1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

PHÂN TÍCH NGÀNH VẬN TẢI BIỂN KHAI THÁC CẢNG 2009

19 236 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Do tốc độ phát triển mạnh của nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, ngành vận tải biển, khai thác và dịch cụ cảng cũng có tốc độ tăng trưởng đều đặn, bình quân khoảng 1

Trang 1

BÁO CÁO PHÂN TÍCH NGÀNH VẬN TẢI BIỂN- KHAI THÁC VÀ DỊCH

VỤ CẢNG

Công ty CP Chứng Khoán Hải Phòng

Địa chỉ: 24, Cù Chính Lan, Hồng

Bàng, Hải Phòng

Tel: 0313.842.335

Fax: 0313.746.266

Website: www hpsc.com.vn

Email:

chungkhoanhaiphong@hn.vnn.vn

M ỤC L ỤC

I/ TỔNG QUAN NGÀNH……….02 II/ PHÂN TÍCH SWOT NGÀNH……… 05 III/ ĐÁNH GIÁ TRIỂN VỌNG, KHÓ KHĂN CỦA NGÀNH ……….06

Một số chỉ tiêu của các DN vận tải biển, dịch vụ và khai thác cảng……… 11

IV/ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH TẠI HẢI PHÒNG……… ……12 V/ DỰ KIẾN TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA

NGÀNH TRONG TƯƠNG LAI……… 15 VI/ KẾT LUẬN……… …19

Trang 2

I/ TỔNG QUAN NGÀNH:

-Vận tải biển, khai thác và dịch vụ cảng được coi là 1 ngàng công nghiệp dịch vụ, làm tăng giá trị hàng hoá thông qua việc di chuyển hàng hoá đó từ nơi này đến nơi khác Ở Việt Nam, vận tải biển chiếm khoảng từ 70-80% việc lưu chuyển hàng hoá thương mại Ngành này có 1 vị trí quan trọng giúp thúc đẩy nền kinh tế phát triển đặc biệt trong hoạt động xuất nhập khẩu

- Do tốc độ phát triển mạnh của nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, ngành vận tải biển, khai thác và dịch cụ cảng cũng có tốc độ tăng trưởng đều đặn, bình quân khoảng 16% trong suốt thập niên qua, cá biệt có 1 số doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng ấn tượng đạt khoảng 50% năm

- Nhận thức được vai trò quan trọng của ngành, chính phủ đã đẩy mạnh và khuyến khích đầu tư cơ sở hạ tầng cảng biển, phát triển các ngàng công nghiệp phụ trợ như đóng mới, sửa chữa tàu biển… nhằm nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của hệ thống cảng biển, đội tàu trong nước Tuy nhiên, hiện tại thì cơ sở hạ tầng của Việt Nam vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của ngành vận tải biển

( Nguồn : Tổng cục thống kê)

Khối lượng hàng hóa chủ yếu được vận chuyển thông qua các cảng biển

do trung ương quản lý

Đơn vị tính: Nghìn tấn

TỔNG SỐ 21902.5 30567.8 28713.9 34019.1 33860.8 38328.0 39045.4 46246.8

Trang 3

Hải Phòng 7243.3 8575.5 9021.4 10919.9 11493.0 13074.0 13721.1 17896.0

Khối lượng hàng hoá vận chuyển qua các cảng

chính

0.0 10000.0 20000.0 30000.0 40000.0 50000.0

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

Năm

Nghìn tấn

Bảng thống kê số liệu hàng hoá qua cảng 8 tháng đầu năm phân theo hình thức

Trong đó Tháng

Sản lượng hàng hóa thông qua cảng Xuất Nhập Nội địa Quá cảnh Cộng dồn

Việt Nam sở hữu gần 3.200km bờ biển và khoảng 198.000km sông ngòi dọc theo khắp miền đất nước tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải biển phát triển Đặc điểm của ngành vận tải biển Việt Nam là hoạt động dưới sự quản lý của Cục Hàng Hải Việt Nam- cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành và Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam ( Vinalines) – DN đại diện nhà nước kinh doanh vận tải biển, quản lý kinh

Trang 4

đó các cảng chính lớn có thể đón tàu quốc tế với trọng tải lớn gồm có: Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà

Nẵng và Vũng Tàu

Các cảng phía Nam có lưu lượng hàng hoá lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 51% về số lượng cảng và

65% khối lượng hàng hoá lưu thông do đây là khu vực kinh tế trọng điểm, phát triển nhanh và tập trung

nhiều

khu công nghiệp, chế xuất của cả nước

1 Miền Bắc 41

Bảng phân bố các KCN theo khu vực tại Việt Nam ( Nguồn: Bộ KHĐT)

Hiện tại, Vinalines là đơn vị chủ lực, quản lý và khai thác 5 cảng biển chính trong cả nước bao gồm

Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP HCM và Cần Thơ Thực tế, do thiếu tính cạnh tranh lành mạnh

và nguồn vốn đầu tư khiến cho hệ thống cảng của Việt Nam chậm phát trỉên so với các nước trong khu

vực Phần đông các cảng thuộc loại nhỏ và nằm sâu trong sông, nuồng lạch khá nông, không đáp ứng

được nhu cầu bốc xếp của các tàu có trọng tải lớn

Bảng: Năng lực đội tàu của Việt Nam so với các nước trong khu vực

(Chỉ tính các tàu trên 1.000 GRT)

Loại tàu Việt Nam Thái Lan Trung Quốc Indonesia Philippines

Tổng dung tải (GRT) 1,739,9 27 2,640,857 22,219,786 4,409,198 4,542,681

Trang 5

ại tàu Việt Nam Thái Lan Trung Quốc Indonesia

(Nguồn: CIA World Fact Book 2008)

Chính vì thế, một giải pháp được đưa ra là xây dựng các cảng liên doanh với nước ngoài nhằm tận dụng vốn, công nghệ, kỹ thuật và cách thức quản lý từ đó nâng cao tính cạnh tranh cũng như tạo điều kiện phát huy hết tiềm năng bờ biển dài, sông ngòi nhiều của Việt Nam

II/ PHÂN TÍCH SWOT ĐỐI VỚI NGÀNH VẬN TẢI BIỂN, KHAI THÁC VÀ DỊCH VỤ CẢNG TẠI VIỆT NAM:

ĐIỂM MẠNH ( STRENGTH)

- VN có bờ biển dài trải dọc khắp chiều dài đất

nước, hệ thống sông ngòi chằng chịt , đặc biết

VN có vị trí địa lý thuận lợi trong khu vực, đây là

lợi thế cạnh tranh tuyệt đối của VN để phát triển

lĩnh vực kinh doanh vận tải biển trong nước cũng

như trở thành cảng trung chuyển của thế giới

- VN còn nhiều cảng biển có tiềm năng nhưng

hiện tại chưa được khai thác hoặc chưa được đầu

tư đúng tầm để đưa vào sử dụng Khi nền kinh tế

phát triển, cùng với sự hợp tác của các liên doanh

nước ngoài, tiềm năng các cảng của VN sẽ được

tận dụng và khai thác tối đa, mở ra một bước tiến

mới cho ngành này tại VN

- Các cảng biển của VNchủ yếu tập trung ở các

thành phố lớn, nên việc luân chuyển hàng hoá từ

tàu lên đất liền và ngược lại cũng rất thuận tiện,

hệ thống đường sá cũng đã được đầu tư nâng cấp

để góp phần thuận tiện hơn cho công tác vận

chuyển

ĐIỂM YẾU(WEAKNESS)

- Do hạn chế về vốn đầu tư nên hiện tại hệ thống cầu cảng của VN còn quá nhỏ, chưa có các cảng nước sâu đủ lớn để đón các tàu quốc tế có trọng tải lớn Một số tàu lớn vẫn phải chuyển qua các cảng Singapore, Hồng Kông để trungchuyển hàng hoá gây tốn kém về chi phí và thất thoát nguồn thu

- Công tác cải tạo nâng cấp còn chưa tốt nên một số cảng sau 1 thời gian sử dụng có hiện tượng bồi lấp

-Khoảng 60% cầu cảng VN hiện do Vinalines quản

lý, không tránh khỏi tình trạng trì trệ và hạn chế tính cạnh tranh tác đọng không tốt đến công tác dầu

tư, nâng cao năng lực phục vụ

- Thiếu vốn, kinh nghiệm quản lý cũng như hạn chế về công nghệ cũng là một điểm yếu của ngành

Đôi khi do thủ tục quản lý thiếu linh hoạt làm tăng thời gian lưu kho của hàng hoá, giảm lượng hàng hoá trung chuyển

- Xu hướng vận chuyển hàng container hiện nay phát triển mạnh trong khi ở VN vẫn chủ yếu bốc xếp hàng rời, chưa đáp ứng được nhu cầu hiện tại

Trang 6

III/ ĐÁNH GIÁ TRIỂN VỌNG VÀ KHÓ KHĂN CỦA NGÀNH VẬN TẢI BIỂN, KHAI THÁC VÀ DỊCH VỤ CẢNG TRONG THỜI GIAN TỚI:

A.THỊ TRƯỜNG VẬN TẢI BIỂN NĂM 2008

Thị trường vận tải biển trong năm 2008 như một bức tranh với hai màu sáng tối tương phản Trong 6 tháng đầu năm, khi mà các chỉ số kinh tế của Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều tăng mạnh

và đạt đến đỉnh, sự bùng phát của tín dụng, các chỉ số tài chính - chứng khoán đến giá dầu, giá thép đều tăng với tốc độ kỷ lục, giá cước vận tải biển trong giai đoạn này cũng lên cao đến mức kỷ lục

Tuy nhiên từ quý 3 năm 2008,khi thị trường tài chính Mỹ có dấu hiệu khủng hoảng bắt nguồn từ thị trường cho vay dưới chuẩn của nước này và đã lan rộng ra phạm vi toàn cầu, làm đình trệ toàn bộ nền kinh tế thế giới đã khiến cho giá cước vận tải biển liên tục trong trạng thái rơi tự do

1 Thị trường vận tải hàng khô và hàng rời

Giá cước vận tải hàng khô giảm mạnh ch ỉ trong một thời gian ngắn Thị trường cho thuê tàu hàng khô nửa cuối năm 2008 mất giá khoảng 60% - 90% tùy theo kích cỡ tàu sau khi đã tăng mạnh trong nửa đầu năm Trong đó giảm nhiều nhất là thị trường tàu Cape size do nhu cầu về tiêu thụ thép thế giới giảm, thêm vào đó Nhật Bản cũng tuyên bố cắt giảm sản lượng Tính trong giai đoạn suy thoái từ tháng 7 đến

- Cơ hội lớn cho những doanh nghiệp cảng là nhu

cầu thị trường tiềm năng, đến từ các doanh

nghiệp XNK Theo IMF, kinh tế trong nước

nhanh chóng hồi phục và đạt được mức tăng 7%

trong năm sau 2009 Xuất nhập khẩu cũng nhờ

đósẽ tăng trưởng trở lại tạo ra tiềm năng to lớn

cho các DN trong ngành vận tải biển, khai thác

và dịch vụ cảng

-Dòng vốn FDI cũng như vốn đầu tư xã hội chảy

vào những lĩnh vực công nghiệp chế biến trong

những năm gần đây tăng nhanh, chiếm khoảng

50% tổng vốn FDI đăng ký và 20% tổng vốn đầu

tư cho toàn nền kinh tế Những dấu hiệu

đó cho thấy tổng mức sản xuất xã hội sẽ tiếp tục

tăng trưởng trong thời gian tới, đồng nghĩa với

việc nhu cầu do dịch vụ cảng biển cũng sẽ tăng

-Việc cho phép các doanh nghiệp nứơc ngoài

tham gia vào đầu tư và khai thác cơ sở hạ tầng

cảng cũng tạo ra cơ hội chuyển giao công nghệ

tiên tiến và học hỏi kinh nghiệm quản lý, hoạt

động cảng cho những doanh nghiệp trong nước

-Năng lực trong việc cung cấp các dịch vụ của cảng biển Việt Nam hạn chế hơn so với so với các nước trong khu vực khiến dịch vụ của các doanh nghiệp cảng cũng trở nên kém hấp dẫn đối với các hãng tàu nước ngoài có nhu cầu quá cảnh

-Ngay trong việc phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu trong nước, các doanh nghiệp cảng cũng vấp phải những rủi ro của sự quá tải Vì vậy, vấn đề quá tải chậm được khắc phục và mặt khác, thời gian xây dựng cảng mới mất ít nhất4

- 5 năm/cảng khiến cơ sở hạ tầng của cảng xuống dốc

- Các nước trong khu vực có lợi thế về cảng cũng đang tích cực đầu tư, mở rộng cầu cảng, nâng cao năng lực chuyên chở của đội tàu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào khai thác cảng sẽ trở thành đối thủ nặng ký cho các doanh nghiệp VN, miếng bánh lợi nhuận sẽ bị chia sẻ

Trang 7

thuê tàu định hạn một năm cỡ tàu Panamax và Handymax tính theo phương pháp CAGR trung bình mỗi tháng giảm giá lần lượt là 46% và 43%

2 Thị trường vận tải Container

Tương tự như thị trường vận tải hàng khô và hàng rời, thị trường vận tải container cũng trải qua giai đoạn hết sức khókhăn Nhu cầu tiêu thụ hàng hóa tại Châu Âu và Bắc Mỹ giảmdẫn đến việcnhiều tuyến vận chuyển từ Châu Á tới khu vực này bị cắt giảm Hiện khoảng 6% đội tàu container của thế giới phải neo đậu do không có hàng để vận chuyển và đây là mức cao nhất trong gần 10 năm qua.Giá cho thuê tàu chịu chung số phận Sự suy thoái giá cước chothuê tàu container diễn ra sớm hơn và bắt đầu từ tháng 2/2008 Những tàu có trọng tải bé do khả năng xoay sở nguồn hàng dễ hơn nên giá cước cước bị giảm ít, giá cước cho thuế đối với tàu 1.100TEU, 1.700TEU, 2.500TEU cho tới thời điểm cuối năm lần lượt mất giá khoảng 61%,65%, 66% và tiếp tục giảm kể từ đầu năm 2009 trở lại đây

3 Thị trường vận tải tàu dầu và hàng lỏng

Giá cước vận tải dầu chưa có dấu hiệu hồi phục Thị trường vận chuyển dầu,gas và hóa chất mặc dù ít bị ảnh hưởng từ khủng hoảng hơn so với thị trường vận tải hàng khô và hàng container nhưng cũng không tránhkhỏi tình trạng giá cước giảm Chỉ số vận tải dầu thô Baltic Dirty Tanker Index tại thời điểm 31/12/2008 so vớiđỉnh điểm hồi cuối tháng7 mất giá 47%, vận tải dầu sản phẩm mất giá 44% Bên cạnh

đó, với việc OPEC liên tục cắt giảm sản lượng trong những tháng cuối năm 2008 để ngăn chặn giá dầu sụt giảm đã làm cho nhu cầu vận chuyển càng yếu thêm Đây là lý do quan trọng khiến giá cước vận tải dầu chưa thể tăng giá trở lại như 2 thị trường hàng khô và container

B.THỊ TRƯỜNG VẬN TẢI BIỂN NĂM 2009:

Theo thống kê quy luật về chu kỳ kinh tế, thông thường ngành vận tải nói chung sẽ bứt phá sớm khi nền kinh tế khởi sắc trở lại

Chỉ số BID (Baltic Exchange Dry Index )-chỉ số vận chuyển nguyên liệu thô trên biển là chỉ báo cực nhạy đối với nền kinh tế Khi kinh tế tăng trưởng, chỉ số này đạt đỉnh trước tiên và khi TT suy giảm, chỉ

số này suy giảm mạnh và chạm đáy đầu tiên

Trang 8

Số liệu GDP mới nhất trong quý 2 đã công bố cho thấy những nền kinh tế lớn đã bắt đầu có dấu hiệu đang trên đà phục hồi

Baltic Exchange Dry Index (BDI)& Gold (gold)( Chỉ số vận chuyển nguyên

liệu thô trên biển ( BDI) và chỉ số vận chuyển vàng)

Nhu cầu giao thương quốc tế ngày càng sôi động biểu hiện ở chỉ số BDI –Baltic Exchange Dry Index (chỉ

số theo dõi tỷ lệ vận chuyển nguyên liệu thô trên biển) đã tăng từ mức thấp nhất dưới 800 điểm trong quý I/2009 lên mức cao nhất 4.300 trong tháng 5/2009

Trang 9

Baltic Exchange Dry Index (BDI)(Point & Figure (50x3))

Baltic Exchange Dry Index (BDI)Recent,

"Logarithmic Chart" 200 day ROC and 20 day ROC (Rate of Change)

Tuy nhiên đến ngày 06/08/2009, BDI đã giảm xuống còn 2.907 điểm khi nhu cầu về quặng sắt và than

Trang 10

suparamax giảm 3,9% xuống còn 20.053 USD/ngày, và giá tàu handysize giảm 1,4% xuống 12.306 USD/ngày

Mặc dù đang ở mức thấp hơn nhiếu so với thời kỳ đỉnh điểm vào những tháng đầu năm 2008, tuy nhiên những diễn biến gần đây ít nhất cũng cho ta bức tranh tươi sáng hơn về ngành vận tải biển trong tương lai Tình hình hoạt động vận tải biển của Việt Nam 7 tháng đầu năm 2009

Trong 7 tháng đầu năm 2009, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 66,9 tỷ USD, giảm hơn 23% so với cùng

kỳ năm 2008 Đây là một trong những nguyên nhân đẩy khối lượng vận chuyển hàng hóa 7 tháng đầu năm

2009 chỉ đạt mức 26.5 triệu tấn giảm 9,8% so với cùng kỳ năm 2008

Tuy nhiên qua diễn biến tình hình vận chuyển hàng hóa bằng đường biển trong 7 tháng đầu năm 2009 cho chúng ta thấy khối lượng vận chuyển đã tăng khá mạnh kể từ quý II

Trong số hơn 10 doanh nghiệp trong ngành vận tải biển trên sàn niêm yết có hơn 1/3 các doanh nghiệp công bố lỗ trong 6 tháng đầu năm 2009 Hầu hết đều là các doanh nghiệp lớn, có thương hiệu mạnh trong ngành vận tải biển Đặc điểm chung là đều có các khoản vay dài hạn rất lớn

Nguyên do là trong nửa cuối năm 2007 và nửa đầu năm 2008 khi nền kinh tế thế giới đang thời kỳ sôi động, nhu cầu giao thương vận chuyển hàng hóa trên thế giới lên cao (thể hiện chỉ số BDI có lúc đạt mức 11.600 điểm), nhiều doanh nghiệp đã đẩy mạnh vay vốn để trang bị tàu mới nhằm đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu của Việt Nam

Thời điểm này chi phí mua tàu đúng ở mức đỉnh điểm, đó là giá tàu cao, chi phí đội tàu lớn, nguyên nhiên liệu đắt đỏ, cộng thêm lãi suất cho vay cũng ở mức cao nhất Các khoản đầu tư trên của nhiều doanh nghiệp vẫn còn để lại hậu quả cho đến bây giờ khi mà chi phí lãi vay cũng góp phần tạo nên những khoản

lỗ cho các công ty này

Bên cạnh những doanh nghiệp vận tải gặp nhiều khó khăn, cũng có một số doanh nghiệp làm ăn kinh doanh an toàn, có lãi nhờ vào những thế mạnh riêng như VIP, VTO, MHC, VFR

Tuy còn khó khăn trong thời gian tới như giá dầu tăng cao, nhu cầu vận tải chưa hoàn toàn hồi phục nhưng các DN trong ngành cũng như nhà đầu tư vẫn tìm thấy những cơ hội kinh doanh và đầu tư vào cổ phiếu vận tải biển trong nửa cuối năm bởi những lí do sau đây:

Thứ nhất, triển vọng ngành trong những tháng cuối năm có xu hướng tốt lên Theo dự báo tháng 7 của

IMF, kinh tế thế giới đang dần hồi phục bắt đầu từ những tháng cuối năm 2009

Cùng với đó, quý 3 và 4 cũng bắt đầu mùa sôi động của hoạt động thương mại, hoạt động vận tải biển

Trang 11

có sự tăng trưởng mạnh so với đầu năm Một dấu hiệu tích cực khác là chỉ số vận tải BDI đã tăng điểm 18 phiên liên tiếp cũng hỗ trợ cho giá cước vận tải và thuê tàu đối với các hãng vận tải trong nước

Thứ hai, một số DN sẽ có những khoản thu nhập đột biến từ hoạt động bán tàu hay chuyển nhượng dự án

đầu tư Theo như kế hoạch, MHC và DDM đang chào bán tàu đã khấu hao hết với giá chào lên đến hàng triệu USD

VSP thì đang tìm đối tác để chuyển nhượng dự án sân Golf Mê Linh, chuyển nhượng Cty con NamViet Oil, xuất khẩu gạo đi Châu Phi và cát đi Singapore Nếu những dự án này được thực hiện sẽ làm thay đổi con số lợi nhuận của các DN này từ lỗ thành lãi thậm chí lãi cao

GMD đo đánh giá lại giá trị bất động sản, dự kiến sẽ có lợi nhuận đột biến và giá trị tài sản tăng mạnh, lý giải cho việc giá CP này tăng mạnh trong suốt thời gian vừa qua

Thứ ba, giá cổ phiếu nhóm vận tải biển hiện đang khá thấp theo phương pháp định giá PB (P/B phần lớn

dưới 2.x) Hơn nữa, với những lạc quan về triển vọng của các DN vận tải biển trong thời gian tới, thì sự giá tăng của các cổ phiếu vận phản ánh kỳ vọng sự tốt lên trong kết quả kinh doanh được xem là hợp lí Các DN trong ngành vận tải biển đã vượt qua được thời kỳ khó khăn nhất của mình và đang có những cơ hội mới cho việc tăng trưởng và phát triển lại khi nền kinh tế hồi phục Việc hầu hết các cổ phiếu của các ngành khác đã lấy lại được đà tăng trưởng trong khi cổ phiếu vận tải biển suy giảm sâu nhất vẫn đang hồi phục chậm thì khả năng tăng trưởng của nhóm cổ phiếu này trong thời gian tới là khá cao

Một số chỉ tiêu của các DN vận tải biển, dịch vụ và khai thác cảng:

S

T

T

Tên công ty Mã CK

CP lưu hành

ROA (%)

ROE (%)

EPS trượt 4 quý

EPS 6 tháng năm

2009

Gía hiện tại

Dự kiến EPS năm

2009

Forwa

rd PE200

9

BV PB* *

1

CTCP Đại lý liên hiệp vận

2

CTCP Container Việt

3 CTCP Cảng Rau quả VGP 6.2 12.80 14.90 3,374 2,316 27.6 3,800 7.26 23,341 1.18

4 CTCP Cảng Đoạn Xá DXP 5.3 36.00 52.70 8,637 4,835 69.4 9,000 7.71 18,463 3.76

Ngày đăng: 11/05/2016, 07:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê số liệu hàng hoá qua cảng 8 tháng đầu năm phân theo hình thức - PHÂN TÍCH NGÀNH VẬN TẢI BIỂN KHAI THÁC CẢNG 2009
Bảng th ống kê số liệu hàng hoá qua cảng 8 tháng đầu năm phân theo hình thức (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w