Khái niệm và phân loại lạm phát: 1.1 Khái niệm - Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường, nó xuất hiện khi các yêu cầu của các quy luật kinh tế hàng hoá không được tô
Trang 1LỜI NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Không lúc nào như thời gian từ năm 2008 đến nay, vấn đề lạm phát thu hút rất nhiều sự quan tâm của nhiều nước khác nhau trên thế giới và một trong đó có Việt Nam của chúng ta Trong nền kinh tế thị trường hoạt động đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu được lợi nhuận cao và đứng vững trên thương trường, các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phải nhanh chóng để tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tế mới Riêng đối với nước ta, trong sự nghiệp phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước,
cơ chế mới sẽ là môi trường thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế theo xu hướng hiện đại, chắt lọc thừa kế những thành tựu và khắc phục những tồn tại đã qua Trong đó, lạm phát nổi lên như là một vấn đề hết sức nghiêm trọng Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi
sự đầu tư lớn về thời gian trí tuệ mới có thể mong muốn đạt được kết quả khả quan Chống lạm phát không chỉ là việc của các nhà doanh nghiệp mà còn là nhiệm vụ của chính phủ Lạm phát ảnh hưởng toàn bộ đến nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động ở nước ta hiện nay, chống lạm phát
để giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định, cân đối là một mục tiêu rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân
Trong thời gian gần đây, vấn đề lạm phát đã được nhiều người nghiên cứu
và đề xuất ra các phương án khác nhau Đã từ lâu tiền giấy xuất hiện và chẳng bao lâu sau đó diễn ra tình trạng giảm giá tiền và dẫn đến lạm phát Nét đặc trưng nổi bật của thực trạng nền kinh tế khi có lạm phát, giá cả của hầu hết các hàng hóa đều tăng cao và sức mua của đồng tiền ngày càng giảm nhanh
Xuất phát từ vấn đề nghiên cứu lạm phát là cần thiết, cấp bách, đặc biệt thấy được tầm quan trọng của lạm phát trong vấn đề phát triển kinh tế mỗi quốc gia, chúng em thiết nghĩ nghiên cứu đề tài: “Qua cơ sở lí luận về lạm phát, phân tích tình hình lạm phát và các biện pháp giải quyết lạm phát ở Việt Nam trong năm
Trang 32010” này cũng là một phương pháp để hiểu nó một cách thấu đáo hơn, sâu sắc hơn về tài chính tiền tệ.
Trang 4CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Khái niệm và phân loại lạm phát:
1.1 Khái niệm
- Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường, nó xuất hiện khi các yêu cầu của các quy luật kinh tế hàng hoá không được tôn trọng,nhất là quy luật lưu thông tiền tệ Ở đâu còn sản xuất hàng hoá , còn tồn tại những quan hệ hàng hoá tiền tệ thì ở đó còn ẩn náu khả năng lạm phát và lạm phát chỉ xuất hiện khi các quy luật của lưu thông tiền tệ bị vi phạm
- Trong bộ "Tư bản" nổi tiếng của mình C Mác viết: "Việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn ở số lượng vàng hoặc bạc thực sự lưu thông nhờ các đại diện tiền giấy của mình" Điều này có nghĩa là khi khối lượng tiền giấy do nhà nước phát hành vào lưu thông vượt quá số lượng vàng mà nó đại diện thì giá trị của tiền giấy giảm xuống và tình trạng lạm phát xuất hiện
- Một định nghĩa nữa về lạm phát do các nhà kinh tế học hiện đại đưa ra và nó được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường: "Lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian"
- Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số lạm phát Nó chính là GNP danh nghĩa/GNP thực tế Trong thực tế nó được thay thế bằng tỷ số giá tiêu dùng hoặc chỉ số giá bán buôn Ip = Σip.d
Ip: chỉ số giá cả của từng loại nhóm hàng
d: tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại hàng
Trang 5trạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lượng lớn Có thể nói lạm phát vừa phải tạo tâm lý an tâm cho người lao động chỉ trông chờ vào thu nhập Trong thời gian này các hãng kinh doanh có khoản thu nhập ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu tư cho sản xuất, kinh doanh.
1.2.2 Lạm phát phi mã
Lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số một năm Ở mức phi mã, lạm phát làm cho giá cả chung tăng lên nhanh chóng, gây biến động lớn về kinh tế, các hợp đồng được chỉ số hoá Lúc này người dân tích trữ hàng hoá, vàng bạc, bất động sản và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất bình thường Loại này khi đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng
1.2.3 Siêu lạm phát
Xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt xa lạm phát phi
mã, nó như một căn bệnh chết người, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng kinh khủng, giá
cả tăng nhanh không ổn định, tiền lương thực tế bị giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin không còn chính xác, các yếu tố thị trường biến dạng và hoạt động kinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn Tuy nhiên, siêu lạm phát rất ít khi xảy ra Lịch sử của lạm phát cũng chỉ ra rằng, lạm phát ở các nước đang phát triển thường diễn ra trong thời gian dài, vì vậy hiệu quả của nó phức tạp và trầm trọng hơn Vì vậy các nhà kinh tế đã chia lạm phát thành 3 loại.Lạm phát kinh niên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dướ 50% một năm; lạm phát nghiêm trọng thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên 50%; siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát trên 200% một năm
Xem xét các cuộc siêu lạm phát xảy ra người ta đã rút ra một nét chung là: thứ nhất tốc độ lưu thông của tiền tệ tăng lên ghê gớm; thứ hai giá cả tăng nhanh
và vô cùng không ở định; thứ ba tiền lương thực tế biến động rất lớn thường bị giảm mạnh; thứ tư cùng với sự mất giá của tiền tệ mọi người có tiền đều bị tước đoạt ai có tiền càng nhiều thì bị tước đoạt càng lớn; thứ năm hầu hết các yếu tố của
Trang 6thị trường đều bị biến dạng bóp méo hoặc bị thổi phồng do vậy các hoạt động kinh doanh rơi vào tình trạng rối loạn Siêu lạm phát thực sự là một tai hoạ, song điều may mắn siêu lạm phát là hiện tượng cực hiếm Nó đã xảy ra trong thời kỳ chiến tranh, sau chiến tranh.
Có thể có một cách phân loại lạm phát tuỳ theo tác động của chúng đối với nền kinh tế Nhà kinh tế học người Mỹ PaunA Samuelson đã phân biệt lạm phát cân bằng và có dự đoán trước với lạm phát không cân bằng và không được dự đoán trước Theo Samuelson trong trường hợp lạm phát cân bằng và có dự đoán trước, toàn bộ giá cả đều tăng và tăng với một chỉ số ổn định được dự báo, mọi thu nhập cũng tăng theo Chẳng hạn mức lạm phát là 10% và mọi người sẽ điều chỉnh hoạt động của mình theo thuớc do đó Nếu lãi suất thực tế là 6% một năm thì nay những người có tiền cho vay sẽ điều chỉnh mức lãi suất này lên tới 16% một năm Công nhân viên chức sẽ được tăng lương lên 10% một năm Vậy là một cuộc lạm phát cân bằng và có dự đoán trước đã không gây ra một tác hại nào đối với sản lượng thực tế, hiệu quả hoặc phân phối thu nhập.Trên thực tế hiếm có thể xảy ra một cuộc lạm phát như vậy, vì khi một khối lượng tiền tệ được ném thêm vào lưu thông, già cả mọi hàng hoá không vì thế mà tăng ngay, và nếu lạm phát chưa sang giai đoạn phi mẫ thí mức gia tăng mức đầu thường là thấp hơn mức tăng khồi lượng tiền tệ, do vậy nhà nước đã có lợi về thu nhập và ngay khi mức giá cả tăng lên ngang hoặc cao hơn mức tăng của khối lượng tiền tệ thì nhà nước vẫn có lợi vì giá trị tiền tệ của những người cho nhà nước vay tiền đã giảm đi Chỉ đến khi toàn
bộ giá cả kể cả lãi suất và tiền lương đều tăng theo mức lạm phát thu thu nhập của nhập của nhà nước mới cân bằng trên một mặt bằng giá cả mới Hơn nữa trong thực tế rất khó dự báo được một chỉ số lạm phát ổn định, vì có khá nhiều yếu tố làm giá cả tăng vọt như: giá dầu mỏ đã tăng trong những năm 70, hay trong sự kiện chiến tranh vùng vịnh
Trang 7Song có thể thấy một loại lạm phá vừa phải được điều tiết đã xuất hiện ở một
số nươc có nền kinh tế thị trường Loại lạm phát này có đặc trưng là mức độ lạm phát không lớn và ổn định, không tăng đột biến và nhà nước có thể điều tiết nó, tăng, giảm tuỳ theo các điều kiện cụ thể sao cho nó không gây ra các tác hại đáng
kể cho nền kinh tế Loại lạm phát này chỉ có thể xuất hiện ở những quốc gia mà ở
đó bộ máy nhà nước đủ mạnh để kiềm chế tốc độ lạm phát khi cần Sức mạnh cuả nhà thể hiện ở chỗ có đủ hiểu biết về lạm phát và các công cụ chống lạm phát( mà ngày nay đã có khá nhiều tài liệu nói đến), đồng thời phải có đủ ý chí và quyết tâm
sử dụng các công cụ đó và giải quyết các hậu quả của nó Trong những năm 80 ta
đã thấy không ít quốc gia TBCN phát triển ở phương Tây đã làm được điều đó Mức lạm phát mà họ duy trì được vào khoảng từ 3-6% một năm Mức lạm phát này được xem như một chỉ số cộng thêm vào mức tăng lương thực tế, lãi suất thực
tế mức tăng tổng sản phẩm xã hội thực tế
Paul A Samuelson còn nói tới một loại lạm phát không cân bằng và không
dự đoán trước Sự không cân bằng sảy ra là vì giá cả hàng hoá tăng không đều nhau và tăng vượt mức tiền lương Thứ hai, tiền tệ và thuế là hai công cụ quan trọng nhất để nhà nước điều tiết nền kinh tế đã bị vô hiệu hoá, vì tiền mất giá nên không ai tin vào đồng tiền nữa các biểu thuế không thể điều chỉnh kịp với mức độ tăng bất ngờ cua lạm phát và do vậy tác dụng đieu chỉnh của thuế bị hạn chế ngay
cả trong trường hợp nhà nước có thể “chỉ số hoá” luật thuế thích hợp mức lạm phát thì tác dụng điều chỉnh của thuế cũng bị hạn chế Thứ ba, phân phối lại thu nhập làm cho một số người nắm giữ các hàng hoá có giá cả tăng đột biến giầu lên một cách nhanh chóng và những người có các hàng hoá mà giá của chúng không tăng hoặc tăng chậm, và những người giữ tiền bị nghèo đi Thứ tư, kích thích tâm
lý đầu cơ tích trữ hàng hoá, bất động sản và vàng bạc gây ra tình trạng khan hiếm hàng hoá không bình thường và lãng phí Thứ năm, xuyên tạc, bóp méo các yếu tố của thi trường, làm cho các điều kiện của thị trường bị biến dạng hầu hết các thông tin kinh tế đều thể hiện trên giá cả hàng hoá, giá cả tiền tệ( lãi suất), giá
Trang 8cả lao động một khi những giá cẩ náy tăng hay giảm đột biến và liên tục thì những yếu tố của thị trường không thể tránh khỏi bị thổi phồng hoặc bóp méo
Do những tác hại nêu trên, loại lạm phát không cân bằng và không dự đoán trước
về cơ bản là có hại cho hoạt động của thi trường
2 Nguyên nhân lạm phát
2.1 Lạm phát theo thuyết tiền tệ
Kinh tế đi vào lạm phát, đồng tiền mất giá có nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát Chẳng hạn thời tiết không thuận, mất mùa, nông dân thu hoạch thấp, giá lương thực tăng lên Giá nguyên vật liệu tăng làm cho giá cả hàng tiêu dùng tăng lên Khi tiền lương tăng, chi phí sản xuất cũng tăng theo, dẫn đến giá các mặt hàng cũng tăng Tăng lương đẩy giá lên cao Tóm lại, lạm phát là hiện tượng tăng liên tục mức giá chung và có thể giải thích theo 3 cách
- Theo học thuyết tiền tệ, lạm phát là kết quả của việc tăng quá thừa mức cung tiền
- Theo học thuyết Keynes, lạm phát xẩy ra do thừa cầu về hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế (do cầu kéo)
- Theo học thuyết chi phí đẩy, lạm phát sinh ra do tăng chi phí sản xuất (chi phí đẩy)
Trên thực tế lạm phát là kết quả của tổng thể 3 nguyên nhân trên, mỗi nguyên nhân có vai trò khác nhau ở mỗi thời điểm khác nhau
Mức cung tiền là một biến số duy nhất trong đẳng thức tỷ lệ lạm phát, mà dựa vào
đó ngân hàng Trung ương đã tạo ra ảnh hưởng trực tiếp Trong việc chống lạm phát, các ngân hàng Trung ương luôn giảm sút việc cung tiền
Tăng cung tiền có thể đạt được bằng hai cách:
- Ngân hàng trung ương in nhiều tiền hơn (khi lãi suất thấp và điều kiện kinh doanh tốt)
- Các ngân hàng thương mại có thể tăng tín dụng
Trong cả hai trường hợp sẵn có lượng tiền nhiều hơn cho dân cư và chi phí Về mặt trung hạn và dài hạn, điều đó dẫn tới cầu về hàng hoá và dịch vụ tăng Nếu
Trang 9cung không tăng tương ứng với cầu, thì việc dư cầu sẽ được bù đắp bằng việc tăng giá Tuy nhiên, giá cả sẽ không tăng ngay nhưng nó sẽ tăng sau đó 2-3 năm In tiền
để trợ cấp cho chi tiêu công cộng sẽ dẫn đến lạm phát nghiêm trọng
Ví dụ:
Năm 1966 - 1967 chính phủ Mỹ đã sử dụng việc tăng tiền để trả cho những chi phí leo thang của cuộc chiến tranh tại Việt Nam, lạm phát tăng từ 3% (năm 1967) đến 6% (năm 1970)
Xét trong dài hạn lãi suất thực tế (i) và sản lượng thực tế (y) đạt mức cân bằng, nghĩa là (i) và (y) ổn định Mức cầu tiền thực tế không đổi nên M/P cũng không đổi Suy ra khi lượng tiền danh nghĩa (M) tăng lên thì giá cả sẽ tăng lên với tỷ lệ tương ứng Vậy lạm phát là một hiện tượng tiền tệ Đây là lý do tại sao ngân hàng Trung ương rất chú trọng đến nguyên nhân này
2.2 Lạm phát theo thuyết Keynes (lạm phát cầu kéo)
Tăng cung tiền không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến tăng cầu về hàng hoá, dịch vụ Tăng tiêu dùng, chi phí công cộng và tăng dân số là những nhân tố phi tiền tệ, sẽ dẫn đến tăng cầu Áp lực lạm phát sẽ tăng sau 1 đến 3 năm, nếu cầu về hàng hoá vượt quá mức cung, song sản xuất vẫn không được mở rộng hoặc do sử dụng máy móc với công suất tiến tới giới hạn hoặc vì nhân tố sản xuất không đáp ứng được sự gia tăng của cầu Sự mất cân đối đó sẽ được giá cả lấp đầy Lạm phát do cầu tăng lên hay lạm phát do cầu kéo được ra đời từ đó Chẳng hạn ở Mỹ, sử dụng công suất máy móc là một chỉ số có ích phản ánh lạm phát trong tương lai ở Mỹ, sử dụng công suất máy móc trên 83% dẫn tới lạm phát tăng
2.3 Lạm phát theo thuyết chi phí đẩy
Lạm phát chi phí đẩy vừa lạm phát, vừa suy giảm sản lượng tăng thêm thất nghiệp nên còn gọi là lạm phát "đình trệ" Hình thức của lạm phát này phát sinh ra
từ phía cung, do chi phí sản xuất cao hơn đã được chuyển sang người tiêu dùng Điều này chỉ có thể được trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế khi người tiêu dùng sẵn sàng trả với giá cao hơn
Ví dụ:
Trang 10Nếu tiền lương chiếm một phần đáng kể trong chi phí sản xuất và dịch vụ Nếu tiền lương tăng nhanh hơn năng suất lao động thì tổng chi phí sản xuất sẽ tăng lên Nếu nhà sản xuất có thể chuyển việc tăng chi phí này cho người tiêu dùng thì giá bán sẽ tăng lên, công nhân và các công đoàn sẽ yêu cầu tiền lương cao hơn trước để phù hợp với chi phí sinh hoạt tăng lên, điều đó tạo thành vòng xoáy lượng giá.
Một yếu tố chi phí chính khác là giá cả nguyên vật liệu đặc biệt là dầu thô Trong năm 1972 - 1974 hầu như giá dầu quốc tế tăng 5 lần dẫn đến lạm phát tăng
từ 4,6% đến 13,5% bình quân trên toàn thế giới
Ngoài ra sự suy sụp của giá dầu (1980) làm cho lạm phát giảm xuống mức thấp chưa từng thấy
Bên cạnh những yếu tố gây nên lạm phát đó là giá nhập khẩu cao hơn được chuyển cho người tiêu dùng nội địa Nhập khẩu càng trở nên đắt đỏ khi đồng nội
tệ yếu đi hoặc mất giá so với đồng tiền khác Ngoài ra yếu tố tâm lý
dân chúng, sự thay đổi chính trị, an ninh quốc phòng Song nguyên nhân trựctiếp vẫn là số lượng tiền tệ trong lưu thông vượt quá số lượng hàng hoá sản xuất
ra Việc tăng đột ngột của thuế (VAT) cũng làm tăng chỉ số giá
2.4 Lạm phát dự kiến
Trong nền kinh tế, trừ siêu lạm phát, lạm phát phi mã, lạm phát vừa phải có
xu hướng tiếp tục giữ mức lịch sử của nó Giá cả trong trường hợp này tăng đều một cách ổn định Mọi người thể dự kiến được trước nên còn gọi là lạm phát dự kiến
2.5 Các nguyên nhân khác
Giữa lạm phát và lãi suất khi tỷ lệ lạm phát tăng lên lãi suất danh nghĩa tăng theo, tăng chi phí cơ hội của việc giữ tiền, càng giữ nhiều tiền càng thiệt Điều này đặc biệt đúng trong các cuộc siêu lạm phát, tiền mất giá càng nhanh, tăng mức độ tiền gửi vào ngân hàng, vào quỹ tiết kiệm hoặc đẩy ra thị trường để mua về mọi loại hàng hoá có thể dự trữ gây thêm mất cân bằng cung cầu trên thị trường hàng hoá và tiếp tục đẩy giá lên cao Giữa lạm phát và tiền tệ khi ngân sách thâm hụt
Trang 11lớn các chính phủ có thể in thêm tiền để trang trại, lượng tiền danh nghĩa tăng lên
là một nguyên nhân gây ra lạm phát Và một khi giá cả đã tăng lên thì sự thâm hụt mới nảy sinh, đòi hỏi phải in thêm một lượng tiền mới và lạm phát tiếp tục tăng vọt Kiểu lạm phát xoáy ốc này thường xảy ra trong thời kỳ siêu lạm phát Tuy nhiên, chính phủ có thể tài trợ thâm hụt bằng cách vay dân thông qua bán tín phiếu Lượng tiền danh nghĩa không tăng thêm nên không có nguy cơ lạm phát, nhưng nếu thâm hụt tiếp tục kéo dài, số tiền phải trả cho dân (cả gốc lẫn lãi) sẽ lớn đến mức cần phải in tiền để trang trải thì khả năng có lạm phát mạnh là điều chắc chắn
Các nguyên nhân liên quan đến chính sách của nhà nước, chính sách thuế, chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý Các chủ thể kinh doanh làm tăng chi phí đầu vào, nguyên nhân do nước ngoài
3 Những tác động của lạm phát:
Lạm phát có nhiều loại, cho nên cũng có nhiều mức độ ảnh hưởng khác nhau đối với nền kinh tế Xét trên góc độ tương quan, trong một nền kinh tế mà lạm phát được coi là nỗi lo của toàn xã hội và người ta có thể nhìn thấy tác động của nó
- Đối với lĩnh vực sản xuất:
Đối với nhà sản xuất, tỷ lệ lạm phát cao làm cho giá đầu vào và đầu ra biến động không ngừng, gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình sản xuất Sự mất giá của đồng tiền làm vô hiệu hoá hoạt động hạch toán kinh doanh Hiệu quả kinh doanh - sản xuất ở một vài danh nghiệp có thể thay đổi, gây ra những xáo động về kinh tế Nếu một doanh nghiệp nào đó có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có nguy
cơ phá sản rất lớn
- Đối với lĩnh vực lưu thông
Lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hoá Các nhà doanh nghiệp thấy rằng việc đầu tư vốn vào lĩnh vực lưu thông Thậm chí khi lạm phát trở nên khó phán đoán thì việc đầu tư vốn vào lĩnh vực sản xuất sẽ gặp phải rủi ro cao Do có nhiều người tham giâ vào lĩnh vực lưu thông nên lĩnh vực này trở
Trang 12nên hỗn loạn Tiền ở trong tay những người vừa mới bán hàng xong lại nhanh chóng bị đẩy vào kênh lưu thông, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng vọt và điều này làm thúc đẩy lạm phát gia tăng.
- Đối với lĩnh vực tiền tệ, tín dụng:
Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng, thương mại và ngân hàng bị thu hẹp Số người gửi tiền vào ngân hàng giảm đi rất nhiều Về phía hệ thống ngân hàng, do lượng tiền gửi vào giảm mạnh nên không đáp ứng được nhu cầu của người đi vay, cộng với việc sụt giá của đồng tiền quá nhanh, sự điều chỉnh lãi suất tiền gửi không làm an tâm những người hiện đang có lượng tiền mặt nhàn rỗi trong tay Về phía người đi vay, họ là những người có lợi lớn nhờ sự mất giá đồng tiền một cách nhanh chóng Do vậy, hoạt động của hệ thống ngân hàng không còn bình thường nữa Chức năng kinh doanh tiền bị hạn chế, các chức năng của tiền tệ không còn nguyên vẹn bởi khi có lạm phát thì chẳng có ai tích trữ của cải hình thức tiền mặt
- Đối với chính sách kinh tế tài chính của nhà nước:
Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hoá, khi lạm phát xảy ra những thông tin trong xã hội bị phá huỷ do biến động của giá cả làm cho thị trường bị rối loạn Người ta khó phân biệt được những doanh nghiệp làm ăn tốt và kém Đồng thời lạm phát làm cho nhà nước thiếu vốn, do đó nhà nước không còn
đủ sức cung cấp tiền cho các khoản dành cho phúc lợi xã hội bị cắt giảm các ngành, các lĩnh vực dự định đựơc chính phủ đầu tư và hỗ trợ vốn bị thu hẹp lại hoặc không có gì Một khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt thì các mục tiêu cải thiện và nâng cao đời sống kinh tế xã hội sẽ không có điều kiện thực hiện được
Trang 13CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM VÀ BIỆN PHÁP
KHẮC PHỤC
1 Diễn biến lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua.
Trong quá khứ Việt Nam có thời gian phải chịu lạm phát phi mã, với mức sụt giá của tiền đồng lên đĩnh hơn 700% vào năm 1987 Kể từ năm 1993, lạm phát
đã được khống chế khá tốt và thường dưới 2 con số
Giai đoạn từ năm 1999 đến 2001 là thời kì lạm phát thấp nhất của Việt Nam Trong khoảng thời gian này, CPI lần lượt chỉ ở mức 0,1%, -0,6% và 0,8% thời kì này gắn liền với giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997-1998.lạm phát ở Việt Nam bắt đầu tăng cao từ năm 2004, cùng với giai đoạn bùng nổ của kinh tế thế giưói và việc tăng giá của nhiều loại hàng hoá Năm 2007, chỉ số CPI tăng đến 12,6% và đặc biệt tăng cao vào những tháng cuối năm
Năm 2008 là một năm đáng nhớ đối với kinh tế vĩ mô cũng như tình hình lạm phát ở Việt Nam CPI đã liên tục tăng cao từ đầu năm, và mức cao nhất của CPI tính theo năm của năm 2008 đã lên đến 30% Kết thúc năm 2008, chỉ số CPI tăng 19.89%, tính theo trung bình năm tăng 22.97%
Năm 2009, suy thoái của kinh tế thế giới khiến sức cầu suy giảm, giá nhiều hàng hóa cũng xuống mức khá thấp, lạm phát trong nước được khống chế CPI năm 2009 tăng 6.52%, thấp hơn đáng kể so với những năm gần đây Tuy vậy, mức tăng này nếu so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới lại cao hơn khá nhiều
Năm 2010, chính phủ đặt mục tiêu kiểm soát CPI cuối kỳ khoảng 7% Tuy nhiên theo Tổng cục thống kê vừa công bố thì mức lạm phát ở 2 con số của việt Nam trong 2010 đã được khẳng định là 11,75% tăng gần 5% so với chỉ tiêu Quốc hội đề ra đầu năm
Trang 14Trong tháng 12/2010, mức tăng giá tiêu dùng (CPI) của cả nước là 1,98%, cũng là mức tăng cao nhất trong năm Đóng góp chủ yếu vào con số này là mức tăng giá ở khu vực hàng ăn và dịch vụ ăn uống, tăng 3,31% (riêng lương thực tăng tới 4,67%) Cũng trong tháng này, giá nhà ở và vật liệu xây dựng cũng tăng mạnh tới 2,53%.
Tuy nhiên, tính chung trong cả năm 2010, giáo dục mới là nhóm tăng giá mạnh nhất trong rổ hàng hóa tính CPI (gần 20%) Tiếp đó là hàng ăn (16,18%) và nhà ở - vật liệu xây dựng (15,74%) Bưu chính viễn thông là nhóm duy nhất giảm giá với mức giảm gần 6% trong năm 2010
Về các địa phương, việc Hà Nội và TP HCM có mức tăng giá (lần lượt là 1,83% và 1,61%) thấp hơn so với trung bình cả nước trong tháng 12 là một diễn biến khá bất ngờ Trong khi đó, những địa phương có mức trượt giá mạnh trong tháng (khoảng 2%) là Thái Nguyên, Hải Phòng và Gia Lai
Trong tháng 12, giá vàng và đôla Mỹ không leo thang mạnh như những tháng trước (lần lượt tăng 5,43% và 2,86%) Tuy nhiên, tính chung trong cả năm
2010, giá vàng đã tăng tới 30% trong khi mức tăng của đôla Mỹ là xấp xỉ 10%
Trang 152 Đặc trưng lạm phát của nước ta
Lạm phát ở Việt Nam cũng có những biểu hiện chung giống với lạm phát ở các quốc gia khác như: chỉ số giá cả nói chung tăng phổ biến do vậy giá trị của đồng tiền giảm Song lạm phát ở Việt Nam có đặc trưng riêng do điều kiện kinh tế
xã hội cụ thể:
- Lạm phát của một nền kinh tế kém phát triển trong đó khu vực kinh tế nhà nước
có địa vị thống trị Nền kinh tế Việt Nam thuộc loại kém phát triển nhất thế giới, các chỉ tiêu bình quân đầu người rất thấp Khu vực kinh tế nhà nước ở Việt Nam chiếm 1 tỷ trọng lớn hiếm có trên thế giới Mặc dù khu vực nhà nước chiếm phần lớn số vốn đầu tư và chất xám trong cả nước nhưng lại chỉ có thể làm ra từ 30% - 37% tổng sản phẩm xã hội Các xí nghiệp quốc doanh nhìn chung đã nộp cho ngân sách nhà nước một số tiền thấp rất xa so với số tiền nhà nước cung cấp cho nó qua
bù lỗ, bù giá, cấp phát tín dụng, lãi suất thấp Đúng ra khu vực kinh tế nhà nước phải đem lại nguồn thu chủ yếu cho xã hội thì ở đây lại ngược lại Khu vực kinh tế
tư nhân làm ăn có hiệu quả hơn và đóng góp một phần quan trọng trong ngân sách của nhà nước Chính hoạt động của các hãng kinh tế nhà nước với lãi giả, lỗ thật
đã đẩy nền kinh tế lạm phát, thị trường rối loạn, lỗ lãi khó kiểm tra Sự giảm sút hiệu quả sản xuất kinh doanh dẫn đến vòng luẩn quẩn Hiệu quả giảm sát dẫn đến thu không đủ bù chi và lạm phát, rồi lạm phát làm cho hiệu quả kinh doanh tiếp tục giảm sút, cứ như vậy nó làm cho nền kinh tế Việt Nam càng lún sâu vào đói nghèo, lạc hậu.- Lạm phát của một nền kinh tế độc quyền mà nhà nước có địa vị thống trị trên mọi lĩnh vực, cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp Trong nền kinh tế thị trường sự cạnh tranh ắt sinh ra một công ty thắng thế chiếm vị trí độc quyền Để đạt được điều đó, phải tiến hành cải tiến máy móc, trang thiết bị, tổ chức lao động, tập trung nguồn vốn Nhưng khi ở vị trí độc quyền công ty sẽ bóp chết các địch thủ khác và cũng ít chú ý hơn đến việc áp dụng tiến bộ KHKT dẫn đến sự suy thoái trong kinh doanh Nếu công ty này nhỏ thì sự ảnh hưởng của nó đến nền kinh
tế sẽ không có nhiều hiệu quả tiêu cực nhưng nếu đó là một công ty lớn thì sự suy thoái này sẽ kéo theo cả nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng Trên thực tế,