CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ VÀ MÔ HÌNH HỒI QUY ĐA BIẾN DỰ ĐOÁN TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG CỦA TRẺ TRONG KHU VỰC NGHIÊN CỨUError!. Việc nghiên cứu và theo dõi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Hoàng Quý Tỉnh và PGS.TS Nguyễn Hữu Nhân, tại Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Sinh lý học
và Sinh học người nói riêng và các thầy cô giáo trong Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội nói chung
đã hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn của mình
Tôi xin được cảm ơn Ban Giám hiệu và các bậc phụ huynh Trường mầm non Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thu thập số liệu
Cuối cùng tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn
ở bên cạnh, động viên và chia sẻ hết mình giúp tôi vượt qua mọi khó khăn, trở ngại trong học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Vũ Văn Tâm
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt dùng trong luận văn
Danh mục các bảng dùng trong luận văn
Danh mục các hình dùng trong luận văn
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 10
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG 10
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 10
1.1.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam 14
1.2.1 Đặc điểm tăng trưởng của trẻ Error! Bookmark not defined.
1.2.2 Khái niệm dinh dưỡng Error! Bookmark not defined.
1.2.3 Suy dinh dưỡng Error! Bookmark not defined.
1.2.4 Hậu quả của tình trạng thiếu dinh dưỡng Error! Bookmark not defined.
Bookmark not defined.
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined.
2.2 ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined.
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined.
2.3.1 Phương pháp tính tuổi Error! Bookmark not defined.
2.3.2 Phương pháp đo cân nặng, chiều cao, vòng cánh tay trái duỗiError! Bookmark
not defined.
2.3.3 Phương pháp phân tích và xử lí số liệu Error! Bookmark not defined.
2.3.4 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN Error! Bookmark not
defined.
3.1 MỘT SỐ CHỈ TIÊU NHÂN TRẮC VÀ MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC CHỈ
SỐ NHÂN TRẮC Error! Bookmark not defined.
3.1.1 Chiều cao của trẻ trong nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
3.1.2 Cân nặng của trẻ trong nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
3.1.3 BMI của trẻ trong nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
3.1.4 Vòng cánh tay trái duỗi Error! Bookmark not defined.
3.1.5 Mối tương quan giữa các kích thước nhân trắc của trẻ mầm non trong nghiên cứuError! Bookmark not defined 3.2 TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG CỦA TRẺ TRONG NGHIÊN CỨUError! Bookmark not defined 3.2.1 Tình trạng suy dinh dưỡng chiều cao/tuổi Error! Bookmark not defined.
3.2.2 Tình trạng suy dinh dưỡng cân nặng/tuổi Error! Bookmark not defined.
3.2.3 Tình trạng suy dinh dưỡng BMI/tuổi Error! Bookmark not defined.
3.2.4 Tình trạng suy dinh dưỡng theo vòng cánh tay trái duỗiError! Bookmark not
defined.
3.3 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CÁC GIA ĐÌNH TRONG KHU VỰC
NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined.
3.3.1 Nghề nghiệp của bố mẹ Error! Bookmark not defined.
Trang 53.3.2 Trình độ học vấn của bố mẹ Error! Bookmark not defined 3.3.3 Tổng số con trong gia đình Error! Bookmark not defined 3.3.4 Mức độ sử dụng thường xuyên lương thực, thực phẩm của trẻError! Bookmark
not defined.
3.3.5 Số bữa ăn trong ngày Error! Bookmark not defined 3.3.6 Thời gian tẩy giun định kỳ Error! Bookmark not defined 3.3.7 Nguồn nước sử dụng trong sinh hoạt Error! Bookmark not defined 3.3.8 Mức độ thường xuyên sử dụng đồ ăn sẵn cho trẻ Error! Bookmark not defined.
3.4 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ
VÀ MÔ HÌNH HỒI QUY ĐA BIẾN DỰ ĐOÁN TÌNH TRẠNG SUY DINH
DƯỠNG CỦA TRẺ TRONG KHU VỰC NGHIÊN CỨUError! Bookmark not defined.
3.4.1 Mối liên quan giữa trình độ học vấn của bố mẹ và tình trạng suy dinh dưỡng
Error! Bookmark not defined.
3.4.2 Mối liên quan giữa số con trong gia đình và tình trạng suy dinh dưỡng Error!
Bookmark not defined.
3.4.3 Mối liên quan giữa việc ăn một số thức ăn sẵn và tình trạng suy dinh dưỡng
Error! Bookmark not defined.
3.4.4 Mối liên quan giữa số bữa ăn trong ngày và tình trạng suy dinh dưỡng Error!
Bookmark not defined.
3.4.5 Mô hình hồi quy đa biến dự đoán tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ trong khu vực
nghiên cứu Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ LỤC 80
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Trang 7Trẻ em luôn giữ một vị trí quan trọng trong đời sống của gia đình cũng như cộng đồng người Việt Nam và luôn là vấn đề được xã hội quan tâm, đặc biệt là việc chăm sóc – giáo dục ngay từ khi còn nhỏ, bởi vì trẻ em
là tài sản, là công dân tương lai của đất nước, đó là những con người sau này sẽ kế tục sự nghiệp của cha ông
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mĩ của trẻ Theo các chuyên gia trong ngành giáo dục thì trẻ được tiếp cận với bậc học mầm non càng sớm, càng thúc đẩy quá trình học tập và phát triển ở các giai đoạn tiếp theo Để tạo ra những con người phát triển toàn diện, đáp ứng các yêu cầu của xã hội
Trang 8đề ra thì một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu là phải có một sức khỏe tốt
Sự phát triển cơ thể của trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như di truyền
và môi trường sống (dinh dưỡng, gia đình, xã hội, văn hoá, giáo dục…) Trong đó dinh dưỡng được xem là một yếu tố có tác động trực tiếp, mạnh
mẽ đến sự phát triển cơ thể của trẻ nhỏ, được dùng để đánh giá sự phát triển cơ thể của trẻ, đặc biệt là trẻ mầm non giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi
Việc nghiên cứu và theo dõi sự phát triển thể chất của trẻ em, nhất là trẻ em lứa tuổi mầm non từ 3 đến 6 tuổi là cần thiết nhằm đánh giá đúng thực trạng về thể lực, góp phần làm cơ sở cho việc theo dõi và đề xuất các giải pháp tăng cường sức khỏe lứa tuổi đặc biệt này
Tổ chức Y tế Thế giới (1990) ước tính có khoảng 500 triệu trẻ em bị thiếu dinh dưỡng trên phạm vi toàn cầu, khoảng 150 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng (SDD) thể nhẹ cân và hơn 20 triệu trẻ em bị SDD nặng [71, 72, 73] Theo kết quả điều tra quốc gia từ năm 1980 – 1992 của
79 nước đang phát triển cho thấy tỷ lệ trẻ em SDD thể nhẹ cân là 35,8%, tỷ
lệ trẻ em còi là 42,7%, tỷ lệ trẻ em bị còm là 9,2% Trong đó Châu Á có tỷ
lệ SDD cao nhất so với các châu lục khác: 42% trẻ SDD thể nhẹ cân, 47,1% trẻ em còi và 10,8% trẻ em còm [61]
Trong những năm gần đây, song song với sự phát triển về kinh tế,
mô hình tình trạng dinh dưỡng của người Việt Nam đang thay đổi theo hướng dinh dưỡng chuyển tiếp Chúng ta phải chịu gánh nặng kép về dinh dưỡng: một mặt phải khắc phục tình trạng SDD hiện vẫn còn chiếm tỉ lệ cao, mặt khác đó là tình trạng thừa cân, béo phì SDD vẫn đang là một vấn
đề sức khỏe cộng đồng của Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới Theo điều tra dinh dưỡng hàng năm của Viện Dinh dưỡng cho thấy tỉ lệ SDD của
Trang 9trẻ em Việt Nam có giảm qua các năm nhưng nhiều khu vực vẫn có tỷ lệ trẻ SDD cao Tỷ lệ trẻ SDD đã giảm nhiều nếu tính từ 1985 (51,5%) đến
1995 (44,9%) mỗi năm giảm trung bình 0,66% Từ năm bắt đầu Kế hoạch Quốc gia Dinh dưỡng (1995), chỉ sau 4 năm tỷ lệ SDD đã giảm xuống còn 36,7% (1999), trung bình mỗi năm giảm 2%, là tốc độ được quốc tế công nhận là giảm nhanh Như vậy, mỗi năm đã đưa khoảng gần 200 ngàn trẻ dưới 5 tuổi thoát khỏi SDD Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD cân nặng theo tuổi (cân nặng/tuổi) ở các năm 2000, 2005, 2010 và 2013 lần lượt là 33,8%, 25,2%, 17,5% và 15,3% [9]
Tìm hiểu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng SDD (như các yếu tố về kinh tế, xã hội …) sẽ cung cấp những thông tin quan trọng phục vụ cho chiến lược can thiệp phòng chống SDD và đặc biệt là góp phần nâng cao thể trạng cho trẻ em nước ta Muốn có biện pháp can thiệp kịp thời thì cần phải đánh giá được tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ
Khu vực xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định là khu vực chuyển tiếp giữa nông thôn và thành thị, hàng năm vẫn còn tình trạng trẻ
em suy dinh dưỡng, vì vậy cần phải khảo sát và đánh giá tình trạng SDD để
có biện pháp xử lý kịp thời Chính vì các lý do trên mà chúng tôi đã chọn
đề tài: “Nghiên cứu tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ mầm non xã Mỹ
Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định” với các mục tiêu sau:
- Tìm hiểu các chỉ số nhân trắc bao gồm chiều cao, cân nặng, vòng cánh tay trái duỗi và xây dựng phương trình xác định mối tương quan giữa các chỉ số nhân trắc của trẻ mầm non tại xã Mỹ Phúc, huyện
Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
- Xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ mầm non tại địa bàn nghiên cứu
Trang 10- Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ mầm non xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
- Xây dựng phương trình hồi quy đa biến để dự báo tình trạng suy dinh dưỡng dựa vào các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Năm 1754 Christian Friedrich Jumpert (Đức), đã công bố công trình nghiên cứu cắt ngang đầu tiên về tăng trưởng ở trẻ em trong đó có trình bày các số liệu đo đạc về cân nặng, chiều cao của trẻ em [trích theo 25]
Nhưng phải đến năm 1925 R Martina (Đức) đã đề xuất phương pháp
và dụng cụ để đo kích thước cơ thể con người Từ đó trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu lĩnh vực này Nhưng phương pháp của R Martina ngày càng được bổ sung và hoàn thiện [23]
Cũng trong năm 1925, Tổ chức Y tế của Liên minh Quốc gia nghiên cứu về mối liên quan dinh dưỡng và sức khỏe cộng đồng và J Boyd Orrda
đã phát hiện ra mối liên quan trực tiếp giữa tầng lớp xã hội và sức khỏe của
họ Tác giả Brnet và Aykroyd cho rằng suy thoái kinh tế 1930 làm cho người nghèo bị SDD nhiều nhất [trích theo 25]
Năm 1938 C.William phát hiện ra bệnh gọi là SDD thiếu Protein – năng lượng thể phù (Kwashiokor) [trích theo 25]
Năm 1942 Daray Thompson đã đưa khái niệm tốc độ tăng trưởng cùng
2 đại lượng của tăng trưởng chiều cao và cân nặng như những chỉ tiêu về sức khỏe [ trích theo 21]
Trang 11Năm 1984 WHO đã tổ chức một hội nghị về dinh dưỡng ở Fiji để đánh giá tình hình và kinh nghiệm phòng chống dinh dưỡng ở các nước trong khu vực Tây Thái Bình Dương Hội nghị kết thúc đã đưa ra một quyết định quan trọng: “Suy dinh dưỡng trẻ em có rất nhiều nguyên nhân, cho nên việc phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em không thể hoạt động riêng rẽ của từng ngành, ngành nhi, ngành phòng dịch, ngành nông nghiệp
và chế biến thực phẩm, mà phải do những người cầm đầu các nước đứng ra nhận trách nhiệm phối hợp các ngành và giáo dục vận động nhân dân, các gia đình tự giác tham gia bằng khả năng và phương tiện hiện có của mình” Hội nghị đã đưa ra việc phòng chống SDD bắt đầu từ thời kì nhi khoa chuyển sang thời kì phòng dịch [trích theo 25]
Năm 1990, WHO thành lập Nhóm nghiên cứu về tăng trưởng của trẻ
nhằm đưa ra những khuyến cáo cho việc sử dụng và giải thích một cách hợp lý về các kích thước nhân trắc áp dụng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Theo báo cáo của nhóm nghiên cứu này: dữ liệu tham chiếu của Trung tâm Quốc gia về Thống kê Y học của Mỹ/WHO có những sai sót và thất bại trong việc dự đoán một cách đầy đủ sự tăng trưởng về mặt thể chất của trẻ Những hạn chế này đã làm cản trở công tác quản lý dinh dưỡng hợp lý của trẻ nhỏ Vì vậy cần phải có những đường tăng trưởng mới để đáp ứng cho nhu cầu trên [82]
Năm 1995, WHO đã đề nghị lấy Quần thể NCHS (National Centre of Health Satistics) của Hoa Kỳ làm Quần thể tham chiếu Từ trước những năm 90 của thế kỷ trước, đề nghị này được ứng dụng rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới trong đó có cả Việt Nam Trong đó, WHO lưu ý rằng không nên coi quần thể tham chiếu là chuẩn mà chỉ là cơ sở để đưa ra các nhận định thuận tiện cho các so sánh trong nước và quốc tế [75]
Trang 12Năm 2006, WHO đã công bố bộ chuẩn tăng trưởng thứ nhất của trẻ dưới 5 tuổi, gồm các chuẩn về chiều cao theo tuổi (chiều cao/tuổi), cân nặng theo tuổi (cân nặng/tuổi), cân nặng theo chiều cao (cân nặng/chiều cao) và BMI theo tuổi (BMI/tuổi) [77]
Năm 2007, WHO tiếp tục công bố bộ chuẩn tăng trưởng thứ 2 cho trẻ dưới 5 tuổi gồm các chuẩn về vòng đầu theo tuổi (vòng đầu/tuổi), vòng cánh tay trái duỗi theo tuổi (VCTTD/tuổi), bề dày lớp mỡ dưới da tại cơ tam đầu cánh tay theo tuổi và bề dày lớp mỡ dưới mỏm bả theo tuổi [81]
Năm 2009, nghiên cứu của Shankar Prinja và cộng sự ở Ấn Độ sử dụng tiêu chuẩn của WHO để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi cho thấy: với cùng một quần thể trẻ dưới 5 tuổi, tỷ lệ trẻ nhẹ cân khi áp dụng chuẩn tăng trưởng mới của WHO thấp hơn so với khi áp dụng chuẩn của Viện Nhi khoa Ấn Độ [69]
Theo báo cáo của UNICEF công bố ngày 2/5/2006 cho biết hơn 1/4 trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị thiếu cân, cuộc sống đang
bị đe dọa Dinh dưỡng không đầy đủ vẫn là đại dịch toàn cầu dẫn đến một nửa số ca tử vong là trẻ em, khoảng 5,6 triệu trẻ em mỗi năm [trích theo 35] Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính có khoảng 500 triệu trẻ
em bị suy dinh dưỡng trên toàn cầu, trong đó 150 triệu trẻ em ở Châu Á, chiếm 44% tổng số trẻ em dưới 5 tuổi [trích theo 20] Gần 3/4 trẻ em thiếu cân trên toàn thế giới đang sống ở 10 quốc gia và hơn một nửa số đó sống ở
3 nước: Bănglađét, Ấn Độ và Pakixtan Năm 2004, tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị thiếu cân ở Bănglađét là 48%, Ấn Độ là 47% [60] và Pakixtan là 38% [65]
Các cuộc điều tra của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy tỷ lệ SDD
có sự chênh lệch nhiều giữa vùng nông thôn và thành thị Kết quả cuộc khảo sát về tình hình kinh tế xã hội ở Indonesia năm 2003 cho thấy tỉ lệ
Trang 13SDD trẻ em ở vùng thành thị là 25%, trong khi đó ở nông thôn là 30% [66] Tại Kenya, theo báo cáo chung năm 2003, tỉ lệ SDD ở thành thị là 13% còn
ở nông thôn là 21% [52]
Tại khu vực Đông Nam Á, theo thống kê của UNICEF năm 1994 cho thấy tỉ lệ SDD còn ở mức cao nhƣ Campuchia: 52%, Lào: 40%, Mianma: 39% và Indonesia: 34% [73]
Bảng 1.1 Tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng thể còi tại một số khu vực
Bảng 1.2 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em các nước đang phát triển
trên thế giới năm 1990 và 2003 [55]
Vùng
Tỷ lệ SDD cân nặng/tuổi (%)
Tỷ lệ SDD chiều cao/tuổi (%)
Trang 14Năm 2000, Amy L.Rice, Lisa Sacco và cộng sự nghiên cứu về tử vong ở trẻ em bị SDD tại các nước đang phát triển nhận thấy có mối liên quan giữa SDD và bệnh tiêu chảy [47]
Năm 2002, Nitabhandari và cộng sự nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng trẻ em ở các gia đình giàu có tại phía Nam New Dheli, Ấn Độ cho thấy tỉ lệ SDD có liên quan mật thiết tới học vấn và tình trạng kinh tế gia đình [67] Theo báo cáo của Quỹ Nhi Đồng của Liên Hợp Quốc UNICEF năm
2008, trên thế giới có khoảng 146 triệu trẻ em dưới 5 tuổi được xem là thiếu cân (một chỉ tiêu chính của “suy dinh dưỡng”), trong đó có khoảng 20 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD nặng cần được chăm sóc khẩn cấp, phần lớn tập trung ở châu Á, châu Phi, và Mỹ Latin Trong số này có khoảng 2 triệu trẻ em từ Việt Nam [74]
1.1.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam
Trẻ từ 0 đến 6 tuổi là giai đoạn phát triển thể lực, trí lực quan trọng
và có nguy cơ cao khi bị thiếu hụt dinh dưỡng Nhiều nghiên cứu cho thấy
ở các nước đang phát triển trong đó có nước ta, giai đoạn trẻ có nguy cơ SDD cao nhất là từ 12 đến 24 tháng tuổi và tỷ lệ SDD giữ ở mức cao cho đến 60 tháng tức là 5 tuổi [4, 43] Các nhà dinh dưỡng cũng đúc kết được rằng những trẻ bị SDD nặng trong 2 – 3 năm đầu của cuộc sống sẽ ảnh hưởng đến phát triển thể lực, đặc biệt là chiều cao của trẻ ở tuổi vị thành niên, trí lực của những trẻ này cũng kém hơn những trẻ khác
Trong những năm trước kia, người ta chỉ đề cập đến nhóm SDD do thiếu dinh dưỡng bao gồm nhẹ cân, còi, còm (tức là cân nặng, chiều cao của trẻ thấp hơn so với tuổi hoặc cân nặng thấp (không đạt) so với chiều cao) Nhưng trong thập kỷ vừa qua, SDD thể thừa (thừa cân, béo phì) có xu