1.1.Đặt vấn đề Việt Nam là một đất nước có nhiều nghề thủ công truyền thống. Với đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp mùa vụ và chế độ làng xã, nghề thủ công xuất hiện khá sớm và gắn liền với lịch sử thăng trầm của dân tộc. Các làng nghề truyền thống đã góp phần lớn vào việc nâng cao đời sống kinh tế xã hội cho nhân dân trong vùng làng nghề. Từ xa xưa Việt Nam đã tồn tại hàng ngàn làng nghề truyền thống với lịch sử hàng trăm năm.Các làng nghề, ngành nghề truyền thống cùng với sản phẩm của nó đã tạo nên sắc thái riêng của nền kinh tế và văn hóa mỗi dân tộc. Những sản phẩm làm ra từ làng nghề không chỉ đáp ứng đời sống kinh tế mà còn đáp ứng đời sống văn hóa tinh thần, nhu cầu làm đẹp và trang trí của con người. Những sản phẩm đó là một tài sản quý báu của cha ông ta để lại, chúng ta phải có trách nhiệm giữ gìn và phát huy những sản phẩm văn hóa ấy. Ngày nay khi đất nước đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa các sản phẩm làm ra từ làng nghề không còn được ưa chuộng như trước nữa, thay vào đó các mặt hàng công nghiệp vừa bền vừa đẹp lại vừa rẻ, các mặt hàng nhập lậu, hàng thật hàng và hàng giả cũng đang trà trộn vào thị trường. Ngoài ra các mặt hàng thủ công mỹ nghệ cao cấp cũng đang thu hút được người tiêu dùng. Vì vậy để cho các sản phẩm của làng nghề giữ được nét văn hóa truyền thống riêng, trước sự chao đảo của thị trường hiện nay là rất cần thiết và phải có chiến lược đúng đắn. Bắc Ninh một mảnh đất trăm nghề đã nổi tiếng từ thời xa xưa. Thời nhà Lý (1010-1225) Bắc Ninh đã có các làng nghề như: Rèn Đa Hội, Sơn Mài Đình Bảng, tranh Đông Hồ, giấy gió Phong Khê, gốm Phù Lãng, dệt Tương Giang đồ gỗ Đồng Kỵ, đúc đồng Đại Bái, làng tranh Đông Hồ ở Thuận Thành - Bắc Ninh….Đây là những làng nghề sản xuất ra mặt hàng có giá trị được khách hàng trong và ngoài nước ưa chuộng. Những năm gần đây, khi đất nước đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, cùng với sự phát triển của đất nước các làng nghề ở Bắc Ninh cũng không ngừng phát triển. Hiện trên địa bàn tỉnh có hơn 62 làng nghề lớn nhỏ, góp phần thúc đẩy nâng cao đời sống cho nhân dân, thu hút và giải quyết hàng nghìn lao động, giảm tải một lượng lao động lớn cho đất nước trong đó có nghề đúc đồng Đại Bái. 5 Làng Đại Bái, thuộc xã Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh là một trong số ít làng nghề đúc đồng nổi tiếng ở Việt Nam với nghề đúc đồng, dát mỏng kim loại chạm khắc kim loại đồng mỹ nghệ. Ngày nay làng Đại Bái vẫn tiếp tục giữ gìn và phát triển nghề truyền thống với những doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh cải tiến kỹ thuật, phát triển, tự chế ra máy mócnhư máy cán , máy dập, máy đánh bóng… sản phẩm ngày càng đa dạng và phong phú đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nước. Tuy vậy vẫn còn gặp nhiều khó khăn về vốn sản xuất, các hình thức quy hoạch và định hướng chưa đúng đắn do đó vẫn còn kìm hãm sản xuất. Tốc độ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của nó. Vì vậy, việc giữ gìn và phát triển làng nghề Đại Bái là việc làm cần thiết và có ý nghĩa sâu sắc. Bởi ngoài việc giữ gìn những giá trị văn hóa cổ truyền mà cha ông ta để lại, còn giúp kinh tế xã hội phát triển, một cách làm tăng trưởng kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn giàu đẹp, phù hợp với định hướng phát triển của đất nước. Nhận thức trước những tình hình trên, em xin chọn đề tài: " Tìm hiểu tình hình sản xuất và tiêu thụ làng nghề đúc đồng ở làng Đại Bái - Gia Bình - Bắc Ninh” làm bài luận văn tốt nghiệp của mình
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KẾ TOÁN VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Tìm hiểu tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của làmg đồng Đại
Bái – Gia Bình – Bắc Ninh
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS: Trần Hữu Cường
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Yến
Hà Nội - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Học Viện, các Thầy, Cô giáo
khoa Kế toán và quản trị kinh doanh đặc biệt là thầy PGS TS Trần Hữu Cường
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập ở học viện
và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc nhất tôi xin bày tỏ tới cô giáo,người đã dạy dỗ và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận
Tôi xin cảm ơn cơ sở thực địa Ủy ban nhân dân xã Đại Bái, và các hộ dântrong làng nghề Đại Bái - xã Đại Bái - huyện Gia Bình - tỉnh Bắc Ninh đã tạođiều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập thông tin, số liệu để hoànthành khóa luận
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong khoa Kế toán và quản trịkinh doanh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trinh học tập ở học viện
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến cha mẹ, người thân trong giađình và bạn bè đã luôn động viên chia sẻ, giúp đỡ tôi vượt qua khó khăn trongsuốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận
Sinh viên
Phạm Thị Yến
Trang 3PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một đất nước có nhiều nghề thủ công truyền thống Với đặctrưng của nền sản xuất nông nghiệp mùa vụ và chế độ làng xã, nghề thủ côngxuất hiện khá sớm và gắn liền với lịch sử thăng trầm của dân tộc Các làng nghềtruyền thống đã góp phần lớn vào việc nâng cao đời sống kinh tế xã hội cho nhândân trong vùng làng nghề
Từ xa xưa Việt Nam đã tồn tại hàng ngàn làng nghề truyền thống với lịch sửhàng trăm năm.Các làng nghề, ngành nghề truyền thống cùng với sản phẩm của nó
đã tạo nên sắc thái riêng của nền kinh tế và văn hóa mỗi dân tộc Những sản phẩmlàm ra từ làng nghề không chỉ đáp ứng đời sống kinh tế mà còn đáp ứng đời sốngvăn hóa tinh thần, nhu cầu làm đẹp và trang trí của con người Những sản phẩm đó
là một tài sản quý báu của cha ông ta để lại, chúng ta phải có trách nhiệm giữ gìn
và phát huy những sản phẩm văn hóa ấy Ngày nay khi đất nước đang trong quátrình công nghiệp hóa hiện đại hóa các sản phẩm làm ra từ làng nghề không cònđược ưa chuộng như trước nữa, thay vào đó các mặt hàng công nghiệp vừa bền vừađẹp lại vừa rẻ, các mặt hàng nhập lậu, hàng thật hàng và hàng giả cũng đang tràtrộn vào thị trường Ngoài ra các mặt hàng thủ công mỹ nghệ cao cấp cũng đangthu hút được người tiêu dùng Vì vậy để cho các sản phẩm của làng nghề giữ đượcnét văn hóa truyền thống riêng, trước sự chao đảo của thị trường hiện nay là rất cầnthiết và phải có chiến lược đúng đắn Bắc Ninh một mảnh đất trăm nghề đã nổitiếng từ thời xa xưa Thời nhà Lý (1010-1225) Bắc Ninh đã có các làng nghề như:Rèn Đa Hội, Sơn Mài Đình Bảng, tranh Đông Hồ, giấy gió Phong Khê, gốm PhùLãng, dệt Tương Giang đồ gỗ Đồng Kỵ, đúc đồng Đại Bái, làng tranh Đông Hồ ởThuận Thành - Bắc Ninh….Đây là những làng nghề sản xuất ra mặt hàng có giá trịđược khách hàng trong và ngoài nước ưa chuộng Những năm gần đây, khi đấtnước đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, cùng với sự phát triển của
Trang 4đất nước các làng nghề ở Bắc Ninh cũng không ngừng phát triển Hiện trên địa bàntỉnh có hơn 62 làng nghề lớn nhỏ, góp phần thúc đẩy nâng cao đời sống cho nhândân, thu hút và giải quyết hàng nghìn lao động, giảm tải một lượng lao động lớncho đất nước trong đó có nghề đúc đồng Đại Bái 5 Làng Đại Bái, thuộc xã ĐạiBái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh là một trong số ít làng nghề đúc đồng nổi tiếng
ở Việt Nam với nghề đúc đồng, dát mỏng kim loại chạm khắc kim loại đồng mỹnghệ Ngày nay làng Đại Bái vẫn tiếp tục giữ gìn và phát triển nghề truyền thốngvới những doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh cải tiến kỹ thuật, phát triển, tự chế ramáy mócnhư máy cán , máy dập, máy đánh bóng… sản phẩm ngày càng đa dạng
và phong phú đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nước Tuy vậy vẫncòn gặp nhiều khó khăn về vốn sản xuất, các hình thức quy hoạch và định hướngchưa đúng đắn do đó vẫn còn kìm hãm sản xuất Tốc độ phát triển chưa tương xứngvới tiềm năng vốn có của nó Vì vậy, việc giữ gìn và phát triển làng nghề Đại Bái làviệc làm cần thiết và có ý nghĩa sâu sắc Bởi ngoài việc giữ gìn những giá trị vănhóa cổ truyền mà cha ông ta để lại, còn giúp kinh tế xã hội phát triển, một cách làmtăng trưởng kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn giàu đẹp, phù hợp với địnhhướng phát triển của đất nước Nhận thức trước những tình hình trên, em xin chọn
đề tài: " Tìm hiểu tình hình sản xuất và tiêu thụ làng nghề đúc đồng ở làng Đại Bái - Gia Bình - Bắc Ninh” làm bài luận văn tốt nghiệp của mình
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục đích của nghiên cứu này là nhằm chỉ ra thực trạng phát triển làng nghề trongquá trình xây dựng nông thôn mới ở Bắc Ninh, tìm ra các yếu tổ ảnh hưởng và từ
đó đưa ra giải pháp nhằm phát triển làng nghề gắn với quá trình xây dựng nôngthôn mới Phương pháp phân tích thống kê mô tả và so sánh được sử dụng chủ yếutrong quá trình nghiên cứu tình hình sản xuất tiêu thụ củ làng nghề
- Tìm hiểu thực trạng chất thải rắn tại làng nghề Đại Bái – tỉnh Bắc Ninh
Trang 5- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và tiêu thụ của người dân tạilàng nghề.
- Đề ra một số giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường nói chung, thu gom và xử lý rácnói riêng tại làng nghề Đại Bái – tỉnh Bắc Ninh
1.3. Nội dung nghiên cứu
- Thu thập tài liệu về tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đúc đồng tại làng nghềĐại Bái – tỉnh Bắc Ninh
- Xây dựng bảng câu hỏi, tiến hành điều tra từ nguời dân người dân địa phương
- Tính toán mức thu nhập bình quân của người dân tại làng nghề
- Nghiên cứu, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất phát triển củalàng nghề
- Đề xuất giải pháp khuyến khích người dân tiếp tục phát triển làng nghề truyềnthống
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập tài liệu từ các nguồn thư viện quốc gia,thưu viện tỉnh Bắc Ninh, thư viện Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, Ban quản lýkhu di tích thôn Đại Bái, Uỷ ban nhân dân xã Đại Bái
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế trên đại bàn thôn Đại Bái để khảo sát hệthống cơ sở vật chất, các hộ dân, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, các sản phẩm đồ đồng,thu thập từ các điểm tiêu thụ sản phẩm, phương pháp tiêu thụ sản phẩm
- Phỏng vấn trực tiếp từ cán bộ xã, các cụ già, thanh niên trong làng, ban quản lý khu
di tích thôn Đại Bái, các nghệ nhân, hộ gia đình sản xuất tiêu thụ sản phẩm
- Phương pháp phân tích và tổng hợp từ nguồn sách báo, khóa luận kết hợp thông tin,
số liệu điều tra thực từ làng nghề
1.5. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Địa bàn nghiên cứu: Các số liệu được tiến hành thu thập nghiêncứu trên địa bàn xã Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh Trong đó tập trung
Trang 6nghiên cứu tại thôn Đại Bái nơi có nhiều hộ gia đình và công ty làm nghề đúcđồng.
Về thời gian: Đánh giá thực trạng tình hình trong thời gian gần đây chủ yếu qua 3năm 2013 – 2015
- Các yếu tố ảnh hưởng tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đúc đồng
- Từ đó đưa ra một số biện pháp thúc đẩy nhanh việc xây dựng được thương hiệu đúcđồng Đại Bái trong thời gian ngắn nhất
1.6 Phương pháp thu thập số liệu
1.6.1 Số liệu thứ cấp
Thu thập số liệu từ các báo cáo kinh tế, xã hội của tỉnh, của các cơ sở banngành, các tài liệu, công trình nghiên cứu đã được công bố, các chủ trương chínhsách về xây dựng và phát triển thương hiệu làng nghề
1.6.2 Số liệu sơ cấp
a, Chọn mẫu điều tra
Tại thôn Đại Bái có 200 hộ làm nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp thì
có khoảng 80% các hộ sản xuất kinh doanh đồ đồng mỹ nghệ còn các hộ còn các
hộ và doanh nghiệp còn lại cũng làm các sản phẩm từ đồng nhưng là đồ côngnghiệp
b,Phương pháp điều tra
Phỏng vấn bằng bảng hỏi: Số liệu được thu thập qua điều tra, phỏng vấnngười tiêu dùng, các doanh nghiệp, hộ gia đình về những vẫn đề liên quan ñến mụcđích và nội dung nghiên cứu theo phiếu điều tra đã được chuẩn bị sẵn
Trang 7Phỏng vấn nhóm: Trong đề tài này tôi tiến hành điều tra người sản xuất(doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh) và khách hàng của làng nghề Đại Bái.Sau khi nghiên cứu quy mô doanh nghiệp cũng như các hộ sản xuất kinh doanh hầunhư tất cả sản xuất ra sản phẩm rồi tự bán sản phẩm luôn
Đối với cấp chính quyền xã, chúng tôi tiến hành phỏng vấn nhóm 8 người tạithôn Đại Bái và 6 người công tác tại UBND xã Đại Bái nhằm thu thập các thôngtin về tình hình xây dựng thương hiệu trên địa bàn, ý kiến ủng hộ về việc xây dựngthương hiệu đúc đồng Đại Bái…
Phỏng vấn sâu: Đối với cấp chính quyền huyện và tỉnh chúng tôi tiến hànhphỏng vấn một cán bộ công tác tại UBND huyện Gia Bình, sở KHCN tỉnh BắcNinh nhằm thu thập các thông tin về tình hình xây dựng thương hiệu trên địa bàntỉnh, ý kiến ủng hộ về việc xây dựng thương hiệu đúc đồng Đại Bái…
1.6.3. Phương pháp phân tích thông tin
1.6.3.1 Phương pháp thống kê
a, Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp này dùng để xác định mức biến động của hiện tượng, xu hướngphát triển của hiện tượng, mối quan hệ giữa các hiện tượng Từ đó nêu ra kết luận.Thống kê mô tả được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thuthập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau
Nó nghiên cứu sự biến đổi số lượng có mối quan hệ mặt chất ở thời gian vàđịa điểm cụ thể
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để nêu lên: Mức độ của hiện tượng,phân tích biến động của hiện tượng và mối quan hệ giữa các hiện tượng với nhau.Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê mô
tả vào việc dùng các số liệu và các thông tin thu thập ñược chúng tôi tiến hành phântích và mô tả vai trò của từng hộ trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đúc đồng
b Phương pháp thống kê so sánh
Trang 8Thống kê so sánh là phương pháp tính toán các chỉ tiêu theo các tiêu chí khácnhau và đượcdđem so sánh với nhau.
c Phân tổ thống kê
Được sử dụng để phân nhóm các hộ sẵn sàng tham gia xây dựng và quảng báthương hiệu và phân tích quy mô giữa các hộ với mức đóng góp kinh phí xây dựngthương hiệu
d, Phương pháp phân tích cơ cấu
Phương pháp này ñể xây dựng cơ cấu giá trị các loại sản phẩm, sự thay ñổi thịphần sản phẩm tiêu thụ và tỷ lệ hộ dân tham gia xây dựng thương hiệu cho sảnphẩm tập thể
1.7. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
- Nhóm chỉ tiêu về đánh giá tình hình sản xuất
Chỉ tiêuQuy mô sản xuất
Theo vốnTheo lao độngTheo doanh thuKết quả và hiểu quả sản xuất
doanh thu
Doanh thuLợi nhuậnThu nhập/ Lao động
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá tình hình tiêu thụ sản phẩm
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình phát triển, sản xuất các làng nghề ở Bắc Ninh
Trang 9Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 62 làng nghề đã được công nhận So với cảnước, tỷ lệ làng nghề/tổng số xã ở Bắc Ninh cao hơn xấp xỉ 5 lần, chiếm khoảng5% LN cả nước; trong đó có 25 LN thuộc xã NTM (Tổng cục Thống kê, 2012) Tỷ
lệ LN truyền thống của tỉnh khá cao chiếm hơn một nửa tổng số LN (51,56%), số
LN thuộc xã NTM chiếm 40,32% trong đó thành phố Bắc Ninh có tỷ lệ cao nhấtvới 100%, huyện Từ Sơn ít nhất chỉ đạt 22,22%
Các loại hình sản xuất kinh doanh ở làng nghề Bắc Ninh gồm: doanhnghiệp, hợp tác xã nông thôn mới, hộ sản xuất, trong đó hộ sản xuất chiếm sốlượng nhiều nhất (95%)
Bảng 2.1 Số lượng các làng nghề Bắc Ninh và các làng nghề thuộc xã
nông thôn mới 2013 (ĐVT:%)
STT Thành phố, thị xã,
huyện
Số xã, phường
Số LN (làng)
Tỷ lệ LN truyền thống (%)
Tỷ lệ LN thuộc xã NTM (%)
Nguồn: Trung tâm khuyến công tỉnh Bắc Ninh
Trong những năm qua, ở các làng nghề Bắc Ninh đã xuất hiện doanh nghiệp
có quy mô nhỏ và vừa tham gia kinh doanh, đa phần phát triển lên từ các cơ sởsản xuất kinh doanh nhỏ lẻ đến lớn Quy mô sản xuất của các doanh nghiệp lớnhơn nhiều lần so với hộ sản xuất gia đình Thực tế cho thấy các doanh nghiệp có
Trang 10nhiều lợi thế để đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, tiếp cận vốn, tiếp cận thị trường,thiết kế sản phẩm, đầu tư máy móc hiện đại thay thế lao động thủ công, Đối vớihợp tác xã ở các làng nghề Bắc Ninh hiện nay, hầu như chưa xác định được môhình hoạt động hiệu quả như: Hợp tác xã gốm Phù Lãng, Hiệp hội làng nghề gỗ
3 Phù Lưu - Tân Hồng - Từ Sơn Thương nghiệp 312,0
Tổng giá trị sản xuất các làng nghề chính 1579,7
Nguồn: Trung tâm khuyến công tỉnh Bắc Ninh, 2014
2.2 Tình hình phát triển làng nghề Đúc Đồng ở làng Đại Bái
Đại Bái thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh là một trong số ít làng nghề đúcđồng nổi tiếng ở Việt Nam Theo tương truyền, năm xưa làng Đại Bái còn có tên làlàng Văn Lang (có thời kỳ làng còn có tên là làng Bưởi nồi), làng nằm trên một dảiđất cao bên bờ sông Bái Giang (Sông Đuống bây giờ), chuyên sản xuất các dụng cụthiết yếu, đồ dùng bằng đồng trong gia đình như: Ấm, mâm, chậu thau Tuy nhiênphải đến đầu thế kỷ XI nghề đúc đồng ở Đại Bái mới được phát triển mạnh nhờcông của "Tiền Tiên Sư" Nguyễn Công Truyền- người chuyên lo tổ chức sản xuất,tạo mẫu, phát triển thị trường
Theo lịch sử ông Nguyễn công truyền sinh năm 989 tại làng Đại Bái, mất ngày29/9 (âm lịch) năm 1060 Ông xuất thân trong một gia đình nho học Năm 995 lúc
Trang 11lên 6 tuổi ông theo cha mẹ vào Thanh Nghệ để sinh sống ( Hiện nay làng đó cũnggọi là làng Đại Bái, làng Bưởi và cũng làm nghề đúc đồng) Khi lớn lên ông vàoquân ngũ Năm 25 tuổi ông làm quan Đô úy của triều Lý, được phong là "Điện tiềntướng quân" Tháng 3 năm 1018 ông trở về quê hương Đại Bái thăm họ hàng Saunày khi cha mất ông từ quan và đưa mẹ về quê hương phụng dưỡng và từ đó tổchức sản xuất nghề đúc đồng tại quê hương Ông cho đón thợ, mở lò dèn về sửachữa nông cụ sản xuất giúp bà con cải tiến sản xuất Đến thế kỷ XV, XVI làng có 5ông tiến sỹ: Nguyễn Viết Lai, Nguyễn Xuân Nghĩa, Vũ Viết Thái, Phạm NgọcThanh và Nguyễn Công Tám Sau khi đỗ đạt phong quan về làng các ông chú trọng
tổ chức mở rộng sản xuất và phân công chuyên môn hóa ngành nghề và thành lậpcác phường sản xuất riêng từng loại mặt hàng như: Phường chuyên gò nồi đồng,phường làm mâm, phường làm ấm, phường làm thau, phường làm đồng lá và mộtphường hàng chợ chuyên để mua bán cung cấp nguyên vật liệu , tiêu thụ hàng hóa.Nhờ có sự phân công tập chung, tổ chức hoàn thiện đã giúp cho Đại Bái nhanhchóng phát triển với nghề đúc đồng, gò đồng nâng cao kỹ thuật luyện đồng Lấy đấtsét ở bờ sông xây lò đúc, lấy bùn ao nhào với tro trấu làm nơi luyện đồng, lấy đồngpha kẽm làm đồng thau và sáng chế ra thuốc hàn đồng
Ngày nay làng Đại Bái tiếp tục phát triển và gìn giữ nghề truyền thống vớinhững doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh, cải tiến kỹ thuật, phát triển, tự chế ra máymóc như máy cán, máy dập, máy đánh bóng sản phẩm ngày càng đa dạng phongphú và tìm kiếm thị trường xuất khẩu
2.2.1 Đặc điểm tình hình vị trí địa lý
Đại Bái là cửa ngõ phía tây của huyện Gia Bình nơi có làng nghề ñồngtruyền thống nổi tiếng trong và ngoài nước thuận lợi cho việc tiêu thụ và quảng básản phẩm với các tỉnh xung quanh, các thành phố lớn
Giáp Hà Nội
Giáp tỉnh Hải Dương
Trang 12Giáp Quảng Ninh
Xã Đại Bái nằm ở phía tây của huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, phía Bắc giápvới xã Lãng Ngâm, Đông Cứu, phía Đông giáp với xã Quỳnh Phú (huyện GiaBình), phía Tây giáp với xã Mão Điền, An Bình (huyện Thuận Thành), phía Namgiáp với xã Quảng Phú (huyện Lương Tài)
Làng nghề Đại Bái là một trong ba thôn thuộc xã Đại Bái Đây là một làngnghề truyền thống với các nghề chính: Đúc đồng, đúc nhôm, gò nhôm nhưng gòđúc đồng là chủ yếu Ngoài ra, ở đây còn nhận dát mỏng kim loại, gia công cơ khí,kim khí hoàn chỉnh các chi tiết, chạm khắc kim loại, ghép tam khí
Đại Bái có tên cổ là làng Bưởi Nồi, cách thủ đô Hà Nội khoảng 35km, cáchtrung tâm tỉnh Bắc Ninh khoảng 20km (bên bờ Nam sông Đuống) và cách huyện lỵGia Bình 3km có tỉnh lộ 282 chạy qua Đại Bái có một vị trí địa lý hết sức thuận lợicho việc phát triển giao lưu kinh tế giữa địa phương với các vùng khác kể cả vềđường thuỷ lẫn đường bộ
Đại Bái có tổng diện tích tự nhiên là 385,2 ha, trong đó đất nông nghiệp là242,7ha ( chiếm 63%), đất chuyên dùng là 60,0ha ( chiếm 15,5%), đất dân cư là27.3ha ( chiếm 7,09%) Đại Bái là một vùng chiêm trũng, dân số đông, do đó códiện tích bình quân đầu người thấp Năm 2012, dân số trong toàn xã là 8807 khẩuvới 2036 hộ, trong đó có 617 hộ sản xuất thuần nông (chiếm 31,25%), có 1221 hộngành nghề kiêm nông nghiệp (chiếm 61,36 %), có 148 hộ chuyên ngành nghề vàdịch vụ (chiếm 7,39%)
Toàn xã có khoảng 600 hộ (chủ yếu ở thôn Đại Bái) làm nghề đúc đồng truyềnthống và các loại hình dịch vụ phụ trợ như vận tải, thu gom vật liệu, trưng bày sảnphẩm… góp phần giải quyết cho hơn 2.000 lao động địa phương và những vùngphụ cận, với mức thu nhập trung bình từ 1.500- 3.000.000 nghìn đồng/người/tháng.Năm 2013, huyện đã lập cụm công nghiệp làng nghề, đến nay đã có 50 hộ và 4
Trang 13công ty đi vào sản xuất Sản phẩm của Đại Bái không chỉ tinh xảo mà còn có giá trịlớn, đã xuất hiện nhiều đơn đặt hàng với sản phẩm hàng trăm triệu đồng ”
Sản phẩm mỹ nghệ của làng nghề rất đa dạng về chủng loại và mẫu mã Bêncạnh các sản phẩm truyền thống tranh đồng, đồ thờ cúng, các cơ sở sản xuất đãsáng tạo các sản phẩm cao cấp như chân dung, trống đồng…sản phẩm đã được chútrọng chế tác công phu và tinh xảo
Với các sản phẩm ngày càng phong phú đa dạng và tinh xảo, làng nghề ĐạiBái hiện nay không chỉ là điểm đến mua sắm các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mà
đã trở thành điểm du lịch hấp dẫn của khách thập phương trong những này đầu nămmới Sức hút của làng nghề đang lan tỏa và trở thành ñiểm nhấn trong bức tranhkinh tế của huyện Gia Bình Cụ thể giá trị sản xuất năm 2013 đạt trên 150 tỷ đồng
theo giá cố định (Theo Nguyễn Khôi - đài PT Gia Bình)
2.2.2. Giao thông ở Bắc Ninh
Bắc Ninh là tỉnh có hệ thống giao thông đa dạng, gồm cả đường bộ, đường sắt
và đường sông Trong đó, hệ thống đường bộ được đánh giá là tương đối đồng bộ
so với các tỉnh khác trong cả nước
Cao tốc Nội Bài – Bắc Ninh nằm trên quốc lọ 18 Về đường bộ, tỉnh cso 5quốc lộ chạy qua là tuyến quốc lộ 1A chạy từ Hà Nội lên Lạng Sơn, tuyến quốc lộ
18 Nội Bài - Hạ Long cảng Cái Lân – Móng Cái, tuyến quốc lộ 38 chạy từ thànhphố Bắc Ninh đi Hà Nam, Cao tốc quốc lộ 3 mới Hà Nội - Bắc Ninh - TháiNguyên Quốc lộ 17 được nâng cấp theo Quyết định số 2546/QĐ-BGTVT từ tỉnh lộ
282 đoạn (Quế Võ - Gia Bình - Thuận Thành thuộc tỉnh Bắc Ninh) nối Quốc lộ 18(tại Quế Võ) với Quốc lộ 5 (Hà Nội - Hải Phòng) tại Thị trấn Trâu Quỳ - Gia Lâm -
Hà Nội (cách cầu vượt Thanh Trì khoảng 2 km) Ngoài ra, Quốc lộ 5 nằm liền kềvới Bắc Ninh
Trang 14Cùng với quy hoạch vành đai 3, 4 của Hà Nội đều đi qua hầu hết các huyện,thị xã, thành phố của tỉnh Bắc Ninh tạo ra một mạng lưới giao thông đồng bộ, liênhoàn giữa Hà Nội với Bắc Ninh, và giữa Bắc Ninh với các tỉnh lân cận Trong tỉnh
có các tỉnh lộ như 179,276, 280, 281, 283, 285, 287, 291, 295 kết nối các địaphương trong tỉnh với nhau Đã có một số cây cầu bắc qua sông để nối Bắc Ninhvới các địa phương khác hoặc các huyện với nhau như: Cầu Mai Đình - ĐôngXuyên, Cầu Đáp Cầu, Cầu Như Nguyệt, Cầu Phả Lại, Cầu Bình Than, Cầu Hồ
2.2.3. Khí hậu thời tiết
Điều kiện thời tiết ở đây cũng như nhiều vùng phía Bắc Sản phẩm ñồng ĐạiBái là sản phẩm thủ công truyền thống, không phải là sản phẩm nông nghiệp nên ítchịu ảnh hưởng
Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia làm 4 mùa rõ rệt(xuân, hạ, thu, đông) Có sự chênh lệch rõ ràng về nhiệt độ giữa mùa hè nóng ẩm
và mùa đông khô lạnh Sự chênh lệch đạt 15-16 °C Mùa mưa kéo dài từ tháng năm
Bảng 2.3 Tình hình khí hậu Bắc Ninh trong năm
Dữ liệu khí hậu Bắc Ninh
mưa mm 12 33 34 87 211 245 332 337 234 98 34 23 1.680
đến tháng mười hàng năm Lượng mưa trong mùa này chiếm 80% tổng lượng mưa
cả năm Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.400-1.600 mm Nhiệt độ trung bình:
Trang 1523,3 °C Số giờ nắng trong năm: 1.530-1.776 giờ Độ ẩm tương đối trung bình:79%.
2.2.4 Đặc điểm của làng nghề
Đặc điểm nổi bật nhất của làng nghề là tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽvới nông nghiệp Làng nghề xuất hiện trong từng làng - xã ở nông thôn sau đó cácngành nghề thủ công nghiệp được tách dần nhưng đồng thời không rời khỏi nôngthôn, sản xuất nông nghiệp và sản xuất - kinh doanh thủ công nghiệp trong làngnghề đan xen lẫn nhau Người thợ thủ công trước hết và đồng thời cũng là ngườinông dân
Công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong làng nghề, đặc biệt là các làngnghề truyền thống như làng nghề đúc đồng ban đầu thường rất thô sơ, lạc hậu, sửdụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu Công cụ lao động trong làng nghề đa số là công
cụ thủ công, công nghệ sản xuất mang tính đơn chiếc Nhiều loại sản phẩm có côngnghệ - kỹ thuật hoàn toàn phải dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ mặc dùhiện nay đã có sự cơ khí hoá và điện khí hoá từng bước trong sản xuất, song cũngchỉ có một số không nhiều nghề có khả năng cơ giới hoá được một số công đoạntrong sản xuất sản phẩm
Đại đa số bộ phận nguyên vật liệu của làng nghề ban đầu thường là tại chỗ.Hầu hết các làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ sự sẵn có củanguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ, trên địa bàn địa phương Cũng có thể có một sốnguyên liệu phải nhập từ vùng khác hoặc từ nước ngoài hay ở các vùng khác
Phần đông lao động trong các làng nghề là lao động thủ công, nhờ vào kỹthuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của ngườithợ, sự nối truyền của các thế hệ trước Trước kia, do trình độ khoa học và côngnghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là thủcông, giản đơn Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, việcứng dụng khoa học - công nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất của làngnghề đã giảm bớt được lượng lao động thủ công, giản đơn Tuy nhiên, một số loại
Trang 16sản phẩm còn có một số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹthuật lao động thủ công tinh xảo Việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phươngthức truyền nghề trong các gia đinh từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trongtừng làng.
Sản phẩm làng nghề, đặc biệt là làng nghề mang tính đơn chiếc, có tính mỹthuật cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Các sản phẩm làng nghề truyềnthống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩmvừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa, công sởNhà nước Các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảovới sự sáng tạo nghệ thuật, chứa đựng ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm
về nhân văn và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề ban đầu hầu hết mang tínhđịa phương, tại chỗ và nhỏ hẹp Bởi sự ra đời của các làng nghề, đặc biệt là cáclàng nghề truyền thống, là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tạichỗ của các địa phương Ở mỗi một làng nghề hoặc một cụm làng nghề đều có cácchợ dùng làm nơi trao đổi, buôn bán, tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề Cho đếnnay, thị trường làng nghề đã được mọi người trong và ngoài nước biết đến do đótình hình tiêu thụ đã được tăng lên phần nào
2.2.5 Con đường hình thành của làng nghề đúc đồng
Phường Hàng Đồng là một trong 36 phố phường của Thăng Long Hà Nội xưa.Trải qua hang ngàn năm biến đổi, ngày nay phường nghề đã đổi thành phố nghề,nếu chúng ta có dịp qua phố nghề hàng đồng sẽ thấy các sản phẩm được làm và bán
ra từ chất liệu Đồng rất phong phú và đẹp mắt Theo lịch sử ghi lại thì quê hươngcủa phố Hàng Đồng chính là Làng Gò đúc Đồng Đại Bái ( Hay còn gọi là LàngBưởi Nồi)– Gia Bình – Bắc Ninh, một làng nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống,nơi cho ra đời những sản phẩm được gò và đúc từ chất liệu Đồng qua những bàntay nghệ nhân, và những người thợ lành nghề, sản phẩm có tính mỹ thuật cao mangđậm tính dân gian và đượm tính sáng tạo
Trang 17Khảo sát, nghiên cứu về làng nghề cho thấy con đường hình thành làng nghềchủ yếu là:
Thứ nhất là, làng nghề được hình thành trên cơ sở có những nghệ nhân, với
nhiều lý do khác nhau đã từ nơi khác đến truyền nghề cho dân làng
Thứ hai là, làng nghề hình thành từ một số cá nhân hay gia đình có những kỹ
năng và sự sáng tạo nhất định Từ sự sáng tạo của họ, quy trình sản xuất và sảnphẩm không ngừng được bổ sung và hoàn thiện Rồi họ truyền nghề cho dân cưtrong làng, làm cho nghề đó ngày càng lan truyền ra khắp làng và tạo thành làngnghề
Thứ ba là, một phần làng nghề hình thành do có những người đi nơi khác học
nghề rồi về dạy lại cho những người khác trong gia đình, dòng họ và mở rộng dầnphạm vi ra khắp làng
Thứ tư là, trong thời kỳ đổi mới hiện nay, có một số vùng lân cận làng nghề
đang được hình thành trên cơ sở sự lan toả dần từ làng nghề truyền thống, tạo thànhmột cụm làng nghề trên một vùng lân cận với làng nghề truyền thống
2.2.6 Điều kiện hình thành làng nghề đúc đồng
Nghề gò đồng Đại Bái qua nhiều thăng trầm đã không dừng lại với trình độthủ công ban đầu mà phát triển mở rộng sang các loại hình đòi hỏi trình độ caonhư chạm khắc hàng mỹ nghệ Người Đại Bái năng động đã làm ra một loạt hàngtrang trí, gia dụng bằng đồng mạ bạc như các bình hoa, các bộ đồ trà, rượu, tranh
gò đồng nổi… Đó là xu hướng tất yếu xuất phát từ nhu cầu thực tế của xã hội với
sự giao lưu rộng rãi mà sản phẩm nghệ thuật chạm bạc và khảm tam khí trở nên đắtgiá, được khách hàng trong và ngoài nước ưa chuộng Sự phát triển này đã đem lạicho Đại Bái nói chung và nghề đúc đồng truyền thống nói riêng một chỗ đứng mớitrong nền kinh tế thị trường
Nghiên cứu sự phân bố của làng nghề cho thấy, sự tồn tại và phát triển củalàng nghề cần phải có những điều kiện cơ bản nhất định:
Trang 18- Gần đường giao thông, làng nghề đúc đồng Đại Bái nằm trên các đầu mối giaothông quan trọng, đặc biệt là những đầu mối giao thông thuỷ bộ, gần các tỉnh thànhlơn như Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nội…
- Gần nguồn nguyên liệu, gần các trục đường lưu thông buôn bán các
nguyên vật liệu, máy móc phục vụ cho việc sản xuất
- Gần nơi tiêu thụ hay thị trường chính Đó là những nơi tập trung dân cư
với mật độ khá cao, gần bến sông, bãi chợ và đặc biệt là rất gần các địa điểm củakhẩu, nơi giao dịch buôn bán, xuất khẩu
- Sức ép về kinh tế Biểu hiện rõ nhất là sự hình thành và phát triển của
làng nghề là nơi ít ruộng đất, mật độ dân số cao, đất chật người đông, thêm vào đó
là tại thời điểm kinh tế khó khăn, nhu cầu việc làm nhiều, con người có thời gianrảnh nhiều từ đó nảy sinh ý nghĩ làm giàu, nhu cầu mưa sinh
- Lao động và tập quán sản xuất ở vùng Nếu không có những người tâm huyếtvới nghề, có nhiều quan hệ gắn bó với nghề và có khả năng ứng phó với những tìnhhuống xấu, bất lợi thì làng nghề cũng khó có thể tồn tại một cách bền vững
2.3 Thực trạng phát triển của làng nghề đúc đồng Đại Bái Đúc đồng Đại Bái đón nhận danh hiệu làng nghề tiêu biểu Việt Nam
2.3.1 Tình hình dân số lao động
Năm 2013, dân số Bắc Ninh là 1.124.472 người, chỉ chiếm 1,21% dân số cảnước và đứng thứ 39/63 tỉnh, thành phố, trong đó nam 502.925 người và nữ521.547 người; khu vực thành thị 240.987 người, chiếm 23,5% dân số toàn tỉnh vàkhu vực nông thôn 783.485 người, chiếm 76,5% Mật độ dân số Bắc Ninh năm
2014 đã lên tới 1,262 người/km², gần gấp 5 lần mật độ dân số bình quân của cảnước và là địa phương có mật độ dân số cao thứ 3 trong số 63 tỉnh, thành phố, chỉthấp hơn mật độ dân số của Hà Nội và của thành phố Hồ Chí Minh
Năm 2013, dân số Bắc Ninh là 1.060.300 người, mật độ dân số 1289người/km², vẫn là tỉnh có mật độ dân số cao thứ 3 cả nước
Trang 19Trên địa bàn tỉnh hiện có 27 dân tộc trên tổng số 54 dân tộc tại Việt Nam sinhsống, trong đó Kinh chiếm tuyệt đại đa số Dưới đây là 3 dân tộc đông dân nhất.
Bảng 2.1 Dân số 3 dân tộc lớn nhất ở Bắc Ninh năm 2013
(người)
Tỉ lệ sovới tổngdân số tỉnh
Dân số
đô thị
Tỉ lệ so vớidân số dântộc
Dân sốnông thôn(người)
Tỉ lệ sovới dân
Hiện nay, làng nghề Đại Bái đã có 200 cơ sở chuyên sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp các sản phẩm đồng, trong đó có trên 80% số hộ sản xuất đồđồng mỹ nghệ, giải quyết lao động có việc làm ổn định và hàng trăm lao động theothời vụ Xã đã quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề với diện tích trên 03 ha, vớiñầy đủ hệ thống cơ sở hạ tầng như: đường giao thông, đường điện, xử lý nước thải
-… thu hút 57 hộ sản xuất kim khí mở cơ sở sản xuất tại cụm công nghiệp đồngthời xã cũng quy hoạch các khu sản xuất theo quy mô, chủng loại sản phẩm mỹ
Trang 20nghệ tập trung trong làng nghề, đẩy mạnh công tác quảng bá hình ảnh, có những
chính sách ưu dđãi về thuế, tín chấp vay vốn, khuyến công…(Theo Nguyễn Khôi
-đài PT Gia Bình)
2.3.2 Tình hình đất đai của Đại Bái – Gia Bình – Bắc Ninh
Bắc Ninh là tỉnh có diện tích nhỏ nhất Việt Nam thuộc đồng bằng DôngHồng và nằm trên vùng kinh tế trọng điểm phái Bắc Bắc Ninh tiếp giáp với vùngtrung du Bắc bộ tại tỉnh Bắc Giang Thành phố Bắc Ninh nằm cách trung tâm HàNội 30km về phía Đông Bắc Phía tây và tây nam giáp thủ đô Hà Nội, phíaBắc giáp tỉnh Bắc Giang, phí Đông và phía Đông Nam giáp tỉnh Hải Dương – phínam giáp tỉnh Hưng Yên Trong quy hoạch xây dựng, tỉnh này thuộc vùng thủ đô.Ngoài ra, Bắc Ninh còn nằm trên 2 hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai - Hà Nội– Hải Phòng – Quảng Ninh và Nam Định - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng -Quảng Ninh
Đất đai là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại của bất kỳ ngành sản xuấtkinh doanh nào Đại Bái có tổng diện tích tự nhiên là 385,2ha, trong đó đất nôngnghiệp là 242,7 ha (chiếm 63%), đất chuyên dùng là 60,0ha (chiếm 15,5%), đất dân
cư là 27.3 ha (chiếm 7,09%) Đại Bái là một vùng chiêm trũng, dân số đông, do đó
có diện tích bình quân đầu người thấp Nhìn chung qua 3 năm 2013, 2014, 2015diện tích đất đai của Đại Bái ít có sự biến xã động Tổng diện tích đất tự nhiên của
3 năm là 385,2 ha, gồm có đất nông nghiệp, đất chuyên dùng, đất lâm nghiệp, đất
ở Trong đó đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất
2.3.3 Tình hình sản xuất kinh doanh của làng Đại Bái
Tổng giá trị sản phẩm của xã Đại Bái liên tục tăng, tốc ñộ tăng trưởng bìnhquân trong 3 năm từ năm 2013 - 2015 là 15,1%, giá trị sản xuất của từng ngànhcũng tăng đặc biệt là công nghiệp và dịch vụ
Trang 21Qua bảng 2.2 cho thấy:
Về công nghiệp: Giá trị sản xuất hàng năm đều tăng nếu như năm 2013 là 13,5
tỷ chiếm 26,3% thì đến năm 2015 tăng đạt 20,2 tỷ chiếm 29,7%, bình quân tăng22,4%/năm
Về giá trị trồng trọt và chăn nuôi: Tỷ trọng ngành nông nghiệp của Đại Báitrong 3 năm qua giảm, tuy nhiên giá trị sản xuất ngành nông nghiệp thì ngày mộttăng, tốc độ tăng bình quân trong 3 năm là 3,5%
Thương mại và dịch vụ phát triển bình quân 3 năm tăng 20,5%, do những nămgần đây dịch vụ vận tải của xã phát triển, tình hình giao lưu buôn bán trong xãtương đối phát triển
Trang 22Bảng 2.2 Kết quả phát triển kinh xã Đại Bái năm 2013 – 2015
1 Giá trị trồng trọt và chăn nuôi 18 717 36,4 19 014 31,4 20 060 29,5 101,6 105,5 103,5
2 Giá trị công nghiệp, TTCN 13 500 26,3 17 120 28,3 20 200 29,7 126,8 118,0 122,4
3 Giá trị thương mại dịch vụ 19 200 37,3 24 250 40,3 27 800 40,9 126,3 114,6 120,5
113, 6
Trang 23Nhận xét chung: Tình hình kinh tế của Đại Bái những năm gần đây phát
triển tương đối tốt, tốc độ phát triển bình quân là 15,1%/năm Tuy nhiên, vẫn còn
có những tồn tại mà Đại Bái cần giải quyết như: giao thông đường bộ xuống cấp;thu nhập của người dân bình quân đầu người từ 8 - 8,5 triệu đồng/năm, nhưngvẫn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của một làng nghề Tỷ lệ hộ kháqua các năm 2013 – 2015 đều tăng, bình quân 3,3%/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảmnhưng vẫn ở mức cao, năm 2015 là 5,0% Như vậy, Đại Bái có điều kiện thuậnlợi để phát triển kinh tế lại có nghề đúc đồng truyền thống, chính quyền các cấpcần quan tâm hơn nữa, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển đặcbiệt cần có chính sách hỗ trợ nghề ñồng truyền thống phát triển
2.3.4 Làng nghề đúc đồng Đại Bái, điểm đến hấp dẫn đối với khách du lịch
Làng nghề gò, đúc đồng Đại Bái cổ xưa có tên làng Văn Lãng hay gòn gọi làlàng Bưởi, thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh Ngôi làng nằm trên một dải đấtcao bên bờ sông Bái Giang (một nhánh của sông Thiên Đức cũ), cách đường 182khoảng 1km
Đại Bái từ xa xưa đã nổi tiếng là làng thủ công truyền thống chuyên sản xuất
đồ đồng phục vụ về mặt dụng cụ gia đình, ban đầu mới chỉ làm xoong nồi thô sơ,sau mới có ấm, mâm, chậu thau và cho đến đầu thế kỷ XI nhờ công của ôngNguyễn Công Truyền, dân làng tôn ông là "Tiền tiên sư", bởi ông là người biết lo
tổ chức sản xuất cho làng nghề và sáng tạo mẫu
Làng nghề Đại Bái, xã Đại Bái (Gia Bình) một điểm du lịch thú vị đối với
du khách Đến đây du khách không những được trải nghiệm các công đoạn làmnghề đúc đồng mà còn được thăm khu di tích lịch sử cấp Quốc gia gồm: Khu lăng
tổ sư nghề đồng Nguyễn Công Truyền, đình Văn Lãng, đình Diên Lộc và chùaDiên Phúc
Đến Đại Bái vào bất kỳ thời điểm nào trong năm, du khách đều cảm nhậnđược không khí sản xuất sôi động của làng nghề Tiếng đục, mài rũa, rộn ràng
Trang 24vang khắp đường làng, ngõ xóm Dưới bàn tay của người thợ thủ công, rất nhiềucác sản phẩm tinh xảo như: Tượng đồng, đỉnh đồng, lư hương, tranh, câu đốibằng đồng… đã ra đời, được người dân khắp cả nước yêu thích, ngợi ca.
Về Đại Bái, du khách còn được thăm cụm di tích cổ kính linh thiêng: ĐìnhVăn Lãng, đình Diên Lộc, chùa Diên Phúc, lăng mộ tổ sư nghề đúc, dát đồngNguyễn Công Truyền… là những dấu tích minh chứng cho bề dày lịch sử củamảnh đất này Đình Văn Lãng thờ Thành hoàng làng là Lạc Long Quân và phụcông Nguyễn Công Hiệp – người có công rất lớn trong việc trùng tu các chùađình, cầu, đường, khuyến khích nghề gò đồng ở làng; Đình Diên Lộc là nơi thờ tổnghề gò dát đồng Nguyễn Công Truyền bị phá huỷ hoàn toàn trong chiến tranh
Về sau dân làng dồn vật liệu của hai ngôi đình cổ Văn Lãng và Diên Lộc đểthờ chung Thành Hoàng làng và tổ nghề Nguyễn Công Truyền Năm 1992, đìnhDiên Lộc được phục dựng trên nền xưa đất cũ theo dáng vẻ truyền thống và Tổnghề Nguyễn Công Truyền lại được thờ phụng tại đây Đình Diên Lộc thờ tổnghề Nguyễn Công Truyền – nơi lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, tâm linh của làngĐại Bái
Chùa Đại Bái (còn có tên là chùa Diên Phúc) được trùng tu vào đời vua LêThần Tông (1646 – 1647) Chùa dựng theo kiểu nội công, ngoại quốc, có nhàthập điện, lầu chuông hai tầng, có nhà Tả vu, Hữu vu mỗi bên đến mười gian.Chùa Diên Phúc còn bảo lưu được hệ thống cổ vật rất phong phú, độc đáo và quýhiếm như: tượng phật, tượng chân dung chuông chùa, bia đá, bệ đá có niên đạithời Lê và Nguyễn; hệ thống đại tự, câu đối có nội dung ca ngợi Phật pháp vàngười được thờ hậu… Cụm di tích làng đình Diên Lộc, chùa Diên Phúc và lăng tổnghề Nguyễn Công Truyền đã được xếp hạng cấp Quốc Gia, Quyết định số1570/VH-QĐ, ngày 5-9-1989
Hội tụ đầy đủ các yếu tố của một làng nghề du lịch nhưng không có hướngdẫn viên, không có biển chỉ dẫn nên du khách tìm đến nếu không liên hệ trướcvới thôn, xã thì chỉ biết loanh quanh tại mấy cơ sở sản xuất tìm hiểu về nghề đúc
Trang 25đồng và mua sắm sản phẩm Tuy nhiên, các mặt hàng lưu niệm dành cho khách
du lịch tại đây lại rất hạn chế, giá thành cao khiến việc tìm mua một sản phẩmưng ý không phải dễ dàng Chủ một cơ sở cung cấp đồ đồng nổi tiếng ở Đại Báicho biết: Những sản phẩm đúc đồng nhỏ gọn dành cho khách du lịch thường cóđặt trước chúng tôi mới làm còn để làm một loạt bày bán thì không có Bởi sảnphẩm đúc đồng dành cho khách du lịch tuy nhỏ nhưng giá cũng khá cao nên chỉ
có khách thích mua mới đặt hàng trước”
Phát triển du lịch làng nghề là một trong những hướng đi mũi nhọn của dulịch Bắc Ninh Với những tiềm năng sẵn có, Đại Bái hoàn toàn có thể phát triểnmạnh mẽ hơn nữa loại hình du lịch này, không chỉ phát triển kinh tế, tạo việc làmcho lao động nông thôn mà còn góp phần bảo tồn các giá trị lịch sử văn hoá Hơnnữa, với truyền thống đúc đồng từ hàng ngàn năm nay, đây là một làng nghề tiêubiểu của văn hóa kinh kỳ miền bắc Việt Nam
Các vật phẩm đồ đồng do Đại Bái sản xuất luôn là những mẫu sản phẩm chất
lượng được khách trong và ngoài nước đánh giá cao, với sự phát triển khôngngừng như vậy, tương lai Đại Bái sẽ trở thành một khu công nghiệp chuyên vềsản xuất các sản phẩm về đồ đồng từ thấp đến cao cấp, phụ vụ mọi miền tổ quốc
Hình 2.2 Một số sản phẩm được làm từ làng đúc đồng thu hút du khách.
Trang 26Nhờ có sự tổ chức sản xuất hoàn chỉnh đã giúp cho Đại Bái nhanh chóng pháttriển với sự nâng cao rõ rệt về kỹ thuật luyện đồng: Lấy đất sét bờ sông xây òđúc, lấy bùn ao nhào với tro trấu làm nơi luyện đồng, đồng pha kẽm làm đồngthau và tạo thêm được nhiều sản phẩm mới được chế tác từ đồng như: Tượngđồng, đỉnh đồng, lư hương, lọ hoa, tranh, câu đối bằng đồng…
Ngày nay, làng nghề gò, đúc đồng Đại Bái gìn giữ được nghề truyền thống
và phát triển mạnh mẽ, với những hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh, có
sự cải tiến kỹ thuật và tự trang, tự chế ra máy móc như máy cán, máy dập, máyđánh bóng tìm kiếm thị trường xuất khẩu, khẳng định được vị thế của một
Hình 2.3 Lễ hội làng truyền thống hàng năm
làng nghề thủ công truyền thống tiêu biểu của Việt Nam Bên cạch đó, làng nghềĐại Bái còn gìn giữ được nhiều di tích lịch sử - văn hóa có giá trị, tiêu biểu như:Khu lăng tổ sư nghề đồng Nguyễn Công Truyền, đình Văn Lãng, đình Diên Lộc,chùa Diên Phúc và Lễ hội Làng truyền thống làng Đại Bái - nơi tôn vinh nhữngsản phẩm truyền thống được làm từ đồng, tôn vinh những tấm lòng gắn bó vớinghề và lưu giữ những nét đẹp văn hóa của quê hương được tổ chức hàng nămvào ngày 10 tháng 4 Âm lịch
Trang 27PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ đúc đồng Đại Bái
3.1.1 Thực trạng sản xuất đúc đồng Đại Bái
3.1.1.1 Nét đặc trưng của sản phẩm đồng Đại Bái
Trong những năm gần đây do có sự kết hợp giữa nghề đúc đồng truyềnthống và sáng tạo của lớp trẻ trong làng Các sản phẩm đồng Đại Bái ngày càngphong phú về chủng loại, mẫu mã với các dòng sản phẩm chính:
-Tranh đồng: Tranh con vật và tranh cảnh làm đồ trang trí trong nhà
-Tranh chữ: Tranh chữ trang trí và chúc mừng
-Đồ thờ cúng: Lư hương, đỉnh đồng, bộ thờ cúng, bàn thờ
-Ấm đồng: Ấm đồng cổ
-Hộp đồng: Hộp đồng và đèn trang trí
-Đồ gia dụng: Mâm, chậu, ấm đồng
-Bộ gõ: Cồng, chiêng, la, kiểng đồng
Trong đó các sản phẩm như mâm, chậu, siêu, là các sản phẩm truyền thốngvới màu đồng vàng, đồng đỏ đã từng có mặt khắp mọi miền của nước ta Dântrong nước, nhất là vùng nông thôn, rất ưa dùng đồng Đại Bái bởi tính thực dụngcao và giá rẻ Ngày nay hầu hết các sản phẩm đồng gia dụng đã được trang trí hoạtiết tuy không cầu kỳ mang tính nghệ thuật cao như đồ đồng mỹ nghệ nhưng việcđưa những hình ảnh hoa lá, chim muông,…vào trong các sản phẩm này đã tăngtính thẩm mỹ cũng như tính ñặc dụng của sản phẩm Nhờ đó mà các sản phẩmđồng gia dụng vẫn tìm được chỗ đứng trong ñời sống hàng ngày của một bộ phậndân cư
Với bàn tay tài hoa, óc sáng tạo cùng hành trang kiến thức ñược trang bị quatruyền nghề của các nghệ nhân xưa, những người thợ, nghệ nhân trẻ đã khôi phục
và phát triển làng nghề sáng tạo ra dòng đồng mỹ nghệ, thờ cúng, hàng côngnghiệp… các sản phẩm có màu vàng ánh đồng, hay màu bóng đồng đen, đồngđỏ…phù hợp với nhiều không gian và hình thức sử dụng
Trang 28Khác với đồng Ngũ Xá, đồng Đại Bái là sản phẩm hoàn được làm thủ công từcông đoạn đắp khuôn cho đến khi sản phẩm được đánh bóng hoàn thành.
Bảng 3.1 Đặc trưng về hình thái, tính chất một số sản phẩm đồng Đại Bái
Hình con vật: nghê, trâu, hươu, nai, rồng, phượng, …
Hình mặt trời, các ngôi nhà,…
Màu sắc chủđạo của đồngĐại Bái làmàu đồngđen, màuđồng và cóđiểm thêmmàu vàng,màu đỏ, màuxanh …đốivới đồng mỹnghệ
Sản phẩm có
độ dày, trọnglượng nặng,thô, sần, mộcmạc nhưngvẫn có độbóng của màu.Các hoạ tiết hoavăn rất gần gũivới tự nhiên
và dựa theohoạ tiết cổ
Đồng gia
dụng
Các sản phẩm đồng gia dụngtrước đây không có hoạ tiết hoavăn nhưng ngày nay các loạiñồng gia dụng cũng ñược cácnghệ nhân điểm thêm các loạihoa văn, hoạ tiết khiến cho sảnphẩm vừa có giá trị sử dụng vừa
có giá trị thẩm mỹ
Nguồn: Tổng hợp qua điều tra năm 2013
Nét đặc trưng nổi bật của đồng Đại Bái là sử dụng kỹ thuật đúc bằng tay Khisản phẩm được đắp bằng tay thì không có độ bóng như những sản phẩm cùng loạicủa Trung Quốc, nhưng lại mang được phong thái cổ, kích cỡ của các sản phẩmthường không giống nhau bởi còn phụ thuộc vào tay thợ đắp khuôn đất Sản phẩmđược đúc hoàn toàn thủ công nên mộc mạc, thô phác khỏe khoắn, chứa đựng vẻđẹp nguyên sơ của đồng với lửa, đậm nét của nghệ thuật điêu khắc tạo hình chongười chơi đồng ñúc có cảm giác được trở về làng quê với cây đa, bến nước, cảmgiác bình yên giữa không gian bộn bề của cuộc sống mưu sinh
Với xu thế phát triển của nền kinh tế, xu hướng xây nhà thờ, đình đền, chùangày càng nhiều, đồng Đại Bái với những đặc trưng riêng biệt đang dần tìm lại chỗđứng của mình trong lòng người tiêu dùng Tuy vậy muốn phát triển làng nghề
Trang 29theo hướng bền vững thì những người con của Đại Bái cần phải cố gắng nhiều hơn nữa để sáng tạo ra những sản phẩmđáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.
3.1.1.2 Quy mô doanh nghiệp, hộ gia đình đúc đồng
Bảng 3.2 Quy mô của doanh nghiệp qua 3 năm 2013-2015
Trang 30Nguồn: Thống kê UBND xã Đại Bái
Trang 31Qua bảng số liệu 3.2 cho thấy: Nghề đúc đồng Đại Bái đang có sự phát triển
về quy mô thể hiện ở số cơ sở tham gia đúc đồng tăng lên, bình quân trong 3 năm
2013 – 2015 tăng 3,95% đây là sự ra tăng của các hộ sản xuất quy mô 2 và 3, còncác hộ quy mô 1 giảm bình quân là 8,96% Nguyên nhân là do các hộ sản xuất ởquy mô 1 là những hộ sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu đúc đồng gia dụng do đó họ khôngbắt kịp nhanh ñược với xu thế mới của thị trường do vậy mà nhiều hộ chỉ sản xuấtcầm chừng, một số hộ thì phá sản phải đi làm thuê cho các xưởng đúc khác
Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính, năm 2014 đúc đồngcủa làng nghề Đại Bái bị giảm sút lượng đơn đặt hàng giảm đi, nhiều gia đình sảnxuất chủ yếu nhờ những hợp đồng được ký kết từ năm trước hoặc các mối quan
148
156
Trang 32với khách hàng lẻ từ trước Trong khi từ năm 2013 – 2015 số sản phẩm tăng từ
924 sản phẩm (2013) đã lên tới 1.232 sản phẩm (2015) tương ñương mức tăng33,33% thì số sản phẩm sản xuất ra năm 2013 giảm so với năm 2014 tươngđương 16,80%: Từ 1.232 sản phẩm năm 2013 đến năm 2015 chỉ đạt 1.025 sảnphẩm
Tuy vậy sản xuất vẫn được mở rộng tại nhiều cơ sở sản xuất đúc đồng lớn,
số lao động phục vụ cho ngành đúc đồng vì thế cũng tăng đáng kể bình quân 3năm 2013 – 2015 là 21,52% đặc biệt là lao động thuê mướn sở tại và địaphương cũng tăng khá nhanh bình quân trong 3 năm là 31,64%
Những năm gần đây sản phẩm đúc đồng được khôi phục và phát triển,nhiều dòng sản phẩm mỹ nghệ mới ra đời tạo ra luồng gió mới cho đồng ĐạiBái Tiêu biểu là dòng sản phẩm Tranh Chữ, đồ lưu niệm,…Với bàn tay khéoléo óc sáng tạo không ngừng cùng với vốn kiến thức truyền lại nghệ nhân VũHữu Nhung; Trần Mạnh Thiều đã tạo ra những sản phẩm mang tính độc đáo,sáng tạo cao, có giá trị xuất khẩu Từ đó triển khai sản xuất tại nhiều hộ đem lạithu nhập cao cho người đúc đồng
Bước tiếp thành công của các lớp nghệ nhân đi trước hiện nay làng đúcđồng đã có nhiều thanh niên đi học tại Trường đại học mỹ thuật về mở xưởngsản xuất với những cái tên như: đồng mỹ nghệ Nam Phong, đồng điệp Nhung,đồng Kim Thành,…họ sẽ là đội ngũ trẻ góp công khôi phục và phát triển làngđúc đồng Đại Bái
Kết quả sản xuất – kinh doanh
Theo thống kê của UBND xã Đại Bái nghề đúc đồng mang lại giá trị kinh
tế cũng như thu nhập cao gấp 4 đến 5 lần lao ñộng nông nghiệp thuần túy.Ngành đúc đồng trong những năm gần đây đạt nhiều thành tựu nhất định vềkinh tế cũng như giải quyết các vấn đề xã hội như giảm thất nghiệp, giảm các tệnạn xã hội Thể hiện tổng giá trị sản lượng tăng dần qua các năm, năm 2013 là
Trang 3310,758 triệu đồng đến năm 2015 là 14,004 triệu đồng, tốc ñộ phát triển bìnhquân trong 3 năm là 114,09%/năm (bảng 3.3).
Sản xuất đúc đồng được khôi phục đã tạo ra thu nhập ngày càng tăng chongười lao động mức thu nhập bình quân một lao động dao động trong khoảng từ
15 – 19 triệu đồng/năm trong 3 năm gần đây
Bảng 3.3 Giá trị sản xuất đồng đại Bái năm 2013 – 2015
Nguồn: Thống kê UBND xã Đại Bái
Nghề đồng Đại Bái đang từng ngày thay da đổi thịt, bước đầu khẳng địnhtên tuổi của mình trên thị trường bên cạnh những tên tuổi đúc đồng khác nhưđồng Ngũ Xá, đồng Thanh Kiều Với những thành tựu đã đạt được trong nămqua là tiền đề giúp đồng Đại Bái tìm ra con đường phát triển bền vững trongthời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
3.1.1.3 Đặc điểm các hộ sản xuất đồng
Việc tìm hiểu đặc điểm của các hộ sản xuất đồng có vai trò quan trọng là
cơ sở cho việc đề ra đường lối phát triển cho làng nghề Đại Bái, đặc biệt là cácchủ hộ - người có vai trò quan trọng trong thúc đẩy hoạt ñộng sản xuất – kinhdoanh đồng của làng nghề
Tình hình cơ bản của các chủ hộ sản xuất đồng của làng nghề được thểhiện qua bảng dưới đây
Trang 34Bảng 3.4 Tình hình cơ bản của các hộ điều tra năm 2010
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra năm 2013
Qua bảng 3.4 cho thấy: Đa phần các hộ sản xuất đúc đồng kiêm làm nghềkhác chủ yếu là họ tham gia sản xuất nông nghiệp, trong tổng số 52 hộ điều tra
có tới 34 hộ kiêm ngành nghề khác, còn lại 18 hộ chuyên đúc đồng Điều nàycho thấy sản xuất đồng chưa thực sự mang lại thu nhập cao và ổn định chongười đúc đồng Mặt khác nhóm các hộ sản xuất quy mô 1 sản xuất theo quy
mô gia đình là chính, lượng lao động thuê rất ít và mang tính chất mùa vụ Còn
Trang 35các hộ sản xuất quy mô 2 và quy mô 3 lượng lao động gia đình tham gia sảnxuất đúc đồng ít, đa phần là lao động thuê mướn thường xuyên mỗi hộ thuê từ
15 – 24 lao động
Nhiều chủ xưởng đúc đồng có tuổi đời, tuổi nghề khá cao, đây là lớp ngườigắn bó lâu đời với nghề đúc đồng, sống với nghề ngay cả trong giai đoạn khókhăn nhất của làng nghề Họ có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất đúc đồng.Tuổi nghề bình quân của các chủ hộ là 23 năm, cao nhất là 35 năm
Trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn của các chủ hộ tương đối thấptrung bình từ lớp 8 đến lớp 10, số chủ hộ đã qua đào tạo nghề tại các trườngchính quy rất ít Qua điều tra có tới 41 chủ hộ qua truyền nghề, có 4 chủ hộ quatrung cấp, có 7 chủ hộ đã và đang theo học tại Trường Đại học mỹ thuật Hà Nội.Nguyên nhân là do sản xuất tại làng nghề mang tính chất truyền thống truyền từđời này sang đời khác do đó tỷ lệ nghỉ học sớm ở nhà làm nghề rất cao, chưachú trọng đến đào tạo chuyên nghiệp do đó mà đúc đồng đại Bái chưa có nhiềubước phát triển mới
Với đặc điểm hiện nay của các chủ xưởng đúc đồng để phát triển làng nghềtheo hướng bền vững, hướng tới sản xuất hàng hóa xuất khẩu còn rất nhiều vấn
đề cần giải quyết Một mặt các chủ hộ cần quan tâm bồi dưỡng chuyên môn,kiến thức quản lý kinh tế,… mặt khác các cấp chính quyền cần có biện pháp hỗtrợ các chủ hộ nâng cao trình độ, tiếp cận được với thông tin mới của thị trường
3.1.1.4 Điều kiện sản xuất của các hộ đúc đồng làng nghề Đại Bái
Trang 36Tài sản cố định dùng cho sản xuất đồng gồm: Khuôn đúc, xưởng sản xuất,kho chứa hàng, mô tơ điện, máy trạo đất, máy cán đồng, các thiết bị hỗ trợ sảnxuất khác (bảng 3.5) Nhìn chung giá trị TSCĐ của các hộ làng nghề khá thấp.Giá trị các tài sản cố định trung bình của các hộ làng nghề khoảng 210,26 triệuđồng.
Bảng 3.5 Điều kiện kinh tế của các nhóm hộ sản xuất ñồng năm 2013
(Tính bình quân 1 hộ điều tra)
Diễn giải ĐVT Chung các hộ Quy mô các hộ sản xuất
Quy mô 1 Quy mô 2 Quy mô 3
Qua bảng 3.6 cho thấy: Tổng số vốn của các hộ sản xuất quy mô 1 dao động từkhoảng 100 – 130 triệu đồng, các hộ sản xuất ở quy mô 2 có tổng số vốn bìnhquân khoảng 245,46 triệu đồng, các hộ ở quy mô 3 có tổng số vốn sản xuấtnhiều nhất với mức bình quân mỗi hộ khoảng gần 400 triệu đồng
Trang 37Tổng số vốn
Tổng số vốn cố định Tổng số vốn lưu động
Triệu đồng 400
398.97
350 300 250 200
245.46
213.13 185.84
150 100 50
92.56 35.87
113.39
0
Bảng 3.6 Tình hình sử dụng vốn tại các hộ sản xuất đồng Đại Bái
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra năm 2014
Về cơ cấu vốn: Các hộ sản xuất quy mô 2 và quy mô 3 có lượng vốn lưu động nhiều hơn vốn cố định, trong khi nhóm hộ quy mô 1 sử dụng lượng vốn cố định nhiều hơn Nguyên nhân là do các hộ nhóm quy mô 1 khả năng tiếp cận thị trường kém nên lượng tiêu thụ hạn chế khả năng quay vòng vốn chậm Còn các hộ sản xuất quy mô 2
và quy mô 3 là những người năng động, sản phẩm làm ra dễ tiêu thụ do đó thường xuyên mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, lượng vốn quay vòng nhanh.
Đồ thị 3.2 Cơ cấu vốn của các hộ đúc đồng.
Với điều kiện sản xuất như hiện nay đã gây không ít khó khăn trong việcduy trì và phát triển sản xuất tại các hộ đặc biệt là các hộ sản xuất quy mô nhỏ.Bên cạnh việc nguyên vật liệu sản xuất thì thiếu vốn sản xuất là một trong