1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa việt nam vào EU khi tham gia vào WTO

177 354 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU đang được chi phối bởi quá trình đàm phán về Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EU VE FTA đang diễn ra tro

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cấp thiết của đề tài luận án

Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đang trở thành một xu thế khách quan; Các quốc gia, dân tộc không còn cách lựa chọn nào khác là hội nhập để cùng tồn tại và phát triển Là một quốc gia đi lên từ xuất phát điểm thấp, Việt Nam sớm nhận thức được tầm quan trọng và yêu cầu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã thể hiện quyết tâm thực hiện tự do hoá thương mại và coi đây là ưu tiên hàng đầu trong chương trình cải cách của mình Việt Nam đã đạt được nhiều thỏa thuận trong đàm phán thương mại song phương, đa phương với các đối tác chiến lược như Hoa Kỳ, EU và đặc biệt là sự kiện Việt Nam đã kết thúc thành công tốt đẹp trong đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới - WTO và trở thành thành viên của tổ chức này năm 2007 Tham gia WTO, Việt Nam đã ký kết các thỏa thuận trong điều chỉnh chính sách thương mại với lộ trình được xác định Trong bối cảnh mới của quốc tế và điều kiện kinh tế trong nước cần phải có chính sách thúc đẩy xuất khẩu hợp lý để tăng cường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường quốc tế nói chung và đặc biệt là thị trường xuất khẩu trọng điểm và chủ lực của Việt Nam - thị trường EU nói riêng

Chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU đang được chi phối bởi quá trình đàm phán về Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EU (VE FTA) đang diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện các cam kết với WTO đã và đang có những tác động to lớn đến sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước nói chung cũng như hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang

EU nói riêng

Liên minh Châu Âu là một đối tác truyền thống lớn nhất và tiềm năng đối với hàng hoá xuất khẩu Việt Nam Với 28 quốc gia thành viên, dân số trên 500 triệu người, GDP đạt khoảng 15 nghìn tỷ USD (chiếm 27% GDP thế giới), chiếm 45%

Trang 2

thương mại và 47% đầu tư trực tiếp ra toàn cầu1 Trong những năm qua, trước khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá vào EU luôn có những bước phát triển qua từng giai đoạn Tuy nhiên, trong thời gian qua các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là những rào cản kỹ thuật ngày càng gay gắt từ thị trường này Hơn nữa, từ khi là thành viên của WTO, Việt Nam phải thực hiện những cam kết gia nhập như mở cửa thị trường hàng hoá, cắt giảm thuế xuất nhập khẩu, làm cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam giảm đi khả năng cạnh tranh về giá với các đối thủ khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan… đối với thị trường EU Một số mặt hàng như da giày của Việt Nam không còn được hưởng hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập GSP của EU Cùng với đó là tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến cho nhiều nền kinh tế của các thành viên EU rơi vào tình trạng suy thoái, làm suy giảm cầu đối với hàng nhập khẩu của EU, dẫn tới hệ quả là thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam tại EU bị ảnh hưởng trong khi các yêu cầu đối với hàng hoá nhập khẩu vào EU ngày càng được nâng lên

Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, hệ quả tất yếu dẫn đến thu nhập của người dân các nước bị suy giảm, thất nghiệp gia tăng, đầu tư đình trệ… khiến cho thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam bị thu hẹp, trong khi cạnh tranh thì ngày càng gay gắt

Trước bối cảnh quốc tế và quốc gia hiện tại Việt Nam đã nhanh chóng đẩy nhanh tiến trình cải cách thể chế, cơ chế, chính sách kinh tế phù hợp với chủ trương, định hướng của Ðảng và Nhà nước; chủ động xây dựng các quan hệ đối tác mới, tham gia vào các vòng đàm phán mới, thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế song phương, khu vực và đa phương Tuy nhiên, một trong những vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là sau gần tám năm Việt Nam gia nhập WTO, Việt Nam cần phải nghiên cứu, tổng kết một cách khoa học và có hệ thống về chính sách xuất khẩu sang EU - một trong những thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn nhất của Việt Nam đã và đang

1

Theo số liệu thống kê của Eurostat năm 2012

Trang 3

thực thi trên cả hai phương diện: những điểm hợp lý, những bất cập và nguyên nhân Hơn nữa, Việt Nam và EU đã và đang trong quá trình đàm phán để ký Hiệp định thương mại tự do, đang cùng nhau tìm ra một hướng đi nhằm giải quyết bế tắc

trong vòng đàm phán Doha của Tổ chức Thương mại thế giới

Một trong các vấn đề đang nổi lên là làm thế nào để có một hệ thống chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường EU trong điều kiện tham gia vào WTO một cách hữu hiệu Góp phần giải quyết các vấn đề này cả về phương diện lý luận và thực tiễn, tác giả quyết định lựa chọn vấn đề

“Chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường EU trong điều kiện tham gia vào WTO” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Trung tâm Kinh tế quốc tế của Úc (CIE) thực hiện nghiên cứu về công cụ chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam cũng như các quy định về thương mại, chính sách xuất khẩu - Nghiên cứu này hoàn thành năm 1998 Tuy nhiên chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường EU chưa được đề cập tới Việt Nam đã có nhiều công trình, sách tham khảo về vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế; Công trình “Hội nhập kinh tế quốc tế: áp lực cạnh tranh trên thị trường và đối sách của một số nước” do Viện nghiên cứu Quản lý Trung ương và cơ quan phát triển quốc tế Thuỵ Điển phối hợp thực hiện vào năm 2003 [101]

Tài liệu: “Việt Nam sẵn sàng gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)”

do Trung tâm Khoa học và Nhân văn quốc gia và Ngân hàng thế giới phối hợp thực hiện vào năm 2004 [89] Các công trình này giới thiệu những vấn đề trọng tâm của hội nhập kinh tế quốc tế hoặc dừng lại ở những bài học kinh nghiệm trong quá trình gia nhập WTO mà chưa nghiên cứu và đề cập tới quá trình điều chỉnh chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện tham gia vào WTO

Hoạt động xúc tiến xuất khẩu đã được quan tâm nghiên cứu ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, trong đó luận án của Liesel Anna (2001) với tựa đề

“Ý nghĩa xã hội của tổ chức xúc tiến xuất khẩu trong ngành may mặc Thổ Nhĩ Kỳ”

Trang 4

đã phân tích vai trò của hoạt động xúc tiến xuất khẩu dưới khía cạnh xã hội đối với ngành may mặc ở Thổ Nhĩ Kỳ [50], chính sách thúc đẩy xuất khẩu chưa được đề cập một cách hệ thống trong công trình này

Công trình “Xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ” của Nguyễn Thị Nhiễu xuất bản năm 2003 đã hệ thống hoá được những vấn đề

lý luận về hoạt động xúc tiến xuất khẩu và phân tích, đánh giá thực tiễn và đề xuất các giải pháp tăng cường hoạt động xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam Đây là công trình nghiên cứu khá cụ thể về hoạt động xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ Việt Nam, tuy nhiên những nội dung phân tích, đánh giá và giải pháp đề xuất trong công trình này chỉ là một nội dung trong chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam nói chung Nội dung liên quan đến chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường EU chưa đề cập đến [62]

Bên cạnh đó, công trình “Xúc tiến thương mại” của Viện Nghiên cứu Thương mại (2003) đề cập một cách hệ thống những vấn đề mang tính lý luận chung về hoạt động xúc tiến thương mại (bao gồm cả xúc tiến xuất khẩu, xúc tiến nhập khẩu và xúc tiến bán hàng trong nước) [96]

Một công trình nghiên cứu khá toàn diện cả về cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động xúc tiến thương mại quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh

tế quốc tế là luận án của Phạm Thu Hương có tựa đề “Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy hoạt động xúc tiến thương mại quốc tế của Việt Nam” Trong đó, những vấn đề lý luận chung về hoạt động xúc tiến thương mại quốc tế cả ở hai cấp độ vĩ

mô và vi mô cũng như kinh nghiệm của một số nước đã được đề cập một cách hệ thống Thực trạng hoạt động xúc tiến thương mại quốc tế của Việt Nam đã được phân tích và đánh giá một cách sát thực dựa trên cơ sở dữ liệu điều tra thông qua phiếu hỏi, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp; Công trình này đã cho người đọc thấy được một bức tranh tổng thể về hoạt động xúc tiến thương mại quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế; Tuy nhiên, công trình này hoạt động xúc tiến xuất khẩu mới chỉ được nghiên cứu như một bộ phận của hoạt xúc

Trang 5

tiến thương mại quốc tế; chưa có sự xem xét đối với một thị trường cụ thể [44].

Ngoài ra, hoạt động xúc tiến xuất khẩu cũng được đề cập trong các tài liệu của Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam, các tổ chức quốc tế và các bài báo trong thời gian qua Tuy nhiên, trong hầu hết các nghiên cứu đó, hoạt động xúc tiến xuất khẩu chỉ được đề cập như một trong những biện pháp để thúc đẩy xuất khẩu hoặc là một nội dung của xúc tiến thương mại quốc tế nói chung, chưa có nghiên cứu gắn với một khu vực thị trường, một nhóm hàng hoặc mặt hàng cụ thể

Như vậy, về cơ bản các nghiên cứu trước đây mới chỉ dừng lại ở những kết quả mang tính khái quát, tổng thể chung về xúc tiến thương mại nói chung và hoạt động xúc tiến xuất khẩu nói riêng, do đó chưa có kết luận cụ thể về những thành công, hạn chế trong quá trình thực hiện hoạt động xúc tiến đối với nhóm hàng cụ thể làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp mang tính khả thi hơn

Về bài học kinh nghiệm quốc tế cho chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về kinh tế Trung Quốc kể

từ khi nước này thực hiện chính sách cải cách và mở cửa kinh tế đến nay Trong số

đó đáng chú ý là những công trình của các tác giả: Nguyễn Kim Bảo (2000), "Đầu

tư trực tiếp nước ngoài ở Trung Quốc từ 1979 đến nay"; Phạm Thái Quốc (2001),

"Trung Quốc - quá trình công nghiệp hóa trong 20 năm cuối thế kỷ XX" Những

công trình này chủ yếu tập trung nghiên cứu về quá trình cải cách kinh tế nói chung,

và chính sách mở cửa đối ngoại, chính sách công nghiệp hóa, và chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc nói riêng, chứ chưa đề cập một cách trực tiếp đến chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc, với tư cách là những bài học kinh nghiệm vận dụng cho Việt Nam [1], [73]

Gần đây, một số công trình nghiên cứu về Trung Quốc như đề tài nghiên cứu

cấp nhà nước "Quá trình gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) của Trung Quốc và những bài học cho Việt Nam" do PGS.TSKH Võ Đại Lược (2004) làm chủ nhiệm, và luận án tiến sĩ kinh tế "Vai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tế Trung Quốc từ khi cải cách mở cửa" của Nguyễn Phú Thái (2004) cũng có đề cập

đến chính sách thúc đẩy xuất khẩu ở Trung Quốc, nhưng chủ yếu là nhằm phục vụ

Trang 6

cho việc phân tích động thái của hệ thống ngoại thương Trung Quốc trong quá trình đàm phán gia nhập WTO và tác động của ngoại thương tới phát triển kinh tế của Trung Quốc Ngoài ra, có một số bài viết về xuất khẩu của Trung Quốc đăng trên các tạp chí và ấn phẩm khác ở Việt Nam, nhưng với quy mô hạn chế nên các bài viết này cũng mới chỉ dừng lại ở mức giới thiệu sơ lược và đưa ra một số đánh giá có tính khái quát về xuất khẩu và chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc [52], [78].

“Nghiên cứu chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc giai đoạn từ 1978 đến nay và gợi ý vận dụng đối với Việt Nam”, luận án tiến sĩ của Nguyễn Anh Minh năm

2006 Luận án nghiên cứu chính sách thúc đẩy xuất khẩu nói chung ở các nước đang phát triển, phân tích làm rõ những điểm phổ quát và đặc thù trong chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc thời kỳ cải cách mở cửa kinh tế và rút ra những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo vận dụngvới tư cách là một nước đang phát triển nhưng chưa được công nhận là nước có nền kinh tế thị trường [58]

Một số luận án tiến sĩ đã thực hiện các nghiên cứu về chính sách ngoại thương hay thúc đẩy xuất khẩu như: “Những biện pháp chủ yếu để thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang các nước khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) trong giai đoạn đến 2010” của Nguyễn Thanh Hà thực hiện năm 2003; “Tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam theo con đường thúc đẩy xuất khẩu: Những điều kiện cần thiết và những giải pháp” của Nguyễn Văn Hoè thực hiện 2002; “Hoàn thiện chính sách ngoại thương Việt Nam trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập với khu vực và thế giới” của Từ Thanh Thuỷ thực hiện năm 2003; Những tài liệu này chủ yếu đề cập đến những biện pháp để thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường thế giới nói chung, mà chưa đề cập sâu đến chính sách vĩ

mô của Chính phủ trong thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường EU – Một thị trường có quy mô lớn và đầy tiềm năng của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập WTO [35], [43], [78]

“Hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” luận án tiến sĩ của Mai Thế Cường 2006; Luận án đã trình bày khái quát những cải cách về thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc

Trang 7

tế của Chính phủ Việt Nam Luận án đề cập đến chính sách thương mại quốc tế nói chung của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, còn đi nghiên cứu sâu về chính sách thúc đẩy sang một thị trường cụ thể trong bối cảnh hội nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới thì luận án chưa đề cập tới [17]

Đề tài khoa học cấp nhà nước: “Chính sách cạnh tranh của EU Một số tác động đến quan hệ giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu” của Đặng Minh Đức, năm

2008 Đề tài trình bày những nét chính của EU và vai trò cũng như các tác động của chính sách cạnh tranh EU Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và EU [33]

Đề tài khoa học cấp Nhà nước: “Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – EU: Thực trạng và triển vọng” Viện nghiên cứu Châu Âu, 2008 Nội dung chủ yếu đề cập đến bối cảnh mới trong năm 2007 về mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam – EU;

về thực trạng quan hệ Việt Nam – EU trên các lĩnh vực: Thương mại, đầu tư, du lịch

và những tổng kết đánh giá được rút ra cho Việt Nam và EU trong năm 2007 cũng như triển vọng đưa ra cho năm 2008 [95]

Sách tham khảo về “Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” (2003) của GS Chu Văn Cấp (chủ biên), đã

nghiên cứu khả năng cạnh tranh của một số mặt hàng xuất khẩu như gạo, chè, cà phê, thủy sản cho đến năm 1999 dựa trên các tiêu chí về chi phí sản xuất, giá xuất khẩu, chất lượng và uy tín sản phẩm, thị trường tiêu thụ v.v [16].

Ngoài ra, còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu khoa học khác đã nghiên cứu từng loại nông sản xuất khẩu của nước ta trong thời gian qua như: “Nâng cao sức cạnh tranh một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” – Luận án tiến sĩ của PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai “Lúa gạo Việt Nam trước thiên niên kỷ mới - hướng xuất khẩu” của TS Nguyễn Trung Vãn; “Cà phê Việt Nam và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới” của TS Nguyễn Tiến Mạnh; “Cây chè Việt Nam: Năng lực cạnh tranh xuất khẩu và phát triển” của TS Nguyễn Hữu Khải; “Một số giải pháp phát triển xuất khẩu cao su tự nhiên của Việt Nam đến năm 2010”, của Bộ Công thương v.v [53], [92], [54], [48], [8]

Trang 8

Hội thảo khoa học quốc gia bàn về: “Chính sách thương mại nhằm phát triển bền vững ở Việt Nam thời kỳ 2011-2020” do Bộ Công thương chủ trì tháng 6 năm

2011 Những nội dung chính của hội thảo xoay quanh những vấn đề về chính sách thương mại của Việt Nam nhằm hướng tới sự phát triển bền vững với 3 trụ cột chính: kinh tế, xã hội và môi trường; những đề tài này chưa đề cập sâu về chính sách thức đẩy xuất khẩu hàng hoá, đặc biệt là đối với thị trường EU- một thị trường trọng yếu trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam [7]

Đề tài nghiên cứu khoa học: “Nghiên cứu chất lượng tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa” của PGS.TS Đinh Văn Thành với Mã số 2007 – 78 – 012, Viện Nghiên cứu Thương mại [78b]

Đề tài nghiên cứu khoa học năm 2010 của PGS.TS Trần Công Sách – Viện Nghiên cứu Thương mại thuộc Bộ Công thương: “Một số chính sách khuyến khích phát triển xuất khẩu sản phẩm dịch vụ có lợi thế của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế”, với Mã số: 2007 - 78 – 010

Đề tài nghiên cứu khoa học năm 2010 của PGS.TS Phạm Tất Thắng – Viện Nghiên cứu Thương mại thuộc Bộ Công thương: “Mối quan hệ giữa tăng trưởng thương mại với tăng trưởng kinh tế”, Mã số: 2007 - 78 – 014

Tóm lại, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy

đủ, toàn diện và có hệ thống về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường EU trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO Đặc biệt, những nghiên cứu về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường EU với mục đích đưa ra những gợi mở, đóng góp cho việc hoạch định và thực hiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường

EU lại càng chưa có Vì vậy, có thể nói đề tài được lựa chọn nghiên cứu trong luận án là hoàn toàn mới mẻ

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Mục tiêu của luận án: là nghiên cứu và làm rõ thêm những vấn đề lý luận

về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường EU trong

Trang 9

điều kiện tham gia vào WTO, phân tích đúng và khách quan hiện trạng chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường EU trong thời gian qua

Từ đó, đề xuất một số quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường EU

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án: Để đạt được mục tiêu của luận án nêu

trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất: Luận án hệ thống hoá các vấn đề lý luận về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của các quốc gia trong điều kiện tham gia vào WTO Chức năng, vai trò của chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Quy trình chính sách thúc đẩy xuất khẩu cũng như hệ thống chỉ tiêu đánh giá chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của mỗi một quốc gia Những nhân tố ảnh hưởng đến chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa ở Việt Nam Những yêu cầu đặt ra đối với việc chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam

Thứ hai: Luận án xem xét kinh nghiệm quốc tế trong việc hoàn thiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá sang EU - với tư cách là những bài học hữu ích cho Việt Nam trong hoạch định chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang EU trong điều kiện tham gia vào WTO

Thứ ba: Luận án tập trung phân tích toàn diện và đánh giá đúng thực trạng chính sách thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng hoá Việt Nam vào thị trường EU trong thời gian qua, trên cơ sở đó rút ra những điểm hợp lý, bất cập và nguyên nhân trong ban hành, thực thi chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU

Thứ tư: Luận án đưa ra các quan điểm, định hướng, cũng như những dự báo tình hình biến đổi trong chính sách và kinh tế của EU có ảnh hưởng đến việc hoàn thiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU và

đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá Việt Nam vào thị trường EU trong điều kiện Việt Nam là thành viên WTO đến những năm 2025, tầm nhìn 2035

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu chính sách thương mại quốc tế

nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam - một nước có nền kinh tế đang phát triển, nhưng đang bị coi là nền kinh tế phi thị trường

Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu chính sách thương mại quốc

tế nhằm vào thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường EU Luận

án tập trung chủ yếu vào ba chính sách: chính sách mặt hàng, chính sách thị trường và chính sách hỗ trợ Chính sách hỗ trợ tập trung chủ yếu về các chính sách xúc tiến xuất khẩu của Việt Nam sang EU Về mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào EU, luận án tập trung và một số mặt hàng như giày dép, dệt may, thuỷ sản, nông sản Về thị trường xuất khẩu của Việt Nam vào EU, luận án tập trung chủ yếu vào EU 15

Về thời gian: Luận án nghiên cứu chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của

Việt Nam vào thị trường EU chủ yếu trong khoảng thời gian từ năm 2007 – kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra, luận án sử dụng một số phương pháp phổ biến trong nghiên cứu kinh tế sau đây:

Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và phương pháp hệ thống: Việc nghiên cứu chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU được thực hiện một cách đồng bộ, gắn với hoàn cảnh, điều kiện và các giai đoạn cụ thể Các biện pháp chính sách chủ yếu được xem xét trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau cả về không gian và thời gian, và được đặt trong bối cảnh chung của toàn bộ quá trình cải cách mở cửa kinh tế ở Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO Phương pháp thống kê: Luận án sử dụng các số liệu thống kê thích hợp để phục vụ cho việc phân tích chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang EU và tính thực thi của chính sách đó qua các giai đoạn

Trang 11

Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở phân tích từng mảng chính sách, luận án đưa ra những đánh giá chung có tính khái quát về toàn bộ hệ thống chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường EU sau gia nhập WTO

Phương pháp so sánh, đối chiếu: Chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU được xem xét trên cơ sở có sự so sánh giữa các biện pháp chính sách áp dụng và kết quả đạt được qua từng giai đoạn, cũng như với thực tiễn vận dụng chính sách thúc đẩy xuất khẩu ở các nước khác

6 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

Thứ nhất: Làm rõ một số vấn đề lý luận về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của mỗi quốc gia

Thứ hai: Khái quát một số vấn đề có tính quy luật của chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang EU trong bối cảnh là thành viên của WTO

Thứ ba: Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường EU

7 Ý nghĩa của luận án

Luận án làm rõ hơn những cơ sở lý luận về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa nói chung cũng như cơ sở thực tiễn trong chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU – Một đối tác quan trọng trong quan hệ kinh tế quốc tế với Việt Nam Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy ở các trường đại học Là tài liệu tham khảo trong hoạch định chính sách của Nhà nước

8 Kết cấu của luận án:

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của mỗi quốc gia Trong chương này, tác giả làm rõ cơ sở lý luận về chính sách thúc đẩy

Trang 12

xuất khẩu của các quốc gia trong điều kiện tham gia vào WTO Luận án tập trung luận giải những yêu cầu mang tính khách quan và mang tính chủ quan đặt ra đối với chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của mỗi quốc gia đang phát triển sang thị trường EU Phân tích những nhân tố quốc tế và quốc gia ảnh hưởng đến chính sách thúc đẩy xuất khẩu của các quóc gia vào thị trường EU Luận án xem xét kinh nghiệm quốc tế trong việc hoàn thiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá - với

tư cách là những bài học hữu ích cho Việt Nam trong điều kiện tham gia vào WTO Chương 2: Thực trạng chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường EU Trong chương này, luận án tập trung phân tích và đánh giá thực trạng chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào EU trong thời gian qua, trên cơ sở đó rút ra những điểm hợp lý, bất cập và nguyên nhân trong chính sách

Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường EU Trong chương này tác giả đưa ra các quan điểm, định hướng chiến lược, cũng như những vấn đề đặt ra trong chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường EU

và giải pháp hoàn thiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá Việt Nam vào thị trường EU trong điều kiện Việt Nam là thành viên WTO đến những năm

2025 và tầm nhìn 2035

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY

XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA MỖI QUỐC GIA

1.1 Khái niệm chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa

Thuật ngữ “chính sách” được sử dụng với những nghĩa khác nhau trong các tài

liệu khoa học, theo Crane (1982) trong tác phẩm The Evaluation of socia policies Kluwer Nijhoff, Boston “Chính sách là sự cam kết một đường hướng hành động dựa

trên những kế hoạch và nguyên tắc chung” Một số nhà nghiên cứu khác như Harman (1980) Hogwood và Gunn (1984) cho rằng: “Về cơ bản chính sách được xem xét như đường hướng hành động hoặc không hành động để tiến tới đạt mục đích mong muốn” - Theo cách hiểu này, chính sách được xem như một quá trình, nó bao gồm không chỉ việc xây dựng chính sách mà còn bao hàm cả việc triển khai, đánh giá và điều chỉnh chính sách Đây là cách hiểu chính sách một cách thực tiễn nhất, bởi chỉ xem xét chính sách là một quá trình và đường hướng của một hành động hoặc không hành động thì chính sách mới thực sự giúp giải quyết vấn đề và đạt tới mục tiêu Hơn thế nữa, chỉ khi xem chính sách là một quá trình, thì tính biện chứng của việc thực hiện chính sách, điều chỉnh chính sách, và mục tiêu mới được đảm bảo trong quá trình thay đổi của điều kiện môi trường - Quan điểm quá trình được chấp nhận rộng rãi trong xây dựng và thực thi chính sách Khái niệm làm chính sách (xây dựng chính sách) được hiểu là việc chuẩn bị quyết định và ban hành chính sách – một bộ phận của quá trình lớn hơn, quá trình chính sách Quá trình chính sách bao gồm nhiều bước và giai đoạn trong đó chính sách được xây dựng, thông qua và thực thi trong thực tiễn [118]

Như vậy, chính sách có thể được hiểu là: “Chính sách là phương thức hành động được một chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp

đi, lặp lại” Trên giác độ vĩ mô chủ thể đưa ra chính sách là chính phủ, chính sách xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình ra quyết định Chính sách vạch ra phạm

vi hay giới hạn cho phép của các quyết định nào là có thể và không thể Theo đó,

Trang 14

chính sách hướng suy nghĩ và hành động của mọi thành viên trong tổ chức nào đó vào việc thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức, của quốc gia

Trong các tài liệu tiếng Anh, khái niệm về chính sách thương mại quốc tế được

viết ngắn gọn là chính sách thương mại (trade policy); Mạng lưới điện toán của nước Anh định nghĩa: “Chính sách thương mại quốc tế là chính sách của chính phủ nhằm kiểm soát hoạt động ngoại thương” [47.1]

Theo Trung tâm Kinh tế quốc tế của Úc (CIE), hệ thống các chính sách thương mại quốc tế có thể được phân chia bao gồm các quy định về thương mại, chính sách xuất khẩu, hệ thống thuế và các chính sách hỗ trợ khác [131]. Các quy định về thương mại bao gồm hệ thống các quy định liên quan đến thương mại (hệ thống

pháp quy); hệ thống giấy phép, chính sách đối với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (kiểm soát doanh nghiệp); việc kiểm soát hàng hoá theo các quy định cấm xuất, cấm nhập; kiểm soát khối lượng; kiểm soát xuất nhập khẩu theo chuyên ngành (kiểm soát hàng hoá)

Để khuyến khích xuất khẩu, chính phủ các quốc gia đã áp dụng các biện pháp như miễn thuế, hoàn thuế, tín dụng xuất khẩu, trợ cấp xuất khẩu, xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất Để hạn chế xuất khẩu, các chính phủ có thể áp dụng các lệnh cấm xuất, cấm nhập, hệ thống giấy phép, các quy định kiểm soát khối lượng hay

quy định về cơ quan xuất khẩu và các quy định về thuế đối với xuất khẩu Các chính sách hỗ trợ khác được áp dụng bao gồm khuyến khích khu vực kinh tế có vốn đầu tư

trực tiếp nước ngoài đầu tư vào các ngành hướng vào xuất khẩu (miễn thuế và ưu đãi thuế) hay khuyến khích các nhà đầu tư trong nước bằng các khoản tín dụng xuất khẩu với lãi suất ưu đãi, đảm bảo tín dụng xuất khẩu và cho phép khấu hao nhanh các tài sản, hoạt động hỗ trợ từ các tổ chức xúc tiến thương mại

Theo Krugman và Obstfeld: các công cụ của chính sách thương mại quốc tế

có thể được phân chia thành các công cụ thuế quan và phi thuế quan [49] Hệ thống thuế được xem xét thường bao gồm thuế trực tiếp và thuế gián tiếp

Các công cụ thuế quan: Thuế quan là một khoản tiền mà người chủ hàng xuất khẩu (hoặc nhập khẩu) hoặc xuất - nhập cảnh phải nộp cho cơ quan đại diện,

Trang 15

cơ quan hải quan của nước sở tại Thuế quan có tác động điều tiết lượng hàng hóa xuất khẩu (nhập khẩu) và tăng thu cho ngân sách của Nhà nước Đây là biện pháp

mà WTO (Tổ chức thương mại thế giới) cho phép sử dụng để bảo vệ thị trường trong nước nhưng phải cam kết ràng buộc với một mức thuế trần nhất định và có lịch trình cắt giảm, do vậy có xu hướng ngày càng giảm đi Sự tự do hóa biểu hiện thông qua các chính sách về quy chế tối huệ quốc (MFN), chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP), Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung của các khối liên kết kinh tế như: EU, NAFTA, AFTA, APEC… - Chính sách thuế quan đối với hàng xuất khẩu bao gồm các quy định về: Mức thuế suất xuất khẩu; các mặt hàng xuất khẩu chịu thuế suất; cách tính thuế; thời hạn nộp thuế Các công cụ phi thuế quan: Biện pháp phi thuế quan (NTM) là những biện pháp ngoài thuế quan có liên quan hoặc ảnh hưởng đến sự luân chuyển hàng hóa giữa các nước

Phần lớn các biện pháp phi thuế thường được áp dụng cho hoạt động quản lí nhập khẩu hàng hoá, khi nói tới hàng rào phi thuế là nói tới các biện pháp phi thuế quan có tính chất bảo hộ nền sản xuất trong nước, chúng đặt ra các quy định khắt khe hơn đối với hàng hoá nước ngoài nhập khẩu vào thị trường nội địa Các biện pháp phi thuế áp dụng cho hoạt động xuất khẩu bao gồm: Biện pháp quản lí định lượng là những quy định của một quốc gia về số lượng hoặc giá trị hàng hoá được xuất khẩu Bao gồm các quy định: (1) Cấm xuất khẩu: là việc Nhà nước không cho phép một hay một mặt hàng xuất khẩu ra nước ngoài (2) Hạn ngạch xuất khẩu (quota): là biện pháp dùng để hạn chế số lượng hoặc giá trị hàng hoá xuất khẩu sang một thị trường nào đó trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm) (3) Quy định về giấy phép xuất khẩu: Giấy phép xuất khẩu là một văn bản cho phép các doanh nghiệp được thực hiện xuất khẩu, phải xuất trình cơ quan hải quan kiểm tra khi thực hiện xuất khẩu Có 2 loại giấy phép xuất khẩu: (1) Giấy phép xuất khẩu tự động là một văn bản cho phép thực hiện hoạt động xuất khẩu không theo điều kiện

gì đối với người làm đơn xin giấy phép - Chế độ cấp phép này mang tính quản lý để điều tiết hoạt động xuất khẩu chứ không cản trở hoạt động xuất khẩu (2) Giấy phép

Trang 16

xuất khẩu không tự động là giấy phép chỉ cho phép được thực hiện xuất khẩu mặt hàng khi người xuất khẩu đáp ứng được một số điều kiện cần thiết

Các biện pháp tương đương thuế quan là các biện pháp làm gia tăng giá hàng xuất khẩu theo cách tương tự như thuế quan Biện pháp tương đương thuế quan áp dụng đối với hàng xuất khẩu tại Việt Nam là biện pháp phụ thu cho một số mặt hàng xuất khẩu

Biện pháp liên quan đến doanh nghiệp bao gồm: quy định về quyền kinh doanh xuất khẩu (Quyền kinh doanh xuất khẩu là quyền dành cho một số công ty nhất định được tiến hành hoạt động xuất khẩu đối với tất cả các mặt hàng hoặc một

số mặt hàng nhất định trên một số thị trường nhất định hoặc trong một thị trường nhất định), quy định về đầu mối xuất khẩu

Biện pháp liên quan đến đầu tư: yêu cầu về tỉ lệ xuất khẩu bắt buộc (Yêu cầu

tỉ lệ xuất khẩu bắt buộc là tỉ lệ sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị sản xuất phải thực hiện xuất khẩu Lí do đưa ra tỉ lệ xuất khẩu bắt buộc vì sản xuất trong nước đã đáp ứng được nhu cầu về chất lượng, số lượng)

Các biện pháp quản lí ngoại tệ

Nhóm biện pháp tài chính: (1) Tín dụng xuất khẩu (là hình thức cho vay hoặc trả sau): Cấp tín dụng là việc Nhà nước cung cấp vốn với mức ưu đãi lãi suất thấp cho các doanh nghiệp tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình trao đổi, buôn bán và xuất khẩu hàng hoá (2) Trợ cấp xuất khẩu: là việc Chính phủ dành cho doanh nghiệp những lợi ích mà trong điều kiện thông thường doanh nghiệp không thể có được Bao gồm các hình thức: (1) Chính phủ trực tiếp cấp tiền (cấp vốn, cho vay ưu đãi hoặc góp cổ phần) hoặc Chính phủ bảo lãnh các khoản vay (2) Chính phủ miễn các khoản thu lẽ ra doanh nghiệp phải đóng như các loại thuế, phí (ưu đãi về thuế) (3) Chính phủ cung ứng những khoản trợ cấp cho hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu hay tiêu thụ hàng hoá xuất khẩu giúp cho doanh nghiệp xuất khẩu mà họ không phải hoàn trả lại cho Nhà nước - Đây là điểm khác với tín dụng xuất khẩu

Thủ tục hải quan: là quy trình mà nhà xuất khẩu phải tiến hành khi xuất khẩu hàng hoá qua biên giới

Trang 17

Các quy định về chống bán phá giá và trợ cấp là các thủ tục, biện pháp áp dụng đối với các hàng hoá bị coi là bán phá giá hay trợ cấp;

Thúc đẩy xuất khẩu thông qua các khu công nghiệp và khu chế xuất tạo điều kiện cho các nhà sản xuất xuất khẩu những ưu đãi như: tiền thuê đất, hệ thống cơ sở hạ tầng (điện, nước, viễn thông) hiệu quả và đáng tin cậy, thủ tục hành chính thuận lợi

Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), chính sách thương mại của một

nước là: “Khuôn khổ hoàn chỉnh các luật, quy định, các hiệp định quốc tế và kết quả đàm phán được Chính phủ một nước chấp nhận để đạt được sự tiếp cận thị trường có ràng buộc về mặt pháp lý đối với các công ty trong nước” (Goode, 1998, P.283) Các Hiệp định của WTO rất dài và phức tạp vì đó là những văn bản pháp lí

qui định rất nhiều lĩnh vực hoạt động như: nông nghiệp, hàng dệt may, hoạt động ngân hàng, viễn thông, thị trường công, tiêu chuẩn công nghiệp, tính an toàn của sản phẩm, qui định liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm, sở hữu trí tuệ, và còn rất nhiều lĩnh vực khác nữa… Tuy nhiên, có một số nguyên tắc đơn giản và cơ bản làm kim chỉ nam của tất cả các lĩnh vực này, và trở thành nền tảng của hệ thống thương mại đa biên, đó là:

(1) Thương mại không có sự phân biệt đối xử: Nguyên tắc này thể hiện ở hai nguyên tắc: đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia

Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN): "Tối huệ quốc" có nghĩa là "nước

(được) ưu đãi nhất", "nước (được) ưu tiên nhất" Nội dung của nguyên tắc này thực chất là việc WTO quy định rằng, các quốc gia không thể phân biệt đối xử với các đối tác thương mại của mình Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này như sau: mỗi thành viên của WTO phải đối xử với các thành viên khác của WTO một cách công bằng như những đối tác "ưu tiên nhất" Nếu một nước dành cho một đối tác thương mại của mình một hay một số ưu đãi nào đó thì nước này cũng phải đối xử tương tự như vậy đối với tất cả các thành viên còn lại của WTO để tất cả các quốc gia thành viên đều được "ưu tiên nhất", kết quả là không phân biệt đối xử với bất kỳ đối tác thương mại nào

Trang 18

Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT): "Ðối xử quốc gia" nghĩa là đối xử bình

đẳng giữa sản phẩm nước ngoài và sản phẩm nội địa Nội dung của nguyên tắc này

là hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá tương tự sản xuất trong nước phải được đối xử công bằng, bình đẳng như nhau Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này như sau: bất

kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào, sau khi đã qua biên giới, trả xong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa khẩu, bắt đầu đi vào thị trường nội địa, sẽ được hưởng sự đối xử ngang bằng (không kém ưu đãi hơn) với sản phẩm tương tự được sản xuất trong nước Có thể hình dung đơn giản về hai nguyên tắc nêu trên như sau: Nếu nguyên tắc "tối huệ quốc" nhằm mục tiêu tạo sự công bằng, không phân biệt đối xử giữa các nhà xuất khẩu hàng hoá, cung cấp dịch vụ của các nước A, B, C khi xuất khẩu vào một nước X nào đó thì nguyên tắc "đãi ngộ quốc gia" nhằm tới mục tiêu tạo sự công bằng, không phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp nước A với hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp nước X trên thị trường nước

X, sau khi hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp nước A đã thâm nhập (qua hải quan,

đã trả thuế và các chi phí khác tại cửa khẩu) vào thị trường nước X

(2) Thương mại ngày càng tự do hơn (từng bước và bằng con đường đàm phán):

Ðể thực thi được mục tiêu tự do hoá thương mại và đầu tư, mở cửa thị trường, thúc đẩy trao đổi, giao lưu, buôn bán hàng hoá, việc tất nhiên là phải cắt giảm thuế nhập khẩu, loại bỏ các hàng rào phi thuế quan (cấm, hạn chế, hạn ngạch, giấy phép )

Trên thực tế, lịch sử của GATT và sau này là WTO đã cho thấy đó chính là lịch sử của quá trình đàm phán cắt giảm thuế quan, rồi bao trùm cả đàm phán dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan, rồi dần dần mở rộng sang đàm phán cả những lĩnh vực mới như thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ

Tuy nhiên, trong quá trình đàm phán, mở cửa thị trường, do trình độ phát triển của mỗi nền kinh tế của mỗi nước khác nhau, "sức chịu đựng" của mỗi nền kinh tế trước sức ép của hàng hoá nước ngoài tràn vào do mở cửa thị trường là khác nhau, nói cách khác, đối với nhiều nước, khi mở cửa thị trường không chỉ có thuận lợi mà cũng đưa lại những khó khăn, đòi hỏi phải điều chỉnh từng bước nền sản xuất trong nước

Trang 19

Vì thế, các hiệp định của WTO đã được thông qua với quy định cho phép các nước thành viên từng bước thay đổi chính sách thông qua lộ trình tự do hoá từng bước Sự nhượng bộ trong cắt giảm thuế quan, dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan được thực hiện thông qua đàm phán, rồi trở thành các cam kết để thực hiện

(3) Dễ dự đoán nhờ cam kết, ràng buộc, ổn định và minh bạch: Ðây là nguyên tắc quan trọng của WTO

Mục tiêu của nguyên tắc này là các nước thành viên có nghĩa vụ đảm bảo tính ổn định và có thể dự báo trước được về các cơ chế, chính sách, quy định thương mại của mình nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, kinh doanh nước ngoài có thể hiểu, nắm bắt được lộ trình thay đổi chính sách, nội dung các cam kết về thuế, phi thuế của nước chủ nhà để từ đó doanh nghiệp có thể dễ dàng hoạch định kế hoạch kinh doanh, đầu tư của mình mà không bị đột ngột thay đổi chính sách làm tổn hại tới kế hoạch kinh doanh của họ

Nói cách khác, các doanh nghiệp nước ngoài tin chắc rằng hàng rào thuế quan, phi thuế quan của một nước sẽ không bị tăng hay thay đổi một cách tuỳ tiện Ðây là nỗ lực của hệ thống thương mại đa biên nhằm yêu cầu các thành viên của WTO tạo ra một môi trường thương mại ổn định, minh bạch và dễ dự đoán

Nội dung của nguyên tắc này bao gồm các công việc như sau:

Về các thoả thuận cắt giảm thuế quan:

Bản chất của thương mại thời WTO là các thành viên dành ưu đãi, nhân nhượng thuế quan cho nhau Song để chắc chắn là các mức thuế quan đã đàm phán phải được cam kết và không thay đổi theo hướng tăng thuế suất, gây bất lợi cho đối tác của mình, sau khi đàm phán, mức thuế suất đã thoả thuận sẽ được ghi vào một bản danh mục thuế quan Ðây gọi là các mức thuế suất ràng buộc

Nói cách khác, ràng buộc là việc đưa ra danh mục ấn định các mức thuế ở mức tối đa nào đó và không được phép tăng hay thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài Một nước có thể sửa đổi, thay đổi mức thuế đã cam kết, ràng buộc chỉ sau khi đã đàm phán với đối tác của mình và phải đền bù thiệt hại do việc tăng thuế đó gây ra

Trang 20

Về các biện pháp phi thuế quan:

Biện pháp phi thuế quan là biện pháp sử dụng hạn ngạch hoặc hạn chế định lượng khác như quản lý hạn ngạch Các biện pháp này dễ làm nảy sinh tệ nhũng nhiễu, tham nhũng, lạm dụng quyền hạn, bóp méo thương mại, gây khó khăn cho doanh nghiệp, làm cho thương mại thiếu lành mạnh, thiếu minh bạch, cản trở tự do thương mại Do đó, WTO chủ trương các biện pháp này sẽ bị buộc phải loại bỏ hoặc chấm dứt

Ðể có thể thực hiện được mục tiêu này, các hiệp định của WTO yêu cầu chính phủ các nước thành viên phải công bố thật rõ ràng, công khai ("minh bạch") các cơ chế, chính sách, biện pháp quản lý thương mại của mình Ðồng thời, WTO

có cơ chế giám sát chính sách thương mại của các nước thành viên thông qua Cơ chế rà soát chính sách thương mại

(4) Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn:

Trên thực tế, WTO tập trung vào thúc đẩy mục tiêu tự do hoá thương mại song trong rất nhiều trường hợp, WTO cũng cho phép duy trì những quy định về bảo hộ Do vậy, WTO đưa ra nguyên tắc này nhằm hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp hoặc các biện pháp bảo hộ khác

Ðể thực hiện được nguyên tắc này, WTO quy định trường hợp nào là cạnh tranh bình đẳng, trường hợp nào là không bình đẳng từ đó được phép hay không được phép áp dụng các biện pháp như trả đũa, tự vệ, chống bán phá giá

(5) Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế bằng cách dành ưu đãi hơn cho các nước kém phát triển nhất:

Các nước thành viên, trong đó có các nước đang phát triển, thừa nhận rằng tự

do hoá thương mại và hệ thống thương mại đa biên trong khuôn khổ của WTO đóng góp vào sự phát triển của mỗi quốc gia Song các thành viên cũng thừa nhận rằng, các nước đang phát triển phải thi hành những nghĩa vụ của các nước phát triển Nói cách khác, "sân chơi" chỉ là một, "luật chơi" chỉ là một, song trình độ "cầu thủ" thì không hề ngang nhau

Trang 21

Trong khi đó, hiện số thành viên của WTO là các nước đang phát triển và các nước đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế chiếm hơn 3/4 số nước thành viên của WTO Do đó, WTO đã đưa ra nguyên tắc này nhằm khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi bằng cách dành cho những nước này những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt để đảm bảo

sự tham gia sâu rộng hơn của các nước này vào hệ thống thương mại đa biên

Ðể thực hiện nguyên tắc này, WTO dành cho các nước đang phát triển, các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi những linh hoạt và ưu đãi nhất định trong việc thực hiện các hiệp định của WTO

Chẳng hạn, WTO cho phép các nước này một số quyền và không phải thực hiện một số quyền cũng như một số nghĩa vụ hoặc cho phép các nước này một thời gian linh động hơn trong việc thực hiện các hiệp định của WTO, cụ thể là thời gian quá độ thực hiện dài hơn để các nước này điều chỉnh chính sách của mình Ngoài ra, WTO cũng quyết định các nước kém phát triển được hưởng những hỗ trợ kỹ thuật ngày một nhiều hơn

Từ những phân tích trên đây trong luận án này có thể đưa ra cách hiểu khái

quát về chính sách thúc đẩy xuất khẩu ở các nước đang phát triển: “Chính sách

thúc đẩy xuất khẩu là một hệ thống các quan điểm, đường lối, thể chế hóa của Nhà nước, các quy định hướng dẫn, khuyến khích và tăng cường mặt hàng và thị trường xuất khẩu cho phù hợp với các quy định và cam kết quốc tế hiện hành.”

Trong các phần tiếp theo dưới đây các quy trình, chức năng, vai trò, các tiêu chí đánh giá chính sách và biện pháp chính sách thúc đẩy xuất khẩu sẽ được giới thiệu một cách cụ thể hơn để phục vụ cho việc phân tích và đánh giá chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU

Khung xây dựng, thực hiện và điều chỉnh chính sách xuất khẩu trong điều kiện gia nhập WTO được thể hiện ở hình sau:

Trang 22

Hình 1.1 Chính sách thúc đẩy xuất khẩu trong điều kiện tham gia vào WTO

của các quốc gia đang phát triển

Nguồn: Tác giả tổng hợp

1.2 Chức năng và vai trò của chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa

1.2.1 Chức năng của chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa

1.2.1.1 Chức năng định hướng

Chính sách là công cụ quan trọng góp phần định hướng hành vi của các chủ thể kinh tế, xã hội Trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan, căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mà Nhà nước ban hành để đề ra định hướng

Cam kết gia nhập WTO

Mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu

 Các công cụ phi thuế

Chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa trong điều kiện tham

gia WTO

Cách tiếp cận chính sách thúc đẩy xuất khẩu

Mục tiêu của chính sách thúc đẩy xuất khẩu

Trang 23

phát triển ngành; Chính sách thúc đẩy xuất khẩu đề ra những giới hạn cho phép của các quyết định, nhắc nhở các chủ thể những quyết định nào có thể, quyết định nào không thể Những quyết định này được xác định trên cơ sở các căn cứ khoa học, từ

đó làm căn cứ lập các quy hoạch, kế hoạch đồng thời lựa chọn các biện pháp chủ yếu để đạt được mục tiêu trong thời gian nhất định Chính phủ và các lãnh đạo các cấp chính quyền thực hiện tốt chức năng định hướng sẽ làm giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra cho các tổ chức, cá nhân tham gia công tác xuất khẩu; Do vậy, chính sách định hướng các hoạt động liên quan đến thúc đẩy xuất khẩu là sự can thiệp của Chính phủ và Lãnh đạo các cấp chính quyền địa phương đến hoạt động xuất khẩu diễn ra, phát huy được các lợi thế của mặt hàng, thị trường Như vậy: định hướng luôn được coi là chức năng quan trọng nhất của chính sách thúc đẩy xuất khẩu của mỗi quốc gia - Điều này thể hiện vai trò định hướng của chính sách vào những mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu nhằm khai thác những lợi thế mà xuất khẩu mang lại

1.2.1.2 Chức năng điều tiết

Chính sách được Nhà nước ban hành để giải quyết những vấn đề bức xúc phát sinh trong đời sống kinh tế - xã hội, điều tiết những mất cân đối, những hành vi không phù hợp, nhằm tạo ra hành lang hợp lý cho các hoạt động kinh tế xã hội theo các mục tiêu đề ra Chính phủ và lãnh đạo các cấp chính quyền phải biết vận dụng các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường để điều tiết sao cho các ngành kinh tế, trong đó có hoạt động xuất khẩu phải đạt hiệu quả cao nhất, mọi nguồn lực phải được sử dụng tiết kiệm nhất nhưng cung cấp cho xã hội các lợi ích tốt nhất Nhà nước có vai trò quan trọng trong thúc đẩy xuất khẩu là: Hỗ trợ các doanh nghiệp trong phát triển thị trường xuất khẩu, xây dựng cơ cấu kinh tế vùng theo mô hình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, điều chỉnh chính sách thuế xuất khẩu phù hợp… Như vậy, chính sách thúc đẩy xuất khẩu phải điều tiết khắc phục tình trạng mất cân đối trong việc sử dụng các nguồn lực của xã hội, điều tiết những hành

vi không phù hợp trong thúc đẩy xuất khẩu giữa các mặt hàng và thị trường xuất khẩu Chính sách thúc đẩy xuất khẩu còn điều tiết việc khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, sử dụng có hiệu quả đất đai, bảo vệ môi trường, sử

Trang 24

dụng nguồn lao động Chính sách thúc đẩy xuất khẩu còn điều tiết và tạo sức lan tỏa cho các ngành kinh tế, tạo mức tăng trưởng hài hòa, bền vững và là động lực để phát triển kinh tế xã hội của quốc gia

1.2.1.3 Chức năng tạo tiền đề và khuyến khích phát triển

Chính sách thúc đẩy xuất khẩu là công cụ nhằm thực hiện chức năng tạo tiền

đề, khuyến khích xã hội phát triển theo xu hướng đã đề ra Chính sách thúc đẩy xuất khẩu hướng tới thúc đẩy tăng trưởng bền vững cho xuất khẩu, thông qua việc xây dưng môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp, cá nhân trong hoạt động xuất khẩu, trong tiếp cận các yếu tố phục vụ cho xuất khẩu như thị trường, nhân lực, xúc tiến thương mại… Chính phủ cần tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy xuất khẩu thông qua: (1) Tạo môi trường pháp lý bằng hệ thống luật pháp, các văn bản hướng dẫn đầy đủ cho các doanh nghiệp và cá nhân tham gia công tác xuất khẩu (2) Chính phủ có chính sách hỗ trợ tài chính tiền tệ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu tăng tiềm lực tài chính, thúc đẩy xuất khẩu (3) Tạo cầu nối cho nhà xuất khẩu tìm đối tác nhập khẩu thong qua hội chợ, hội nghị bạn hàng trong nước và quốc tế Ví dụ: Chính sách thu hút đầu tư quốc tế tăng cường hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tăng nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia…

1.2.2 Vai trò của chính sách xuất khẩu hàng hóa

Chính sách xuất khẩu định hướng cho hoạt động xuất khẩu phù hợp với mong muốn mà Nhà nước theo đuổi Vai trò định hướng của chính sách xuất khẩu thể hiện trong việc Nhà nước ban hành các quy định điều chỉnh tăng cường các hoạt động xuất khẩu sao cho đạt được mục tiêu mà Nhà nước đề ra Mục tiêu đó là khuyến khích hoạt động xuất khẩu phát triển - cũng có nghĩa là hoạt động xuất khẩu

sẽ nhận được những ưu đãi của Nhà nước như việc quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi

và giúp đỡ hoạt động xuất khẩu phát triển với các mục tiêu, các biện pháp của chính sách cũng có vai trò định hướng cho hoạt động xuất khẩu Vì biện pháp của chính sách xuất khẩu có tác động thúc đẩy, cân bằng hay kìm hãm rất lớn đến hoạt động

Trang 25

xuất khẩu Chính sách thúc đẩy xuất khẩu sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước tham gia tốt hơn vào quá trình phân công lao động quốc tế: có thể thực hiện quá trình chuyên môn hoá sâu hơn đồng thời tăng khả năng mở rộng sản xuất

cả chiều rộng và chiều sâu, mở rộng thị trường, mở rộng quan hệ hợp tác với đối tác nước ngoài

Chính sách xuất khẩu cần được tạo lập trong môi trường pháp lý thuận lợi thể hiện trong sự thống nhất cao độ giữa mục tiêu thực hiện và sự phong phú đa dạng của các biện pháp thực thi chính sách; Chính sách xuất khẩu góp phần phát huy những mặt tốt của nền kinh tế thị trường đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực của nó Chính sách xuất khẩu cần thể hiện được vai trò của mình trong việc sử dụng các công cụ biện pháp để hạn chế những biểu hiện không lành mạnh trong sản xuất kinh doanh có thể xảy ra bằng chính sách thuế, chính sách ưu đãi đặc biệt…

Thông qua việc xây dựng và thực hiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu đúng đắn sẽ góp phần thực hiện quá trình huy động và phân bổ nguồn lực của quốc gia như tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực cho quá trình phát triển kinh tế quốc tế nói chung và xuất khẩu nói riêng Điều đó thể hiện ở việc chính sách khuyến khích xuất khẩu mặt hàng chế biến đòi hỏi nguồn nhân lực phải đáp ứng đủ cho hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu, đồng thời phân bổ đội ngũ cán bộ công chức hợp lí trong việc thực thi các chính sách xuất khẩu; Chính sách thúc đẩy của mỗi quốc gia góp phần vào việc xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp, các lĩnh vực kinh tế mới với trình độ công nghệ và sức cạnh tranh ngày càng cao, phát huy tốt hơn lợi ích của quốc gia

1.3 Quy trình và tiêu chí đánh giá chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa

1.3.1 Quy trình đánh giá chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa

Quy trình chính sách thúc đẩy xuất khẩu là một thuật ngữ chỉ tập hợp các giai đoạn khác nhau từ khi ra đời các ý tưởng, các vấn đề chính sách cho đến khi ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá điều chỉnh chính sách đó Các giai đoạn của quy trình chính sách thúc đẩy xuất khẩu có liên hệ chặt chẽ đến nhau theo

Trang 26

nguyên tắc giai đoạn trước là nền tảng cho giai đoạn tiếp theo và kết quả của giai đoạn trước là thông tin cần và đủ cho giai đoạn tiếp theo Quy trình chính sách thúc đẩy xuất khẩu bao gồm 3 giai đoạn cơ bản:

1.3.1.1 Hoạch định chính sách thúc đẩy xuất khẩu

Các chính sách được nghiên cứu đề xuất để nhà nước phê chuẩn và ban hành công khai dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật Việc nghiên cứu đề xuất chính sách do các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức đoàn thể Nhà nước ủy quyền thực hiện Hoạch định chính sách là căn cứ để đánh giá toàn bộ quy trình chính sách, hiện thực hóa triển vọng, khắc phục và hạn chế những nguy cơ có thể xảy ra trong việc xuất khẩu hàng hóa Quá trình đề xuất chính sách bao gồm: xác định vấn đề cần ra chính sách, xác định các mục tiêu mà chính sách cần đạt được và xác định các giải pháp cần thiết để đạt tới các mục tiêu đó Nguyên tắc cơ bản khi hoạch định chính sách phải căn cứ vào đường lối chính trị của từng giai đoạn, chính sách phải phù hợp với pháp luật hiện hành, phải phù hợp với hoàn cảnh cụ thể trong nước và bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; Chính sách

đề ra phải tận dụng được những thành tựu của khoa học kỹ thuật và phải chú ý đến vấn đề môi trường Trên cơ sở lựa chọn giữa các phương án chính sách, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn một phương án tối ưu nhất và ban hành thành chính sách để đưa vào thực thi

1.3.1.2 Thực thi chính sách thúc đẩy xuất khẩu

Là giai đoạn thực hiện các mục tiêu chính sách đã được phê duyệt thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy chính quyền Nhà nước, nhằm hiện thực hóa các mục tiêu mà chính sách đề ra như mục tiêu tăng sản lượng xuất khẩu, mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao giá trị hàng xuất khẩu… - Đây là giai đoạn vận dụng những giải pháp định trước để đạt được các mục tiêu chính sách, chính sách được biến thành những kết quả thực tế Quá trình thực thi chính sách là một quá trình phức tạp và chịu tác động của rất nhiều yếu tố mang tính không chắc chắn do bản chất của các hoạt động thực thi chính

Trang 27

sách là xảy ra trong tương lai Chính sách đã ban hành, tuy nhiên mức độ thành công của các hoạt động đó phụ thuộc vào năng lực nhận biết các yếu tố tương lai của các nhà lãnh đạo, những người thực thi chính sách - Tùy vào điều kiện cụ thể,

có thể áp dụng nhiều biện pháp thực thi chính sách khác nhau

Thực thi chính sách là triển khai các hoạt động cụ thể nhằm biến mục tiêu của chính sách xuất khẩu thành các kết quả cụ thể; Quá trình triển khai các hoạt động cụ thể sẽ tác động đến nhiều nhóm lợi ích khác nhau như lợi ích của nhà sản xuất, của người xuất khẩu hay của người tiêu dùng; Bên cạnh đó, quá trình triển khai cũng chịu tác động của các nhân tố biến động của thị trường thế giới, nhân tố chính trị; Các yếu tố chi phối đến quá trình thực thi chính sách xuất khẩu rất đa dạng và phong phú, mức độ tác động của nó cũng rất khác nhau Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách xuất khẩu có thể là bộ máy cán bộ tổ chức thực thi, thủ tục hành chính, kinh phí thực hiện, thái độ của nhân viên Thực thi chính sách gắn liền với việc xây dựng và triển khai các chương trình, dự án – đây là quá trình đòi hỏi tổng hợp lượng trí tuệ và chất xám cao; Sự thành công hay thất bại của thực thi chính sách còn phụ thuộc vào điều kiện để tổ chức thực thi chính sách

có đảm bảo hay không; Giai đoạn thực thi chính sách đòi hỏi việc huy động các nguồn lực, vật lực và tài chính vào hoạt động Tuy nhiên, giai đoạn này thường chịu tác động của nhiều yếu tố về khách quan và chủ quan làm ảnh hưởng đến kết quả thực thi, trong đó việc tổ chức thực thi và duy trì chính sách là yếu tố quan trọng hàng đầu để bảo đảm sự thành công của chính sách Quá trình tổ chức thực thi chính sách gồm ba giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị triển khai, giai đoạn tổ chức triển khai, giai đoạn đánh giá và điều chỉnh các hoạt động cho phù hợp thực tế của công tác xuất khẩu

1.3.1.3 Kiểm tra, đánh giá chính sách thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm

Là một giai đoạn quan trọng trong quy trình chính sách, trong giai đoạn này, người ta tiến hành so sánh các kết quả của chính sách với các mục tiêu đề ra, phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội đạt được thông qua việc thực thi chính sách trên thực

Trang 28

tế; Việc đánh giá chính sách được tiến hành dựa vào một số kỹ thuật đánh giá và các tiêu chí kinh tế - xã hội nhất định Dựa trên những kết quả thu được từ việc đánh giá chính sách, nhà nước quyết định xem có nên tiếp tục duy trì chính sách đó hay không, cần sửa đổi bổ sung chính sách như thế nào để có hiệu quả cao hơn với thực tiễn Đánh giá chính sách được xem xét trên một số yếu tố như: tính toàn vẹn, tính thống nhất, tính khả thi và hiệu quả của chính sách nhằm điều chỉnh chính sách cho phù hợp với mục tiêu và thực tế

Đánh giá tính toàn vẹn của chính sách: Để đánh giá tính toàn vẹn của chính

sách thúc đẩy xuất khẩu, ta cần đối chiếu chính sách ban hành với đường lối chung xem chính sách có thể hiện đầy đủ đường lối chung không Chính sách thúc đẩy xuất khẩu đưa ra nhất thiết phải đảm bảo thực hiện đầy đủ đường lối chung của Đảng và Nhà nước về xuất khẩu và các vấn đề có liên quan đã được ban hành ở các văn bản trước đó Tuy nhiên, đường lối chung đã được đề ra là kim chỉ nam để các văn bản thúc đẩy xuất khẩu ban hành cho phù hợp; Tùy thuộc vào mỗi ngành nghề, lĩnh vực xuất khẩu mà mỗi một chính sách cụ thể sẽ có những điều chỉnh cho phù hợp Một chính sách thúc đẩy xuất khẩu được ban hành cần phải đối chiếu với yêu cầu của thực

tế xem chính sách có đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tế của công tác xuất khẩu

Đánh giá tính thống nhất của chính sách: Sự thống nhất của chính sách được

thể hiện ở hai nội dung (1) Sự thống nhất chính trong các bộ phận của chính sách, tức là các nội dung trong chính sách thức đẩy xuất khẩu phải được thể hiện sao cho phù hợp với mục tiêu, mục đích của chính sách đã được đề ra ngay từ đầu (2) Đối chiếu chính sách đó với hệ thống chính sách xem có thống nhất không

Đánh giá tính khả thi và hiệu quả của chính sách: Đánh giá bằng cách đối

chiếu chính sách thúc đẩy xuất khẩu với điều kiện thực hiện chính sách như năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, năng lực của các đơn vị trực tiếp thực hiện công tác xuất khẩu…để xem các điều kiện đó có đủ để cho chính sách có thể triển khai hay không và nếu được triển khai thì đánh giá xem chính sách ban hành ảnh hưởng tới các đối tượng có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến công tác xuất khẩu như thế nào

Trang 29

1.3.2 Các tiêu chí đánh giá chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa

Đánh giá chính sách thúc đẩy xuất khẩu là việc xem xét, nhận định về giá trị các kết quả thực thi của chính sách; Điều đó có nghĩa là việc xem xét, nhận định về những giá trị này sẽ được đo lường theo những thước đo nhất định Việc đưa ra các thước đo đúng đắn và có thể chấp nhận được để đánh giá chính sách là một việc khó khăn và gây nhiều tranh cãi, bởi vì cùng một kết quả thực thi có thể nhìn nhận khác nhau dưới các góc độ khác nhau; Dưới đây là một số tiêu chí đánh giá chính sách được thừa nhận rộng rãi nhất (1) Tính hiệu lực của chính sách, (2) Tính hiệu quả của chính sách, (3) Tính hữu dụng của chính sách, (4) Tính công bằng của chính sách, (5) Tính đáp ứng yêu cầu của đối tượng chính sách, (6) Kết hợp hợp lý giữa hiệu quả và công bằng (hay tính thích đáng của chính sách)

1.3.2.1 Tính hiệu lực của chính sách

Tính hiệu lực của chính sách phản ánh mức độ tác động, ảnh hưởng của chính sách đó trên thực tế, làm biến đổi hoặc duy trì thực tế theo mong muốn của chính phủ Đánh giá hiệu lực của chính sách là trả lời câu hỏi: Chính sách có đạt được các kết quả có giá trị hay không; Đánh giá tính hiệu lực của chính sách thường đòi hỏi nhiều thông tin và phương pháp tiến hành phức tạp, song nó rất có ích đối với các nhà hoạch định chính sách để xem xét cần tiếp tục duy trì hay thay đổi chính sách hiện hành

Khi nói đến hiệu lực của một chính sách, người ta thường phân ra: (1) Hiệu lực lý thuyết và (2) Hiệu lực thực tế Một chính sách sau khi được ban hành sẽ có hiệu lực lý thuyết, đó là hiệu lực được nhà nước công nhận để đưa ra chính sách vào vận hành Hiệu lực thực tế là hiệu lực có được khi chính sách tác động đến thực tế làm biến đổi thực tế theo mong muốn của chính phủ - Chính sách chỉ đạt được hiệu lực thực tế khi nó được áp dụng và đem lại kết quả nhất định; Cần lưu ý rằng, một chính sách chỉ đạt được hiệu lực thực tế tốt đẹp nếu nó được hoạch định đúng đắn

về lý thuyết Đương nhiên, một chính sách có hiệu lực lý thuyết đôi khi lại không có hiệu lực trên thực tế do những thiếu sót, khó khăn gặp phải trong khâu thực thi -

Trang 30

Song, khó có thể nói một chính sách thất bại trên thực tế lại hoàn toàn đúng đắn về

lý thuyết Chính sách chỉ có thể được coi là đúng đắn về lý thuyết khi nó tính đến những yếu tố thực tiễn để đảm bảo sự thực thi thành công

Như vậy: Hiệu lực của một chính sách là kết quả tác động tổng hợp của cả hiệu lực lý thuyết cũng như hiệu lực thực tế Khả năng thành công hay thất bại của một chính sách phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Nhà hoạch định và nhà thực thi chính sách phải biết phân tích, lựa chọn phương án tối ưu nhất để thực hiện chính sách thành công; Hiệu lực của một chính sách phản ánh của tính đúng đắn về lý thuyết cũng như hoạt động thực tế

Ở đây cũng cần lưu ý đến một thực tế: làm giảm hiệu lực của các chính sách

- Đó là tình trạng các chính sách được đề ra nhiều nhưng không có sự đánh giá, phán xét nghiêm minh Điều đó dẫn đến chỗ người dân mất lòng tin vào chính sách

và chính sách vừa ra đời bị mất hiệu lực một cách “vô hình”

1.3.2.2 Tính hiệu quả của chính sách

Việc đánh giá hiệu quả của một chính sách nhằm trả lời cho câu hỏi: Cần bao nhiêu nỗ lực để đạt được các kết quả có giá trị?

Tính hiệu quả của chính sách công là tương quan so sánh giữa kết quả do chính sách đó đưa lại só với chi phí và công sức đã bỏ ra cho kết quả đó

Khi đánh giá hiệu quả của một chính sách, về nguyên tắc, người ta phải xác định hiệu quả tổng hợp của chính sách - Đó là kết quả tổng hợp cả về kinh tế - xã hội của chính sách đó Hiệu quả tổng hợp phản ánh mức độ đạt được các kết quả về kinh tế và về tác động xã hội theo mục tiêu đã đề ra với một chi phí và công sức nhất định Tuy nhiên, nhiều chỉ tiêu không thể lượng hóa được, nhất là những tác động xã hội Do đó, hiệu quả xã hội thường chỉ có thể xác định về mặt định tính Còn hiệu quả kinh tế có thể đánh giá bằng chỉ tiêu định lượng, thể hiện tương quan

so sánh giữa kết quả thu được bằng với chi phỉ bỏ ra

Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả kinh tế thị trường được đo bằng hiệu quả Pareto Hiệu quả Pareto là một thuật ngữ dùng để chỉ hiệu quả kinh tế mang tên

Trang 31

nhà toán học – kinh tế học người Italy và Vilfredo Domaso Pareto (1848 – 1923) - Theo nguyên lý Pareto, một sự di chuyển làm cho hoàn cảnh của người này tốt lên

mà không làm hoàn cảnh của người khác bị tồi đi được gọi là một hoàn thiện Pareto

- Một thị trường cạnh tranh hoàn hảo sẽ dẫn đến hiệu quả (một sự di chuyển làm cho hoàn cảnh của người này tốt lên mà không làm hoàn cảnh của người khác bị tồi

đi được gọi là một hoàn thiện Pareto) Pareto Nhưng trong thực tế, nền kinh tế hoạt động một cách không hoàn hảo, nên sự phân bố các nguồn lực không dẫn đến hiệu quả Pareto Đây là lý do để nhà nước can thiệp vào nền kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả Sự can thiệp của nhà nước chỉ đạt hiệu quả khi đem lại phúc lợi xã hội cao hơn Nhà nước có thể sử dụng một tập hợp các chính sách để tạo nên một hoàn thiện Pareto, làm tăng hiệu quả kinh tế và tăng phúc lợi xã hội Các chính sách trợ giúp của chính phủ cho tiến bộ khoa học mới hay để truyền bá các biện pháp bảo vệ sức khỏe cộng đồng là những hoàn thiện Pareto

1.3.2.3 Tính hữu dụng của chính sách

Tính hữu dụng của chính sách phản ánh mức độ vấn đề chính sách đã được giải quyết đến đâu - Đánh giá tính hữu dụng của chính sách trả lời cho câu hỏi: Việc đạt được các kết quả đã giải quyết được vấn đề ở mức độ nào?

Chẳng hạn, hãy xem xét một chương trình cho vay vốn để tạo việc làm cho người nghèo được thực hiện vào năm 1994, với mục đích giảm nghèo nhờ thu nhập từ việc làm Đối tượng của chương trình này gồm hai loại: (1) Cho cá nhân những người nghèo vay; (2) Cho các cơ sở sản xuất và doanh nghiệp nhỏ vay để tạo công ăn việc làm Song chương trình đã không đáp ứng được mục tiêu đặt ra

do các nguyên nhân sau: Thứ nhất: Việc làm thủ tục cho vay do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố quản lý không thuân lợi cho người nghèo vì: người nghèo khó khăn trong việc đi xin vay vốn; thủ tục vay vốn đối với người nghèo có trình độ văn hóa thấp là khá phức tạp, bản thân cấp chính quyền còn có tư tưởng ngại cho người nghèo vay sẽ có nhiều rủi ro, việc cho vay đòi hỏi phải lấy giấy phép sử dụng đất đai làm thế chấp cũng gây khó khăn cho người nghèo… Do đó, những cá

Trang 32

nhân nghèo khó có thể xin vay tiền Thứ hai: Việc cho các doanh nghiệp nhỏ vay tiền cũng không bảo đảm cho người nghèo có việc làm, bởi vì lãnh đạo doanh nghiệp có xu hướng dành cơ hội làm việc cho họ hàng thân thích hơn là cho những người ngoài đang thất nghiệp

Như vậy, chương trình cho vay vốn để tạo việc làm cho người nghèo nói trên

đã không giải quyết đúng vấn đề theo mục tiêu đặt ra Những trở ngại ở đây xuất hiện trong khâu thực thi, do thủ tục phức tạp, do ý đồ cá nhân của những người tổ chức thực thi đã bóp méo ý định ban đầu của chính sách; Song điều đó cũng cho thấy sai lầm trong khâu hoạch định chính sách là đã không tính hết các khả năng có thể xảy ra trong điều kiện cụ thể lúc đó

Một chương trình nâng cao khả năng tiếp cận với hệ thống giáo dục phổ thông đối với các dân tộc thiểu số cũng sẽ khó đặt được mục tiêu đề ra nếu không quan tâm đến các yếu tố như khó khăn về ngôn ngữ, chương trình giảng dạy phù hợp, công tác đào tạo cũng như chế độ đối với giáo viên và cơ sở vật chất cần thiết

1.3.2.4 Tính công bằng

Tính công bằng của chính sách thể hiện, ở chỗ: các chi phí và lợi ích có được phân bổ công bằng giữa những cá nhân và các nhóm người khác hay không Công bằng bao gồm công bằng theo chiều dọc và công bằng theo chiều ngang (1) Công bằng theo chiều dọc là sự đối xử khác nhau đối với những người khác nhau, đối xử với người giàu khác với người nghèo Do đó, một chương trình sẽ tăng tính công bằng nếu

nó tiến hành chuyển dịch nguồn lực từ những người giàu hơn sang những người nghèo hơn (2) Công bằng theo chiều ngang là sự đối xử như nhau đối với những người như nhau Điều này có nghĩa là những người có kết quả hoạt động như nhau, không phân biết giới tính, dân tộc, tôn giáo, màu da,…đều được đối xử như nhau

Một trong những khiếm khuyết đáng kể của nền kinh tế thị trường nó luôn tạo

ra sự bất bình đẳng trong xã hội, theo Simon Kuzntes, trong lịch sử phát triển kinh tế, mỗi quốc gia trải qua ba giai đoạn khác nhau của sự bất bình đẳng Thứ nhất, giai đoạn đầu, khi kinh tế chưa phát triển, thu nhập và phân phối tương đối đồng đều, tương đối công bằng - nhưng đó là công bằng trong nghèo khổ Thứ hai, khi nền kinh tế thị

Trang 33

trường phát triển, sự bất bình đẳng trong thu nhập và phân phối tăng lên Tại những thời điểm tăng trưởng càng nhanh thì sự bất bình đẳng càng gia tăng Thứ ba, khi nền kinh tế phát triển cao, bất bình đẳng trong phân phối và thu nhập sẽ giảm dần

Thực tế những năm qua cho thấy, sự tăng trưởng, quyền bình đẳng và sự giảm bớt đói nghèo có thể cùng tiến bước với nhau, điều này đã diễn ra ở phần lớn vùng Đông Á Nhiều chính sách đã thúc đẩy sự tăng trưởng và sự bình đẳng cùng một lúc Chẳng hạn, cải tiến giáo dục vừa tạo ra vốn con người vừa giúp đỡ người nghèo, việc cung cấp ruộng đất cho nông dân nghèo không những dẫn đến tăng cường sự bình đẳng; mà còn nâng cao cả năng suất lao động Các nước Đông Á đã chỉ ra rằng, có thể đạt được mức tiết kiệm cao mà không chênh lệch nhiều về quyền bình đẳng

Với các chính sách của nhà nước nhằm hỗ trợ cho người dân bằng cách trợ giá xăng dầu, giá điện, truyền hình… thì chính nhà nước lại tạo ra sự bất bình đẳng lớn hơn, vì đây là những hàng hóa mà những người càng khá giả thì mức tiêu dùng càng cao, nên lại được hưởng trợ giá càng nhiều

Việc nhà nước thực hiện công bằng đến đâu là tùy thuộc vào sự đúng đắn và hợp lý của chính sách đề ra.Tuy nhiên dù nhà nước tác động tích cực như thế nào trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường thì cũng không thể đạt được

sự bình đẳng tuyệt đối Vì vậy, sự công bằng ở đây chỉ được hiểu một cách tương đối Việc thực hiện nguyên tắc công bằng, bất chấp chất lượng và hiệu quả sản xuất, kinh doanh và sự đóng góp của mỗi người cho sự phát triển chung của cộng đồng Vấn đề đặt ra: Nhà nước phải làm gì để xã hội ít bất bình đẳng hơn trong khi sản xuất vẫn phát triển một cách hiệu quả Công bằng trong chính sách của nhà nước chủ yếu là tạo ra những cơ hội ngang nhau cho các đối tượng khác nhau

1.3.2.5 Tính đáp ứng yêu cầu của đối tượng chính sách

Tính đáp ứng của chính sách công trả lời câu hỏi: Việc thực thi chính sách đề ra

có đáp ứng mong muốn, nguyện vọng của các nhóm đối tượng của chính sách hay không - Trên thực tế, có nhiều chính sách của Chính phủ đề ra nhưng không đáp ứng được đầy đủ nguyện vọng của nhóm đối tượng chính sách

Trang 34

Chính sách ưu đãi xã hội ở nước ta hiện nay có số lượng đối tượng hưởng thụ khá lớn do điều kiện lịch sử để lại Hiện có khoảng 2 triệu người đang được hưởng các khoản ưu đãi thường xuyên với các mức khác nhau.Tuy nhiên, do điều kiện của đất nước, sự ưu đãi, giúp đỡ của nhà nước và cộng đồng chưa đáp ứng được nhu cầu của các đối tượng có công Trong bối cảnh cơ chế thị trường hiện nay, các gia đình của những người có công bị ảnh hưởng không nhỏ, nhiều gia đình vẫn sống trong cảnh nghèo khó Một vấn đề bức xúc hơn cả là việc làm đối với người có công, nhiều thương binh bệnh binh chưa kiếm được việc làm phù hợp với tình trạng thương tật và sức khỏe của họ Nhiều gia đình liệt sỹ thiếu thốn, thiếu sức lao động để mở rộng sản xuất Điều này cho thấy cần có cái nhìn phù hợp trong chính sách ưu đãi đối với những người có công Ngoài chính sách trợ cấp ưu đãi đối với người có công, nhà nước cần có chính sách ưu đãi trong giải quyết công ăn việc làm phù hợp với điều kiện của họ

1.3.2.6 Kết hợp hợp lý giữa hiệu quả và công bằng (hay tính thích đáng của chính sách)

Tính thích đáng của chính sách trả lời cho câu hỏi: Các kết quả mong muốn kết hợp giữa tính hiệu quả và tính công bằng như thế nào? Thông thường, khi đề ra và thực thi một chính sách, người ta thường gặp sự mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh tế và yêu cầu công bằng xã hội; Phần lớn các chính sách của nhà nước phải cân nhắc cả hai mặt: Công bằng và hiệu quả Trong các chính sách, một số thuộc về hoàn thiện Pareto, một số khác thuộc về phân phối lại thu nhập Vấn đề đặt ra là phải hy sinh bao nhiêu phúc lợi của nhóm dân cư này để đổi lấy việc gia tăng phúc lợi của nhóm dân cư khác? Do đó, phải đánh giá tác động của chính sách đến các đối tượng trong mối quan hệ giữa tính hiệu quả và tính công bằng Thông thường, sự can thiệp của chính phủ nhằm tạo ra sự công bằng trong xã hội sẽ được đánh đổi bằng một sự kém hiệu quả về mặt kinh tế Khi định ra chính sách, cần lưu ý về sự đánh đổi giữa công bằng và hiệu quả, cũng như đến các hậu quả do sự đánh đổi đó gây ra

Mối quan hệ giữa tính hiệu quả và tính công bằng được phản ánh trong mối tương quan giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội của một chính sách, cũng như

Trang 35

trong mối tương quan gữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội Trong điều kiện nước ta hiện nay, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vẫn phải là nhiệm vụ hàng đầu, bởi

vì chỉ có một nền kinh tế năng động và có hiệu quả cao, dựa trên những thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại thì mới có khả năng huy động các nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu xã hội theo nguyên tắc và công bằng, các mục tiêu xã hội hợp quy luật, thuận lòng dân có thể tạo ra động lực to lớn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế phải găn liền với sự tiến bộ và công bằng xã hội ngay từ đầu và trong suốt quá trình thực hiện các chính sách phát triển Không thể chờ đợi đến khi đất nước đạt trình độ phát triển kinh tế cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không thể hy sinh tiến bộ và công bằng xã hội để phát triển kinh tế đơn thuần Muốn vậy, mỗi chính sách xã hội đều hàm chứa nội dung và ý nghĩa kinh tế, dù trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt hoặc lâu dài Mỗi thời kỳ cụ thể phải xác định đúng mức độ hợp lý giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, sao cho hai mặt này không cản trở hoặc triệt tiêu lẫn nhau, mà hỗ trợ cho nhau

Việc đánh giá một chính sách theo các tiêu chí nói trên, cho phép đưa ra những nhận định về các giá trị của chính sách đó Đây là những căn cứ quan trọng để các nhà phân tích chính sách phán xét về các hành vi được tiến hành trong suốt quy trình chính sách, tìm ra những khiếm khuyết cần hoàn thiện Có thể nói, đánh giá chính sách cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những căn cứ để điều chỉnh,

bổ sung Hoàn thiện chính sách; tiếp tục để duy trì hay chấm dứt chính sách đó

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa

và các yêu cầu đặt ra trong điều kiện tham gia WTO

1.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa

Trong những năm gần đây, nền kinh tế toàn cầu biến động phức tạp cùng với sự thay đổi lớn của giá năng lượng, lương thực và nhiều loại nguyên liệu khác Sự khủng hoảng của hệ thống tài chính toàn cầu ở cấp độ rộng, kinh tế thế giới đã trải

Trang 36

qua những năm đầy khó khăn và sóng gió Đặc biệt bối cảnh kinh tế thế giới những năm gần đây cho thấy nền kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng không cao, chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn, phức tạp và khó lường, hậu quả của khủng hoảng kinh tế toàn cầu sẽ còn tiếp tục diễn biến phức tạp Chính phủ của hàng loạt các quốc gia phải cắt giảm chi tiêu công, tỷ lệ thất nghiệp cao trong điều kiện giá cả tăng khiến cho người tiêu dùng cũng đồng loạt phải cắt giảm chi tiêu, xu hướng này sẽ kéo dài có tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế

Dưới tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, EU nói riêng và các quốc gia trên thế giới nói chung đang đẩy mạnh quá trình tái cấu trúc nền kinh tế và điều chỉnh các thể chế kinh tế trên quy mô toàn cầu Vị thế của các nước trong nền kinh tế thế giới sẽ có thay đổi, vị thế siêu cường của Hoa Kỳ sẽ bị giảm, vai trò của EU, Trung Quốc trong nền kinh tế thế giới và thương mại toàn cầu sẽ tăng lên Khu vực Châu

Á – Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động và đang hình thành nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng hơn, đáng chú ý là việc đàm phán ký kết Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) với mức độ mở cửa và hợp tác cao hơn Quá trình quốc tế hoá sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng; việc tham gia vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu đã hình thành yêu cầu đối với các nền kinh tế Việt Nam đang tích cực đẩy nhanh tiến trình đàm phán nhằm ký kết Hiệp định thương mại tự do với EU đã mở ra những cơ hội mới cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường EU

Bối cảnh quốc tế đóng vai trò quan trọng chi phối việc đề xướng và thực thi chính sách cải cách mở cửa kinh tế ở Việt Nam; Trước hết, những biến động lớn trên thế giới tạo ra áp lực cải cách lớn đối với Việt Nam: nếu không thực hiện cải cách mở cửa, hòa mình vào trào lưu phát triển chung của thế giới thì Việt Nam sẽ mãi ở trong tình trạng lạc hậu, đóng cửa, và ngày càng tụt hậu so với các quốc gia khác Bên cạnh đó, những biến động đó cũng tạo ra động lực lớn đối với Việt Nam trong việc tiến hành cải cách mở cửa, Việt Nam có thể tập trung nguồn lực cho xây dựng kinh tế; thực hiện chuyển đổi cơ cấu ngành nghề theo hướng khai thác những lợi thế của đất nước, tận dụng ưu thế của những nước đi sau trong việc thực hiện

Trang 37

chiến lược công nghiệp hóa, từ đó đẩy mạnh phát triển kinh tế, rút dần khoảng cách

về kinh tế kỹ thuật, công nghệ với các nước phát triển trên thế giới; Nhận thức và nắm bắt kịp thời xu thế biến động của môi trường quốc tế nên Việt Nam đã thành công trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước Bên cạnh đó việc hoạch định chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam cần quan tâm đến các nhân tố riêng có của thị trường EU để điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tế: (1) Các tiêu chuẩn đối với hàng hoá nhập khẩu vào EU rất khắt khe: Quyền lợi của người tiêu dùng và vấn đề bảo vệ môi trường được Chính phủ các nước EU quan tâm hàng đầu bảo vệ nhà sản xuất và việc làm truyền thống Do vậy, những hệ thống rào kỹ thuật mới đã ra đời thay thế cho các biện pháp bảo vệ truyền thống như là thuế quan và hạn ngạch Hàng hoá Việt Nam muốn vào được thị trường này thì phải vượt qua hệ thống các rào cản kỹ thuật đó của EU, được cụ thể hoá bởi các tiêu chuẩn của sản phẩm: chất lượng, sức khoẻ và an toàn, tiêu chuẩn về môi trường và vấn đề trách nhiệm xã hội

1.4.2 Yêu cầu đối với chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa

1.4.2.1 Những yêu cầu mang tính khách quan

a Chính sách xuất khẩu phải theo kịp quá trình tự do hóa thương mại toàn cầu

Tự do hóa thương mại toàn cầu đóng vai trò là nhân tố tác động tích cực đến phát triển quan hệ thương mại quốc tế Khi tham gia vào quá trình này, các nước đều phải thực hiện mở cửa thị trường, giảm dần và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn các rào cản về thuế quan, hạn ngạch nhằm tạo điều kiện đẩy mạnh lưu thông hàng hóa, tiến tới thống nhất thị trường thế giới Do đó, xu thế tự do hóa thương mại sẽ giúp đẩy mạnh thương mại quốc tế và đặc biệt là hoạt động xuất khẩu

Các công cụ thuế quan bị giảm dần, giúp cho các quốc gia thành viên của WTO có thể tận dụng hơn nữa được các lợi thế so sánh của mình, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường thế giới Tuy nhiên, WTO cho phép và khuyến khích các nước thành viên sử dụng các rào cản kỹ thuật đối với hàng hóa nhập khẩu như rào cản về chất lượng, rào cản về an toàn đối với sức khỏe người tiêu dùng, trách nhiệm

Trang 38

xã hội và môi trường, tiêu chuẩn về lao động… Quy định này sẽ gây nhiều khó khăn cho hàng hóa xuất khẩu của các nước thành viên đang phát triển của WTO Mặt khác, quá trình tự do hóa thương mại cũng kéo theo sự gia tăng ngày càng gay gắt của cạnh tranh giữa các quốc gia đã là thành viên của WTO nói riêng và các quốc gia trên bình diện thế giới nói chung Các đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc,

và các nước ASEAN cũng đang tận dụng những ưu đãi do cơ chế toàn cầu hóa đem lại và thông qua các hiệp định tự do hóa thương mại sẽ tạo ra nhứng khó khăn mới trong điều chỉnh chính sách thúc đẩy xuất khẩu của các quốc gia thành viên đang phát triển khác của WTO nói chung cũng như Việt Nam nói riêng

b Chính sách khuyến khích xuất khẩu phải theo xu thế gia tăng các yếu tố tri thức trong sản phẩm xuất khẩu

Kinh tế thế giới đã chuyển từ nền công nghiệp sang thời đại của nền kinh tế tri thức, trong đó yếu tố tri thức đã trở thành tư liệu sản xuất quan trọng nhất Tri thức tạo ra sự bùng nổ về khoa học công nghệ, tạo ra sự thay đổi về phương thức sản xuất; Tri thức đã thay thế cho các yếu tố sản xuất khác như tài nguyên thiên nhiên đang bị khai thác cạn kiệt và các yếu tố hữu hình khác để đóng vai trò chủ đạo trong quá trình sản xuất của thời đại mới; Các sản phẩm được tạo ra trong nền kinh tế tri thức mang những tính chất mới với hàm lượng chất xám và công nghệ cao Sự phát triển của nền kinh tế tri thức sẽ kéo theo sự thay đổi về xu hướng tiêu dùng hướng tới các sản phẩm công nghệ cao, thân thiện với con người và môi trường, cơ cấu sản xuất và xuất khẩu hàng hoá của các nước do đó cũng sẽ phải thay đổi theo

1.4.2.2 Những yêu cầu mang tính chủ quan

a Nhận thức về vai trò, vị trí của xuất khẩu và định hướng chính sách phát triển xuất khẩu hàng hoá của Chính phủ

Các quốc gia xuất khẩu hàng hóa thường xuất phát từ các lợi thế vốn có và biết tạo ra lợi thế mới trên cơ sở đổi mới chính sách, khoa học công nghệ, vốn đầu

tư và thị trường Trong đó, yếu tố chính sách và khoa học công nghệ có ý nghĩa

Trang 39

quyết định, tạo nên những động lực cho sự phát triển - Hoạt động xuất khẩu trước hết phụ thuộc vào nhận thức tình hình và đường lối chính sách đẩy mạnh xuất khẩu của Chính phủ

Nhà nước đã từng bước hoàn thiện chính sách để phát triển xuất khẩu: chuyển

từ mô hình Nhà nước độc quyền ngoại thương sang tự do hoá ngoại thương, thông qua chính sách mở rộng đối tượng kinh doanh xuất nhập khẩu; các đơn vị chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu được Nhà nước thành lập, thừa nhận, được đăng ký kinh doanh những mặt hàng mà Nhà nước không cấm Các đơn vị sản xuất không phân biệt thành phần kinh tế, có đăng ký kinh doanh được quyền trực tiếp xuất khẩu hàng hoá làm ra và nhập nguyên liệu phục vụ sản xuất; nhà nước thu hẹp số lượng các mặt hàng xuất khẩu có điều kiện, tăng dần số lượng mặt hàng được tự do xuất nhập khẩu; thực hiện các chính sách khuyến khích hàng xuất khẩu như cho vay vốn để thu gom, sản xuất hàng xuất khẩu, hưởng thuế suất ưu đãi Tuy nhiên, việc cụ thể hoá chính sách của các Bộ, các ngành có liên quan còn chậm, sự phối hợp của các

cơ quan Nhà nước không ăn khớp, luật và các chính sách chưa đồng bộ, hoàn thuế còn chậm khiến cho các doanh nghiệp phải bù lỗ khi vay vốn

b Quy hoạch và kế hoạch phát triển hàng xuất khẩu

Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đưa ra là định hướng chiến lược, còn khả năng thực thi chính sách phụ thuộc vào quy hoạch, kế hoạch phát triển trong từng thời kỳ; Thực tế ở Việt Nam, do chậm trễ trong việc xây dựng triển khai quy hoạch, kế hoạch phát triển xuất nhập khẩu, cũng như hạn chế về “tầm nhìn” dẫn đến bị động, lúng túng trong xử lý các mối quan hệ cụ thể với ASEAN, APEC, EU, Mỹ, WTO Cần phải thấy, mục đích cuối cùng của Việt Nam là hội nhập với các nước công nghiệp phát triển trên thị trường thế giới, còn hội nhập với thị trường, với khu vực nào đó chỉ là bước đệm để chúng ta học hỏi, rút kinh nghiệm và hoà nhập nhanh chóng

Về cơ bản, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa trên nền tảng xuất khẩu những gì hiện có chứ không phải xuất khẩu những gì thị trường thế giới cần - Bởi vậy, việc quy hoạch lựa chọn mặt hàng xuất khẩu chủ lực với từng thời kỳ

Trang 40

là vô cùng quan trọng Xác định thị trường trọng điểm với từng mặt hàng để có kế hoạch phát triển nguồn hàng, thu mua và chế biến hợp lý, đồng bộ

c Khả năng và điều kiện sản xuất các mặt hàng trong nước

Các quốc gia cần phải tính đến các nhân tố có tính quyết định đến chuyển dịch

cơ cấu hàng xuất khẩu hay điều kiện cần trong quá trình chuyển dịch cơ cấu Trong

xu thế hiện nay, các quốc gia cần có nhận thức rõ ràng rằng các mặt hàng tinh chế

có lợi thế hơn so với xuất khẩu nguyên liệu thô, sơ chế Nhưng để chuyển từ xuất khẩu hàng thô sang các mặt hàng tinh chế không phải dễ dàng, vì nó phụ thuộc rất nhiều vào thực lực của một nền kinh tế (trình độ người lao động trong cả quá trình sản xuất, thu gom, vận chuyển, bảo quản đến chế biến sản phẩm; trình độ công nghệ

và kỹ thuật chế biến ) Sau nhiều năm phát triển liên tục, nền sản xuất của Việt Nam đã có sự phát triển rõ rệt, công nghệ mới được sử dụng nhiều nơi, tay nghề của người lao động được nâng cao phù hợp với hoàn cảnh mới - Tuy nhiên, nhìn tổng thể, các đơn vị sản xuất còn thiếu vốn, công nghệ về cơ bản còn lạc hậu, chưa thoả mãn với nhu cầu ngày một tăng của khách hàng nước ngoài

d Khả năng xúc tiến thị trường xuất khẩu ở tầm vĩ mô và vi mô

Trong điều kiện hiện nay, ở Việt Nam hoạt động thương mại trong nước cũng như thương mại quốc tế mở rộng, khối lượng hàng hoá được đưa vào lưu thông càng nhiều; để tiêu thụ khối lượng hàng hóa trong bối cảnh cạnh tranh như ngày nay đòi hỏi Chính phủ Việt Nam phải tiến hành các hoạt động xúc tiến thương mại một cách hữu hiệu tại thị trường trong nước và xuất khẩu – Đây là hoạt động đóng vai trò quyết định trong việc tiêu thụ và tăng tốc độ chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất

khẩu Xúc tiến thương mại tầm vĩ mô là do Chính phủ và các Bộ Ngành liên quan

nhằm thiết lập mối quan hệ ngoại giao, quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước về mặt pháp lý, cung cấp thông tin về thị trường trong nước, ngoài nước cho các doanh nghiệp về môi trường pháp luật, chính sách thương mại, các rào cản hạn ngạch, thuế quan, phi thuế quan; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham

quan, khảo sát thị trường để thực hiện xuất khẩu Xúc tiến thị trường tầm vi mô do

các doanh nghiệp thực hiện nhằm thăm quan, khảo sát, nghiên cứu thị trường, trực

Ngày đăng: 11/05/2016, 14:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Chính sách thúc đẩy xuất khẩu trong điều kiện tham gia vào WTO - Tiểu luận về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa việt nam vào EU khi tham gia vào WTO
Hình 1.1. Chính sách thúc đẩy xuất khẩu trong điều kiện tham gia vào WTO (Trang 22)
Bảng 2.1: Diễn giải mức thuế cam kết bình quân - Tiểu luận về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa việt nam vào EU khi tham gia vào WTO
Bảng 2.1 Diễn giải mức thuế cam kết bình quân (Trang 65)
Bảng 2.2. Các cam kết thực hiện Hiệp định tự do hoá theo ngành - Tiểu luận về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa việt nam vào EU khi tham gia vào WTO
Bảng 2.2. Các cam kết thực hiện Hiệp định tự do hoá theo ngành (Trang 66)
Bảng 2.3: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực   của Việt Nam vào EU trước gia nhập WTO - Tiểu luận về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa việt nam vào EU khi tham gia vào WTO
Bảng 2.3 Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào EU trước gia nhập WTO (Trang 70)
Bảng 2.4: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực   của Việt Nam vào EU sau gia nhập WTO - Tiểu luận về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa việt nam vào EU khi tham gia vào WTO
Bảng 2.4 Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào EU sau gia nhập WTO (Trang 73)
Bảng 2.5:  Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam - Tiểu luận về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa việt nam vào EU khi tham gia vào WTO
Bảng 2.5 Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam (Trang 85)
Bảng 2.6: Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hóa   của Việt Nam vào EU từ năm 2007 đến nay - Tiểu luận về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa việt nam vào EU khi tham gia vào WTO
Bảng 2.6 Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào EU từ năm 2007 đến nay (Trang 86)
Bảng 2.7: Tỷ trọng cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hóa - Tiểu luận về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa việt nam vào EU khi tham gia vào WTO
Bảng 2.7 Tỷ trọng cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hóa (Trang 89)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w