1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận các giải pháp quản lý khai thác du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia theo hướng phát triển bền vững

164 652 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, theo tổ chức du lịch thế giới UNWTO, Du lịch sinh thái DLST đã và đang phát triển rất nhanh ở nhiều nước trên thế giới và thu hút được

Trang 1

1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, theo tổ chức du lịch thế giới (UNWTO), Du lịch sinh thái (DLST) đã và đang phát triển rất nhanh ở nhiều nước trên thế giới và thu hút được ngày càng nhiều sự chú ý của các tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là những người có nhu cầu về vãn cảnh, khám phá thiên nhiên và tìm hiểu sự đa dạng hệ sinh thái, động thực vật cũng như tính độc đáo, đặc thù của văn hóa bản địa gắn liền với tài nguyên du lịch đó Sự phát triển của DLST một mặt mang lại việc làm, thu nhập

và lợi nhuận cho địa phương và quốc gia nhất là ở những vùng hẻo lánh, xa xôi, vùng nông thôn - nơi có những khu bảo tồn, phong cảnh thiên nhiên đẹp và nét văn hóa địa phương đặc thù; mặt khác vẫn bảo vệ được môi trường tự nhiên, sự đa dạng sinh học và văn hóa địa phương Hơn thế, DLST góp phần quan trọng trong việc phát triển cộng đồng, giáo dục môi trường, văn hóa, lịch sử và các hoạt động giải trí Vì thế, ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, DLST đã trở thành một loại hình kinh doanh có hiệu quả cho việc bảo vệ môi trường sinh thái, bằng việc làm giảm sức ép đến sự khai thác nguồn tài nguyên cho nhu cầu dịch vụ du lịch của khách du lịch và dân cư địa phương

Ở Việt Nam, DLST là lĩnh vực được nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 của thế

kỷ XX Ngày nay, DLST càng được quan tâm của các cấp, các ngành trong bối cảnh phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn và càng trở nên quan trọng hơn khi du lịch trở thành chiến lược của quốc gia và được nhiều người biết đến

Các Vườn quốc gia (VQG) và khu bảo tồn thiên nhiên khu (BTTN) là nơi tập trung đa dạng sinh học cao, trong đó có nhiều loài động - thực vật đặc hữu, quý hiếm và có khả năng hấp dẫn du khách Các cộng đồng dân cư địa phương sinh sống trong khu vực các VQG đều có những giá trị văn hóa bản địa độc đáo và mang những đặc sắc riêng đây là những thuận lợi cho việc phát triển loại hình DLST Việt Nam có 0 VQG nằm rải rác trên phạm vi toàn quốc, trong đó 6 VQG trực thuộc Bộ

Trang 2

2

NN&PTNT quản lý và 24 VQG thuộc các tỉnh quản lý, với nhiều giá trị tài nguyên thuận lợi để phát triển du lịch nói chung và DLST nói riêng Đồng thời, phần lớn các VQG có vai trò kép, một mặt đây là khu vực cung cấp nơi cư trú cho sự sống hoang dã, mặt khác nó lại phục vụ như là nơi du lịch đặc thù cho khách du lịch Việc quản lý các mâu thuẫn tiềm ẩn giữa hai mục đích này có thể là một vấn đề, cụ thể là du khách sẽ đem lại nguồn kinh phí cho VQG cũng như góp phần nâng cao đời sống cho người dân địa phương, quảng bá các giá trị văn hóa bản địa tạo điều kiện duy trì và bảo tồn hệ sinh thái và các giá trị văn hóa bản địa; Các VQG cũng là nguồn cung cấp các tài nguyên thiên nhiên có giá trị như gỗ, khoáng sản và các loại tài nguyên có giá trị khác Sự cân bằng giữa nhu cầu khai thác các tài nguyên này với tổn thất do việc khai thác gây ra thường là thách thức rất quan trọng đối với hệ thống quản lý các VQG

Các VQG hiện nay được coi là một loại rừng và được quản lý theo quy chế của rừng đặc dụng chứ chưa được quan tâm đến khía cạnh là một loại tài nguyên du lịch Hơn thế nữa, do các VQG hiện tại đang được quản lý nhằm mục tiêu chính là bảo tồn đa dạng sinh học nên đã hạn chế sự phát triển DLST, hạn chế sự tham gia của các doanh nghiệp du lịch và cộng đồng dân cư địa phương trong việc khai thác tài nguyên DLST ối quan hệ giữa Ban quản lý VQG (cơ quan chức năng được giao quản lý rừng) với cộng đồng dân cư và các doanh nghiệp du lịch chưa được thống nhất và chặt chẽ dẫn đến làm giảm hiệu quả của việc khai thác tài nguyên du lịch này Do đó việc quản lý các VQG theo hướng là một loại tài nguyên rừng đơn thuần với chức năng bảo tồn sự đa dạng sinh học hay coi đây là một tài nguyên du lịch với chức năng kép là vừa bảo tồn đa dạng sinh học vừa khai thác DLST tạo thu nhập là một vấn đề cần phải làm rõ

Các VQG có một giá trị về tài nguyên DLST rất lớn, nếu không khai thác thì

đã bỏ phí nhưng nếu khai thác không hợp lý thì sẽ hủy hoại nguồn tài nguyên do đó cần phải có các mô hình, giải pháp quản lý và khai thác hợp lý làm sao khai thác được tối đa các giá trị kinh tế của tài nguyên đồng thời không tác động xấu tới các giá trị về sinh thái của nguồn tài nguyên này

Trang 3

3

Từ kinh nghiệm quản lý VQG của một số nước trên thế giới cho thấy việc khai thác tài nguyên tại các VQG để phát triển DLST hợp lý đã đảm bảo được cả 2 mục tiêu là (i) Bảo tồn hệ sinh thái bền vững về môi trường và (ii) tạo thêm kinh phí hoạt động cho VQG, nâng cao đời sống của cộng đồng dân cư địa phương đảm bảo bền vững về kinh tế và xã hội

Với 0 VQG Việt Nam nằm rải rác trên toàn quốc, do đó việc nghiên cứu tất

cả các VQG là rất khó thực hiện Hơn nữa, các VQG hiện tại đều được coi là Ban quản lý rừng đặc dụng và được điều chỉnh bằng những văn bản quy phạm pháp luật chung có liên quan; Chức năng, nhiệm vụ vủa các VQG hiện nay đều giống nhau; Các VQG chỉ khác nhau về độ dạng sinh học và quy mô diện tích Từ những lý do trên cho thấy, có thể lựa chọn 1 điểm nghiên cứu để minh chứng cho các VQG còn tổng thể các VQG khác của Việt Nam được nghiên cứu dựa trên các tài liệu thứ cấp

và việc tham vấn ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực có liên quan VQG Cúc Phương có thể nói là VQG đặc trưng cho các VQG tại Việt Nam và được chọn làm nghiên cứu điểm bởi: VQG Cúc Phương là VQG được thành lập đầu tiên tại Việt Nam; VQG Cúc Phương có diện tích tương đối lớn, nằm trên diện tích của tỉnh là Hòa Bình – Ninh Bình và Thanh Hóa với những giá trị về đa dạng sinh học điển hình, có nguồn tài nguyên DLST phong phú; VQG Cúc Phương đã có nghiên cứu

và bắt đầu kinh doanh du lịch dựa vào tài nguyên VQG rất sớm; Số lượng khách du lịch đến VQG tương đối đông; VQG Cúc Phương nằm ở miền bắc nên thuận lợi và phù hợp với điều kiện nghiên cứu

Từ thực tế nói trên, việc nghiên cứu đề tài “Giải pháp quản lý và khai thác

du lịch sinh thái ở các Vườn quốc gia Việt Nam theo hướng phát triển bền vững (nghiên cứu điểm VQG Cúc Phương)” là cần thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án

Góp phần phát triển cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và quản lý DLST Nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý và khai thác du lịch sinh thái tại VQG Cúc Phương nhằm đề xuất các giải pháp quản lý và các phương án khai thác DLST ở VQG Cúc Phương và các VQG Việt Nam theo hướng phát triển bền vững

Trang 4

4

3 Nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu

3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trên cơ sở hệ thống hóa để góp phần phát triển cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý và khai thác du lịch sinh thái ở các VQG

- Xác định được mối quan hệ giữa phát triển du lịch sinh thái và phát triển bền vững cho các VQG,

- Đánh giá được thực trạng cơ chế và mô hình quản lý các VQG ở Việt Nam,

- Đánh giá được hiện trạng quản lý và khai thác DLST tại VQG Cúc Phương

- Đề xuất được các giải pháp quản lý và các phương án khai thác DLST tại VQG Cúc Phương và các VQG ở VN định hướng giai đoạn 2010 – 2020

3.2 Câu hỏi nghiên cứu

Để làm rõ mục tiêu của luận án thì câu hỏi nghiên cứu cần được trả lời là:

1 Giải pháp quản lý nào cho phép phát triển du lịch sinh thái theo hướng bền vững tại các VQG của Việt Nam?

Để phát triển du lịch bền vững đòi hỏi cần có sự tham gia của các bên liên quan trong việc quản lý và khai thác tài nguyên DLST do vậy để trả lời câu hỏi này, những vấn đề sau đây cần được tìm hiểu và nghiên cứu:

1.a Những yếu tố nào thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào sự phát triển DLST tại các VQG?

1.b Những yếu tố nào cản trở sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào sự phát triển DLST tại các VQG?

1.c Những yếu tố nào thúc đẩy sự tham gia của các doanh nghiệp du lịch vào

Trang 5

5

2.a Các VQG ở Việt Nam hiện nay nên có sứ mệnh và tầm nhìn như thế nào? Để thực hiện sứ mệnh và tầm nhìn đó thì việc quản lý nhà nước nên được tổ chức thế nào?

2.b Hoạt động du lịch tại VQG như thế nào?

2.c Thị trường khách du lịch của các VQG là ở đâu? Đối tượng khách du lịch chính của các VQG là ai?

2.d Các tác động của khách du lịch đến phát triển bền vững của các VQG như thế nào?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Du lịch và phát triển bền vững, du lịch sinh thái

- Công tác quản lý các VQG hiện tại ở Việt Nam nói chung và VQG Cúc Phương nói riêng

- Hoạt động khai thác du lịch sinh thái ở VQG Cúc Phương

5 Tổng quan nghiên cứu và những đóng góp mới của luận án

5.1 Tổng quan nghiên cứu

Trong thời gian thực hiện, luận án đã tiếp cận và tổng hợp các tài liệu, các công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả trong và ngoài nước Một số tác giả và công trình nghiên cứu cụ thể là:

5.1.1 Những nghiên cứu ngoài nước

Yi-fong, Chen (2012)[66] trong “Du lịch sinh thái bản địa và phát triển xã hội ở vườn quốc gia Taroko và cộng đồng người San-Chan, Đài Loan” đã tìm hiểu

tác động về mặt văn hóa xã hội của hoạt động du lịch mới được xây dựng tới bảo tồn văn hóa, xã hội và sinh thái Tác giả đã kết luận rằng các nhóm khác nhau sẽ

Trang 6

6

hưởng lợi hoặc chịu tác động khác nhau từ việc phát triển DLST Phát triển du lịch

ở VQG có thể sẽ làm trầm trọng hóa tính bất bình đẳng và khác biệt giữa các nhóm trong cộng đồng Do vậy, để xây dựng một dự án du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng cần thiết phải có hiểu biết sâu sắc về không chỉ mối quan hệ giữa cộng đồng địa phương và môi trường mà cả những vấn đề chính trị, kinh tế và văn hóa tồn tại giữa các cộng đồng, cũng như giữa cộng đồng và ban quản lý VQG

Yacob và đồng sự (2011)[65] khi tìm hiểu về “Nhận thức và quan niệm của khách du lịch về phát triển du lịch sinh thái ở vườn quốc gia Redang Island Marine, Malaysia” đã phỏng vấn 29 đối tượng, phân tích thông tin cơ bản của khách du

lịch tới VQG, nhận thức và quan niệm của khách du lịch về quản lý tài nguyên du lịch, bảo tồn tài nguyên du lịch sinh thái và quan niệm của khách du lịch về tăng doanh thu cho VQG từ hoạt động du lịch Nghiên cứu kết luận rằng quan điểm và nhận thức của khách du lịch về các vấn đề môi trường có thể được giải quyết trên

cơ sở công tác lập kế hoạch và quản lý, do đó cách tiếp cận quản lý có thể sẽ thành công nếu như có cơ hội đối thoại và trao đổi giữa nhà quản lý và các bên liên quan Tuy nhiên, quá trình quản lý, phát triển và lập kế hoạch du lịch sinh thái hiệu quả phải là một quá trình có đề cập đến hoạt động dựa vào thiên nhiên, kết hợp với giáo dục môi trường và duy trì sự bền vững sinh thái, những lợi ích đối với cộng đồng địa phương và tạo ra sự hài lòng của du khách Nghiên cứu cung cấp những đề xuất

có giá trị cho quản lý tài nguyên du lịch sinh thái ở VQG Do vậy, nghiên cứu có khả năng hỗ trợ việc quản lý VQG nhằm cải thiện công tác quản lý tài nguyên du lịch sinh thái và phát triển kế hoạch phát triển du lịch sinh thái

Bhuiyan và đồng sự (2011) [49], trong nghiên cứu “Vai trò của chính phủ trong phát triển du lịch sinh thái: Nghiên cứu điểm ở khu vực kinh tế duyên hải” đã

khẳng định sự can thiệp của Chính phủ là rất cần thiết đối với các quốc gia đang phát triển trong việc lập kế hoạch và xúc tiến hoạt động du lịch sinh thái Cụ thể, ở alaysia, sự can thiệp chủ yếu của Chính phủ trong lĩnh vực phát triển du lịch sinh thái là phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái, thúc đẩy khả năng tiếp cận du lịch, đào tạo, xúc tiến du lịch, phát triển du lịch bền vững… Nghiên cứu cũng đề xuất

Trang 7

7

Chính phủ nên xây dựng một kế hoạch hành động du lịch sinh thái, xây dựng năng lực thể chế, đầu tư cho các dự án du lịch sinh thái ở các khu rừng đặc dụng, phát triển nguồn nhân lực … Đặc biệt, Chính phủ nên đảm bảo lợi ích kinh tế, xã hội, văn hóa và sinh thái của cộng đồng địa phương thông qua việc tham gia phát triển DLST

Hill (2011) [54] trong nghiên cứu “Du lịch sinh thái ở khu vực Amazon Peru:

sự kết hợp giữa du lịch, bảo tồn và phát triển cộng đồng” đã đề xuất một số nguyên

tắc chủ yếu nhằm đạt được thành công trong quá trình phát triển du lịch sinh thái ở khu vực rừng nhiệt đới Cụ thể, những nguyên tắc đó là nâng cao năng lực cộng đồng thông qua việc tạo điều kiện cho họ tham gia vào hoạt động du lịch sinh thái, trao đổi nhận thức giữa cộng đồng và người điều hành tour du lịch, đồng quản lý tài nguyên rừng, kết hợp đào tạo và du lịch, giảm thiểu ảnh hưởng của hoạt động du lịch tới môi trường và hệ sinh thái Nghiên cứu này nhấn mạnh mối quan hệ giữa du lịch sinh thái, bảo tồn hệ sinh thái và phát triển cộng đồng địa phương

Apostu & Gheres, (2009) [48] nghiên cứu về “Một số đề xuất về tổ chức và phát triển du lịch sinh thái đối với rừng đặc dụng ở Romania” đã phân tích thực

trạng hoạt động DLST ở Romania và cho thấy những thiếu sót có thể chia thành hai nhóm, thiếu sót trong nội bộ ngành du lịch và thiếu sót trong việc quản lý các khu rừng đặc dụng Đối với nội bộ ngành, vấn đề nảy sinh từ sự thất bại trong chương trình quảng bá cho môi trường sinh thái ở tất cả các cấp quản lý, đặc biệt là không

có chương trình phổ biến thông tin cho cộng đồng ở những khu vực có tiềm năng lớn về DLST Ở các khu rừng đặc dụng, một loạt vấn đề nảy sinh nhưng không bắt nguồn từ việc không thể thực hiện được hình thức du lịch này mà nảy sinh từ thực

tế thiếu một cơ chế quản lý hợp lý môi trường tự nhiên có giá trị độc đáo và quan trọng đối với việc duy trì cân bằng sinh thái và bảo vệ đa dạng sinh học

Trong nghiên cứu “Tiềm năng du lịch sinh thái và quản lý du lịch sinh thái ở

hạ lưu sông Kavak (Tây Đông Thổ Nhĩ Kỳ)”, Özcan và đồng sự (2009) [61] nhận

thấy rằng cần phải thực hiện một hệ thống các giải pháp để có thể phát huy tối đa tiềm năng du lịch sinh thái Các giải pháp đó bao gồm xây dựng cơ sở hạ tầng phục

Trang 8

8

vụ du lịch sinh thái đáp ứng nhu cầu của du khách, thực hiện các biện pháp ngăn ngừa tác động tiêu cực của hoạt động du lịch sinh thái tới bảo tồn chim hoang dã, đồng thời đặt những biển quảng bá thông tin về tính đặc hữu của loài chim trong khu bảo tồn Bên cạnh đó, dù có tiềm năng du lịch sinh thái rất lớn nhưng khu vực nghiên cứu cũng chịu sự ảnh hưởng của các hoạt động của người dân sống lân cận như canh tác nông nghiệp, chăn nuôi gia súc và săn bắn Chính vì vậy, những hoạt động nông nghiệp có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới việc phát triển du lịch sinh thái cần phải được loại bỏ

Samdin (2013)[63] và đồng sự trong nghiên cứu “Sự bền vững của tài nguyên du lịch sinh thái ở vườn quốc gia Taman Negara: Phương pháp định giá ngẫu nhiên (Contingent valuation)” đã đánh giá được giá trị kinh tế của tài nguyên

du lịch sinh thái ở vườn quốc gia Taman Negara Nghiên cứu cũng đã đưa ra được khung mức bằng lòng chi trả cho dịch vụ du lịch sinh thái ở vườn quốc gia và kết luận rằng du khách bằng lòng chi trả mức phí vào cửa cao hơn so với mức phí hiện hành

Chase và đồng sự (1998) [53] cũng áp dụng phương pháp tương tự trong

nghiên cứu “Cầu về du lịch sinh thái và nguyên tắc phân biệt giá trong thu phí vào cổng vườn quốc gia ở Costa Rica” Tuy nhiên, Chase và đồng sự không chỉ đề xuất

khung mức bằng lòng chi trả mà còn xây dựng được hàm cầu về du lịch sinh thái đối với vườn quốc gia và đánh giá được độ co giãn của cầu theo thu nhập Trên cơ

sở đó, nghiên cứu tính toán mức phí nhằm tối đa hóa doanh thu và phân tích ứng dụng của nguyên tắc phân biệt giá đối với quản lý du lịch sinh thái trong vườn quốc gia Tác giả cũng kết luận mức phí vào cổng hiện hành không phản ánh chính xác mức bằng lòng chi trả của du khách

Như vậy, có thể thấy việc nghiên cứu về DLST và DLST ở các VQG của các tác giả ở ngoài nước cho thấy việc quản lý và khai thác du lịch sinh thái cần phải được tổ chức quản lý thống nhất và tài nguyên du lịch tại các VQG là một tài nguyên rất có giá trị và cần được khai thác hiệu quả

Trang 9

9

5.1.2 Những nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam DLST cũng được sự quan tâm, chú ý từ những năm 90s của thế

kỷ 20 Các công trình nghiên cứu về DLST cũng từ đó được thực hiện Cụ thể như:

- Những giải pháp phát triển du lịch sinh thái Việt Nam trong xu thế hội nhập, (2006), Nguyễn Thị Tú [31] Tác giả đã phân tích khá chi tiết điều kiện phát

triển du lịch sinh thái và xu thế phát triển du lịch sinh thái Việt Nam trong xu thế hội nhập Tuy nhiên tác giả chưa làm rõ được tiềm năng DLST tại các VQG cũng như việc quản lý và khai thác tiềm năng du lịch này

- Du lịch sinh thái - thực trạng và giải pháp để phát triển ở Việt Nam của tác

giả Nguyễn Đình Hòa (2006) [17], Tác giả đã phân tích điều kiện và giải pháp phát triển du lịch sinh thái của Việt Nam nhưng trong nghiên cứu này tác giả cũng chưa làm nổi bật được hoạt động này của Việt Nam

- Hoạt động du lịch sinh thái tại Việt Nam thực trạng và định hướng phát triển, (2005), các tác giả Hoàng Hoa Quân, Ngô Hải Dương [29] đã làm rõ thực

trạng hoạt động du lịch sinh thái tại Việt Nam Tuy nhiên tác giả chưa đề cập nhiều đến mối quan hệ giữa phát triển du lịch với phát triển bền vững

- Phát triển du lịch theo hướng du lịch sinh thái, (2004) [28], tác giả Đức

Phan đã phân tích được xu hướng phát triển du lịch và đã kết luận trong tương lai

du lịch hướng tới thiên nhiên, du lịch sinh thái là loại hình du lịch phổ biến trên thế giới và Việt Nam cần đón đầu được xu hướng này để phát triển ngành dịch vụ du lịch sao cho có hiệu quả

Hội nghị quốc tế về du lịch bền vững ở Việt Nam do Tổng cục du lịch Việt Nam kết hợp với tổ chức Hanns Seidel tổ chức tại Huế ( /1997); Hội thảo “ Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST tại Việt Nam” diễn ra tháng 9/1999

được tổ chức với sự phối hợp của Tổng cục Du lịch Việt Nam, UICN, ESCAP và sự tài trợ của tổ chức SIDA[19], tại hội thảo này đã có rất nhiều tham luận được đưa ra

về những kinh nghiệm và thực tế phát triển DLST ở nhiều nơi như: Một số kết quả

về đề tài nghiên cứu cơ sở khoa học phát triển DLST ở Việt Nam, kết quả bước đầu

Trang 10

10

nghiên cứu DLST ở Việt Nam…, các kết quả nghiên cứu tại hội thảo đã là những cơ

sở bổ ích cho phát triển DLST ở Việt Nam;

Các công trình nghiên cứu trên đã làm rõ được các nội dung cơ bản của DLST, vai trò của DLST đối với phát triển bền vững và thực trạng phát triển DLST của Việt Nam Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về du lịch sinh thái ở Việt Nam còn quá ít

Về nghiên cứu hoạt động DLST ở các VQG cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu, cụ thể như:

- Xây dựng chiến lược kinh doanh sản phẩm DLST tại VQG Ba Vì của tác giả

Nguyễn Văn Hợp (2007)[18] Tác giả đã phân tích được thực trạng kinh doanh sản phẩm DLST ở VQG Ba Vì từ đó đưa ra các chiến lược kinh doanh cho sản phẩm DLST ở đây Tuy nhiên, phương pháp tác giả sử dụng là phương pháp định tính

- Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch sinh thái bền vững ở vườn quốc gia Ba Vì và vùng đệm trong nền kinh tế thị trường của tác giả Nguyễn Đức

Hậu (2006) [16]: Công trình nghiên cứu này tác giả chủ yếu đề cập đến việc bảo tồn

đa dạng sinh học và mối quan hệ giữa bảo tồn đa dạng sinh học với phát triển DLST

- Đặc điểm của du lịch sinh thái và khả năng kinh doanh loại hình du lịch này tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam, tác giả Nguyễn

Văn ạnh (200 )[25] đã phân tích khía cạnh khai thác tiềm năng du lịch tại các VQG để phát triển du lịch sinh thái Tác giả đã làm rõ được tiềm năng du lịch tại VQG phù hợp với tính chất và đặc điểm du lịch sinh thái tuy nhiên cụ thể hóa cần khai thác tiềm năng du lịch này như thế nào

- Phát triển sản phẩm DLST tại Ninh Bình, của tác giả Nguyễn Văn ạnh

(2005)[24] Tác giả đã làm rõ được sản phẩm DLST, các yếu tố cấu thành sản phẩm DLST, tiềm năng và thực trạng phát triển các sản phẩm DLST ở Ninh Bình

- Một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái và bảo tồn vườn quốc gia Ba

Vì và vùng phụ cận của tác giả Vũ Đăng Khôi (2004)[20] Tác giả đã đưa ra được

Trang 11

Các công trình nghiên cứu về các VQG trên đây đã giải quyết được nhiều vấn đề Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chủ yếu là nghiên cứu về phát triển DLST ở các VQG Việc nghiên cứu xác định vai trò cũng như sứ mệnh và tầm nhìn cho các VQG để từ đó tìm ra giải pháp quản lý và phương án khai thác DLST tại các VQG chưa được đề cập rõ

4.2 Những đóng góp mới của luận án

4.2.1.Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận

- Từ lý luận về du lịch, du lịch sinh thái và phát triển du lịch bền vững, luận

án tập trung làm rõ về phát triển du lịch sinh thái theo quan điểm phát triển bền vững Cụ thể: Du lịch sinh thái theo quan điểm phát triển bền vững là du lịch sinh thái có quan hệ mật thiết với cộng đồng dân cư địa phương và phải được quản lý khai thác theo một công nghệ mới đó là công nghệ giảm thiểu tác động của du lịch đến môi trường và những công nghệ phát triển du lịch thỏa mãn những nhu cầu của

du khách Những công nghệ mới thường hướng vào thiết lập các tuyến du lịch, xây dựng đường sá, nhà cửa, bãi cắm trại, hướng dẫn du lịch, … Các công nghệ mới sẽ

là những công nghệ thân thiện với môi trường và thỏa mãn yêu cầu cao của hoạt động du lịch; vừa nâng cao được sức chịu tải du lịch, vừa tăng được nguồn kinh phí cho bảo tồn và phát triển ở địa phương

- Luận án vận dụng các đặc trưng của du lịch sinh thái và vai trò của các VQG để xác định sứ mệnh và tầm nhìn mới đối với các VQG, đó là: Tài nguyên ở các VQG phải được coi là một nguồn tài nguyên kép vừa là tài nguyên rừng – phục

Trang 12

12

vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học nhưng đồng thời cũng là một tài nguyên du lịch – tài nguyên du lịch sinh thái

4.2.2 Những phát hiện, đề xuất mới từ kết quả nghiên cứu

- Luận án làm rõ và xác định sứ mệnh, tầm nhìn cho các VQG Việt Nam và

từ đó đề xuất mô hình tổ chức quản lý nhà nước đối với các VQG nhằm tạo ra cơ chế quản lý đồng bộ, hiệu quả; tạo sự phối hợp thuận lợi, chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong việc quản lý tài nguyên rừng và khai thác nguồn tài nguyên du lịch sinh thái ở các VQG Với mô hình tổ chức quản lý nhà nước được đề xuất thì các VQG sẽ được quản lý tập trung tại cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp, hơn thế nữa do các VQG có sứ mệnh và tầm nhìn mới là ngoài chức năng là một tài nguyên rừng VQG còn là một tài nguyên du lịch đặc trưng do vậy việc quản lý khai thác VQG phải có sự tham gia của các cơ quan chức năng về du lịch

- Luận án xác định vai trò của Ban quản lý VQG trong việc quản lý và khai thác du lịch sinh thái theo hướng phát triển bền vững đồng thời đề xuất mô hình tổ chức quản lý cho các VQG ô hình tổ chức quản lý đảm bảo 2 mục tiêu đó là vừa thực hiện tốt nhiệm vụ công ích là bảo tồn đa dạng sinh học nhưng cũng phát huy hiệu quả việc kinh doanh du lịch sinh thái nhằm tạo nguồn thu để góp phần kinh phí cho nhiệm vụ bảo tồn, giảm sức ép đối với ngân sách nhà nước

- Đề xuất mô hình phát triển du lịch sinh thái bền vững cho các VQG nhằm tạo cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan trong việc tổ chức quản lý và khai thác tài nguyên du lịch ở VQG Các bên tham gia trong mô hình phát triển DLST bền vững tại các VQG bao gồm: Ban quản lý VQG, cộng đồng dân cư địa phương, các doanh nghiệp du lịch và khách du lịch

- Luận án cũng đề xuất xây dựng phương án khai thác du lịch sinh thái tại các VQG theo hướng phát triển bền vững vừa đảm bảo việc khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên nhưng không làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Các chính sách về thị trường, về sản phẩm cũng như các chính sách về xúc tiến, quảng bá để đưa các thông tin về VQG đối với du khách và giúp du khách lựa chọn được những chương trình DLST đích thực tại VQG

Trang 13

13

- Luận án sử dụng phương pháp ước lượng mức sẵn lòng chi trả cho mỗi lần tham quan để làm cơ sở xác định giá vé vào cửa cho các VQG

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần đặt vấn đề và kết luận luận án gồm 4 chương, cụ thể:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý, khai thác du lịch sinh thái ở các vườn quốc gia theo hướng phát triển bền vững

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương : Hoạt động quản lý và khai thác du lịch sinh thái hiện nay ở các vườn quốc gia Việt Nam và vườn quốc gia Cúc Phương

Chương 4: Giải pháp quản lý và khai thác du lịch sinh thái ở các vườn quốc gia Việt Nam và vườn quốc gia Cúc Phương theo hướng phát triển bền vững

Trang 14

14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ QUẢN LÝ, KHAI THÁC

DU LỊCH SINH THÁI Ở CÁC VƯỜN QUỐC GIA THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

1.1 Lý luận cơ bản về du lịch và phát triển du lịch bền vững

1.1.1 Lý luận cơ bản về du lịch

1.1.1.1 Khái niệm du lịch

Du lịch hiện nay được coi là ngành công nghiệp không khói, đem lại nguồn thu lớn cho các quốc gia do đó đã được nghiên cứu và đề cập đến rất nhiều Tuy nhiên, hiện nay nội dung về du lịch vẫn chưa được thống nhất cả trong nước và ngoài nước Sau đây là một số khái niệm về du lịch:

- “Du lịch là một tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch…Du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là các công cụ làm thỏa mãn nhu cầu của họ.” [14, tr17]

- “ Du lịch là hoạt động của con người tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm.” [14,tr 19]

- “ Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu đi lại, lưu trú, ăn uống… và các nhu cầu khác của khách du lịch Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích chính trị, kinh tế - xã hội thiết thực cho nước làm

du lịch và cho bản thân doanh nghiệp.”[14,tr 20]

- “ Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” – Luật du lịch Việt Nam năm 200 [40]

Trang 15

15

Từ những định nghĩa trên cho thấy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, liên quan đến nhiều thành phần như khách du lịch, phương tiện giao thông, và các hoạt động kinh tế xã hội khác nhằm đem lại các lợi ích về kinh tế, chính trị, xã hội cho các quốc gia Tuy nhiên tác động của hoạt động du lịch đến lãnh thổ các quốc gia còn phụ thuộc vào các loại hình du lịch và các tài nguyên du lịch của mỗi quốc gia

1.1.1.2 Điều kiện phát triển du lịch

Sự phát triển du lịch đòi hỏi những điều kiện khách quan cần thiết nhất định Một số điều kiện chung bắt buộc phải có với tất cả các quốc gia muốn phát triển du lịch Đó là những điều kiện cần thiết để phát sinh ra nhu cầu đi du lịch và đảm bảo cho việc thực hiện thành công một chuyến đi như thời gian rỗi của nhân dân, mức sống về vật chất và trình độ văn hóa của người dân, điều kiện giao thông vận tải phát triển, không khí chính trị hòa bình

Ngoài những điều kiện chung thì mỗi vùng, mỗi quốc gia cần có những điều kiện mang tính đặc thù để phát triển các loại hình du lịch cho từng vùng và từng quốc gia nhất định Những điều kiện này ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh du lịch, cụ thể là:[14]

- Điều kiện về tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch là điều kiện cần thiết

để phát triển du lịch Tài nguyên du lịch là có hạn và có thể do thiên nhiên tạo ra hoặc có thể do con người tạo ra Tài nguyên du lịch được chia thành 2 loại đó là tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn

Tài nguyên thiên nhiên đó là các điều kiện về môi trường tự nhiên như: địa hình đa dạng, khí hậu ôn hòa; động, thực vật phong phú; vị trí địa lý thuận lợi…

Tài nguyên nhân văn là các giá trị văn hóa, lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho sự phát triển du lịch ở một vùng, một quốc gia

- Điều kiện về sự sẵn sàng phục vụ khách du lịch: Đây là các điều kiện

cần thiết để tổ chức khai thác các tài nguyên du lịch Các điều kiện về sự sẵn sàng phục vụ khách du lịch bao gồm:

Trang 16

du lịch; việc thiết lập các mối quan hệ kinh tế với bạn hàng…

Một số tình hình và sự kiện đặc biệt: Đây có thể nói là điều kiện đặc trưng để thu hút khách du lịch như: Các cuộc thi quốc tế, hội nghị, đại hội, các hội đàm trong nước và quốc tế…

Tuy nhiên, để tiến hành kinh doanh du lịch thì các điều kiện phát triển du lịch phải được thể hiện ở các điểm đến du lịch cụ thể

1.1.1 Xác định điểm đến du lịch

Điểm đến bao gồm các thành phần cơ bản mà chúng có khả năng thu hút khách và thỏa mãn nhu cầu của họ khi đến Những yếu tố cơ bản có thể được chia thành các điểm tham quan và các yếu tố về sự sẵn sàng đón tiếp và phục vụ khách

du lịch Việc cung cấp và chất lượng của những yếu tố này sẽ có ảnh hưởng trong quyết định của du khách khi họ quyết định thực hiện chuyến hành trình

Hình ảnh , Đặc trưng

Nguồn

Khả năng tiếp cận

Trang 17

17

Điểm đến hấp dẫn và kinh nghiệm cung cấp được hình thành bởi [67]:

Sức hấp dẫn: Đây thường là trọng tâm của sự chú ý của khách hàng và cung

cấp động lực ban đầu cho khách du lịch đến thăm các điểm đến Đây có thể được phân loại như tự nhiên (ví dụ như bãi biển, núi, công viên, thời tiết), xây dựng (ví

dụ như các tòa nhà mang tính biểu tượng như tháp Eiffel, di sản di tích, công trình tôn giáo, hội nghị và các cơ sở thể thao), hoặc văn hóa (ví dụ như bảo tàng, nhà hát, phòng trưng bày nghệ thuật, sự kiện văn hóa) Sức hấp dẫn có thể là trong lĩnh vực công cộng như công viên thiên nhiên, các khu văn hóa, lịch sử, có thể là điểm tham quan và các dịch vụ như văn hóa, di sản hoặc lối sống cộng đồng Các yếu tố ít hữu hình khác, chẳng hạn như tính độc đáo và gây nên cảm xúc hoặc kinh nghiệm cũng đang thu hút khách du lịch tới các điểm đến

Tiện nghi: Đây là hàng loạt các dịch vụ và tiện nghi hỗ trợ khách ở lại bao

gồm cơ sở hạ tầng cơ bản như điện nước, giao thông công cộng, đường giao thông cũng như các dịch vụ trực tiếp cho khách truy cập như nơi ăn nghỉ, thông tin du lịch, các cơ sở vui chơi, hướng dẫn, điều hành và phục vụ và cơ sở mua sắm

Khả năng tiếp cận: Khả năng tiếp cận phản ánh những điều kiện về giao

thông và các thủ tục liên quan đến di chuyển của du khách Yêu cầu thị thực, cảng vào, và điều kiện nhập cư…cần được xem xét như là một phần của khả năng tiếp cận của các điểm đến

Hình ảnh: Một nhân vật độc đáo hoặc hình ảnh là rất quan trọng trong việc

thu hút du khách đến điểm du lịch Phương tiện khác nhau có thể được sử dụng để quảng bá hình ảnh điểm đến (ví dụ như tiếp thị và xây dựng thương hiệu, phương tiện truyền thông du lịch, e-marketing) Hình ảnh của các điểm đến bao gồm tính độc đáo, điểm tham quan, hậu trường, chất lượng môi trường, mức độ an toàn, mức

độ dịch vụ, và sự thân thiện của người dân

Giá cả: Giá cả là một khía cạnh quan trọng của đối thủ cạnh tranh của điểm

đến với các điểm đến khác Yếu tố giá cả liên quan đến chi phí vận chuyển đến và

đi từ các điểm đến cũng như các chi phí trên nền tảng của dịch vụ lưu trú, điểm tham quan, thực phẩm và du lịch

Trang 18

18

Nguồn nhân lực: Lao động du lịch tương tác với cộng đồng địa phương là

một khía cạnh quan trọng của kinh nghiệm du lịch Một lực lượng lao động du lịch được đào tạo và cộng đồng địa phương được trang bị và nhận thức được quyền lợi

và trách nhiệm liên quan với sự phát triển du lịch là những yếu tố không thể thiếu của điểm đến du lịch và cần được quản lý phù hợp với chiến lược phát triển

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có định hướng tài nguyên rõ rệt (bao gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn) và sự phát triển của du lịch gắn liền với môi trường, do vậy phát triển du lịch cần thiết phải đảm bảo tính toàn vẹn của môi trường sinh thái, của các giá trị văn hóa trong khi tiến hành các hoạt động khai thác tài nguyên phục vụ phát triển du lịch, góp phần tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững

1.1.2 Lý luận cơ bản về phát triển du lịch bền vững

1.1.2.1 Khái niệm về phát triển du lịch bền vững

Cho đến nay, mặc dù có sự thống nhất về nhận thức, nhưng các quan điểm về phát triển du lịch bền vững vẫn chưa thống nhất Đã có nhiều khái niệm về du lịch bền vững được đưa ra, một số khái niệm đó là:

Tại Hội nghị về ôi trường và Phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro năm 1992, Tổ chức du lịch thế giới - UNWTO đã đưa ra một định nghĩa về

du lịch bền vững Theo đó thì du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản

lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm m của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học,

sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người [44]

Ở Việt Nam, khái niệm phát triển du lịch bền vững còn tương đối mới ặc

dù, các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh vực khác liên quan ở Việt Nam còn có những quan điểm chưa thật sự thống nhất về khái niệm phát triển

Trang 19

19

du lịch bền vững, tuy nhiên cho đến nay đa số các ý kiến đều cho rằng: Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tài nguyên tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch; có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn và đảm bảo sự đóng góp cho công tác bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, cho công tác bảo vệ môi trường để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai, và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương [44]

Như vậy Phát triển du lịch bền vững là phát triển các hoạt động du lịch với mục đích mang lại lợi ích kinh tế, tạo công ăn việc làm cho xã hội và cộng đồng; thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch trên cơ sở khai thác có kế hoạch các nguồn tài nguyên; đồng thời quan tâm đến việc đầu tư tôn tạo, bảo tồn và duy trì tính nguyên vẹn của các nguồn tài nguyên, đảm bảo môi trường trong sạch; phải gắn trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng trong việc khai thác và bảo vệ tài nguyên, môi trường

1.1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản về phát triển du lịch bền vững [2] [42] [44]

+ Khai thác, sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả các nguồn tài nguyên, giảm thiểu các chất thải ra môi trường

Nguồn tài nguyên không phải là vô tận, hơn nữa nhiều loại tài nguyên không

có khả năng phục hồi, hoặc phục hồi rất chậm Do vậy trong quá trình phát triển các ngành kinh tế nói chung và du lịch nói riêng, việc khai thác sử dụng một cách hợp

lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên là nguyên tắc quan trọng hàng đầu để đảm bảo cho quá trình phát triển bền vững Nếu các nguồn tài nguyên du lịch được khai thác một cách hợp lý, có kế hoạch bảo tồn và sử dụng bền vững thì sự tồn tại của các tài nguyên đó sẽ lâu dài, đáp ứng được nhu cầu phát triển của du lịch qua nhiều thế hệ Việc khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên du lịch cần dựa trên

cơ sở các nghiên cứu kiểm kê, đánh giá, quy hoạch sử dụng cho mục tiêu phát triển

cụ thể

Việc khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên, giảm thiểu chất thải ra môi trường để phát triển du lịch bền vững là đảm bảo cho việc bảo tồn những

Trang 20

20

gì mà các thế hệ hiện tại đang có cho các thế hệ mai sau Điều này có nghĩa là trong quá trình khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên để phát triển du lịch cần phải có các giải pháp nhằm ngăn chặn sự mất đi của tính đa dạng sinh học, sự suy giảm những chức năng thiết yếu của các hệ sinh thái có giá trị du lịch như các khu rừng nguyên sinh, các vùng đất ngập nước, các rạn san hô và khả năng bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc

+ Gắn liền với việc bảo tồn tính đa dạng sinh học, đa dạng tính nhân văn

Tính đa dạng sinh học, đa dạng về văn hóa - xã hội là những nhân tố quan trọng tạo nên tính hấp dẫn của du lịch, làm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách

du lịch, đồng thời tăng cường sự phong phú về sản phẩm du lịch Trên thực tế cho thấy, nơi nào có tính đa dạng cao về tự nhiên, văn hóa - xã hội, thì nơi đó sẽ có khả năng cạnh tranh cao về các sản phẩm du lịch và có sức hấp dẫn lớn, đảm bảo cho sự phát triển bền vững Chính vì vậy, việc bảo tồn và tăng cường tính đa dạng sinh học, đa dạng về văn hóa - xã hội là rất quan trọng cho sự phát triển bền vững và lâu dài của du lịch

+ Phù hợp với chiến lược phát triển tổng thể kinh tế - xã hội

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng cao Vì vậy mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển du lịch, trước hết phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nói chung và các quy hoạch chuyên ngành nói riêng Ngoài ra, đối với mỗi dự án, mỗi phương án phát triển cần phải đánh giá các tác động đến môi trường do hoạt động du lịch gây ra nhằm hạn chế các tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường Điều này sẽ góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững của du lịch trong mối quan hệ với các ngành kinh tế khác cũng như với việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường

+ Chia sẻ lợi ích và trách nhiệm với cộng đồng địa phương; khuyến khích

và tạo điều kiện cho họ tham gia vào các hoạt động du lịch

Trong quá trình phát triển nền kinh tế - xã hội nói chung và từng ngành kinh

tế nói riêng, việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên là điều tất yếu Trong quá trình phát triển du lịch, việc chia sẻ lợi ích và trách nhiệm với cộng đồng dân cư

Trang 21

21

địa phương là một nguyên tắc quan trọng đảm bảo cho sự phát triển bền vững lâu dài Việc chia sẻ lợi ích với cộng đồng dân cư địa phương được thể hiện thông qua những đóng góp từ nguồn thu của các hoạt động du lịch cho việc bảo tồn, tôn tạo nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường Việc khuyến khích và hỗ trợ cho cộng đồng dân cư địa phương tham gia vào các hoạt động du lịch một mặt giúp họ tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống, tăng khả năng hiểu biết , mặt khác làm tăng thêm ý thức trách nhiệm của họ đối với nguồn tài nguyên và môi trường du lịch; khuyến khích họ cùng ngành du lịch quan tâm đến việc nâng cao chất lượng của các sản

sẽ đem lại lợi ích về kinh tế cho ngành và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch, đồng thời góp phần quan trọng vào việc bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch

+ Nâng cao trách nhiệm trong hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch

Trong quá trình phát triển du lịch bền vững, khi đã chuẩn bị đầy đủ các yếu

tố để phục vụ khách du lịch, thì việc tuyên truyền, xúc tiến và quảng bá luôn là một hoạt động rất quan trọng Tiến trình xúc tiến, quảng bá này sẽ đảm bảo cho khả năng thu hút khách du lịch, tăng cường khả năng cạnh tranh của các sản phẩm du lịch Do vậy cần phải có một chiến lược về xúc tiến, quảng cáo và tiếp thị đối với du lịch bền vững

1.1.2 Các tiêu chí cơ bản về phát triển du lịch bền vững

Căn cứ vào những nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch bền vững, những đặc điểm của hoạt động du lịch, các tiêu chí cơ bản về phát triển du lịch bền vững cần được nghiên cứu và xem xét bao gồm [2][4 ][44]:

Trang 22

22

Các tiêu chí về kinh tế: Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo sự tăng

trưởng liên tục và ổn định lâu dài của các chỉ tiêu kinh tế du lịch (chỉ tiêu về khách, thu nhập du lịch, GDP, cơ sở vật chất k thuật, lao động ) Tuy nhiên, tùy thuộc vào trình độ phát triển và mức khởi điểm của các chỉ tiêu kinh tế ở mỗi nước, mỗi địa phương mà mức độ tăng trưởng sẽ cao, thấp khác nhau được lựa chọn để đánh giá tính bền vững

Các tiêu chí về tài nguyên - môi trường: Phát triển du lịch bền vững phải

khai thác và sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả các tiềm năng tài nguyên và điều kiện môi trường Việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên cho phát triển du lịch cần được quản lý và giám sát để một mặt đáp ứng được nhu cầu hiện tại, mặt khác phải đảm bảo cho nhu cầu phát triển du lịch trong tương lai Với mục tiêu này, trong quá trình phát triển, ngành du lịch cần phải có những đóng góp tích cực cho công tác tôn tạo nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường để giảm thiểu các tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên - môi trường

Các tiêu chí bền vững về tài nguyên – môi trường thường được thể hiện qua:

Số lượng các khu, điểm du lịch được đầu tư tôn tạo và bảo tồn; Số lượng các khu, điểm du lịch được quy hoạch; Áp lực lên môi trường tại các khu, điểm du lịch; Cường độ hoạt động tại các khu, điểm du lịch; ức độ đóng góp từ thu nhập du lịch cho công tác bảo tồn, phát triển tài nguyên và bảo vệ môi trường

Các tiêu chí về xã hội: Trong phát triển du lịch bền vững đòi hỏi ngành Du

lịch phải có những đóng góp cụ thể cho quá trình phát triển của toàn xã hội: Tạo công ăn việc làm cho người lao động; tham gia xóa đói giảm nghèo; nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ở những vùng sâu, vùng xa-nơi có tài nguyên du lịch; chia sẻ lợi ích từ các hoạt động du lịch, đảm bảo sự công bằng trong phát triển; góp phần hỗ trợ các ngành khác phát triển

1.2 Lý luận cơ bản về du lịch sinh thái

1.2.1 Khái niệm du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái (DLST) là một khái niệm tương đối mới và đã thu hút được

sự quan tâm của nhiều người, thuộc các lĩnh vực khác nhau Đây là một khái niệm

Trang 23

23

rộng, được hiểu từ nhiều góc độ khác nhau Đối với một số người “ Du lịch sinh thái ” được hiểu đơn giản là sự kết hợp của hai từ ghép “ Du lịch ” và “ Sinh thái ” Song đứng ở góc độ rộng hơn, tổng quát hơn thì một số người quan niệm DLST là

du lịch thiên nhiên, là khái niệm mà trong thực tế đã có từ đầu những năm 1 00 Với khái niệm này, mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như tắm biển, nghỉ núi… đều được hiểu là DLST.[23]

Theo tổ chức bảo tồn thực vật hoang dã ( World Wild Fund-WWF)

DLST đề cập tới các hoạt động du lịch đi tới những khu vực tự nhiên hoang

dã, gây tác động tối thiểu tới môi trường tự nhiên và cuộc sống của các loài động thực vật hoang dã trong khi mang lại một số lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương và những người địa phương phục vụ tại đó

Theo tổ chức du lịch thế giới (UNWTO)

DLST là loại hình du lịch được thực hiện tại những khu vực tự nhiên còn ít

bị can thiệp bởi con người, với mục đích chính là để chiêm ngưỡng, học hỏi về các loài động thực vật cư ngụ trong khu vực đó, giúp giảm thiểu và tránh được các tác động tiêu cực tới khu vực mà khách đến thăm Ngoài ra, DLST phải đóng góp vào công tác bảo tồn những khu vực tự nhiên và phát triển những khu vực cộng đồng lân cận một cách bền vững đồng thời phải nâng cao được khả năng nhận thức về môi trường và công tác bảo tồn đối với mỗi người dân địa phương và du khách đến thăm

Theo tổ chức DLST của Hoa Kỳ

DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm tới những khu vực tự nhiên Nó được sử dụng để bảo vệ môi trường, cải thiện phúc lợi xã hội và kinh tế cho người dân địa phương

Theo cơ quan quản lý du Lịch của chính phủ Thái Lan

DLST là loại hình có trách nhiệm diễn ra ở những nơi có những nguồn tài nguyên tự nhiên mang các đặc tính địa phương cũng như những nguồn tài nguyên mang tính lịch sử và văn hoá gắn với hệ sinh thái ở địa phương đó, với mục đích chính là hình thành nhận thức của các bên liên quan về sự cần thiết và các biện pháp

Trang 24

24

bảo tồn các hệ sinh thái, hướng vào việc lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa phương cũng như cung cấp những kinh nghiệm học hỏi trong quản lý môi trường và phát triển du lịch bền vững

Bảng 1.1 Tổng hợp một số khái niệm DLST

1 Điều kiện tài

nguyên

khu vực tự nhiên hoang dã,

khu vực tự nhiên còn ít bị can thiệp bởi con người

du lịch có trách nhiệm tới những khu vực tự nhiên

nguồn tài nguyên tự nhiên mang các đặc tính địa phương cũng như những nguồn tài nguyên mang tính lịch sử và văn hoá gắn với hệ sinh thái ở địa phương đó

2 Giáo dục

môi trường

nâng cao được khả năng nhận thức về môi trường và công tác bảo tồn đối với mỗi người dân địa phương

và du khách đến thăm

cung cấp những kinh nghiệm học hỏi trong quản

lý môi trường và phát triển

du lịch bền vững

Sự tham gia

của người dân

mang lại một số lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương

phát triển những khu vực cộng đồng lân cận một cách bền vững

cải thiện phúc lợi

xã hội và kinh tế cho người dân địa phương

hướng vào việc lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa phương

Nguồn: tổng hợp của tác giả

Mặc dù các khái niệm DLST có khác nhau về cách diễn đạt và ngôn từ thể hiện Nhưng trong các khái niệm về DLST đều có sự thống nhất cao về nội dung của du lịch sinh thái ở ba điểm:

Thứ nhất: Du lịch sinh thái phải được thực hiện trong môi trường tự nhiên

còn hoang sơ hay tương đối hoang sơ gắn với văn hoá bản địa

Thứ hai: Du lịch sinh thái có tính giáo dục môi trường cao và phải có trách

nhiệm với môi trường

Trang 25

25

Thứ ba: Du lịch sinh thái phải mang lợi ích kinh tế trực tiếp cho cư dân địa

phương và phải có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương

1.2.2 Những đặc trưng của du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái là loại hình du lịch đặc thù gắn liền với tài nguyên du lịch thiên nhiên và các yếu tố văn hóa, lịch sử bản địa DLST có những đặc trưng:[2 ]

- Dựa trên địa bàn hấp dẫn về tự nhiên và các yếu tố văn hoá bản địa

Đối tượng của DLST là những khu vực hấp dẫn về tự nhiên, và kể cả những nét văn hoá bản địa đặc sắc Đặc biệt, những khu tự nhiên còn tương đối nguyên sơ,

ít bị tác động lớn Chính vì vậy, hoạt động DLST thường diễn ra và thích hợp tại lãnh thổ các VQG và các khu tự nhiên có giá trị

- Đảm bảo bền vững về sinh thái, ủng hộ bảo tồn

Đây là một đặc trưng khác biệt nổi bật của DLST so với các loại du lịch khác

vì nó được phát triển trong môi trường có những hấp dẫn ưu thế về mặt tự nhiên Trong DLST hình thức, địa điểm và mức độ sử dụng cho các hoạt động du lịch phải được duy trì và quản lý cho sự bền vững của cả hệ sinh thái và bản thân ngành du lịch Điều này được thể hiện ở qui mô nhóm khách tham quan thường có số lượng nhỏ, yêu cầu sử dụng các phương tiện, dịch vụ về tiện nghi của du khách thường thấp hơn các yêu cầu về đảm bảo kinh nghiệm du lịch có chất lượng Các hoạt động trong DLST thường ít gây tác động đến môi trường và du khách sẵn sàng chi trả cho việc bảo vệ môi trường

- Có giáo dục môi trường

Đặc điểm giáo dục môi trường trong DLST là một yếu tố cơ bản phân biệt DLST với các loại hình du lịch khác Giáo dục và thuyết minh môi trường bằng các nguồn thông tin, truyền tải thông tin đến du khách thông qua tài liệu, hướng dẫn viên, các phương tiện trên điểm, tuyến tham quan là những hình thức quan trọng trong việc làm giàu kinh nghiệm du lịch, nâng cao nhận thức về môi trường và bảo tồn

Trang 26

26

Giáo dục môi trường trong DLST có tác dụng trong việc làm thay đổi thái độ của du khách, cộng đồng và chính ngành du lịch đối với giá trị bảo tồn, và sẽ góp phần tạo nên sự bền vững lâu dài của những khu tự nhiên

- Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia và hưởng lợi ích du lịch

DLST cải thiện đời sống, tăng thêm lợi ích cho cộng đồng địa phương trên

cơ sở cung cấp về kiến thức, những kinh nghiệm thực tế để đa số người dân có khả năng tham gia vào quản lý, vận hành dịch vụ DLST Đó cũng là cách để người dân

có thể trở thành những người bảo tồn tích cực

- Cung cấp các trải nghiệm du lịch với chất lượng cao cho du khách

Việc thoả mãn những mong muốn của du khách là nâng cao hiểu biết và những kinh nghiệm du lịch lý thú là sự tồn tại sống còn lâu dài của ngành DLST Vì vậy, các dịch vụ du lịch trong DLST tập trung nhiều vào việc đáp ứng những nhu cầu nhận thức và kinh nghiệm du lịch hơn là các dịch vụ cho nhu cầu tiện nghi Thoả mãn những nhu cầu này của khách DLST chỉ nên đứng sau công tác bảo tồn

và bảo vệ những gì mà họ tham quan

1.2.3 Du lịch sinh thái và phát triển bền vững

1.2.3.1 Quan hệ giữa du lịch sinh thái và phát triển bền vững

Du lịch sinh thái không những cần có các yêu cầu để tồn tại mà cần có những điều kiện để phát triển bền vững lâu dài Do vậy trong phát triển DLST cũng cần quan tâm đến quan điểm bền vững Quan điểm bền vững trong DLST thể hiện ở mối quan hệ giữa DLST với phát triển cộng đồng và công nghệ quản lý đối với DLST phải luôn hướng tới giảm thiểu tác động tối đa tới môi trương nhưng vẫn đáp ứng tối đa nhu cầu của du khách

ục tiêu của DLST là sử dụng các nguồn lực địa phương Qua đó, dân cư địa phương phát huy vai trò làm chủ cuộc sống của họ Vì vậy, các biện pháp khuyến khích sự tham gia của cộng đồng phải là quá trình từng bước và lâu dài, từ thu thập thông tin, tư vấn, quyết định, thực hiện và đánh giá

Cộng đồng có thể tham gia vào quản lý tài nguyên VQG như sự tham gia cử đại diện địa phương vào quy hoạch của khu bảo tồn thiên nhiên, tập huấn và tuyển

Trang 27

27

người địa phương vào làm nhân viên của khu BTTN, các chủ thầu, người hướng dẫn viên du lịch ặt khác yêu cầu các nhân viên của khu BTTN tham gia vào công việc của địa phương Sự hỗ trợ của VQG cho người dân địa phương về y tế, giáo dục và sản xuất cũng là biện pháp tốt để địa phương tích cực hơn trong bảo vệ tài nguyên VQG

Phát triển DLST là một phương thức khai thác các giá trị cảnh quan, giải trí, nhằm mang lại nguồn lực cho hoạt động bảo tồn và phát triển kinh tế xã hội ở địa phương Trong quá trình đó, DLST không thể không tác động đến môi trường Tuy nhiên, DLST sẽ không nguy hại đến môi trường và không mâu thuẫn với hoạt động bảo tồn nếu không tác động vượt quá khả năng tự phục hồi của các thành phần môi trường Giới hạn cho phép của phát triển du lịch ở VQG là ngưỡng mà nó không ảnh hưởng đáng kể tới các thành phần môi trường, không làm suy thoái các chức năng của VQG Đây là giới hạn chịu đựng của VQG với hoạt động DLST Phát triển du lịch bền vững là phát triển du lịch bằng những phương thức quản lý mới, những công nghệ mới

Công nghệ mới trong quản lý du lịch là công nghệ giảm thiểu tác động của

du lịch đến môi trường và những công nghệ phát triển du lịch thỏa mãn những nhu cầu của du khách Những công nghệ mới thường hướng vào thiết lập các tuyến du lịch, xây dựng đường xá, nhà cửa, bãi cắm trại, hướng dẫn du lịch, chăn nuôi động vật hoang dã, gây trồng cây thuốc, cây cảnh, sản xuất hàng lưu niệm, dịch vụ ẩm thực, giải trí Các công nghệ mới sẽ là những công nghệ thân thiện với môi trường

và thỏa mãn yêu cầu cao của hoạt động du lịch; vừa nâng cao được sức chịu tải du lịch của VQG, vừa tăng nguồn kinh phí cho bảo tồn và phát triển ở địa phương 1.2.3.2 Nguyên tắc của du lịch sinh thái bền vững

Du lịch sinh thái khi hướng đến mục tiêu bền vững cần thực hiện các nguyên tắc cơ bản sau đây:[2][42][59]

- Sử dụng và bảo vệ tài nguyên một cách bền vững: bao gồm tài nguyên

tự nhiên, tài nguyên nhân văn Cân đối hài hòa trong việc sử dụng một cách bền vững nguồn tài nguyên là nền tảng cơ bản nhất của việc phát triển DLST

Trang 28

28

- Bảo tồn tính đa dạng về tự nhiên, văn hóa,… vì DLST lấy bảo tồn là tiêu chí hàng đầu trong hoạt động, khai thác du lịch chỉ là hoạt động thứ yếu

- Thúc đẩy chương trình giáo dục và huấn luyện để cải thiện, quản lý di sản

và các loại tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả Tác động giảm thiểu mức tiêu thụ tài nguyên hiện có, giảm thiểu lượng chất thải một cách triệt để nhằm nâng cao chất lượng môi trường

- Trong quá trình khai thác hoạt động DLST, cần phối hợp mục tiêu hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương, góp phần tạo tính tương tác bền vững cho hoạt động DLST từ địa bàn sở tại

- Phối hợp lồng ghép hài hòa giữa chiến lược phát triển du lịch của địa phương, vùng và của quốc gia

- Tạo điều kiện thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương.Với sự tham gia tích cực của cộng đồng sở tại không chỉ đem lại lợi ích cho riêng cộng đồng, cho môi trường sinh thái mà còn góp phần tăng cường khả năng đáp ứng tính đa dạng sản phẩm của DLST

- Triển khai các hoạt động tư vấn các nhóm lợi ích và công chúng Tư vấn giữa công nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương, các tổ chức và cơ quan nhằm đảm bảo cho sự hợp tác lâu dài cũng như giải quyết các xung đột có thể nảy sinh

- Marketing du lịch một cách trung thực và có trách nhiệm Phải cung cấp cho du khách những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm nhằm nâng cao sự tôn trọng của du khách đến môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa khu du lịch, qua

đó góp phần thỏa mãn nhu cầu của du khách

- Tổ chức đào tạo c á n b ộ quản lý, chuyên nghiệp hóa các nhân viên phục vụ trong họat động kinh doanh du lịch nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ

1.3 Những vấn đề cơ bản về quản lý và khai thác du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia

1.3.1 ối quan hệ giữa du lịch sinh thái và các vườn quốc gia

1.3.1.1 Khái niệm vườn quốc gia

Đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về VQG của các nhà nghiên cứu và

Trang 29

29

quản lý VQG Có thể khái quát một số khái niệm như sau:

Theo Hiệp hội bảo vệ thiên nhiên thế giới [60]

VQG là một lãnh thổ tương đối rộng trên đất liền hay trên biển mà:

- Ở đó có một hay vài hệ sinh thái không bị thay đổi lớn do sự khai thác hoặc chiếm lĩnh của con người Các loài động - thực vật, các đặc điểm hình thái, địa mạo

và nơi cư trú của các loài, hoặc các cảnh quan thiên nhiên đẹp trong đó là mối quan tâm cho nghiên cứu khoa học, cho giáo dục và giải trí

- Ở đó có Ban quản lý thực hiện các biện pháp ngăn chặn hoặc loại bỏ càng nhanh càng tốt sự khai thác hoặc chiếm lĩnh và tăng cường sự tôn trọng những đặc trưng về sinh thái, hình thái học và cảnh quan

- Ở đó cho phép khách du lịch đến thăm, dưới những điều kiện đặc biệt, cho các mục đích nghiên cứu, giáo dục, văn hóa, giải trí và lòng ngưỡng mộ

Việc thiết lập các VQG và các khu bảo tồn nhằm vào ba mục tiêu chủ yếu là bảo tồn đa dạng sinh thái học và tính toàn vẹn lãnh thổ; phục vụ nghiên cứu khoa học và giáo dục; tạo môi trường du lịch Như vậy, VQG là những địa bàn khá phù hợp cho sự phát triển của DLST

Theo tiêu chí phân loại rừng đặc dụng của Việt Nam[39]

Theo Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và Quyết định số 62/200 /QĐ-BNN ngày 12 tháng 10 năm 200 của Bộ NN&PTNT về việc ban hành văn bản quy định tiêu chí phân loại rừng đặc dụng thì rừng đặc dụng của Việt Nam được chia làm các loại sau:

- Vườn quốc gia: là một khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc có hợp phần đất

ngập nước/biển, có diện tích đủ lớn để thực hiện mục đích bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện khỏi bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc bị đe dọa cho các thế hệ hôm nay và mai sau VQG là nền tảng cho các hoạt động tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí và các hoạt động DLST được kiểm soát và ít có tác động tiêu cực

- Khu dự trữ thiên nhiên: là một khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc có hợp

phần đất ngập nước/biển được thành lập để bảo tồn bền vững các hệ sinh thái chưa

Trang 30

30

hoặc ít bị biến đổi và có các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang bị đe doạ Khu BTTN cũng có thể bao gồm các đặc trưng độc đáo về tự nhiên hoặc văn hoá Khu BTTN được quản lý chủ yếu nhằm bảo vệ các hệ sinh thái và các loài, phục vụ nghiên cứu, giám sát môi trường, giải trí và GDMT

- Khu bảo tồn loài - sinh cảnh: là một khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc có

hợp phần đất ngập nước/biển, được quản lý bằng các biện pháp tích cực nhằm duy trì các nơi cư trú và đảm bảo sự sống còn lâu dài của các loài sinh vật đang nguy cấp Khu bảo tồn loài - sinh cảnh được quản lý chủ yếu để bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học

- Khu bảo vệ cảnh quan: gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam

thắng cảnh là khu vực trên đất liền hoặc có hợp phần đất ngập nước/biển có tác động qua lại giữa con người và thiên nhiên từ lâu đời nên đã tạo ra một khu vực có giá trị cao về thẩm m , sinh thái, văn hoá và lịch sử, đôi khi cũng có giá trị đa dạng sinh học cao Việc duy trì tính toàn vẹn của các mối tác động qua lại truyền thống này là điểm cốt lõi của công tác bảo vệ, duy trì và phát triển Khu bảo vệ cảnh quan Như vậy, theo Luật bảo vệ và phát triển rừng và theo các văn bản pháp luật hiện tại thì VQG ở Việt Nam hiện nay được coi là một loại rừng (rừng đặc dụng) và được quản lý và điều chỉnh theo các quy định về quản lý rừng

1.3.1.2 Khả năng hấp dẫn du lịch sinh thái của các vườn quốc gia

Các VQG và các khu cảnh quan tự nhiên hấp dẫn ngày càng được quan tâm trong việc sử dụng để đầu tư cho phát triển du lịch vì sự phong phú của tự nhiên, sự

đa dạng của hệ sinh thái và các cảnh quan đẹp Chúng được coi như là nền tảng cho

sự phát triển của DLST và mang lại lợi ích kinh tế và xã hội

Ngược lại, một trong những yếu tố kích thích việc thành lập các VQG chính

là tạo cơ hội cho mọi người tham quan, giải trí trong thiên nhiên Bởi vậy, trong nhiều quốc gia, khả năng hấp dẫn khách du lịch là một trong những động lực quan trọng trong việc thành lập các VQG và các khu bảo tồn

Các yếu tố khiến một VQG hoặc một khu tự nhiên trở thành hấp dẫn khách

du lịch rất đa dạng và bao gồm:[56]

Trang 31

31

- Khoảng cách đến sân bay quốc tế, nội địa hay một trung tâm du lịch lớn

- Khả năng đến khu vực tham quan, dễ hay khó?

- Các đặc điểm sinh thái tự nhiên: sự đa dạng các loài quý hiếm, điển hình, các loài đặc hữu, sự hấp dẫn và khả năng để quan sát chúng ( bằng cách nào, thường xuyên hay mang tính mùa), sự an toàn khi quan sát

- Các yếu tố hấp dẫn khác như: bãi biển, sông, hồ nước với các thiết bị giải trí; thác nước hoặc bể bơi; và các loại giải trí khác

- Các yếu tố văn hóa xã hội địa phương hấp dẫn khách

- ức độ bảo đảm các dịch vụ: ăn uống, nơi ở và các dịch vụ khác

- ức độ xa/gần các điểm du lịch lân cận, sự hấp dẫn của các điểm này đối với du khách, khả năng kết hợp tham quan

Thông thường, khách DLST mong muốn tìm đến những nơi có đặc điểm khác biệt, và có thể kết hợp với những hoạt động giải trí khác Vì vậy, một khu tự nhiên hay một VQG sẽ có nhiều khả năng hấp dẫn khách du lịch khi có nhiều các yếu tố trên kết hợp

Việc khai thác các tiềm năng du lịch của các VQG hay các khu tự nhiên còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Chẳng hạn, nhiều khách du lịch đã được tham quan những VQG với chất lượng cao hoặc đã được tiếp cận qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc qua các phim ảnh, sách báo thường có xu hướng không hài lòng với các khu có chất lượng thấp Song có thể làm tăng thêm sự hấp dẫn bằng việc bổ sung những điều mang tính tưởng tượng lý thú như: cầu treo, đường lát ván, chòi quan sát, trung tâm thông tin, hướng dẫn viên người bản địa, hoặc các hoạt động ẩn nấp để quan sát động vật

Như vậy, tiềm năng du lịch của một khu vực tự nhiên hay một VQG có thể bị

lu mờ hay được phát huy tùy thuộc vào khả năng khai thác của các nhà quy hoạch, điều hành du lịch trong việc phối hợp với các nhà quản lý các khu tự nhiên cũng như với cộng đồng địa phương Ngược lại, nếu phát triển du lịch thiếu sự giám sát, quản lý thận trọng, có thể nảy sinh những tác động tiêu cực đến môi trường của khu

tự nhiên và dẫn đến phá hủy chính nguồn tài nguyên mà du lịch phụ thuộc vào

Trang 32

Ở giai đoạn đầu, du lịch mới bắt đầu, mức độ sử dụng tài nguyên còn thấp, mối quan hệ thường ở dạng quan hệ cùng tồn tại, nghĩa là, cả du lịch và bảo tồn hầu như ít ảnh hưởng đến nhau Tuy nhiên, dạng quan hệ này rất khó duy trì lâu dài, đặc biệt khi du lịch phát triển hơn, mức độ sử dụng nguồn tài nguyên cao hơn và những tác động đến môi trường cũng rõ rệt hơn

Giai đoạn tiếp theo, nếu du lịch được quy hoạch, quản lý tốt, phát triển hòa hợp với bảo tồn tự nhiên, mang lại lợi ích cho cả hai thì mối quan hệ sẽ theo hướng tích cực – quan hệ cộng sinh Có mối quan hệ này, những giá trị của tự nhiên vẫn được bảo vệ, thậm chí ở điều kiện tốt hơn, trong khi vẫn đảm bảo chất lượng du lịch, đem lại lợi ích cho cả ngành du lịch và cho khu vực

Ngược lại, nếu du lịch phát triển quá mức, không quan tâm đến bảo tồn, mối quan hệ sẽ theo chiều hướng tiêu cực – quan hệ mâu thuẫn Thậm chí, ngay cả khi

có mối quan hệ cộng sinh, nếu không duy trì và quản lý tốt, vẫn có thể chuyển thành quan hệ mâu thuẫn

DLST được quy hoạch thận trọng và được quản lý trên cơ sở các nguyên tắc của mình sẽ tạo được mối quan hệ cộng sinh với môi trường Vì thế, việc nhận thức

Trang 33

33

và đánh giá được những lợi ích, những mất mát có thể nảy sinh là rất cần thiết trong quy hoạch, phát triển và quản lý du lịch ở các VQG

1 .1.4 Những lợi ích mà du lịch mang lại cho các vườn quốc gia

Du lịch có khả năng mang lại lợi ích về nhiều mặt cho một quốc gia hay mỗi lãnh thổ du lịch cụ thể Ở góc độ này, nó được coi là một công cụ cho sự phát triển, nhất là đối với các nước đang phát triển Những lợi ích từ du lịch đối với các VQG

đã được rất nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế quan tâm.[21]

Các lợi ích có thể được khái quát như sau

Tạo động lực quan trọng trong việc thiết lập và bảo vệ các VQG Nghĩa là lợi ích hai chiều được hình thành khi du lịch hoạt động trong các VQG: Các nguồn thu

từ du lịch, nếu được sử dụng hợp lý, có khả năng tạo ra một cơ chế tự hạch toán tài chính cho VQG, trong đó có cả việc duy trì, bảo tồn các giá trị của VQG, nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch Du lịch tạo cơ hội để du khách được tham quan, tiếp xúc và nâng cao hiểu biết về môi trường thiên nhiên, từ đó có thể làm thay đổi thái

độ của họ và ủng hộ tích cực trong việc bảo tồn tài nguyên môi trường

Những lợi ích thu từ du lịch ở các VQG hoặc các khu BTTN, nhất là những vùng đất có giá trị cho nông nghiệp, tạo cho các vùng đó trở nên có giá trị hơn, kích thích sự phát triển khu vực và vùng lân cận

Du lịch còn khuyến khích mở rộng những vùng đất giáp ranh, tạo điều kiện duy trì độ che phủ thực vật tự nhiên, tăng cường bảo vệ môi trường

Du lịch tạo điều kiện cải thiện đời sống của dân cư địa phương, từ đó giảm bớt sức ép lên môi trường của VQG

1 .1 Những tác động tiêu cực từ du lịch ở các vườn quốc gia

Ngày nay các VQG và khu BTTN phải đối mặt với áp lực do các hoạt động khai thác của cư dân địa phương và hoạt động quá tải của du lịch

Rất nhiều các khu vực tham quan của DLST bị lạm dụng nặng nề bởi sự phát triển quá tải Dòng khách du lịch đến các VQG quá mức đã gây ra nguy cơ suy thoái môi trường

Trang 34

34

Những tác động tiêu cực nảy sinh từ du lịch đối với việc bảo tồn tự nhiên và bảo vệ môi trường được đề cập, thảo luận rất nhiều cả về lý luận và thực tiễn Các tác động này liên quan đến tất cả các thành phần và dẫn đến hậu quả xấu đến hệ sinh thái nói chung

Du lịch tác động vào các khu tự nhiên được bảo vệ có thể phân ra làm hai loại: trực tiếp và gián tiếp Các tác động trực tiếp gây ra bởi sự có mặt của du khách, còn các tác động gián tiếp nảy sinh từ cơ sở hạ tầng, các cơ sở dịch vụ liên quan với các hoạt động du lịch Khái quát lại các tác động bao gồm:

Tác động lên thổ nhưỡng: các hoạt động đi bộ, tham quan trên các đường mòn, các khu vực cắm trại, các bãi đỗ xe,… làm tăng cường sự chặt đất, lở đất, xói mòn hoặc phá vỡ cấu tạo đất, ảnh hưởng đến môi trường và điều kiện sống của hệ sinh vật

Tác động vào nguồn tài nguyên nước: việc sử dụng tập trung của số đông du khách sẽ ảnh hưởng đế cả số lượng và chất lượng của nguồn nước Việc xử lý các chất thải không triệt để và hợp lý sẽ làm tăng thêm nguy cơ giảm chất lượng nguồn nước của khu du lịch và vùng lân cận

Tác động lên hệ thực vật: các hoạt động du lịch, giải trí có thể tạo những tác động lên tập hợp các loài thực vật như sự giẫm đạp, bẻ cành, hái hoa, thu lượm cây cảnh, sự đi lại cùng khí thải của các loại xe du lịch Các yêu cầu làm đường mòn, bãi đỗ xe, các công trình dịch vụ, bãi cắm trại, nhu cầu củi cho đốt lửa trại, nấu ăn cũng gây ảnh hưởng đến thảm thực vật, cháy rừng

Tác động lên hệ động vật: Các hoạt động thăm thú, tiếng ồn của khách, của

xe cộ, khiến các loài động vật hoảng sợ, dẫn đến thay đổi các diễn biến sinh hoạt, địa bàn cư trú, tập tục kiếm ăn, săn mồi của chúng

Ngoài ra, việc thải rác bừa bãi có thể gây ra sự nhiễm dịch bệnh cho động vật hoang dã, phổ biến các loài ngoại lai không thích hợp đối với hệ sinh thái Nhu cầu tiêu dùng xa xỉ các món ăn từ nguồn gốc động vật hoang dã của khách du lịch dẫn đến việc săn lùng, buôn bán chúng cũng là những tác động làm suy giảm số lượng

Trang 35

Những tác động trên sẽ gia tăng tỷ lệ thuận với những hoạt động liên quan đến du lịch và tỷ lệ nghịch với những hoạt động giám sát, quản lý du lịch

DLST là du lịch có mối quan hệ chặt chẽ với tự nhiên, và cũng không tránh khỏi những tác động đến môi trường Tuy nhiên, DLST có khả năng giảm thiểu những tác động tiêu cực, đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn, nếu được vận hành đảm bảo các nguyên tắc của nó

1.3.2 Hoạt động quản lý và khai thác du lịch sinh thái ở các vườn quốc gia

1 .2.1 Các bên tham gia trong quản lý vườn quốc gia

Hiện nay trong việc quản lý các VQG gồm có các cơ quan chức năng được giao nhiệm vụ quản lý rừng, chính quyền địa phương và các hộ gia đình sống trong rừng và gần rừng, cụ thể:

- Ban quản lý vườn quốc gia

Được khoán bảo vệ rừng theo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và quy định của Chính phủ; Được cho các

tổ chức kinh tế thuê cảnh quan để kinh doanh du lịch sinh thái môi trường theo dự

án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; Được tiến hành hoặc hợp tác với tổ chức, nhà khoa học trong việc nghiên cứu khoa học theo kế hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; Tổ chức thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình; Xây dựng và tổ chức thực hiện nội quy bảo vệ khu rừng; Lập và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt phương án quản lý, bảo vệ và phát triển rừng và thực hiện phương án đã

Trang 36

vệ rừng, khai thác rừng, sử dụng rừng, lưu thông, vận chuyển, kinh doanh lâm sản; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; Tuyên truyền, vận động nhân dân bảo vệ và phát triển rừng; phối hợp với UBND

xã, phường, thị trấn xây dựng và bồi dưỡng nghiệp vụ cho lực lượng quần chúng bảo vệ rừng; Tổ chức dự báo nguy cơ cháy rừng và tổ chức lực lượng chuyên ngành phòng cháy, chữa cháy rừng; Tổ chức việc bảo vệ các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ trọng điểm; Thực hiện việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ rừng và kiểm soát kinh doanh, buôn bán thực vật rừng, động vật rừng

- Cộng đồng dân cư và người dân địa phương

Cộng đồng địa phương là những người sống trên và xung quanh VQG Họ có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào các hoạt động quản lý và khai thác du lịch tại địa phương, nhưng họ hoàn toàn có trách nhiệm và quyền lợi đối với du lịch và hưởng lợi từ du lịch tại địa phương Trong mỗi khu vực, nơi có các cộng đồng dân

cư sinh sống, thì mọi hoạt động liên quan đến sự phát triển về kinh tế - xã hội của khu vực đều cần có sự tham gia của người dân Các hoạt động này hết sức đa dạng, trong đó có hoạt động quản lý tài nguyên thiên nhiên và nhân văn ục tiêu của sự phát triển cộng đồng nói chung và của một hoạt động nào đó nói riêng là nâng cao nhận thức cho người dân, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân

1 .2.2 Những hoạt động chủ yếu của vườn quốc gia

- Khai thác lâm sản trong khu bảo vệ cảnh quan và phân khu dịch vụ hành

Trang 37

37

chính của VQG và khu bảo tồn thiên nhiên: Việc khai thác lâm sản phải tuân theo

quy chế quản lý rừng, không được gây hại đến mục tiêu bảo tồn và cảnh quan của khu rừng và phải tuân theo các quy định

- Hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy, thực tập trong khu rừng đặc dụng: Ban quản lý khu rừng đặc dụng được tiến hành các hoạt động nghiên cứu

khoa học, dịch vụ nghiên cứu khoa học theo kế hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, báo cáo kết quả hoạt động lên cơ quan quản lý cấp trên

- Hoạt động kết hợp kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái - môi trường trong rừng đặc dụng

- Ổn định đời sống dân cư sống trong các khu rừng đặc dụng và vùng đệm của khu rừng đặc dụng

1 .2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý, khai thác DLST ở các VQG

Trong quá trình tổ chức quản lý và khai thác tiềm năng DLST ở các VQG có nhiều bên tham gia cũng như chịu tác động của nhiều nhân tố Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý và khai thác DLST ở các VQG có thể nhóm lại gồm các yếu tố sau:

Cơ chế quản lý và năng lực của cơ quan quản lý

Bất kỳ một tổ chức hay một lĩnh vực nào thì cũng rất cần phải có các cơ chế phù hợp Các cơ chế tổ chức liên quan đến quản lý và khai thác DLST ở các VQG thì cần được thể hiện dưới các dạng:

- Cơ chế phân loại và quy hoạch các VQG theo từng mục đích với các tiêu chí cụ thể

- Cơ chế hưởng lợi từ tài nguyên rừng cho các đối tượng tham gia

Nhóm liên quan đến công ty du lịch

Các công ty du lịch cũng có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý và khai thác DLST ở các VQG Chính các công ty du lịch là những người tập hợp, quảng bá

và thu hút khách cho các VQG Trong các chương trình du lịch của các công ty du lịch thì VQG và tài nguyên DLST của VQG là một trong những điểm đến quan trọng, đặc biệt trong xu thế du lịch hiện nay là hướng tới thiên nhiên Do vậy khi

Trang 38

38

xây dựng quy hoạch, xác định các tuyến điểm, xây dựng các quy định về khai thác

du lịch cần phải có sự tham vấn của các công ty du lịch

Doanh nghiệp du lịch là những đơn vị tổ chức các chương trình du lịch, các doanh nghiệp lữ hành, các cơ sở cung ứng dịch vụ du lịch, các hãng lữ hành, cá nhân, tập thể, Các nhà cung ứng dịch vụ du lịch là cơ sở kinh doanh cung cấp cho khách du lịch một phần hay toàn bộ sản phẩm du lịch, bao gồm:

- Cơ sở lưu trú và ăn uống;

Nhóm liên quan đến tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là nhân tố quyết định quan trọng đến phát triển du lịch Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của thiên nhiên nói chung, nó luôn gắn liền với khái niệm du lịch Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử,

di tích cách mạng, giá trị văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo sự hấp dẫn cho du khách

Trong phát triển DLST thì tài nguyên du lịch đóng vai trò quyết định Chỉ những nơi có nguồn tài nguyên phong phú với hệ sinh thái đa dạng thì sức hấp dẫn

và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao

Nhóm liên quan đến khách du lịch

Khách du lịch khi tới VQG không chỉ tham quan thắng cảnh thiên nhiên mà còn đến để thưởng thức không khí mát mẻ, sảng khoái sau các đợt làm việc căng thẳng hoặc trong các dịp lễ tết ột phần, họ muốn tìm hiểu về vai trò, ý nghĩa của

Trang 39

39

rừng, cây và các loài động vật, tầm quan trọng của công tác bảo tồn, từ đó có ý thức

và trách nhiệm hơn với các nguồn tài nguyên thiên nhiên Bên cạnh đó, khi có các hoạt động du lịch thì cơ sở hạ tầng, vật chất được cải thiện, nâng cấp và khách du lịch sẽ được hưởng phần nào những dịch vụ từ hoạt động du lịch đem lại

Các hoạt động DLST chính mà du khách thường sử dụng là tham quan các đường mòn thiên nhiên, chiêm ngưỡng các thắng cảnh kì thú của thiên nhiên, quan sát động vật hoang dã, tham gia vào các hoạt động giáo dục môi trường do vườn tổ chức, …

1.4 Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái và quản lý vườn quốc gia trên thế giới

1.4.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái

1.4.1.1 Du lịch sinh thái tại VQG Galápagos – Ecuador [56][72]

Quần đảo Galápagos của Ecuador, nằm ở Thái Bình Dương cách Đại lục Nam M khoảng 1.000 km với 19 đảo lớn, hơn 107 đảo nhỏ và các bờ đá và khu bảo tồn sinh vật biển được mệnh danh là một “ Bảo tàng sống và nơi trưng bày sự tiến hóa” độc đáo Các hòn đảo cấu tạo nên khu vực có diện tích đất .009 km2

trong đó 97% là phần của công viên quốc gia Galápagos; và thêm vào 1 000 km2

vùng biển được bảo vệ trong khu bảo tồn biển Bên cạnh việc phản ánh các giai đoạn hình thành và phát triển của lịch sử Trái Đất, quần đảo Galápagos còn phản ánh quá trình biến đổi quan trọng của hệ sinh thái và hệ sinh vật cũng như biến đổi môi trường sống tự nhiên để hình thành nên sự đa dạng sinh học trên trái đất

Năm 19 4 Chính phủ Ecuador thành lập Khu bảo tồn động vật hoang dã tự nhiên, năm 19 6 chính thức ngăn cấm việc săn bắn một số loài Vào năm 1959, sau một chiến dịch mạnh mẽ của một nhóm nhà khoa học có uy tín, VQG Galápagos được thành lập và qu Charles Darwin cho đảo Galápagos ra đời Năm 197 , UNESCO công nhận quần đảo VQG Galápagos là di sản thế giới, năm 19 được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển Năm 19 6, Khu bảo tồn nguồn lợi biển Galápagos được thành lập, và 1990 được công nhận là khu bảo tồn cá voi Tháng /199 , một bộ luật dành riêng cho Galápagos thành lập là cơ sở để hình thành nên

Trang 40

“Lina A” đến quần đảo năm 1969 và từ đó các hoạt động du lịch tăng lên liên tục

ặc dù có chưa tới hơn 000 khách năm 1970, số khách tăng lên đến hơn 66.000 năm 1999

Từ năm 197 , Ban Quản lý VQG Galápagos đã thiết lập con số tối đa 12.000 khách trên đảo mỗi năm Do nhu cầu tăng nên con số này đã tăng lên nhiều lần Hiện nay, không có giới hạn tổng số khách du lịch được tham quan đảo Galápagos thay vào đó là việc giới hạn công suất chứa khách dành cho từng điểm tham quan trên cạn, một công cụ chủ chốt để bảo tồn và quản lý hiệu quả ở các điểm Phương pháp để xác định công suất tải khách được áp dụng lần đầu tiên vào năm 19 4 và sau đó được cải tiến và áp dụng một phần vào năm 1991 Sức tải này được xác định sau khi nghiên cứu một số yếu tố, gồm: thời lượng, độ dài của chuyến du lịch, khu vực sẵn có, tính nhạy cảm với sự xói lở, số lượng khách trong nhóm, trầm tích và dạng thủy triều, và năng lực quản lý

Tiếp sau đó, rất nhiều biện pháp và quy định mới đã được áp dụng, nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả công tác bảo tồn tự nhiên, bảo vệ môi trường tại quần đảo như: xác lập hệ thống các tiêu chuẩn và quy định về quản lý, giám sát các điểm

du lịch; đào tạo, cấp giấy phép cho các hướng dẫn viên du lịch; yêu cầu các hướng dẫn viên đảm bảo trật tự, an toàn cho du khách, quản lý khách du lịch, tránh các ảnh hưởng xấu có thể xảy ra với tự nhiên và hệ sinh thái của Galapagos, cung cấp thông tin du lịch chi tiết về Galapagos; xây dựng hệ thống tổng hợp, xử lý thông tin bằng máy tính điện tử… ỗi khi tham quan tại các địa danh cụ thể của Galapagos, du khách phải có cam kết không xâm hại môi trường, hệ động, thực vật tại quần đảo và phải chịu sự giám sát của hướng dẫn viên đã qua đào tạo và được cấp chứng chỉ

Ngày đăng: 11/05/2016, 14:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tổng hợp một số khái niệm DLST - Tiểu luận các giải pháp quản lý khai thác du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia theo hướng phát triển bền vững
Bảng 1.1. Tổng hợp một số khái niệm DLST (Trang 24)
Hình 2.1. Mô hình nghiên cứu - Tiểu luận các giải pháp quản lý khai thác du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia theo hướng phát triển bền vững
Hình 2.1. Mô hình nghiên cứu (Trang 52)
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ quản lý các VQG trực thuộc Bộ NN&PTNT - Tiểu luận các giải pháp quản lý khai thác du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia theo hướng phát triển bền vững
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ quản lý các VQG trực thuộc Bộ NN&PTNT (Trang 68)
Sơ đồ 3.2: Sơ đồ ngành Lâm nghiệp cấp tỉnh - Tiểu luận các giải pháp quản lý khai thác du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia theo hướng phát triển bền vững
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ ngành Lâm nghiệp cấp tỉnh (Trang 69)
Sơ đồ 3.3: Sơ đồ quản lý của các VQG trực thuộc Bộ NN&PTNT - Tiểu luận các giải pháp quản lý khai thác du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia theo hướng phát triển bền vững
Sơ đồ 3.3 Sơ đồ quản lý của các VQG trực thuộc Bộ NN&PTNT (Trang 72)
Bảng 3.2: Cơ cấu các nguồn thu từ khách du lịch năm 2009 - Tiểu luận các giải pháp quản lý khai thác du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia theo hướng phát triển bền vững
Bảng 3.2 Cơ cấu các nguồn thu từ khách du lịch năm 2009 (Trang 74)
Sơ đồ  3.5: Cơ cấu tổ chức VQG Cúc Phương - Tiểu luận các giải pháp quản lý khai thác du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia theo hướng phát triển bền vững
3.5 Cơ cấu tổ chức VQG Cúc Phương (Trang 86)
Bảng 3.4: Trình độ lao động của VQG năm 2011 - Tiểu luận các giải pháp quản lý khai thác du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia theo hướng phát triển bền vững
Bảng 3.4 Trình độ lao động của VQG năm 2011 (Trang 88)
Bảng 3.7: Tổng hợp ý kiến người dân về ảnh hưởng của du lịch - Tiểu luận các giải pháp quản lý khai thác du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia theo hướng phát triển bền vững
Bảng 3.7 Tổng hợp ý kiến người dân về ảnh hưởng của du lịch (Trang 99)
Sơ đồ 4.1:   Cơ cấu đồng quản lý tài nguyên VQG - Tiểu luận các giải pháp quản lý khai thác du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia theo hướng phát triển bền vững
Sơ đồ 4.1 Cơ cấu đồng quản lý tài nguyên VQG (Trang 110)
Sơ đồ 4.2 là  ô hình tổ chức phát triển DLST bền vững được đề xuất. Để - Tiểu luận các giải pháp quản lý khai thác du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia theo hướng phát triển bền vững
Sơ đồ 4.2 là ô hình tổ chức phát triển DLST bền vững được đề xuất. Để (Trang 114)
Sơ đồ 4.3: Đề xuất mô hình tổ chức VQG – Phương án 1 - Tiểu luận các giải pháp quản lý khai thác du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia theo hướng phát triển bền vững
Sơ đồ 4.3 Đề xuất mô hình tổ chức VQG – Phương án 1 (Trang 118)
Sơ đồ 4.4: Đề xuất mô hình tổ chức VQG – phương án 2 - Tiểu luận các giải pháp quản lý khai thác du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia theo hướng phát triển bền vững
Sơ đồ 4.4 Đề xuất mô hình tổ chức VQG – phương án 2 (Trang 119)
Hình 4.1: Đường cầu mức WTP của du khách đến VQG Cúc Phương - Tiểu luận các giải pháp quản lý khai thác du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia theo hướng phát triển bền vững
Hình 4.1 Đường cầu mức WTP của du khách đến VQG Cúc Phương (Trang 122)
Bảng 4.1: Mức sẵn lòng trả thêm phí vào cửa VQG Cúc Phương - Tiểu luận các giải pháp quản lý khai thác du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia theo hướng phát triển bền vững
Bảng 4.1 Mức sẵn lòng trả thêm phí vào cửa VQG Cúc Phương (Trang 124)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w