việc cũng như nâng cao các kỹ năng trong thực tiễn

Tóm lại

Công tác đào tạo gắn kết với nhu cầu là một hướng đi đúng và tất yếu của

sự phát triển trong sự nghiệp đào tạo ở nước ta Xuất phát từ nhu cầu của mỗi đơn vị, ở mỗi khía cạnh, đặc thù khác nhau cần cụ thể hóa thành định hướng cho sinh viên ngày từ những năm đầu của quá trình đào tạo Trong mỗi đinh hướng

đó, sinh viên sẽ phát huy thế mạnh, sở trường của mình để từ đó tích lũy học hỏi

và phấn đấu bám theo mục tiêu Ở khía cạnh môi trường nghiên cứu khoa học cần những cán bộ không chỉ hội tủ đầy đủ kiến thức chuyên môi sâu, tinh thần thái độ học hỏi mà cần có cái "Tâm" đối với Nghề này Và những ai thực sự yêu thích Nghề này thì cánh cửa, môi trường nghiên cứu của Viện Chăn nuôi luôn rộng mở đón chào Những kiến thức các sinh viên học hỏi được từ các thầy cô ở Học Viện Nông nghiệp VN trang bị cho các em sẽ được tiếp nối và phát huy trong môi trường của Viện, sẽ tạo nền tảng, tiền đề để các em trở thành các nhà khoa học có uy tín của Ngành trong tương lai

Ngày đăng: 11/05/2016, 15:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Andrea Ohidy 2008 . Lifelong Learning. Interpretation of Educational Policies in Europe. VS Research. Wiesbaden, Germany Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lifelong Learning. Interpretation of Educational Policies in Europe
2. AUN 2011. Guide to AUN Actual Quality Assessment at Programme Level, Bangkok: ASEAN University Network Sách, tạp chí
Tiêu đề: AUN 2011. "Guide to AUN Actual Quality Assessment at Programme Level
3. Bloom 1956. Taxonomy of educational objectives. Handbook I: The Cognitive Domain. NewYork: David McKay Co. Inc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Taxonomy of educational objectives. Handbook I: The Cognitive Domain
4. Đoàn Thị Minh Trinh (cb) 2012. Thiết kế và phát triển chương trình đào tạo đáp ứng chuẩn đầu ra. NXB ĐHQG-HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và phát triển chương trình đào tạo đáp ứng chuẩn đầu ra
Nhà XB: NXB ĐHQG-HCM
5. European Commission 2002. European Report on Quality Indicators of Lifelong Learning. Brussels Sách, tạp chí
Tiêu đề: European Report on Quality Indicators of Lifelong "Learning
6. Kỷ yếu hội thảo “Xây dựng và triển khai chương trình đào tạo theo CDIO tại khoa cơ khí”. Trường Đại học Bách khoa, ĐHQG-HCM, ngày 02/12/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng và triển khai chương trình đào tạo theo CDIO tại khoa cơ khí”
7. Lê Văn Hảo 2011. Một số phương pháp dạy học bậc đại học. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương pháp dạy học bậc đại học
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
8. Nguyễn Duy Mộng Hà 2011. Tầm quan trọng của giáo dục đa văn hóa ở các trường đại học nước ta trong thời kì hội nhập. Tạp chí Giáo dục, số 253 (kì 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm quan trọng của giáo dục đa văn hóa ở các trường đại học nước ta trong thời kì hội nhập
10. Trần Thị Tuyết Oanh 2007. Đánh giá và đo lường kết quả học tập. NXB Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá và đo lường kết quả học tập
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
11. Vladimir Briller và Phạm Thị Ly 2008. Có cần đặt vấn đề quốc tế hóa các trường đại học? Một bước đi quan trọng cho các trường đại học của Việt Nam.Hội thảo Giáo dục so sánh lần thứ hai “Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa” tại TP.HCM ngày 23.05.2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Có cần đặt vấn đề quốc tế hóa các "trường đại học? Một bước đi quan trọng cho các trường đại học của Việt Nam". Hội thảo Giáo dục so sánh lần thứ hai “"Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh toàn "cầu hóa
12. UNESCO http://www.unesco.org/new/en/education/networks/global-networks/aspnet/about-us/strategy/the-four-pillars-of-learning/ Link
13. European Commision education and training http://ec.europa.eu/education/lifelong-learning-policy/key_en.htm Link
14. Designing effective projects: thinking skills frameworks. Bloom’s taxonomy: A new look at an old Standby Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tiêu chí đánh giá năng lực làm việc nhóm - Tổng kết lấy ý kiến các bên liên quan  về chuẩn đầu ra các chương trình đào tạo
Bảng ti êu chí đánh giá năng lực làm việc nhóm (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w