1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ sở lý LUẬN về tỷ GIÁ, CHÍNH SÁCH tỷ GIÁ

47 317 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 316,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi tỷ giá thay đổi có xu hướng làmgiảm giá đồng tiền của một nước thì ngân hàng Trung ương nước đó tung dự trữngoại tệ của mình ra để giảm bớt sức ép cung tiền trên thị trường tiền tệ,

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trang 2

CHƯƠNG I :

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ, CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ

TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI NGOẠI THƯƠNG

I Tỷ giá hối đoái và các nhân tố ảnh hưởng

1 Tỷ giá hối đoái và lịch sử phát triển của các chế độ tỷ giá hối đoái

Để giải quyết và thực hiện các mối quan hệ kinh tế, mà trước hết là cácquan hệ về mua bán – trao đổi hàng hoá - dịch vụ và đầu tư giữa các nước haycác nhóm nước với nhau, đồng tiền của các quốc gia phải được chuyển hoá lẫncho nhau Mối tương quan theo đó đồng tiền các nước được chuyển đổi cho nhautheo một tỷ lệ nào đó để thực hiện các thanh toán phục vụ cho việc giao dịch,buôn bán, trao đổi và chuyển vốn quốc tế được gọi là tỷ giá hối đoái

1.1 Tỷ giá hối đoái và các loại tỷ giá hối đoái

Giá cả của một đồng tiền được tính ra đồng tiền khác gọi là tỷ giá hối đoái {1}1 Tại điều 9 – Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam cũng đã định nghĩa:

“Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ giữa giá trị đồng Việt Nam với giá trị đồng nước ngoài” Như mọi giá cả của hàng hoá khác, tỷ giá hối đoái, về nguyên tắc, cơ

bản phải được xác định dựa trên cơ sở của quy luật giá trị và thông qua sự tươngtác của quan hệ cung cầu trên thị trường Tuy nhiên đây là thị trường ngoại hối,nơi mỗi ngày diễn ra hàng nghìn giao dịch ngoại tệ Và cũng như các loại giá cảkhác, ngoài việc do các nhân tố thị trường là căn cứ cơ bản để xác định, tỷ giáhối đoái với những tác động quan trọng của nó tới nền kinh tế, việc xác định tỷgiá hối đoái còn chịu sự chi phối rất mạnh bởi yếu tố chính sách khác nhau củacác chính phủ trong từng thời kỳ

1 Tiền tệ, Ngân h ng v th à à ị trường t i chính – Frederich S.Miskhin, NXB Khoa h à ọc v k à ỹ thuật H à

Trang 3

Trong thực tế phát triển của nền kinh tế thị trường cho thấy cùng một lúc

có sự tồn tại của nhiều loại tỷ giá khác nhau Dựa trên tiêu thức là đối tượng quản

lý có tỷ giá chính thức (tỷ giá được ngân hàng TƯ chính thức công bố lấy làm căn cứ cho các hoạt động giao dịch, kinh doanh, thống kê, kế toán…) và tỷ giá

thị trường (tỷ giá được hình thành dựa trên các giao dịch thực tế diễn ra trên các

thị trường như: thị trường ngoại hối liên ngân hàng, thị trường hối đoái tự do, thị

trường tài sản…) Dựa trên kỹ thuật giao dịch, về cơ bản, có hai loại tỷ giá: tỷ

giá mua / bán giao ngay (việc trao đổi mua bán kéo theo việc thanh toán ngay

các khoản tiền, từ 2 đến 7 ngày) và tỷ giá mua / bán kỳ hạn (việc trao đổi mua

bán không đi cùng việc thanh toán ngay các khoản tiền mà chúng được thanhtoán vào một ngày tương lai xác định nào đó) Nghiên cứu về sự vận động và tác

động của tỷ giá, tỷ giá được xem xét thông qua các khái niệm: tỷ giá hối đoái

danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực tế Các cấu trúc tỷ giá khác nhau có khả

năng cung cấp những giá trị thông tin khác nhau.Trong giới hạn nghiên cứu của

đề tài này, tôi tập trung nghiên cứu kỹ cặp cấu trúc tỷ giá phản ánh sự vận động

và tác động của tỷ giá, để đạt được mục đích mà đề tài đã đặt ra

Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ lệ so sánh giữa hai đồng tiền được xác

định tại một thời điểm cụ thể nào đó Nó có thể được xác định bằng nhữngphương thức và cơ chế rất khác nhau ở mỗi chế độ tỷ giá hối đoái Ngay trongmột chế độ tỷ giá hối đoái, đặc biệt là chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý thì

tỷ giá danh nghĩa cũng được xác định rất khác nhau Cơ chế xác định tỷ giá thảnổi có quản lý có sự tham gia của cả hai nhân tố khách quan (yếu tố thị trường)

và chủ quan (mục tiêu kinh tế vĩ mô của nhà nước) Tùy theo điều kiện, quanđiểm và mức độ tác động của tỷ giá trong mỗi giai đoạn, các chính phủ sẽ có sựcân nhắc liều lượng của các nhân tố tham gia xác định tỷ giá hối đoái một cáchkhác nhau

Trang 4

Tỷ giá hối đoái là một loại giá, giống như mọi loại giá cả khác, tỷ giá cóảnh hưởng đến giá trị thực tế của các tài sản nội – ngoại tệ Vì vậy, muốn biết giátrị thực tế của một đồng tiền, cần phải loại bỏ tác động của yếu tố lạm phát rakhỏi tác động của tỷ giá Khái niệm phản ánh giá trị thực của một đồng tiền haysức mua đối ngoại của một đồng tiền phải phản ánh sự tăng trưởng và phát triểnnền kinh tế của một nước trong tương quan kinh tế với các nước khác và phảnánh vị trí của đồng tiền đó trong quan hệ kinh tế quốc tế Cho đến nay, lý thuyếtđược sử dụng nhiều nhất để phản ánh sự thay đổi sức mua thực tế của một đồngtiền vẫn là thuyết ngang giá sức mua (Purchasing Power Parity - PPP) PPP chobiết sức mua của một đồng tiền thay đổi khi mức giá cả tương đối hay lạm phátcủa một nước thay đổi Muốn xác định được sự thay đổi sức mua thực tế của mộtđồng tiền, phải đặt nó trong mối quan hệ so sánh giữa mức giá cả chung của hainước khi quy đổi chúng ra cùng một đồng tiền.

Tỷ giá hối đoái thực tế được tính dựa trên mức giá tương đối của hàng

hoá - dịch vụ từ những nước khác nhau khi chúng được tính bằng một loại tiền tệchung Giả sử, một tấn gạo được sản xuất ở Việt Nam có giá là 4,16 triệu VND

và ở Mỹ là 250 USD Với tỷ giá hối đoái danh nghĩa là 16.000VND/1USD, mứcgiá cả tương đối của gạo Việt Nam và Mỹ tính theo một loại tiền chung sẽ là1,04/1,00 dù tính bằng đồng VND (4,16 triệuVND/4,00 triệu VND) hay tínhbằng đồng USD (260USD/250USD) Có hai khả năng làm cho sức cạnh tranhcủa hàng hoá - dịch vụ Việt Nam thay đổi Đó là sự thay đổi của tỷ giá danhnghĩa và mức giá cả chung ở hai nước Nếu tỷ giá danh nghĩa tăng lên17.000USD/1USD, mức giá tương đối về gạo của hai nước sẽ thay đổi từ1,04/1,00 xuống 0,98/1,00 và làm cho hàng hoá của Việt Nam có sức cạnh tranhhơn và ngược lại

Theo lý thuyết này, các nhà kinh tế đã rút ra công thức tính tỷ giá hối đoáinhư sau:

TGHĐ thực tế =

chỉ số giá cả nước ngo i à

chỉ số giá cả trong nước

Trang 5

Nếu gọi Er là tỷ giá hối đoái thực tế, E là tỷ giá hối đoái danh nghĩa, PL làmức giá cả trong nước và PL* là mức giá cả nước ngoài.

tế ổn định

1.2 Lịch sử phát triển của các chế độ tỷ giá

Tỷ giá hối đoái đã có một lịch sử phát triển lâu dài Cho đến nay có thểchia lịch sử phát triển của tỷ giá hối đoái thành 4 giai đoạn chế độ tỷ giá khácnhau: chế độ tỷ giá hối đoái cố định “bản vị vàng”, chế độ tỷ giá Bretton Woods(chế độ tỷ giá cố định “bản vị hối đoái đồng Đôla Mỹ”), chế độ tỷ giá hối đoái

“thả nổi” và chế độ tỷ giá hối đoái “thả nổi có quản lý”

* Chế độ tỷ giá hối đoái cố định “bản vị vàng”

Trang 6

Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thương mại và thanh toán quốc tếđược thực hiện dựa trên chế độ tỷ giá hối đoái “bản vị vàng” Chế độ tỷ giá hốiđoái bản vị vàng có 3 đặc điểm nổi bật: một là, chính phủ mỗi nước cố định giávàng tính bằng đồng tiền nước họ; hai là, chính phủ mỗi nước duy trì khả năngchuyển đổi đồng tiền trong nước ra vàng; ba là, các chính phủ cố tuân theo quitắc gắn liền việc phát hành đồng tiền với lượng dự trữ vàng nhà nước nắm giữ.Những đặc điểm này của chế độ tỷ giá hối đoái “bản vị vàng” tạo nên chế độ tỷgiá hối đoái danh nghĩa cố định Chế độ tỷ giá hối đoái bản vị vàng có ưu điểmnổi bật là thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của thương mại thế giới vì nó khôngphải chịu sự cản trở được gây ra bởi yếu tố rủi ro hối đoái Chế độ tỷ giá hối đoáibản vị vàng cũng góp phần tạo ra một môi trường giá cả ổn định để thu hút đầu

tư nước ngoài và thúc đẩy kinh tế các nước phát triển Nhưng việc gắn chặt cácđồng tiền vào vàng đã làm cho chế độ tỷ giá hối đoái “bản vị vàng” ngày càng trởnên không phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thế giới Khối lượng vàngthế giới sản xuất ra ngày càng không đủ để đo lường khối lượng hàng hoá - dịch

vụ mà các nước sản xuất ra Dần dần đồng tiền các nước không còn được đảmbảo bằng vàng thực tế Nhưng điều quan trọng hơn đã dẫn đến yêu cầu phải thayđổi chế độ tỷ giá hối đoái bản vị vàng là vì chế độ tỷ giá hối đoái này không cònphản ánh được mối quan hệ kinh tế đã thay đổi mạnh mẽ giữa các nước Chế độ

tỷ giá hối đoái bản vị vàng đã thực sự làm thương tổn đến nền kinh tế nhiều nước

và góp phần gây ra những giai đoạn suy thoái lâu dài, sâu sắc vào những năm đầucủa thế kỷ 20, như cuộc khủng hoảng kinh tế 29 – 33 có tính chất hệ thống củacác nước Tư bản chủ nghĩa…

* Chế độ tỷ giá Bretton Woods

Trang 7

Trước khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai, hội nghị 44 nước đồngminh đã họp tại Bretton Woods, bang New Hampshise, để thiết lập hệ thống tiền

tệ thế giới mới nhằm thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế Chế độ tỷgiá hối đoái mới – bản vị hối đoái đồng Đôla đã cố gắng đổi mới việc đo lườnggiá trị đồng tiền của các nước trong quan hệ kinh tế quốc tế bằng cách gắn nó vàođồng Đôla Mỹ với phạm vi dao động cho phép ±1%, thay thế cho vàng Quy ước

dự trữ ngoại tệ của các nước có thể đổi thành vàng thông qua tỷ giá với đồngĐôla Mỹ, trên cơ sở 1 Ounce vàng = 35 USD [2]2 Hệ thống tỷ giá hối đoáiBretton Woods đã tồn tại trong một thời gian dài cho đến đầu những năm 70 Về

cơ bản, cũng giống như chế độ tỷ giá “bản vị vàng”, chế độ tỷ giá Bretton Woods

là chế độ tỷ giá cố định; trong đó, tỷ giá hối đoái danh nghĩa được duy trì khôngthay đổi trong dài hạn Bằng cơ chế can thiệp của ngân hàng Trung ương và cácthiết chế tài chính quốc tế vào thị trường ngoại hối, thông qua việc thay đổi quỹ

dự trữ ngoại tệ để duy trì tỷ giá cố định Khi tỷ giá thay đổi có xu hướng làmgiảm giá đồng tiền của một nước thì ngân hàng Trung ương nước đó tung dự trữngoại tệ của mình ra để giảm bớt sức ép cung tiền trên thị trường tiền tệ, ngănchặn sự thay đổi của tỷ giá hối đoái nhằm duy trì sự ổn định giá trị danh nghĩacủa đồng nội tệ và ngược lại Trong trường hợp, ngân hàng Trung ương khôngcòn khả năng can thiệp, các thể chế tài chính quốc tế, cụ thể là Quỹ tiền tệ quốc

tế (IMF) sẽ cho vay ngoại tệ để các nước giữ ổn định tỷ giá và nếu vẫn không giữđược thì IMF buộc các nước phải phá giá đồng nội tệ Không những thế, chế độ

tỷ giá Bretton Woods trong khi biến đồng Đôla Mỹ thành đồng tiền dự trữ vàthanh toán quốc tế, đã gắn chặt nền kinh tế và thương mại thế giới vào nhữngthay đổi thăng trầm của nền kinh tế Mỹ Vì vậy ngoài những đặc điểm chung củachế độ tỷ giá hối đoái cố định như: không phản ánh được những thay đổi trongsức mua thực tế của các đồng tiền, không phản ánh được tương quan trong sựbiến động kinh tế của các nước, do đó làm sai lệch lợi thế và ảnh hưởng đến lợithế kinh tế quốc tế thực tế của mỗi nước; làm tê liệt khả năng sử dụng chính sáchtiền tệ để can thiệp vào nền kinh tế của các chính phủ: chế độ tỷ giá hối đoái

2 Tiền tệ, Ngân h ng v th à à ị trường t i chính – Frederich S.Miskhin, NXB Khoa h à ọc v k à ỹ thuật H à Nội, trang 628

Trang 8

Bretton Woods còn có nhược điểm riêng; là nó gây ra những thiệt hại rất lớn chocác nước chậm phát triển (IMF có thể buộc các nước chậm phát triển phá giáđồng tiền của mình nhưng lại không thể buộc các nước phát triển nhanh chóngtăng giá đồng tiền của họ) và chịu sự chi phối rất mạnh của nền kinh tế Mỹ.

tế của các đồng tiền có khả năng thích ứng với các biến động lớn của nền kinh tế

và tạo khả năng thực thi chính sách tiền tệ chủ động của các chính phủ thì tỷ giáhối đoái thả nổi lại gây ra những biến động tỷ giá hết sức thất thường, làm cho sựlên giá - xuống giá của các đồng tiền không thể dự đoán được (làm tăng tính rủi

ro của tỷ giá hối đoái)

* Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý

Trang 9

Trên thực tế không có sự tồn tại một chế độ tỷ giá hối đoái hoàn toàn thảnổi mà thường chỉ tồn tại chế độ tỷ giá phối hợp giữa “thả nổi” và “cố định” Đó

là chế độ tỷ giá hối đoái “thả nổi có quản lý” hay còn gọi là chế độ tỷ giá linhhoạt – chế độ tỷ giá mà nhiều nước hiện nay đang theo đuổi Đây là một chế độ

tỷ giá trung gian giữa tỷ giá cố định với tỷ giá thả nổi, trong đó tỷ giá hối đoáicần phải có khả năng phản ánh được những biến động thường xuyên và đột ngộtcủa các nhân tố ngắn hạn để duy trì được khả năng ổn định trong dài hạn Một tỷgiá hối đoái như thế đòi hỏi phải được điều chỉnh để duy trì ổn định xung quanhmột vùng mục tiêu nhất định Vùng mục tiêu này được xác định thay đổi ở nhữngmức khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện và trạng thái nền kinh tế trong nhữngthời kỳ khác nhau Việc áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý hiện nay ở cácnước không chỉ khác nhau về mức độ của vùng mục tiêu, mà còn khác nhau về

sự lựa chọn các cực và cơ sở xác định tỷ giá Khi các nước sử dụng một hệ thốngcác công cụ để tác động vào thị trường ngoại hối nhằm đạt được các mục tiêu về

tỷ giá hối đoái, chính là quá trình điều hành chính sách tỷ giá hối đoái của mỗiquốc gia trong giai đoạn hiện nay

2 Cơ chế xác định và các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái

2.1 Một số cách tiếp cận xác định tỷ giá hối đoái

2.1.1 Xác định tỷ giá hối đoái dựa trên quan hệ cung cầu ngoại tệ

Để tránh nhầm lẫn, trong luận văn này tôi xin thống nhất quy ước hiểu tỷgiá hối đoái như là giá ngoại tệ tính theo nội tệ (ví dụ : 1 USD = 16.000 VND) và

ký hiệu là E (VND / USD) Khi quy ước như vậy, những thay đổi tăng lên trong

tỷ giá hối đoái sẽ tương ứng với sự giảm giá của đồng nội tệ (VND) và ngược lại

Cung ngoại tệ của một nước phụ thuộc vào nhu cầu từ phía nước

ngoài về hàng hoá, dịch vụ và các tài sản của nước sở tại (nước có đồng nội tệcần phân tích, trong luận văn này là VND) Có thể mô hình hoá những nhân tố cơbản tạo nguồn cung ngoại tệ của một nước bằng một hàm toán học:

S $ = f (cầu của người nước ngoài về hàng hoá, dịch vụ và tài sản của một nước, …)

Trang 10

Các nhân tố trong mô hình này có tương quan thuận với khả năng cungngoại tệ của một nước Khi một trong số các nhân tố trong mô hình tăng lên (cácnhân tố khác không thay đổi), cung ngoai tệ của một nước sẽ tăng lên và ngượclại Nhưng mức độ tham gia của mỗi nhân tố vào cơ cấu cung tiền tệ của mỗinước thì rất khác nhau, tuỳ thuộc vào cơ cấu kinh tế đối ngoại của mỗi nướctrong từng giai đoạn và độ co giãn của các nhân tố đó với tỷ giá hối đoái Xemxét mối quan hệ giữa cung ngoại tệ và tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối, ta

có thể xác định được đường cung ngoại tệ có hình dạng dốc lên như ở hình 1.1

Hình 1.1: Đồ thị đường cung ngoại tệ

Cầu ngoại tệ một nước phụ thuộc vào nhu cầu của dân chúng (chính

phủ, các hãng, và các cá nhân,…) nước đó về hàng hoá dịch vụ và tài sản nướcngoài Có thể mô hình hoá quan hệ giữa các nhân tố xác định cầu ngoại tệ vớicầu ngoại tệ bằng một hàm toán học:

D $ = f (Cầu của dân chúng một nước về hàng hoá, dịch vụ và tài sản của nước ngoài,…)

Các nhân tố trong hàm cầu ngoại tệ có tương quan thuận với lượng cầungoại tệ Sự gia tăng của bất cứ nhân tố nào trong hàm cầu ngoại tệ cũng làm cholượng cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối gia tăng và ngược lại (với điều kiệncác nhân tố còn lại không thay đổi)

Giống như mức cung về ngoại tệ, mức cầu ngoại tệ cũng luôn luôn đượcxác định ở một mức tỷ giá cụ thể vào một thời điểm nhất định Mối quan hệ giữalượng cầu ngoại tệ và tỷ giá hối đoái được biểu hiện trên đồ thị là đường cầungoại tệ

Hình 1.2: Đồ thị đường cầu ngoại tệ

Ứng với một mức tỷ giá hối đoái cụ thể trên thị trường ngoại hối là nhữngmức cung cầu ngoại tệ khác nhau Trong khi tương quan giữa tỷ giá với cungngoại tệ vận động cùng hướng với nhau, thì tương quan giữa tỷ giá với cầu ngoại

tệ lại vận động ngược chiều nhau Nhưng chúng tương tác nhau để xác định đượcmột tỷ giá mà cả cung cầu ngoại tệ cùng chấp nhận

Q($)

E(VND/USD)

E1

Trong đó:

E(VND/USD): l tà ỷ giá hối

đoái (giá của ngoại tệ tính theo

nội tệ)

VND: Đồng Việt Nam – nội

tệ

USD: Đôla Mỹ – ngoại tệ

S$: Đường cung ngoại tệ

Trang 11

Giao điểm giữa hai đường cung và cầu ngoại tệ chỉ ra mức tỷ giá hối đoáicân bằng.Tại đó, mức cung ngoại tệ bằng mức cầu ngoại tệ A (E*,q*) (Hình 1.3).Đây là kết quả tác động qua lại giữa 2 nhân tố, quan hệ cung và quan hệ cầu trênthị trường ngoại hối.

Hình 1.3: Đồ thị cung cầu ngoại tệ và tỷ giá cân bằng

Trên hình vẽ, tỷ giá hối đoái cân bằng tại E* ở đó, lượng cung ngoại tệbằng với lượng cầu ngoại tệ Nếu tỷ giá hối đoái lớn hơn E* (E1> E*), xảy ra tìnhtrạng dư cung ngoại tệ Cạnh tranh giữa các tác nhân cung ứng ngoại tệ làm kéo

tỷ giá hối đoái giảm xuống, trở về vị trí cân bằng E* Ngược lại, nếu tỷ giá hốiđoái nhỏ hơn E* (E2< E*), xảy ra tình trạng dư cầu Điều này dần dần đẩy tỷ giáhối đoái tăng lên đến vị trí cân bằng E* trên thị trường ngoại hối Tương tác cungcầu trên thị trường ngoại hối là nhân tố cơ bản, nhân tố bên trong các định tỷ giáhối đoái cân bằng

2.1.2 Cách tiếp cận tỷ giá dài hạn

Cơ chế các định tỷ giá hối đoái dài hạn được xem xét dựa trên cơ sở củaquy luật một giá, thuyết ngang giá sức mua (PPP – purchasing power parity) vàcác nhân tố ảnh hưởng đến sự vận động của cung cầu ngoại tệ trên thị trườngngoại hối trong dài hạn

Quy luật một giá

E(VND/USD)

E1E*

3: Mức dư cung ngoại tệ

q1q4: Mức dư cầu ngoại tệ

Q($): Lượng ngoại tệ

Trang 12

Quy luật một giá là cách xác định tỷ giá đơn giản nhất, dựa trên những giảđịnh đơn giản hoá quá trình và tính chất của giao dịch thương mại quốc tế Bằngcách bỏ qua vấn đề chất lượng và chi phí vận tải của hàng hoá cũng như các ràocản trong thương mại quốc tế, quy luật một giá quan niệm một cách đơn giản

rằng: nếu hai nước sản xuất một hàng hoá y như nhau, thì giá cả của hàng hoá

đó sẽ như nhau trên toàn thế giới, không có vấn đề là nước nào sản xuất ra nó

[3]3

Thuyết ngang giá sức mua (Purchasing Power Parity - PPP)

Thuyết ngang giá sức mua phát biểu rằng tỷ giá giữa bất kỳ hai đồng tiền

nào sẽ điều chỉnh để phản ánh những thay đổi trong mức giá cả của hai nước

[4]4

Thực chất của thuyết ngang giá sức mua là sự áp dụng quy luật một giá

vào thay đổi trong mức giá cả hàng hoá - dịch vụ của 2 nước Nội dung của

thuyết ngang giá sức mua yêu cầu nếu mức giá cả của một nước tăng x% so với mức giá cả của nước khác thì đồng tiền của nước đó sẽ mất giá x% hay đồng tiền của nước kia tăng giá x%.

3 Tiền tệ, Ngân h ng v th à à ị trường t i chính – Frederich S.Miskhin, NXB Khoa h à ọc v k à ỹ thuật H à Nội, trang 589

4 Tiền tệ, Ngân h ng v th à à ị trường t i chính – Frederich S.Miskhin, NXB Khoa h à ọc v k à ỹ thuật H à Nội, trang 589

Trang 13

Thuyết ngang giá sức mua được thực hiện dựa trên nội dung của quy luậtmột giá nên nó cũng có những hạn chế của chính quy luật một giá (bỏ qua tácđộng của chất lượng hàng hóa, chi phí vận tải và các hàng rào ngăn cản thươngmại) Không những thế, do cách phản ánh của PPP hoàn toàn căn cứ vào nhữngthay đổi trong mức giá, một biến số mà cách tính toán nó dựa trên giỏ hàng hoá -dịch vụ, bao gồm nhiều thứ không được thương mại qua biên giới (không muabán trao đổi trên thị trường quốc tế) như : đất đai, nhà cửa….; là những hàng hoá

và dịch vụ mà sự biến động của chúng có thể ảnh hưởng rất nhiều đến sự biếnđộng của tỷ giá hối đoái Vì vậy, xác định tỷ giá hối đoái bằng cách tiếp cận PPPchỉ có giá trị tuyệt đối với quy luật một giá Xét về khả năng phản ánh nhữngbiến đổi tương quan kinh tế giữa 2 nước, nó chỉ có ý nghĩa tương đối Khảo sáttrên thực tế của nhiều nhà kinh tế khẳng định PPP có mức độ phản ánh vào tỷ giárất thấp, đặc biệt là trong ngắn hạn

Do đó, để giải thích thoả đáng hơn những cơ sở xác định tỷ giá dài hạn,cần xem xét thêm sự tác động của các nhân tố làm thay đổi cung cầu ngoại tệtrong dài hạn

Các nhân tố tác động làm thay đổi quan hệ cung cầu ngoại tệ trong dài hạn và tỷ giá cân bằng

Xét trong dài hạn có 4 nhân tố chủ yếu tác động đến quan hệ cung cầungoại tệ Đó là: mức giá cả tương đối, chính sách bảo hộ, sở thích của người tiêudùng và năng suất lao động

Mức giá cả tương đối

Khi mức giá cả hàng hóa dịch vụ trong nước tăng so với mức giá cả hànghoá dịch vụ nước ngoài, các hãng sản xuất của một nước có xu hướng thu hẹpquy mô sản xuất do chi phí đầu vào tăng; xuất khẩu giảm, cung ngoại tệ giảm vàđường cung ngoại tệ chuyển vào phía trong; đồng thời cầu về hàng nội cũnggiảm xuống và cầu về hàng ngoại tăng lên, cầu ngoại tệ tăng lên, đường cầungoại tệ dịch chuyển ra phía ngoài bên phải đường cầu ngoại tệ ban đầu

Hình 1.4: Đồ thị tác động của nhân tố mức giá tới tỷ giá cân bằng

Điểm cân bằng ban đầu

Điểm cân bằng sau khi mức

giá tăng

D1,D2 Đường cầu ngại tệ

S1,S2 Đường cung ngoại

Trang 14

Sự dịch chuyển của đường cung và đường cầu ngoại tệ do tác động giatăng của mức giá cả hàng hoá - dịch vụ một nước kéo điểm cân bằng trên thịtrường ngoại hối lên phía trên, tỷ giá hối đoái tăng và đồng tiền nước đó giảm giá(E1 đến E2) Như vậy, về lâu dài, sự gia tăng trong mức giá một nước so với mứcgiá của nước ngoài sẽ làm cho tỷ giá hối đoái biến đổi theo hướng tăng lên vàđồng tiền nước đó giảm giá.

Chính sách bảo hộ

Sự phát triển không đều tạo khả năng cạnh tranh khác nhau của hàng hóa– dịch vụ các nước Chính sách bảo hộ là các hàng rào thuế quan và phi thuếquan được các nước dựng lên để bảo vệ lợi ích và tạo sức cạnh tranh cho cácngành công nghiệp non trẻ của một nước trong thương mại quốc tế Các hàng ràothuế quan và phi thuế quan trong khi bảo vệ lợi ích cho một số các ngành sảnxuất, một số lĩnh vực kinh tế đã ngăn cản tự do buôn bán và làm tổn hại đến lợiích của một số các ngành kinh tế, các khu vực kinh tế khác và làm giảm lợi íchcủa người tiêu dùng Sự tăng cường trong việc áp đặt bảo hộ dưới hình thức nhưthuế quan, quota làm hạn chế khối lượng hàng hoá - dịch vụ nhập khẩu, do đólàm giảm cầu về ngoại tệ, chuyển đường cầu ngoại tệ xuống phía dưới, về lâu dàikéo tỷ giá hối đoái giảm xuống và đẩy giá trị đồng nội tệ tăng lên

Hình 1.5: Đồ thị tác động của các nhân tố thuế quan đến tỷ giá cân bằng

chế độ thuế suất đối với nhập

khẩu xe máy Nhật, sẽ l m giá à

xe máy Nhật tăng lên v cà ầu

về xe Nhật giảm, đường cầu

ngoại tệ dịch trái, kéo tỷ giá

hối đoái giảm xuống E2 v à

VND tăng giá

E(VND/USD)

Q($)

D $1

Trang 15

Nghịch lý của chính sách bảo hộ là trong khi dùng các hàng rào để giảmbớt áp lực của nhập khẩu, hỗ trợ cho sản xuất trong nước và sản xuất xuất khẩu,

nó lại kéo giá trị đồng nội tệ tăng lên Sự phân tích về tác động của tỷ giá dướiđây sẽ cho chúng ta thấy chính sách bảo hộ tạo ra kết quả đi ngược lại chính mụctiêu mà nó đã đặt ra (đồng nội tệ tăng giá sẽ tạo sức ép để gia tăng nhập khẩu vàhạn chế xuất khẩu) Đó là chưa kể đến những tác động tiêu cực về mặt hànhchính sẽ tạo ra khi chính sách thuế quan và quota vượt quá những giới hạn hợp

lý Tình trạng buôn lậu qua biên giới, móc ngoặc trong đấu thầu quota và nhiềutiêu cực khác luôn đi cùng chính sách bảo hộ

Sở thích của người tiêu dùng

Sở thích luôn là yếu tố gây khó khăn trong việc định lượng những tácđộng của nó tới các biến số kinh tế Thực tế, trên thị trường nói chung và trongthương mại quốc tế nói riêng cho thấy ngay cả khi các hàng hóa trong nước vànước ngoài đã có mọi điều kiện so sánh giống như nhau (về giá cả, chất lượng,hình thức,…) thì chúng vẫn không có khả năng thay thế hoàn hảo cho nhau chỉ vìngười tiêu dùng có sở thích khác nhau

Hình 1.6: Đồ thị tác động của nhân tố sở thích đến tỷ giá cân bằng

Năng suất lao động

2

Khi dân chúng ưa thích h ng nà ội

hơn, cầu về h ng nà ội tăng, cầu

về h ng ngoà ại giảm, đường cầu

ngoại tệ dịch trái tỷ giá hối đoái

cân bằng giảm từ E1 xuống E2,

VND tăng giá

D1

Trang 16

Năng suất lao động là một biến số phản ánh tập trung sự phát triển kinh tếcủa một nước Năng suất lao động tăng lên thể hiện sự phát triển kinh tế và sửdụng có hiệu quả cao hơn các nguồn lực của một nước Năng suất lao động tănglên làm chi phí sản xuất giảm, các cơ sở sản xuất có cơ hội mở rộng kinh doanh

và hạ giá thành của sản phẩm Hàng nội có giá rẻ hơn, có sức cạnh tranh cao hơn

và các nhà sản xuất thu được lãi nhiều hơn năng suất lao động cao hơn là cơ sở

để hàng nội thay thế hàng ngoại ở thị trường trong nước và vươn ra các thịtrường nước ngoài; kích thích tăng xuất khẩu, tăng cung ngoại tệ và đường cungngoại tệ dịch phải; đồng thời làm nhu cầu hàng ngoại giảm, nhập khẩu giảm,đường cầu ngoại tệ dịch trái; kéo tỷ giá hối đoái cân bằng giảm xuống (E2) vàđồng nội tệ tăng giá

Hình 1.7: Đồ thị tác động của nhân tố năng suất lao động đến tỷ giá cân

bằng

2.1.3 Cách tiếp cận thị trường tài sản và tỷ giá hối đoái ngắn hạn

Thị trường tài sản, nơi mỗi ngày diễn ra hàng nghìn các giao dịch chuyểnđổi giữa các đồng tiền (các đồng tiền là tài sản hay hàng hoá trên thị trường này)với khối lượng lên tới hàng tỷ USD là cách tiếp cận cho phép ta giải thích cáchiện tượng biến đổi linh hoạt, tăng vọt của tỷ giá hối đoái và phân tích hiệu quả

sự can thiệp của các chính phủ vào thị trường ngoại hối

Bằng cách thừa nhận rằng tỷ giá hối đoái là giá cả của tiền gửi ở ngânhàng nội địa (những tiền gửi ghi bằng nội tệ) tính ra tiền gửi ở ngân hàng nướcngoài (những tiền gửi ghi bằng ngoại tệ), hay tỷ giá hối đoái chính là giá cả củamột tài sản được định danh bằng đồng tiền này tính ra bằng đồng tiền khác Với

vị trí là giá cả để đo lường tỷ suất lợi tức của các đồng tiền trên thị trường tài sản,bất kỳ sự thay đổi nào của tỷ giá hối đoái dù là tỷ giá hối đoái hiện hành hay tỷgiá hối đoái dự kiến đều làm thay đổi tỷ suất lợi tức của các nhà đầu tư vào cáctài sản nội – ngoại tệ Các nhà đầu tư sẽ thay đổi hành vi và làm thay đổi quan hệcung cầu trên thị trường tài sản Đến lượt nó, những thay đổi cung cầu trên thịtrường tài sản sẽ làm thay đổi tỷ giá hối đoái cân bằng

1 E(VND/USD)

Như vậy, tăng năng suất lao động l cà ơ

sở để tăng giá trị v tà ăng sức mua của

đồng nội tệ Sự tăng giá đồng nội tệ về

lâu d i tà ạo điều kiện cho h ng hoá dà ịch

vụ một nước thay thế h ng hoá nhà ập

khẩu v và ươn tới chiếm lĩnh các thị

trường nước ngo i.à

Trang 17

Những nhân tố có tính chất dài hạn cũng rất quan trọng để tiếp cận tỷ giángắn hạn, nhưng cách tiếp cận của các nhân tố dài hạn chủ yếu mới nhấn mạnhtới vai trò của cầu về xuất nhập khẩu, trong khi xuất nhập khẩu chỉ chiếm mộtphần nhỏ những giao dịch trên thị trường tài sản so với lượng giao dịch chuyểnđổi giữa các khoản tiền gửi nội tệ và ngoại tệ ở bất cứ thời kỳ nào Vì vậy, trongngắn hạn tỷ suất lợi tức của các tài sản nội tệ hay ngoại tệ đóng vai trò quantrọng hơn so với vai trò của cầu về hàng xuất nhập khẩu trong việc xác định tỷgiá hối đoái.

So sánh tỷ suất lợi tức dự tính tiền gửi nội tệ với tỷ suất lợi tức dự tính tiền gửi ngoại tệ và xác định tỷ giá cân bằng

Đối với Việt Nam, tiền gửi nội tệ được ghi bằng VND; giả định tiền gửingoại tệ được ghi bằng USD Theo thuyết về cầu tài sản, nhân tố quan trọng lúcnày tác động đến cầu về VND hay USD phụ thuộc vào việc so sánh tỷ suất lợitức tiền gửi dự tính của những tài sản đó Nếu tỷ suất lợi tức dự tính của tiền gửiUSD cao hơn VND thì cả người Việt Nam và người nước ngoài đều có xuhướng nắm giữ USD nhiều hơn (cầu về USD cao hơn) và ngược lại để so sánhcần phải đổi các tỷ suất lợi tức đó ra cùng một đơn vị tiền tệ mà họ sử dụng

Tỷ suất lợi tức dự tính về tiền gửi Việt Nam tính ra ngoại tệ không phảibằng mức lãi tiền gửi bằng đồng Việt Nam, mà phải được điều chỉnh theo sựtăng hay giảm giá của đồng VND Tương tự, tỷ suất lợi tức dự tính về tiền gửingoại tệ tính ra đồng VND phải được điều chỉnh theo sự tăng hay giảm giá củađồng ngoại tệ (USD) Ví dụ: Nêú VND dự tính tăng giá 5% thì tỷ suất lợi tức dựtính về tiền gửi Việt Nam tính ra USD sẽ tăng 5% vì VND lúc này tính ra USD

có giá trị tăng thêm 5% Vậy nếu lãi suất tiền gửi VND đang là 10%/ năm thì tỷsuất lợi suất dự tính của nó tính ra USD sẽ là 10% + 5% = 15%/năm

Tỷ suất lợi tức tiền gửi tính ra ngoại tệ: RET(USD)

Nếu gọi: id là lãi suất tiền gửi Việt Nam, is là lãi suất tiền gửi ngoại tệ, Et

là tỷ giá hối đoái tại thời điểm t và Ee

t + 1 là tỷ giá dự tính thời điểm t+1, RETd là

tỷ suất lợi tức tiền gửi Việt Nam tính ra ngoại tệ và RET$ là là tỷ suất lợi tức tiềngửi ngoại tệ tính theo ngoại tệ

Trang 18

RET $ = RET d hay i s = i d – (E e

Thị trường tài sản và tỷ giá cân bằng

Theo quy ước ngay từ đầu chương này, tỷ giá hối đoái được hiểu là tỷ giángoại tệ tính theo nội tệ: E (VND/USD) Ta có thể mô tả quan hệ giữa tỷ suất lợitức tiền gửi nội tệ so với ngoại tệ trên đồ thị bằng cách so sánh tỷ suất lợi tức dựtính của các đồng tiền tính bằng ngoại tệ: RET(USD)

Tỷ suất lợi tức dự tính về tiền gửi ngoại tệ tính bằng ngoại tệ

Hình 1.8: Đồ thị đường lợi tức của tài sản ngoại tệ(RET$)

Tỷ suất lợi tức dự tính về tiền gửi nội tệ tính bằng ngoại tệ (RET d )

Từ phương trình (1) ta có tỷ suất lợi tức dự tính tiền gửi nội tệ tính theongoại tệ được xác định bằng công thức RETd = id – (Ee

t + 1 - Et)/Et hay RETd = id +

1 – (Ee

t + 1/Et) (2) Từ công thức (2) ta thấy, Et và RETd có quan hệ đồng biến Khi

có sự gia tăng trong giá hiện hành (so với một tỷ giá tương lai dự kiến đã đượcxác định) thì tỉ suất lợi tức của đồng nội tệ tính theo ngoại tệ cũng tăng lên vàngược lại Tương quan này được thể hiện trên đồ thị là đường tỷ suất lợi tức dựtính nội tệ tính theo ngoại tệ có xu hướng dốc lên khi tỷ giá thay đổi

Hình 1.9: Đường RET d

Tỷ giá hối đoái cân bằng ( E * )

E(VND/USD) RET

$

Tỷ suất lợi tức dự tính (%) về tiền

gửi ngoại tệ tính bằng ngoại tệ

chính l lãi suà ất tiền gửi bằng đồng

ngoại tệ (i$) Lãi suất n y không phà ụ

thuộc v o tà ỷ giá hối đoái Vì thế,

trên đồ thị đường biểu diễn RET$ l à

một đường thẳng đứng, song song

với trục tỷ giá

RET(USD)

E(VND/USD)

RET d

Trang 19

Khi tỷ suất lợi tức của các tài sản nội tệ và ngoại tệ bằng nhau, thị trườngtài sản đạt vị trí cân bằng (điểm A) Tại A, tỷ giá cân bằng được xác định, cầu vềcác tài sản nội tệ bằng với cầu về các tài sản ngoại tệ và chúng có thể thay thếcho nhau Nếu tỷ giá thị trường lớn hơn hoặc nhỏ hơn tỷ giá cân bằng, cơ chế củabàn tay vô hình sẽ tự điều tiết để đưa tỷ giá trở lại vị trí cân bằng (E*).

Hình 1.10: thị trường tài sản

Những nhân tố làm thay đổi tỷ giá cân bằng ngắn hạn

Bất cứ nhân tố nào làm dịch chuyển các đường tỷ suất lợi tức dự tính trênthị trường tài sản rời khỏi vị trí ban đầu cuả nó đều dẫn đến sự dịch chuyển vị trícân bằng và thay đổi tỷ giá ngắn hạn

Sự dịch chuyển của đường tỷ suất lợi tức dự tính đối với tiền gửi nội tệ (RET d )

Sự dịch chuyển sang phải, sang trái của đường RET bị gây ra bởi cácnguyên nhân: một là, do lãi suất tiền gửi nội tệ (id) thay đổi và hai là do sự thayđổi trong tỷ giá tương lai dự tính (Ee

t+1)

Hình 1.11: Đồ thị tác động của nhân tố i d

Hình 1.12: Đồ thị tác động của nhân tố tỷ giá tương lai dự tính

Tỷ giá hối đoái tương lai dự tính lại do các nhân tố dài hạn như: mức giá

cả tương đối, chính sách bảo hộ, sở thích, năng suất lao động làm thay đổi Mọi

sự biến đổi của các nhân tố này, nếu tương tác lẫn nhau và làm tăng tỷ giá tươnglai dự tính thì sẽ dẫn tới giảm giá của đồng nội tệ Ngược lại, nếu chúng tươngtác lẫn nhau theo hướng làm giảm tỷ giá tương lai dự tính thì sẽ có tác động tănggiá đồng nội tệ

Khi lãi suất tiền gửi nội tệ tăng

lên, tỷ suất lợi tức dự tính tiền

gửi nội tệ tăng, đường RETd

dịch phải, tỷ giá hối đoái giảm,

đồng nội tệ tăng giá Ngược lại,

khi id giảm, đồng nội tệ giảm

suất lợi tức dự tính về tiền gửi nội

tệ sẽ lớn hơn lợi tức dự tính về tièn

gửi ngoại tệ hay RETd > RET$ Cả

người Việt Nam v ngà ười nước

ngo i à đều có xu hướng muốn giữ

nội tệ Họ sẽ bán ngoại tệ để mua

nội tệ, cung ngoại tệ tăng lên, giá trị

đồng ngoại tệ giảm, kéo tỷ giá hối

đoái giảm xuống đến E* Khi tỷ giá

ở mức E2 < E* diễn biến sẽ ngược

đoái hiện h nh tà ăng lên v à đồng

nội tệ giảm giá

RET

d1

Trang 20

Hình 1.13: Đồ thị tác động của nhân tố mức giá

Từ trên ta có thể kết luận : nếu những nhân tố dài hạn tác động làm tỷ giá thay đổi theo hướng giảm giá đồng nội tệ trong tương lai thì nó sẽ tác động đến làm thay đổi tỷ giá ngắn hạn theo hướng giảm giá đồng nội tệ ngay hiện tại Như vậy, giữa tỷ giá dài hạn và ngắn hạn có liên quan chặt chẽ với nhau Điều này, chính là nhân tố quan trọng làm phức tạp thêm những biến động của tỷ giá ngắn hạn.

Sự di chuyển của đồng tỷ suất lợi tức dự tính tiền gửi ngoại tệ (RET $ ).

Sự thay đổi tỷ suất lợi tức dự tính tiền gửi ngoại tệ tính theo ngoại tệ dokhông chịu những tác động của tỷ giá, nên chỉ phụ thuộc vào những biến độngtrong lãi suất của tiền gửi ngoại tệ (RET$ = i$)

Hình 1.14 : Đồ thị tác động của nhân tố i$ thực tế

1 2

Khi có sự thay đổi trong lãisuất

tiền gửi ngoại tệ, chẳng hạn i$

tăng lên, tỷ suấtlợi tức tiền gửi

ngoại tệ sẽ tăng lên, đường tỷ

suất lợi tức ngoại tệ dịch phải

kéo tỷ giá cân bằng tăng (từ E1

đên E2) v à đồng nội tệ giảm giá

Sự giảm trong lãi suất tiền gửi

Mức giá (PL) tăng, cầu xuất khẩu

giảm, S$ dịch trái; cầu nhập khẩu

tăng, D$ dịch phải; tỷ giá cân bằng

tăng từ E1 đến E2, đồng thời nội tệ

giảm giá, Ee

t+1 tăng

Trang 21

Tương quan thuận giữa tỷ giá, giá trị đồng ngoại tệ với lãi suất đồng ngoại

tệ trên đây chỉ có ý nghĩa khi sự thay đổi của lãi suất ngoại tệ là do sự thay đổicủa lãi suất thực tế gây ra Phương trình Fisher cho rằng một lãi suất danh nghĩabằng lãi suất thực tế cộng lạm phát dự tính (i = ir + ne) Như vậy, lãi suất danhnghĩa của tiền gửi có thể thay đổi do 2 nguyên nhân: lãi suất thực tế và tỷ lệ lạmphát dự tính Nếu lãi suất danh nghĩa thay đổi là do nguyên nhân lãi suất thực tếthay đổi (giả định tỷ lệ lạm phát giữ nguyên) thì lãi suất có ảnh hưởng thuận vớigiá trị của đồng tiền đó và tỷ lệ nghịch với đồng tiền trong quan hệ tỷ giá với nó

Cụ thể, khi lãi suất thực của tiền gửi ngoại tệ (ir) tăng làm lãi suất của đồng ngoại

tệ (i) tăng thì giá trị của đồng ngoại tệ (USD) tăng và giá trị của đồng nội tệ(VND) giảm Nhưng nếu lãi suất danh nghĩa của tiền gửi ngoại tệ tính theo đồngngoại tệ thay đổi do nguyên nhân tỷ lệ lạm phát dự tính thay đổi thì nó không chỉtác động đến tỷ suất lợi nhuận dự tính của đồng ngoại tệ, mà còn tác động đến tỷsuất lợi tức dự tính của cả đồng nội tệ trên thị trường tài sản

Những thay đổi trong lãi suất thường được coi là nhân tố chính tác độngđến tỷ giá Nhưng để dự đoán được chiều hướng và khả năng biến đổi của tỷ giátrong tương lai thì cần phải nắm rõ nguồn gốc sinh ra những thay đổi trong lãisuất Bởi vì, mỗi nguồn gốc khác nhau sẽ dẫn đến những thay đổi khác nhautrong tỷ giá Nếu sự tăng lãi suất trong nước do sự tăng lên cuả lãi suất thực tế,thì tỷ giá sẽ biến đổi theo hướng tăng giá đồng nội tệ và ngược lại Nếu cónguyên nhân từ sự tăng lên của lạm phát dự tính, thì chúng ta thấy tỷ giá biến đổitheo hướng giảm giá đồng nội tệ

Như vậy, sự tác động phức tạp của lãi suất và các nhân tố dự tính đến tỷgiá cân bằng làm cho tỷ giá ngắn hạn biến đổi linh hoạt từ ngày này qua ngàykhác

2.2 Các nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái nhìn từ góc độ cán cân thanh toán

Trang 22

Các nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái nằm trong chính cơ chế xác định

tỷ giá hối đoái và được phản ánh thông qua những nhân tố làm biến động cán cân

thanh toán Cán cân thanh toán quốc tế là bảng đối chiếu giữa những khoản tiền

mà nước ngoài trả cho một nước và những khoản tiền mà nước đó trả cho nước ngoài trong một thời gian nhất định[5] 5

Cán cân thanh toán gồm 2 hạng mục lớn, có liên quan trực tiếp đến nhữngthay đổi của tỷ giá hối đoái Đó là: hạng mục thường xuyên (current account) vàhạng mục vốn (capital account) Nguyên tắc bút toán kép của cán cân thanh toánlàm cho cán cân thanh toán tại bất cứ thời điểm nào cũng luôn cân bằng, khônghàm ý xảy ra sự cân bằng với từng khoản mục của nó Chính tình trạng khôngluôn cân bằng trong các khoản mục của cán cân thanh toán là nguyên nhân trựctiếp và tổng quát dẫn đến những thay đổi của tỷ giá Cũng cần lưu ý thêm, kháiniệm không cân bằng trong cán cân thanh toán (thặng dư hay thâm hụt) thườngđược dùng hiện nay, không phải là cán cân thanh toán với đầy đủ nội dung của

nó mà được dùng để chỉ tổng của hạng mục thường xuyên và hạng mục vốn

* Tác động của tài hạng mục thường xuyên đến tỷ giá hối đoái

Hạng mục thường xuyên (còn được gọi là cán cân thanh toán vãng lai –

current balance of payment) ghi những khoản giao dịch về hàng hoá, dịch vụ vàcác khoản chuyển dịch thanh toán giữa 2 nước Hạng mục thường xuyên baogồm các khoản giao dịch: xuất nhập khẩu hàng hoá, du lịch, giao thông vận tảilợi tức phát sinh từ hoạt động đầu tư, quà cáp, chi tiêu chính phủ ở nước ngoài…Trong đó cán cân thương mại (xuất nhập khẩu) là nội dung quan trọng nhất củahạng mục thường xuyên những thay đổi của cán cân thương mại có tác độngtrực tiếp và quan trọng đến tỷ giá hối đoái Vì vậy, mọi yếu tố có khả năng tácđộng làm thay đổi tình hình xuất nhập khẩu đều là những nhân tố cơ bản tácđộng đến tỷ giá hối đoái

5 Giáo trình thanh toán quốc tế trong Ngoại Thương – PGS PTS Đinh Xuân Trình, NXB Giáo dục,

Trang 23

Cách tiếp cận tỷ giá dài hạn đã chỉ cho chúng ta thấy những nhân tố tácđộng làm thay đổi cung cầu ngoại tệ có liên quan trực tiếp đến sự thay đổi củacán cân thương mại chính là: mức giá cả tương đối, chính sách bảo hộ, sở thíchcủa người tiêu dùng về hàng nội so với hàng ngoại và năng suất lao động của mộtnước Mọi sự biến đổi các nhân tố này tương tác lẫn nhau làm thay đổi cầu vềxuất nhập khẩu Những thay đổi về cầu xuất nhập khẩu, nếu làm cho cán cânthương mại dịch chuyển về phía thặng dư, nước đó có điều kiện tăng dự trữ ngoại

tệ, sẽ có tác động làm giảm tỷ giá hối đoái và tăng giá đồng nội tệ Ngược lại,nếu những thay đổi về cầu xuất nhập khẩu làm tăng sự thâm hụt của cán cânthương mại sẽ có tác động làm tăng tỷ giá hối đoái và giảm giá trị đồng nội tệ

* Tác động của hạng mục vốn đến tỷ giá hối đoái

Hạng mục vốn ghi những di động tiền tệ trong đầu tư và tín dụng giữa hainước Hạng mục vốn gồm có 2 giao dịch chủ yếu : đầu tư trực tiếp và hoạt độngtín dụng ngắn và dài hạn đầu tư vào thị trường chứng khoán (còn gọi là đầu tưgián tiếp) Mọi nguồn vốn chảy vào một nước sẽ làm tăng tài sản ngoại tệ củanước đó và bất cứ lượng vốn nào từ nước đó chảy ra nứơc ngoài cũng làm suygiảm ngoại tệ của nước đó Các nhân tố làm thay đổi luồng di chuyển của dòngvốn, do đó làm thay đổi cán cân tài khoản vốn có tác dụng làm thay đổi quan hệcung cầu trên thị trường tài sản Quan hệ cung cầu tài sản đến lượt nó sẽ làm thayđổi tỷ giá hối đoái và giá trị của các đồng tiền Đây chính là cách tiếp cận ngắnhạn, phân tích về cơ chế xác định tỷ giá ngắn hạn và các thuộc tính đặc trưng của

nó trên thị trường tài sản Các nhân tố cơ bản có tác động làm thay đổi sự dichuyển của dòng vốn được phản ánh trong công thức xác định điều kiện cân bằng

mở rộng trên thị trường tài sản: RETd=RET$

Tính theo ngoại tệ RET(USD) ta có: i$=id+1-(Ee

t+1/Et)+r

Ngày đăng: 11/05/2016, 12:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Đồ thị đường cung ngoại tệ - CƠ sở lý LUẬN về tỷ GIÁ, CHÍNH SÁCH tỷ GIÁ
Hình 1.1 Đồ thị đường cung ngoại tệ (Trang 10)
Hình 1.3: Đồ thị cung cầu ngoại tệ và tỷ giá cân bằng - CƠ sở lý LUẬN về tỷ GIÁ, CHÍNH SÁCH tỷ GIÁ
Hình 1.3 Đồ thị cung cầu ngoại tệ và tỷ giá cân bằng (Trang 11)
Hình 1.4: Đồ thị tác động của nhân tố mức giá tới tỷ giá cân bằng - CƠ sở lý LUẬN về tỷ GIÁ, CHÍNH SÁCH tỷ GIÁ
Hình 1.4 Đồ thị tác động của nhân tố mức giá tới tỷ giá cân bằng (Trang 13)
Hình 1.5: Đồ thị tác động của các nhân tố thuế quan đến tỷ giá cân bằng - CƠ sở lý LUẬN về tỷ GIÁ, CHÍNH SÁCH tỷ GIÁ
Hình 1.5 Đồ thị tác động của các nhân tố thuế quan đến tỷ giá cân bằng (Trang 14)
Hình 1.6: Đồ thị tác động của nhân tố sở thích đến tỷ giá cân bằng - CƠ sở lý LUẬN về tỷ GIÁ, CHÍNH SÁCH tỷ GIÁ
Hình 1.6 Đồ thị tác động của nhân tố sở thích đến tỷ giá cân bằng (Trang 15)
Hình 1.11: Đồ thị tác động của nhân tố i d - CƠ sở lý LUẬN về tỷ GIÁ, CHÍNH SÁCH tỷ GIÁ
Hình 1.11 Đồ thị tác động của nhân tố i d (Trang 19)
Hình 1.13: Đồ thị tác động của nhân tố mức giá - CƠ sở lý LUẬN về tỷ GIÁ, CHÍNH SÁCH tỷ GIÁ
Hình 1.13 Đồ thị tác động của nhân tố mức giá (Trang 20)
Hình 1.14 : Đồ thị tác động của nhân tố i $  thực tế - CƠ sở lý LUẬN về tỷ GIÁ, CHÍNH SÁCH tỷ GIÁ
Hình 1.14 Đồ thị tác động của nhân tố i $ thực tế (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w