1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỂ CHẾ XÃ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

442 407 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 442
Dung lượng 5,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua việc nghiên cứu bốn tình huống cụ thể bao gồm: 1 Đánh giá sự tác động của thể chế xã hội trong điều chỉnh các quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội tại làng nghề Bát Tràng; 2 Vai tr

Trang 1

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHƯƠNG TRÌNH KH & CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC KX.02/06-10

“QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI TRONG TIẾN TRÌNH

ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM”

ĐỀ TÀI CẤP NHÀ NƯỚC

“THỂ CHẾ XÃ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ

PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY”

Chủ nhiệm đề tài: TS DƯƠNG THỊ THANH MAI

Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp

8422

HÀ NỘI, 2011

Trang 2

Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỂ CHẾ XÃ HỘI TRONG PHÁT

TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

07

1.1 Xã hội và các vấn đề xã hội 07

1.2 Phát triển xã hội 07 1.3 Quản lý phát triển xã hội 10

1.4 Thể chế và thiết chế 12

2.1 Phương pháp tiếp cận 17 2.2 Căn cứ để nhận diện thể chế xã hội 17

2.3 Nhận diện các thiết chế xã hội và các thể chể xã hội 18

3 Nguồn gốc, bản chất, đặc điểm, vai trò của các thể chế xã hội đối với phát triển

xã hội, quản lý phát triển xã hội

19

3.1 Nhà nước và Pháp luật 19 3.2 Đảng cầm quyền và đường lối chính trị 22

3.3 Các tổ chức xã hội và thể chế của các tổ chức xã hội 25

3.6 Cộng đồng dân cư và phong tục, hương ước, luật tục 40

3.7 Gia đình, dòng họ và văn hoá dòng họ 44

3.8 Đạo đức là cơ sở tinh thần của phát triển xã hội 47

4.1 Những đặc điểm chung của thể chế xã hội 49

4.2 Sự khác biệt giữa Pháp luật (Thể chế quan phương) và các thể chế xã hội khác (thể

chế phi quan phương)

51

7 Mối quan hệ, tác động qua lại giữa thể chế xã hội với thể chế chính trị, kinh tế,

văn hóa và một số quá trình khác

64

7.4 Mối quan hệ và tác động qua lại giữa thể chế xã hội và các quá trình khác 80

8 Những yếu tố cơ bản tác động đến quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế xã

hội trong quá trình phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội

84

8.1 Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và ảnh hưởng đến quá trình

xây dựng và hoàn thiện thể chế xã hội

84

Trang 3

8.2 Yêu cầu bảo vệ môi trường, phát triển bền vững và sự ảnh hưởng đến quá trình xây

dựng và hoàn thiện thể chế xã hội

86

8.3 Những ảnh hưởng của quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN đến việc

xây dựng và hoàn thiện thể chế xã hội và quản lý phát triển xã hội

90

8.4 Những yếu tố quốc tế tác động đến thể chế xã hội 92

Chương II THỰC TRẠNG THỂ CHẾ XÃ HỘI VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC THIẾT

CHẾ XÃ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ

HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

96

1 Khái quát về thực trạng pháp luật và vai trò của Đảng, Nhà nước trong phát

triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

96

1.1 Thực trạng pháp luật trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội 96

1.2 Thực trạng vai trò của Đảng trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội 100

1.3 Thực trạng vai trò của Nhà nước trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội 104

2 Thực trạng thể chế xã hội và vai trò của các thiết chế xã hội trên một số lĩnh

vực cụ thể trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

108

2.1 Thực trạng vai trò của các thể chế và thiết chế xã hội trong lĩnh vực lao động, giải

quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và an sinh xã hội (ASXH)

108

2.2 Thực trạng thể chế xã hội và vai trò của các thiết chế xã hội trong lĩnh vực gia

đình, bình đẳng giới

136

2.3 Thực trạng thể chế xã hội và vai trò của các thiết chế xã hội trong vấn đề bảo vệ

các đối tượng dễ bị tổn thương (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người khuyết tật, người

3 Thực trạng một số thể chế xã hội phi quan phương trong phát triển xã hội và

quản lý phát triển xã hội

192 3.1 Luật tục và hương ước trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội 192

3.2 Thực trạng vai trò của tôn giáo trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội 202

3.3 Thực trạng vai trò của đạo đức trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

ở nước ta hiện nay

210

3.4 Thực trạng vai trò của các tổ chức xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát

triển xã hội

219

4 Khảo sát, đánh giá sự tác động của các loại thể chế xã hội trên một số địa bàn cụ thể 236

4.1 Tình huống 1: Khảo sát về thực trạng thể chế xã hội tại làng nghề Bát Tràng – Gia

Lâm – Hà Nội

236

4.2 Tình huống 2: Khảo sát về vai trò của luật tục của người JRai tại tỉnh Gia Lai 245

4.3 Tình huống thứ 3: Một số thể chế và thiết chế chế xã hội vùng dân tộc thiểu số,

vùng sâu, vùng xa khu vực Đông và Tây Bắc

253

4.4 Tình huống thứ 4: Về vai trò các quy tắc của dòng họ trong phát triển xã hội và

quản lý phát triển xã hội

259

Chương III QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN THỂ

CHẾ XÃ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

266

1.1 Việc xây dựng và hoàn thiện thể chế xã hội phải quán triệt sâu sắc quan điểm phát 266

Trang 4

triển bền vững, đầu tư hợp lý cho phát triển xã hội phù hợp với từng giai đoạn phát triển

kinh tế cụ thể

1.2 Cần có sự phân định, xác định rõ vai trò, chức năng của nhà nước và các thiết chế

xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

267

1.3 Cần có sự phân định hợp lý vai trò và giới hạn tác động của thể chế quan phương

và phi quan phương trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

269

2 Định hướng hoàn thiện chính sách pháp luật trên một số lĩnh vực xã hội 270

2.1 Một số dự báo về chỉ tiêu phát triển xã hội giai đoạn 2011-2020 270

2.2 Mục tiêu và định hướng chung trong hoàn thiện chính sách pháp luật trên một số

lĩnh vực xã hội cơ bản

271 2.3 Một số nhóm định hướng hoàn thiện pháp luật trên một số lĩnh vực xã hội cụ thể 273

3 Quan điểm, định hướng và các giải pháp phát huy vài trò tích cực của các thể

chế phi chính thức, các thiết chế xã hội trong quản lý xã hội và phát triển xã hội

hiện nay

288

3.1 Phát huy vai trò của các đoàn thể nhân dân và các quy tắc của các đoàn thể nhân

dân trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

288

3.2 Phát huy vai trò của xã hội dân sự, cộng đồng dân cư và các tổ chức xã hội nghề

nghiệp trong giám sát xã hội và phản biện xã hội

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

BỐI CẢNH, MỤC TIÊU, TIỀN ĐỀ XÁC ĐỊNH PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1 BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội: thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa từng bước được định hình và phát triển, đời sống mọi mặt của nhân dân được cải thiện rõ rệt, các chỉ số phát triển xã hội, phát triển con người, phát triển các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội đạt được những thành công đáng khích lệ Liên Hợp Quốc đã cô g n ận ViệtNam đạt mục tiêu Thiên niên kỷ về giảm nghèo trước 10 năm (giảm gần 60% trong 10 năm) và tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm mạnh: từ 28,9% năm 2001 xuống 19% năm 2006 Bán cáo “Đánh giá tình hình Giới ở Việt Nam” tháng 12/2006 của WB, ADB, DFID, CIDA nhận định “Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là một trong những nước tiến bộ hàng đầu về bình đẳng giới, là quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất về xóa bỏ khoảng cách giới trong 20 năm qua ở khu vực Đông Á ”

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy có nhiều vấn đề xã hội nảy sinh, làm chậm và cản trở quá trình phát triển xã hội, như: sức ép về dân số tiếp tục gia tăng, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm ngày một bức xúc, tỷ lệ hộ nghèo còn cao; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, khoảng cách giàu nghèo và phân tầng xã hội có xu hướng gia tăng nhanh chóng trong nền kinh tế thị trường Đó vẫn là những trở ngại lớn đối với sự phát triển bền vững của đất nước khi bước vào giai đoạn công nghiệp hoá theo hướng hiện đại Khả năng phòng ngừa, ứng cứu và đối phó, khắc phục hậu quả trong những tình trạng khẩn cấp như thiên tai, dịch bệnh (bão lụt, cháy rừng, dịch cúm ở người và gia súc ) của nhà nước nói riêng, của toàn xã hội nói chung còn chưa hiệu quả, trong nhiều trường hợp còn để xảy ra những hậu quả và tổn thất to lớn Một số tệ nạn xã hội như nghiện hút, mại dâm, căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, tham nhũng còn chưa được ngăn chặn có hiệu quả, gây thất thoát và tốn kém các nguồn của cải, tạo ra nguy cơ mất ổn định xã hội và phá hoại sự cân đối của phát triển bền vững

Những vấn đề xã hội nổi cộm nêu trên là những vấn đề không chỉ riêng Việt Nam mà tất cả các quốc gia (nhất là những nước đang phát triển) phải đối mặt và giải quyết Ngoài những nguyên nhân khách quan thì những vấn đề xã hội nảy sinh còn còn

có nhiều nguyên nhân xuất phát từ đặc thù của điều kiện Việt Nam, như:

- Quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở Việt Nam (từ kinh tế kế hoạch hoá bao cấp) sang kinh tế thị trường ngoài ý nghĩa tích cực là cơ bản còn có những tác động tiêu cực đến phát triển xã hội (phân hoá giàu nghèo, quá trình di dân ồ ạt, thất nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực );

Trang 6

- Những tác động cả tích cực và tiêu cực của sinh hoạt cộng đồng, quy tắc cộng đồng không phù hợp với phát triển xã hội trong điều kiện mới, chưa được nhận thức đầy đủ và chưa có giải pháp xử lý phù hợp;

- Quá trình hội nhập quốc tế diễn ra nhanh chóng trong khi năng lực quản lý xã hội chưa theo kịp với quá trình hội nhập đã làm phát sinh nhiều vấn đề về biến đổi xã hội, trong đó có những vấn đề làm chậm quá trình phát triển xã hội;

- Quá trình tìm tòi, định hướng mô hình phát triển xã hội ở nước ta trong điều kiện mới (phát triển nền kinh tế thị trường; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; hội nhập quốc tế sâu rộng ) đang trong quá trình định hình, vừa làm vừa xây dựng, thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc

Trong các nguyên nhân kể trên thì thể chế xã hội với tính chất là những chuẩn mực tạo khuôn khổ cho việc ứng xử của xã hội trong quá trình phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội có vai trò và tác động to lớn đến việc giải quyết các vấn đề xã hội, tạo động lực hoặc cản trở, làm chậm quá trình phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội Trong một xã hội dân chủ, nhất là trong điều kiện nước ta hiện nay ngày càng xuất hiện nhiều loại quan hệ xã hội đan xen, nhiều nhóm lợi ích xã hội (cá nhân, tập thể, giai tầng, ngành nghề, địa phương ) cùng tồn tại thì pháp luật của Nhà nước tuy là công cụ quan trọng, chủ yếu để nhà nước quản lý phát triển xã hội nhưng không phải là công cụ duy nhất trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hôi, đặc biệt là trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, các lĩnh vực phát triển xã hội Một xã hội dân chủ chỉ có thể phát triển bền vững khi có sự tham gia ngày một nhiều hơn, thực chất và hiệu quả hơn của xã hội nói chung, và của các thiết chế xã hội cụ thể đại diện cho các giai tầng xã hội, các nhóm lợi ích, các cộng đồng dân cư nói riêng vào việc giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình phát triển Các thiết chế xã hội đó tồn tại và hoạt động theo những quy tắc, chuẩn mực riêng trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước Cùng với pháp luật, các quy tắc, chuẩn mực của các thiết chế xã hội đó tạo thành hệ thống các thể chế xã hội điều chỉnh toàn bộ hành vi, ứng xử của các cá nhân, tổ chức, giai tầng xã hội, cộng đồng dân cư khác nhau trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và đóng góp vào sự phát triển xã hội chung Tuy nhiên, thực trạng thể chế xã hội trong phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội thời gian qua đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế, nhiều vấn đề cần được giải quyết cả

ở tầm nhận thức lý luận và thực tiễn

Qua việc điểm lại tình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tài “Thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay” ở trong và

ngoài nước có thể rút ra một số kết luận sau:

Thứ nhất, vấn đề thể chế xã hội và mối quan hệ giữa thể chế xã hội với phát triển

xã hội và quản lý xã hội chưa được đề cập nhiều trong các nghiên cứu ở trong nước Ở nước ngoài đã có những nghiên cứu khá quan trọng Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, khái niệm “thể chế xã hội” vẫn còn được hiểu và sử dụng một cách rất khác nhau

Trang 7

không chỉ trong ngôn ngữ đời thường mà cả trong đời sống học thuật (trong các công trình nghiên cứu của các nhà luật học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học, các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác và ngay cả trong các cuốn từ điển) Khái niệm “thể chế xã hội” tuy đã được đề cập ở một vài công trình nghiên cứu ở Việt Nam nhưng chưa có sự luận giải một cách khoa học Tình trạng ấy tất yếu dẫn đến việc nhìn nhận, đánh giá vai trò, chức năng của thể chế xã hội sẽ không thống nhất cả trong đời sống, trong giới học thuật và trong việc hoạch định chính sách, trong quản lý xã hội

Thứ hai, thể chế xã hội là bộ phận cấu thành nên xã hội, tồn tại một cách khách

quan, đang hàng ngày, hàng giờ có những tác động lên đời sống của mỗi thành viên trong xã hội, tác động lên quá trình phát triển đi lên của đất nước Chính vì thế, việc nhận thức đúng bản chất, đánh giá đúng vai trò của từng loại thể chế xã hội, từ đó có chính sách đúng, phát huy vai trò của từng loại thể chế xã hội trong việc phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội là rất cần thiết và hữu ích Nói cách khác, “thể chế xã hội” cần được nhìn nhận với tư cách như một nguồn vốn xã hội phục vụ cho sự phát triển xã hội Đây là điều mà các công trình nghiên cứu lý luận ở Việt Nam thời gian qua còn chưa đề cập thoả đáng Bản thân các văn kiện chính trị của Đảng và Nhà nước ta cũng chưa đề cập tới vấn đề này

Thứ ba, tuy các công trình nghiên cứu ở Việt Nam liên quan tới chủ đề thể chế xã

hội và vai trò của thể chế xã hội trong phát triển và quản lý xã hội đã đề cập tới những mặt, những khía cạnh, những yếu tố riêng lẻ của thể chế xã hội, nhưng chưa có công trình nào của Việt Nam nghiên cứu một cách tổng thể về thể chế xã hội, các bộ phận cấu thành của

nó, phân loại, quy luật phát sinh, phát triển của từng loại thể chế xã hội, vai trò, khả năng

sử dụng thể chế xã hội vào quá trình phát triển xã hội và quản lý xã hội Các công trình nghiên cứu của nước ngoài cũng chỉ mới bước đầu đề cập những vấn đề này

Như vậy, để nhận thức đúng và phát huy hợp lý vai trò của thể chế xã hội trong phát triển và quản lý phát triển xã hội, ở Việt Nam hiện nay đang tồn tại những khoảng

trống về lý luận cần được nghiên cứu, luận giải thấu đáo

Trước thực trạng đó, trong thời gian gần đây Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm nhiều hơn đến việc xây dựng thể chế xã hội nói chung, thể chế pháp luật nói riêng trong phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội Văn kiện Đại hội Đảng IX, Đại hội Đảng X và các Nghị quyết Trung ương đã đề cập nhiều đến vấn đề về đạo đức xã hội, vận động toàn dân giữ gìn và phát triển nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, phát huy vai trò của cộng đồng dân cư tham gia vào quản lý xã hội, mở rộng dân chủ cơ sở Đặc biệt, năm 2005, lần đầu tiên Bộ Chính trị đã ban hành một Nghị quyết riêng về pháp luật - Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010, định hướng đến 2020 Một trong 6 định hướng của Chiến

lược là “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ,

y tế, văn hoá - thông tin, thể thao, dân tộc, tôn giáo, dân số, gia đình, trẻ em và chính sách xã hội” với những yêu cầu nội dung rất cụ thể về phát triển pháp luật trên từng lĩnh

Trang 8

vực Trên cơ sở đó, Chính phủ đã lập dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của cả nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII (2007-2011), Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành Kế hoạch số 900-UBTVQH11 về triển khai Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị Đây là những định hướng có tính căn bản, là cơ sở chính trị – pháp lý cho việc xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp luật trong lĩnh vực xã hội nói riêng, thể chế

xã hội nói chung trong phát triển và quản lý phát triển xã hội nói chung Ngoài những yêu cầu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong điều chỉnh các lĩnh vực xã hội, Nghị quyết số 48-NQ/TW còn xác định rõ, trong xây dựng pháp luật phải có quan điểm

“kết hợp hài hoà bản sắc văn hoá, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tính hiện đại của hệ thống pháp luật”, trong tổ chức thực thi pháp luật, quản lý xã hội phải: “nghiên cứu về khả năng khai thác, sử dụng án lệ, tập quán (kể cả tập quán, thông lệ thương mại quốc tế) và quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung, hoàn thiện pháp luật”

Trong bối cảnh đó Chương trình khoa học-công nghệ cấp nhà nước KX02/06-10

“Quản lý phát triển xã hội trong tiến trình Đổi mới ở Việt Nam” được triển khai với mục tiêu xây dựng cơ sở lí luận về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế; cung cấp luận

cứ khoa học cho việc xây dựng khung chính sách quản lý phát triển xã hội giai đoạn chiến lược 2011-2020 Việc nghiên cứu “Thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản

lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay” là một trong các đề tài thuộc Chương trình để trực tiếp góp phần thực hiện các mục tiêu trên với ý nghiã thể chế xã hội là một bộ phận của phát triển xã hội và là một công cụ quan trọng của quản lý phát triển xã hội

2.1 Làm rõ một số vấn đề lý luận về thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta: quan niệm, nguồn gốc, bản chất, đặc điểm của thể chế xã hội, vai trò của thể chế xã hội đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội; cơ sở kinh tế, chính trị văn hoá của thể chế xã hội và mối quan hệ của thể chế xã hội với các thể chế khác trong quá trình phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội; 2.2 Phân tích thực trạng, xu hướng phát triển và những vấn đề đặt ra đối với thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay: đánh giá tổng thể, toàn diện về tác động của từng bộ phận thể chế trong những lĩnh vực cụ thể; xác định nhu cầu điều chỉnh xã hội trên một số lĩnh vực cơ bản phục vụ cho công tác quản lý phát triển xã hội thời kỳ công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại 2.3 Đề xuất quan điểm, giải pháp về xây dựng và hoàn thiện thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta: đưa ra các quan điểm, định hướng và giải pháp tổng thể về hoàn thiện thể chế xã hội nói chung, trên một số lĩnh vực, vấn đề cụ thể nói riêng phù hợp với mục tiêu phát triển xã hội, quản lý phát triển

xã hội của đất nước trong thời kỳ mới

Trang 9

3 TIỀN ĐỀ ĐỂ XÁC ĐỊNH PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN

3.1 Tiền đề để xác định phạm vi nghiên cứu

Là đề tài thuộc Chương trình nghiên cứu KX.02/06-10 về Quản lý phát triển xã

hội nên Đề tài sử dụng các khái niệm công cụ nghiên cứu như: xã hội, phát triển xã hội,

quản lý phát triển xã hội trong giới hạn phù hợp với hướng tiếp cận chung của Chương

trình1 Cụ thể là cả 3 khái niệm này được hiểu ở nghĩa hẹp, xuất phát từ quan niệm xã

hội theo nghĩa hẹp- nghĩa là chỉ nghiên cứu mặt xã hội của đời sống xã hội trong một nước, một chế độ xã hội nhất định Mặt xã hội chỉ là một phân hệ nằm trong “xã hội”

như một hệ thống bao gồm các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, môi trường đặt trong những tương tác biện chứng2 Mặt xã hội là hệ thống các vấn đề xã hội liên quan trực tiếp tới đời sống của con người trong phát triển như lao động, việc làm, mức sống, tình trạng đói nghèo, dân số, sức khoẻ, y tế cộng đồng, giáo dục có tính chất và hệ quả

xã hội vừa cấp bách, bức xúc, vừa cơ bản, lâu dài mà xã hội và Nhà nước phải giải quyết trong sự phát triển

Xuất phát từ quan niệm xã hội như vậy nên trong Chương trình KX02/06-10 và trong Đề tài này, phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đều được nghiên cứu trong giới hạn là phát triển mặt xã hội và quản lý phát triển mặt xã hội với tính chất là một bộ phận của phát triển đời sống xã hội và một bộ phận của quản lý phát triển toàn diện xã hội (bao gồm cả quản lý phát triển kinh tế, quản lý phát triển hệ thống chính trị, quản lý phát triển văn hoá, môi trường của quốc gia-dân tộc) Theo nghĩa này, phát triển

xã hội và quản lý phát triển xã hội đều phải xuất phát từ con người nhằm giải quyết hợp

lý, hiệu quả các vấn đề xã hội phát sinh trong quá trình phát triển, bảo đảm ổn định và nâng cao chất lượng sống của các cá nhân và cộng đồng dân cư, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững đất nước và tiến bộ xã hội vì con người

3.2 Phương pháp tiếp cận

- Các vấn đề xã hội và phát triển xã hội không tồn tại biệt lập trong đời sống xã

hội mà chịu tác động từ kinh tế, chính trị, văn hoá và môi trường sống; thể chế xã hội cũng chỉ là một bộ phận của toàn bộ hệ thống thể chế điều chỉnh đời sống xã hội, do vậy, nghiên cứu vai trò của thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển

xã hội cần phải xem xét quan hệ giữa thể chế xã hội với các thể chế khác trong hệ thống thể chế quản lý toàn diện xã hội theo mục tiêu phát triển

- Bản thân thể chế xã hội lại là một hệ thống với các bộ phận gồm thể chế nhà nước và thể chế phi nhà nước cùng tác động đến phát triển xã hội; giữa các thể chế đó

có những mối liên hệ phức tạp trong trạng thái luôn vận động, phát triển Do đó, thể chế

1 GS.TS.Lê Hữu Nghĩa, Chủ nhiệm Chương trình KH-CN KX.02/06-10, Mấy vấn đề phương pháp luận nghiên cứu

về quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam, Hội thảo khoa học cấp chương trình, H,1/2008

2 GS Hoàng Chí Bảo, Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới-quan niệm

và những vấn đề đặt ra (Xã hội theo nghĩa rộng = đời sống xã hội (với 4 phương diện-kinh tế, chính trị, văn hoá

và xã hội) + các thiết chế quản lý (trụ cột là Nhà nước) + chế độ xã hội (ý thức hệ và lực lượng lãnh đạo xã hội = Đảng cầm quyền), Hội thảo khoa học cấp chương trình,H,1/2008

Trang 10

xã hội được nghiên cứu trong toạ độ 3 chiều- thời gian- tiến trình lịch sử hình thành, phát triển các thể chế; không gian- sự tác động của các thể chế xã hội lên phát triển xã

hội trong mối tương tác giữa chúng với nhau và với các thể chế khác của quản lý phát

triển xã hội; chiều sâu văn hoá- tiềm năng phát triển và đóng góp của mỗi thể chế xã

hội vào sự phát triển xã hội trong thế giới đương đại và tương lai phải được nhìn nhận

và cắt nghĩa từ góc độ giá trị văn hoá của bản thân mỗi thể chế cũng như năng lực văn

hoá và bản lĩnh sáng tạo của các chủ thể quản lý phát triển xã hội

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Phương pháp luận chung để nghiên cứu tất cả các nội dung của đề tài là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về thể chế xã hội, phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Trên cơ sở phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội chung này, các phương pháp nghiên cứu truyền thống được

sử dụng chủ yếu để nghiên cứu đề tài này là: Phương pháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp so sánh lịch sử

Bên cạnh các phương pháp nghiên cứu truyền thống chung, nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu một cách toàn diện, Ban chủ nhiệm đề tài đã thực hiện một số phương pháp thực nghiệm cụ thể như: điều tra, thống kê xã hội học, phỏng vấn trực tiếp các đối tượng có liên quan, phương pháp khảo sát, nghiên cứu tình huống, tổ chức Toạ đàm, Hội thảo

- Phương pháp điều tra, thống kê xã hội học, phỏng vấn trực tiếp: Ban chủ

nhiệm đã tiến hành tổ chức hoạt động điều tra tại 6 tỉnh thành (TP Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Thái Bình, TP Đà Nẵng, Gia Lai, Sơn La) với 9 loại mẫu phiếu và thu được 4.116 phiếu (thông qua việc phỏng vấn trực tiếp, phát phiếu trả lời, ) Kết quả xử lí phiếu đã được thể hiện thông qua các biểu đồ trong Báo cáo kết quả nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tình huống: Đây chính là phương pháp nổi bật và thu

được các kết quả rất sâu sắc khi thực hiện đề tài Thông qua việc nghiên cứu bốn tình huống cụ thể bao gồm: (1) Đánh giá sự tác động của thể chế xã hội trong điều chỉnh các quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội tại làng nghề Bát Tràng; (2) Vai trò các quy tắc, luật lệ của dòng họ (dòng họ Cao Xuân – Tỉnh Nghệ An) trong sự phát triển chung của

xã hội; (3)Vai trò và sự tác động của Luật tục Jrai đối với đời sống xã hội của cộng đồng dân tộc Jrai tại tỉnh Gia Lai; (4) Đánh giá một số thể chế và thiết chế xã hội vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa khu vực Đông và Tây Bắc, Ban chủ nhiệm đề tài đã thu được rất nhiều kết quả nghiên cứu thực tế rất đáng khích lệ, góp phần lớn vào việc đưa ra các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản

lý phát triển xã hội

- Tổ chức các Toạ đàm, Hội thảo: Ban chủ nhiệm đề tài đã tổ chức một số cuộc

Toạ đàm, Hội thảo về các vấn đề liên quan đến đề tài, như Hội thảo “Các vấn đề lý luận

về thể chế xã hội và phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội”; Hội thảo: “Thể chế xã hội phi chính thức và cơ chế điều chỉnh, tác động của nó đối với quá trình phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội”; Các buổi Tọa đàm về “Vai trò và ảnh hưởng của Nhà nước trong hoạt động bảo trợ xã hội” tổ chức tại TP Hồ Chí Minh, TP Đà Nẵng… Thông qua các Toạ đàm, Hội thảo, các chuyên gia đã đưa ra rất nhiều ý kiến sâu sắc, đóng góp cho các nội dung nghiên cứu của đề tài

Trang 11

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỂ CHẾ XÃ HỘI

TRONG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

1 QUAN NIỆM THỂ CHẾ XÃ HỘI VÀ CÁC KHÁI NIỆM CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU 1.1 Xã hội và các vấn đề xã hội

Như đã trình bày tại Phần mở đầu về phạm vi nghiên cứu của đề tài, phạm trù Xã hội trong Đề tài được hiểu theo nghĩa hẹp là mặt xã hội của đời sống xã hội; mặt xã hội

có vị trí độc lập tương đối và có quan hệ mật thiết với các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, môi trường của đời sống xã hội

Mặt xã hội, theo GS.TS Hoàng Chí Bảo, là một tập hợp lớn, một hệ thống các vấn đề xã hội trong phát triển, liên quan trực tiếp đến đời sống con người Các vấn đề

xã hội đó nảy sinh trong đời sống cá thể và các nhóm xã hội, các cộng đồng dân cư ở từng vùng, miền, địa phương và cả nước Nhiều vấn đề xã hội mang tính phổ biến mà các quốc gia ở các giai đoạn phát triển khác nhau đều phải đối mặt và giải quyết

Các vấn đề xã hội luôn có quan hệ mật thiết với nhau, đôi khi là điều kiện của nhau nên sự phát triển phù hợp của vấn đề xã hội này là cơ sở để giải quyết vấn đề xã hội khác, và ngược lại, sự không phù hợp của một vấn đề xã hội nào đó có thể dẫn đến nảy sinh các vấn đề xã hội bức xúc khác Những vấn đề xã hội đó đang hàng ngày hàng giờ phát sinh trong đời sống xã hội đòi hỏi nhà nước và xã hội phải giải quyết kịp thời, hợp lý, hiệu quả để không ngừng nâng cao mức sống và chất lượng sống của mỗi cá nhân cũng như của cả cộng đồng, xã hội

1.2 Phát triển xã hội

Phát triển xã hội thường được hiểu theo hai nghĩa:

Một là, theo nghĩa rộng, phát triển xã hội là phát triển toàn diện các mặt khác

nhau của đời sống xã hội mà xã hội như một thực thể, một chỉnh thể, một bộ phận của thế giới nhân loại Theo GS Phạm Xuân Nam, có thể khái quát 7 tiêu chí cơ bản về phát triển xã hội theo nghĩa rộng gồm: (1) Phát triển về kinh tế ; (2) Phát triển về xã hội; (3) Phát triển về môi trường; (4) Phát triển về chính trị, tinh thần và trí tuệ; (5) Phát triển về văn hoá; (6) Phát triển vai trò của phụ nữ trong đời sống xã hội; (7) Phát triển

về quốc tế Trong từng giai đoạn phát triển của xã hội, các tiêu chí cơ bản trên đây được

cụ thể hoá bằng những chỉ tiêu và chỉ số Từ đó, theo nghĩa rộng, phát triển xã hội được

hiểu là “quá trình tiến hoá của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc, trong đó, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, các chủ thể lãnh đạo và quản lý tạo

ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ”3

Hai là, theo nghĩa hẹp, phát triển xã hội là phát triển mặt xã hội của đời sống xã

hội (đây chỉ là một phần của sự phát triển xã hội theo nghĩa rộng)

Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển xã hội tại Copenhagen Đan Mạch đã thông qua Bản tuyên bố và Chương trình hành động về phát triển xã hội của cộng đồng thế giới từ 1995 đến năm 2000, triển vọng đến 2010 khuyến nghị tất cả các quốc gia phải đặc

3 GS.TS Phạm Xuân Nam (chủ biên)- Quản lý sự phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng- Nxb Chính trị Quốc gia,H, 2001, tr.21-24

Trang 12

biệt coi trọng đến các khía cạnh xã hội của phát triển, tập trung giải quyết 3 vấn đề cơ bản,

bức xúc nhất của phát triển xã hội là xoá đói, giảm nghèo; tạo việc làm và hoà nhập xã hội của các đối tượng dễ bị tổn thương (phụ nữ, người dân tộc, người bị thiệt thòi)

Báo cáo của Chính phủ Việt Nam về phát triển xã hội tại Hội nghị trên đề cập tới

10 vấn đề xã hội trong phát triển, đó là:

1/ Giải quyết việc làm; 2/ Xoá đói giảm nghèo; 3/ Hoà nhập xã hội (tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người về các quyền chính trị, kinh tế, các dịch vụ xã hội hướg vào các nhóm

xã hội quan trọng bị thiệt thòi trong phát triển, dễ bị tổn thương, cụ thể là phụ nữ, trẻ em, thanh niên, dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người cao tuổi, đồng bào vùng khó khăn, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh để hoà nhập cộng đồng); 4/ Gia đình; 5/ Phát triển giáo dục; 6/ Dân số, kế hoạch hoá gia đình; 7/ Chăm sóc sức khoẻ nhân dân (cộng đồng); 8/ Bảo trợ xã hội; 9/ Môi trường; 10/ Hạn chế và ngăn ngừa các hành vi phạm tội, ma tuý, mại dâm, buôn lậu, tham nhũng, làm giàu bất chính

Bên cạnh những vấn đề chung, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc phụ thuộc vào triết lý

và mô hình phát triển kinh tế-xã hội, vào tình hình, điều kiện cụ thể của đất nước mình phải đối mặt những vấn đề xã hội riêng liên quan đến phát triển xã hội trong những giai đoạn khác nhau và cách giải quyết của mỗi quốc gia đối với các vấn đề xã hội đó cũng rất khác nhau Chẳng hạn, ở Việt Nam hiện nay, theo GS.TS Hoàng Chí Bảo, ngoài việc phải giải quyết 10 vấn đề phát triển xã hội nói trên, hiện nay, Nhà nước và xã hội Việt Nam còn phải đối mặt với 10 vấn đề xã hội bức xúc khác nữa như: 1/ Giải quyết hậu quả xã hội của các cuộc chiến tranh để lại; 2/ Hiện tượng di dân tự do từ các tỉnh phía bắc vào các tỉnh phía nam, đặc biệt là vào Khu vực Tây Nguyên; sự chuyển dịch dân cư

từ nông thôn ra thành thị, vấn đề trẻ em lang thang…; 3/ Vấn đề người Việt Nam kết hôn với người nước ngoài; 4/ Vấn đề người nước ngoài làm ăn, sinh sống tại Việt Nam; 5/ Vấn đề nhà ở cho người nghèo, những người có thu nhập thấp; 6/ Vấn đề tai nạn giao thông, ách tắc giao thông đô thị; 7/ Vấn đề an toàn lương thực, thực phẩm trong điều kiện nền nông nghiệp bẩn; 8/ Vấn đề mê tín dị đoan; 9/ Các bệnh xã hội, các tệ nạn xã hội và nạn bạo hành với phụ nữ và trẻ em; 10/ Sự lệch lạc về cơ cấu xã hội, sự phân tầng xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường

Thông qua các hoạt động thực tiễn để giải quyết các vấn đề xã hội nhằm đáp ứng các nhu cầu về mặt xã hội của mình, con người (cá nhân, cộng đồng xã hội ) tạo nên

và thúc đẩy sự phát triển xã hội Để giải quyết các vấn đề xã hội, các chủ thể phát triển (cá nhân, cộng đồng, nhà nước) cần phải có các nguồn lực, các điều kiện cần thiết bởi

vì, theo C.Mác, “ nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ mà nó có thể giải quyết được bản thân nhiệm vụ ấy chỉ nảy sinh khi những điều kiện vật chất

để giải quyết nhiệm vụ đó đã có rồi hay ít ra cũng đang ở trong quá trình hình thành”4

Vì vậy, khi nói đến phát triển xã hội theo nghĩa hẹp, cần phải đề cập đến 3 yếu tố cấu thành:

- Chủ thể của phát triển xã hội: cá nhân, cộng đồng, nhà nước;

- Nội dung của phát triển xã hội: giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong phát triển hướng theo mục tiêu phát triển;

- Các nguồn lực, các điều kiện thực hiện phát triển (cả về số lượng và chất lượng)

Từ đó, Nhóm nghiên cứu chia sẻ với quan điểm của GS.TS.Hoàng Chí Bảo khi triển khai Đề tài này về quan niệm:

4 C.Mác và Ph.Ăngghen- Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia,H, 1998, t13,tr.16

Trang 13

Phát triển xã hội về thực chất là sự phát triển của cá nhân, cộng đồng về mặt

xã hội, là quá trình các chủ thể lãnh đạo và quản lý tạo ra, huy động, phân bổ các nguồn lực và bảo đảm các điều kiện để giải quyết hợp lý các vấn đề xã hội phát sinh trong quá trình phát triển nhằm nâng cao mức sống và chất lượng sống của các thành viên xã hội, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội bền vững, ổn định chính trị vì mục tiêu công bằng, tiến bộ xã hội, dân chủ, nhân đạo, văn minh

Các vấn đề xã hội vốn có trong sự tồn tại của con người, trong các cộng đồng người; các vấn đề xã hội cũng nảy sinh mới trong quá trình phát triển và biến đổi khi hoàn cảnh xã hội biến đổi dưới tác động của các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá, môi trường trong nước và quốc tế Nhận thức rõ điều này có ý nghĩa quan trọng để có giải pháp thích hợp khi giải quyết các vấn đề xã hội vốn có trong trạng thái xã hội bình thường cũng như các vấn đề xã hội phát sinh trong trạng thái không bình thường của xã hội (thiên tai, dịch bệnh, địch hoạ, lạm phát, khủng hoảng, xung đột xã hội và nguy cơ chiến tranh từ bên ngoài ) hoặc là trong trạng thái xã hội đang diễn ra các chuyển đổi lớn (từ chiến tranh sang hoà bình; từ mô hình, chính sách, cơ chế quản lý cũ sang mô hình, chính sách, cơ chế quản lý mới trong từng lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá hay chuyển đổi, đổi mới toàn diện các mặt của đời sống xã hội) trong quá trình tồn tại và phát triển của quốc gia- dân tộc

Phát triển xã hội phải theo hướng tăng trưởng và tiến bộ, nghĩa là biến đổi các yếu tố thuộc mặt xã hội của đời sống xã hội theo hướng tích cực nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn, nhiều hơn các nhu cầu, lợi ích đa dạng về vật chất, tinh thần và các nhu cầu khác của các cá nhân, cộng đồng, quốc gia để mỗi người và tất cả mọi người có cuộc sống ngày càng đầy đủ, an toàn, văn minh, hạnh phúc và lâu bền hơn Rõ ràng quá trình phát triển xã hội là một quá trình có ý thức và được thực hiện bởi sự hợp tác giữa nhà nước và các tổ chức xã hội, trong đó các thiết chế của cấu trúc xã hội (cá nhân, gia đình,

tổ chức xã hội, cộng đồng, nhà nước ) đều phải nâng cao năng lực để có thể tham gia giải quyết các vấn đề xã hội nhằm đạt được các mục tiêu của mình ở mức độ cao hơn, đầy đủ hơn Tuỳ theo mô hình phát triển kinh tế- xã hội và mô hình nhà nước do mỗi dân tộc tự lựa chọn mà vai trò của các chủ thể phát triển xã hội sẽ khác nhau trong từng giai đoạn phát triển nhưng nhà nước luôn ở vị trí trung tâm, rất quan trọng

Trong “Lý luận xây dựng hệ thống bảo đảm xã hội” 5, tác giả Robert Holzmann đã khái quát 3 mô hình hệ thống bảo đảm xã hội của các nước châu Âu: (i) Mô hình tự do của các nước Ănglo-Săcxon đề cao trách nhiệm cá nhân đối với bản thân, mức chi trả thấp kèm theo điều kiện gắn với nguồn thu nhập nhằm khuyến khích người lao đông tham gia thị trường lao động và tham gia bảo hiểm tư nhân); (ii) Mô hình dân chủ- xã hội của các nước Bắc Âu chủ yếu dựa trên vai trò của nhà nước, mọi người dân đều được bảo hiểm xã hội nhằm mục tiêu công bằng xã hội, sự hưởng lợi không phụ thuộc vào sự đóng góp, tránh phân hoá giàu nghèo quá lớn; (iii) Mô hình phường hội, nghiệp đoàn của các nước châu Âu lục địa, hệ thống bảo đảm xã hội chủ yếu được tổ chức theo từng ngành, từng lĩnh vực do các nghiệp đoàn đảm trách, trọng tâm là giải quyết việc làm còn phúc lợi xã hội, trợ cấp xã hội ở mức vừa phải (rất nhạy cảm với những biến động việc làm của nền kinh tế nói chung, của từng ngành nói riêng) Sự lựa chọn mô hình nào phụ thuộc vào những đặc điểm lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia Tại các nước đang phát triển, hệ thống bảo đảm xã hội chưa phát triển đầy đủ như ở các nước phương Tây và môi trường để thực hiện chính sách bảo đảm xã hội cũng có

5 Holzmann Robert and Jorgensen Steen-Social Protection as Social Risk Management: Conceptual Underpinnings for the Social Protection Sector Strategy Paper, Journal of International Development, II,1999, tr.1005-1027

Trang 14

nhiều sự khác biệt (tồn tại các thị trường lao động không chính thức, nguồn thu nhập đa dạng và không bị kiểm soát, vai trò của nhà nước yếu kém, các hình thức vận động chính sách chủ yếu dựa trên các mối quan hệ thân quen ) Nhìn chung, bảo đảm xã hội

ở các nước này được tổ chức theo phương thức kết hợp các nguồn lực để đối phó với các rủi ro xã hội (Welfare Mix) gồm: bảo đảm xã hội của nhà nước, bảo hiểm của tư nhân hoạt động theo cơ chế thị trường, trợ cấp xã hội của các doanh nghiệp, cứu trợ xã hội của các địa phương, trợ giúp của các cộng đồng cho các gia đình Nhà nước chủ yếu tham gia vào 3 lĩnh vực chính: bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và dịch vụ xã hội, trong đó, các chương trình bảo hiểm xã hội được tài trợ một phần hoặc toàn bộ từ các khoản đóng góp xã hội đặc thù còn hai lĩnh vực sau được tài trợ bằng các nguồn thu từ thuế 6 Hệ thống bảo đảm xã hội của nhà nước chủ yếu chỉ dành cho một bộ phận người lao động (ở khu vực lao động có kết cấu và chủ yếu là khu vực nhà nước), chỉ bảo đảm được một số rủi ro, mức chi trả thấp hoặc không có chi trả

Trong bối cảnh toàn cầu hoá, cũng không thể không tính đến vai trò ngày càng tăng của các tổ chức quốc tế đối với việc hoạch định chính sách và thực thi chính sách về bảo đảm xã hội ở các quốc gia Trong cuốn sach “Chính sách xã hội và toàn cầu hoá”7, các tác giả đã phân tích sự xuất hiện các nhân tố mới tham gia vào quá trình xây dựng, thực hiện các chính sách bảo đảm xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội Chính sách bảo đảm xã hội ở đây được hiểu là “toàn bộ các chính sách của nhà nước nhằm giúp đỡ các cá nhân, các gia đình và các nhóm xã hội quản lý các rủi ro của mình và cung cấp

sự hỗ trợ cho những người nghèo khổ nhất”, bao gồm chính sách việc làm, chính sách bảo hiểm xã hội và các cơ chế bảo đảm xã hội khác (trợ cấp xã hội) Bên cạnh các chủ thể truyền thống của hệ thống bảo hiểm xã hội (nhà nước, chủ sử dụng lao động và người lao động), đã xuất hiện vai trò ngày càng tăng của các hiệp hội đại diện cho các thành phần xã hội được hưởng chính sách bảo đảm xã hội; các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế (đặc biệt là trong việc quản lý các chương trình hỗ trợ phát triển); các tổ chức tài chính, quốc tế và một số tổ chức khu vực8 Chính nhờ có sự tham gia của các nhân tố mới này mà các đối tượng vốn “bị gạt ngoài lề xã hội”, tức là những người không thuộc diện được bảo hiểm xã hội trong hệ thống bảo hiểm xã hội truyền thống (phụ nữ, người dân tộc thiểu số, những người thiệt thòi khác) mới có thể có tiếng nói của mình Như vậy, chính sách bảo đảm xã hội đã không chỉ còn giới hạn ở vai trò bảo đảm của nhà nước mà còn bao gồm cả các chính sách và khuôn khổ pháp luật của nhà nước nhằm huy động và nâng cao hiệu quả tham gia của khu vực tư nhân, của các nhân

tố mới cả trong nước và quốc tế

Từ đó, khi xem xét hệ thống bảo đảm xã hội trong phát triển xã hội của bất cứ quốc gia nào, dù phát triển hay đang phát triển, sẽ là không đủ nếu chỉ nhìn vào cơ chế bảo đảm xã hội của nhà nước

1.3 Quản lý phát triển xã hội

Quản lý phát triển xã hội, từ góc độ triết học, có thể được hiểu là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của các chủ thể lên khách thể (phát triển xã hội) để điều chỉnh quá trình phát triển xã hội nhằm đạt được mục đích của chủ thể đặt ra là ổn định

và nâng cao mức sống, chất lượng sống và sự phát triển về mặt xã hội của các thành viên xã hội qua đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước

6 Sách “Chính sách xã hội và toàn cầu hoá”- Diễn đàn kinh tế - tài chính Việt – Pháp, Chủ biên- Bruno Palier Louis- Charles Viossat,tr.109-110

7 Sđd,tr.24-25

Trang 15

GS.TS Phạm Xuân Nam đưa ra quan niệm “Quản lý phát triển xã hội là hoạt động

có ý thức và có cơ sở khoa học của chủ thể quản lý tác động vào xã hội nhằm tạo lập một cơ cấu xã hội phù hợp với cơ cấu kinh tế, thực hiện kết hợp hài hoà cái kinh tế và cái xã hội nhằm đạt tới sự đồng thuận xã hội và phát triển bền vững, tạo điều kiện cho con người phát huy hết tiềm năng lao động sáng tạo trong một xã hội nhân văn hướng tới mục tiêu cao nhất là vì hạnh phúc của con người”9 Khi đưa ra khái niệm này, tác giả nhấn mạnh một số yêu cầu quan trọng nhất của quản lý phát triển xã hội, đó là: quản lý phải bảo đảm 3 nhu cầu căn bản- tính công bằng, tính bền vững, tính vì mọi người; quản lý phát triển xã hội phải gắn với cơ cấu xã hội để nắm bắt và đáp ứng được nhu cầu của các giai cấp, tâng lớp dân cư khác nhau trong xã hội; Nhà nước và pháp luật là chủ thể và công cụ quản lý phát triển xã hội quan trọng nhất; sự đồng thuận xã hội và niềm tin của nhân dân là cơ sở xã hội cho quản lý hiệu quả

Từ góc độ chính trị- pháp lý, dưạ trên quan niệm về phát triển xã hội đã trình bày ở trên, Nhóm nghiên cứu đưa ra quan niệm:

Quản lý phát triển xã hội là hoạt động thường xuyên, có ý thức, có tổ chức, có định hướng của Nhà nước và các tổ chức ngoài nhà nước để tác động bằng pháp luật và các công cụ quản lý khác đến việc tạo ra, huy động và phân bổ các nguồn lực

để giải quyết hợp lý các vấn đề xã hội phát sinh trong quá trình phát triển nhằm nâng cao mức sống và chất lượng sống của các thành viên xã hội, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội bền vững, ổn định chính trị vì mục tiêu công bằng, tiến bộ xã hội, dân chủ, nhân đạo, văn minh

Quản lý phát triển xã hội được tiến hành bởi nhiều chủ thể như cá nhân, gia đình, cộng đồng dân cư, các nhóm xã hội và nhà nước Mỗi chủ thể (cộng đồng người) đều sử dụng những công cụ, chuẩn mực giá trị khác nhau để quản lý Căn cứ vào bản chất quyền lực của chủ thể quản lý có thể chia quản lý phát triển xã hội thành hai khu vực cơ bản là: quản lý phát triển xã hội do nhà nước tiến hành và quản lý phát triển xã hội do các chủ thể ngoài nhà nước (cá nhân, tổ chức xã hội, cộng đồng…) tiến hành Trong đó, hoạt động quản lý của nhà nước về phát triển xã hội là hoạt động quản lý dựa trên quyền lực nhà nước, là hoạt động quản lý quan trọng nhất, được tiến hành với quy mô lớn nhất, trên phạm vi toàn xã hội thông qua công cụ chủ yếu là pháp luật- một hệ thống chuẩn mực do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước Còn hoạt động quản lý phát triển xã hội do các chủ thể ngoài nhà nước thực hiện là hoạt động quản lý mang tính chất xã hội thường được thực hiện ở những quy mô, phạm vi nhỏ hơn thông qua các công cụ, các hệ thống chuẩn mực, giá trị khác nhau do các các chủ thể này tạo ra và bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp có tính chất xã hội như tập quán, đạo đức, tín điều tôn giáo, các quy phạm đoàn thể, quy ước của cộng đồng dân cư Trong quá trình thực hiện quản lý phát triển xã hội các chủ thể nhà nước và ngoài nhà nước luôn phải dựa vào nhau vì mục tiêu chung là phát triển theo nguyên tắc tiến

bộ xã hội, công bằng, dân chủ, vì con người

Như trên đã phân tích, quá trình phát triển xã hội là một quá trình phức hợp, chịu

sự tác động của nhiều nhân tố trong nước, khu vực và thế giới nên theo quan điểm của nhiều nhà kinh tế học, khó có thể quy hoạch và chương trình hoá sự phát triển xã hội chỉ theo ý chí của nhà nước Hiện thực hơn sẽ là trong quá trình quản lý, nhà nước đưa

ra các định hướng, phát động các tổ chức xã hội cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội và tạo điều kiện, công cụ để hỗ trợ các chủ thể phát triển nâng cao năng lực tự giải

9 GS.TS Phạm Xuân Nam- sđd, tr.46

Trang 16

quyết các vấn đề của mình10 Ngân hàng Thế giới đã đưa ra cách tiếp cận mới về vấn đề bảo đảm xã hội dựa trên khái niệm “quản lý rủi ro xã hội”, theo đó, chính những rủi ro khó dự đoán trước, khó phòng ngừa (do thiên tai và các biến động trong đời sống kinh

tế, xã hội, chính trị gây ra) là nguyên nhân của tình trạng nghèo khổ và, vì vậy, chính sách bảo đảm xã hội - nội dung chủ yếu của quản lý phát triển xã hội phải được xây dựng để huy động mọi nguồn lực của nhà nước và xã hội giúp người bị tác động của rủi

ro, đặc biệt là người nghèo tăng cường năng lực và có các phương tiện để hạn chế, khắc phục hậu quả của rủi ro, thoát khỏi đói nghèo11

1.4 Thể chế và thiết chế

Hiện nay ở Việt Nam các thuật ngữ thể chế và thiết chế trong học thuật cũng như trong thực tiễn, trong các loại sách báo khoa học còn được hiểu và được dùng với những nội hàm khác nhau, chưa có sự thống nhất, đặc biệt là hai thuật ngữ này, trong nhiều trường hợp được sử dụng lẫn lôn, thay thế cho nhau Vì vậy, trong Đề tài này, Nhóm nghiên cứu không có tham vọng đưa ra một khái niệm chuẩn với hy vọng được thừa nhận chung mà chỉ cố gắng làm rõ quan niệm và cách tiếp cận của Nhóm đối với hai thuật ngữ thể chế và

thiết chế như là các khái niệm công cụ cho việc nghiên cứu Đề tài

1.4.1 Thiết chế xã hội là khái niệm quan trọng và được dùng rộng rãi trong xã

hội học nhưng nội hàm của thiết chế xã hội cũng chưa được xác định một cách thật rõ

ràng Thiết chế xã hội là một tập hợp các vị thế và vai trò có chủ định nhằm thỏa mãn

những nhu cầu xã hội quan trọng Thiết chế xã hội nảy sinh, tồn tại và phát triển là do

nó đáp ứng nhu cầu xã hội Nhu cầu xã hội là nguyên nhân hình thành, đồng thời nó cũng là mục đích tồn tại của thiết chế xã hội Các nhu cầu xã hội cơ bản gồm: (i) giao tiếp giữa các thành viên; (ii) sản xuất và sản phẩm dịch vụ; (iii) phân phối các sản phẩm

và dịch vụ hàng hóa; (iv) bảo vệ các thành viên khỏi tác động của thiên nhiên, bệnh tật

và nguy hiểm khác; (v) thay thế các thành viên (cả tái sinh sản sinh học) và thay thế văn hóa thông qua quá trình xã hội hóa; (vi) kiểm soát hành vi của các thành viên

Mỗi thiết chế đều có mục đích nhằm thỏa mãn những nhu cầu xã hội nhất định Mỗi một thiết chế xã hội có một đối tượng riêng để hướng tới phục vụ, nhằm đáp ứng các nhu cầu xã hội chuyên biệt liên quan tới đối tượng Để đạt được điều đó mỗi thiết chế có những nhiệm vụ riêng nhưng tựu chung thì các thiết chế đều thực hiện hai chức năng cơ bản là điều hoà xã hội và kiểm soát xã hội Mỗi một thiết chế tự nó được cấu trúc ở mức cao và được tổ chức xung quanh hệ thống các giá trị, chuẩn mực, quy tắc, khuôn mẫu đã được xã hội thừa nhận,

Nhìn từ góc độ văn hoá, thiết chế xã hội là yếu tố phối hợp và ổn định cho toàn

thể nền văn hóa Nhà xã hội học người Mỹ J Fichter cho rằng, thiết chế xã hội chính là một đoạn của văn hóa đã được khuôn mẫu hóa Những khuôn mẫu tác phong của nền văn hóa đó được xã hội đồng tình, khuyến khích sẽ có xu hướng trở thành các mô hình hành vi được mong đợi - các vai trò Do đó, thiết chế xã hội là một tập hợp các khuôn mẫu tác phong được đa số chấp nhận (các vai trò) nhằm thỏa mãn một nhu cầu cơ bản của nhóm xã hội

Trường hợp thiết chế xã hội thực hiện các chức năng điều hòa và kiểm soát xã hội không đúng cách thức có thể dẫn đến các tác động tiêu cực đối với xã hội - khi sự

10 TS Lê Đăng Doanh- Mối quan hệ giữa phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội với thể chế xã hội- Tham luận tại Hội thảo “Một số vấn đề lý luận về thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội” do Đề tài

tổ chức tại Hà Nội, 6/2009

11 Bruno Parlier Louis- Charler Viossat (chủ biên)- Chính sách xã hội và quá trình toàn cầu hoá, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2003, tr.42-43

Trang 17

điều hòa và đặc biệt là, sự kiểm soát của thiết chế quá mạnh sẽ triệt tiêu mọi sự sáng tạo của cá nhân, đồng thời thiết chế sẽ mang tính bảo thủ Tính bảo thủ này thể hiện ở chỗ

nó cố gắng duy trì những khuôn mẫu tác phong đã lạc hậu, lỗi thời Các thiết chế này sẽ cản trở sự tiến bộ của xã hội Nhưng, khi sự kiểm soát và điều chỉnh các quan hệ xã hội quá yếu của thiết chế có thể dẫn tới tình trạng các cá nhân, nhóm xã hội không thực hiện tốt vai trò, thậm chí trốn tránh trách nhiệm của mình Kết quả là hoạt động từng phần hoặc toàn bộ xã hội bị đình trệ Như vậy, sự nảy sinh thiết chế xã hội là do điều kiện kinh tế - xã hội khách quan quy định Bản thân thiết chế xã hội có sự độc lập tương đối và có tác động trở lại đối với cơ sở kinh tế - xã hội đã sản sinh ra thiết chế xã hội Dựa trên các căn cứ như tính phổ quát của thiết chế, sự cần thiết của thiết chế và tầm quan trọng của thiết chế, các nhà xã hội học thường chia các thiết chế xã hội thành hai loại:

- Thiết chế chủ yếu - thiết chế cần thiết nhất cho xã hội và được coi là quan trọng

nhất cho lợi ích cá nhân và xã hội, bao gồm các thiết chế sau: thiết chế gia đình; thiết chế giáo dục; thiết chế kinh tế, thiết chế chính trị, thiết chế tôn giáo

- Thiết chế phụ thuộc - những thiết chế nhỏ bé và khác biệt nhau, nằm trong thiết

chế chủ yếu

Một khái niệm khác có liên quan chặt chẽ với thiết chế xã hội cần được làm rõ là tổ

chức xã hội Một sự nhầm lẫn khá phổ biến trong thực tế là việc đồng nhất khái niệm

thiết chế xã hội với khái niệm tổ chức xã hội Thiết chế xã hội là một khái niệm rất trừu tượng, nhưng lại được thực hiện một cách hữu hình thông qua các nhóm xã hội, tổ chức

xã hội Thực chất nhóm xã hội, tổ chức xã hội là một tập hợp người được liên kết với nhau bởi các dạng quan hệ xã hội Các quan hệ xã hội này được hình thành từ những tương tác thường xuyên, ổn định, lâu dài, có định hướng Trong quá trình tương tác này các khuôn mẫu hành vi, vai trò được thiết chế hóa, tức là biến thành các thiết chế Như vậy các nhóm, các tổ chức hay bản thân từng cá nhân chỉ là như những tập hợp người thực hiện các thiết chế mà thôi, chứ không phải là chính thiết chế

1.4.2 Khái niệm thể chế: Định nghĩa có tính chất khoa học về thể chế được cho

là của Thorstein Veblen, một học giả người Mỹ đưa ra vào năm 1914 Học giả này cho

rằng “Thể chế là tính quy chuẩn của hành vi hoặc các quy tắc xác định hành vi trong

những tình huống cụ thể, được các thành viên của một nhóm xã hội chấp nhận và tuân thủ”12 Quan điểm về thể chế tiếp tục được các học giả ở các nước phương Tây quan tâm luận giải, phát triển Chẳng hạn, học giả A Schmid (1972) cho rằng thể chế là tập hợp các mối quan hệ được quy định giữa mọi người; các mối quan hệ này xác định quyền của một người trong mối tương quan với quyền của nhiều người khác, và xác định quyền lợi và trách nhiệm của con người nói chung Học giả Douglass C.North (1990) thì lại cho rằng thể chế là những quy tắc của trò chơi xã hội, hay là những giới hạn được vạch ra trong phạm vi khả năng và hiểu biết của con người, hình thành nên mối quan hệ qua lại của con người Do đó, chúng kết cấu thành những kích thích về mặt chính trị, xã hội và kinh tế Thể chế là một sự sáng tạo của con người, do con người phát triển và làm thay đổi chúng Vì thế, lý thuyết thể chế phải bắt đầu từ các cá nhân Học giả Lin và Nugent (1995) thì lại cho rằng “thể chế là một hệ thống các quy tắc hành xử do con người sáng tạo ra để quản lý và định hình các tương tác giữa con người với nhau, thông qua đó giúp họ hình thành những kỳ vọng về những điều mà người

12 Dẫn theo: Đinh Văn Ân, Võ Trí Thành (chủ biên), “Thể chế, cải cách thể chế và phát triển, lý luận và thực tiễn

ở nước ngoài và Việt Nam”, NXB Thống kê, Hà Nội, 2002

Trang 18

khác sẽ làm”13 Thể chế bao gồm các ràng buộc chính thức/hình thức (hiến pháp, pháp luật của nhà nước) và những ràng buộc phi chính thức/phi hình thức (những điều được thừa nhận hoặc cấm đoán bởi phong tục, tập quán, truyền thống, đạo lý )14

Ở Việt Nam, khi nghiên cứu vấn đề thể chế trong những lĩnh vực cụ thể, không ít nhà nghiên cứu đã dành khá nhiều công sức cho việc làm rõ cách hiểu, cách quan niệm

về “thể chế” Trong số đó, phải kể đến các tác phẩm như “Thể chế, cải cách thể chế và

phát triển, lý luận và thực tiễn ở nước ngoài và Việt Nam” của TS Đinh Văn Ân và TS

Võ Trí Thành (chủ biên) xuất bản năm 2002, tác phẩm “Tiếp tục xây dựng và hoàn

thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” do TS Đinh

Văn Ân và TS Lê Xuân Bá (đồng chủ biên) xuất bản năm 2006 và tác phẩm “Thể chế

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” do PGS.TS Hà Huy Thành

(chủ biên) (với tư cách là kết quả của đề tài cấp nhà nước KX 01.06 được nghiệm thu

năm 2005) xuất bản năm 2006, bài viết “Quá trình nhận thức của Đảng ta về thể chế

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của GS.TS Đỗ Thế Tùng

(trong tác phẩm “Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng 1986-2005”, tập 1, NXB Lý luận chính trị, 2005, tr 254), tác phẩm “Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp

quyền” do PGS.TS Nguyễn Đăng Dung (chủ biên) xuất bản năm 2004 Nhìn chung,

những nhà nghiên cứu này cho rằng, khái niệm thể chế tuy có thể có những cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau nhưng đều bao gồm một, hai hoặc cả ba nội dung cơ bản sau: (1) các

bộ quy tắc hay còn gọi là “luật chơi” (đó là bộ quy tắc chính thức do nhà nước ban hành hay các bộ quy tắc phi chính thức được hình thành từ thực tiễn đời sống như phong tục, tập quán, truyền thống ); (2) các chủ thể tham gia “trò chơi” hay gọi là người chơi (cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp, cộng đồng,

cá nhân); (3) cơ chế thực thi các bộ quy tắc ấy hay còn gọi là “cách chơi”15

Điều đáng lưu ý ở đây là thuật ngữ “thể chế” đã được Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001) và Đại hội X (năm 2006) của Đảng sử dụng khá nhiều lần khi đề cập tới nhiệm vụ xây dựng “thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”16 cũng với nội hàm bao gồm cả 3 yếu tố trên

Như vậy, có thể thấy sự khác biệt khá rõ trong quan niệm về thể chế giữa các nhà nghiên cứu của Việt Nam và nước ngoài: trong khi phần lớn định nghĩa về thể chế được thừa nhận chung ở nước ngoài chỉ hàm ý “luật chơi”- hệ thống các quy tắc hành

xử thì ở Việt Nam, khái niệm này được hiểu rộng hơn nhiều vì bao gồm cả “người chơi” (các tổ chức xã hội thực hiện các thiết chế nhất định) và cách chơi

1.5 Thể chế xã hội (Social Institutions)

Vì quan niệm về thể chế còn khác nhau nên quan niệm về thể chế xã hội cũng

chưa đạt được sự thống nhất

Theo quan điểm của C.Mác, con người là yếu tố thành viên của xã hội, là sản

phẩm của xã hội vì “chỉ có trong xã hội, tồn tại tự nhiên của con người mới là tồn tại có

13 TS Đinh Văn Ân – TS Lê Xuân Bá (chủ biên): Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, NXB Khoa học và kỹ thuật, 2006, tr.8

14 PEJOVICH, S (1999), “Tác dụng của sự tương tác giữa thể chế chính thức và phi chính thức đối với sự ổn định

xã hội và phát triển kinh tế”- Dẫn theo TS Lê Đăng Doanh -Thể chế hình thức, thể chế phi hình thức, vốn xã hội

và sự phát triển – Chuyên đề nghiên cứu của Đề tài

15 TS Đinh Văn Ân, TS Lê Xuân Bá (chủ biên): Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, NXB Khoa học và kỹ thuật, 2006, tr.12

16 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, 2001, tr 188; Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, 2006, tr.148, 168, 187

Trang 19

tính chất người của con người đối với con người” 17 và do đó, “Xã hội không phải gồm các cá nhân mà xã hội biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân với nhau” 18 Từ bản chất hiện thực của con người “là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”19, C.Mác quan niệm chính con người lại là chủ thể phát triển của xã hội “cơ cấu

xã hội và nhà nước luôn luôn nảy sinh từ quá trình sinh sống của các cá nhân nhất định trong hiện thực, tức là đúng như họ hành động trong những giới hạn, tiền đề và điều kiện vật chất nhất định, không phụ thuộc vào ý chí của họ”20 Tất cả các tổ chức xã hội

từ gia đình, xã hội dân sự hay nhà nước đều hiện thực hoá ở những mức độ khác nhau bản chất xã hội của con người

Sách giáo khoa Xã hội học của nhà xã hội học người Mỹ, I.Robertson cũng cho rằng:” Xã hội là một tập hợp dân cư sống trên cùng một lãnh thổ, trong cùng một hệ thống chính trị và chia sẻ một nền văn hoá chung” 21 Ở Việt Nam, theo nhà triết học, xã hội học Tô Duy Hợp: "xã hội là một hệ thống bao gồm những con người là các yếu tố (thành viên), các quan hệ và hoạt động của họ trên cùng một lãnh thổ nhất định trong cùng một thể chế chính trị, một nền kinh tế và văn hoá nhất định”22

Như vậy, xã hội và các mặt/phương diện hoạt động của xã hội đều là biểu hiện tổng hợp các mối quan hệ của con người với nhau Các thể chế xã hội, với tính chất là các chuẩn mực hành vi, là các “luật chơi” do chính con người tạo ra và tuân thủ khi tham gia các mối quan hệ xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội, vì vậy, cũng được hình thành và phát triển một cách khách quan từ nhu cầu hành động thực tiễn của con người trong quá trình phát triển

Quan niệm thể chế xã hội do học giả Jonathan Turner được sự thừa nhận khá

rộng rãi coi thể chế xã hội là “một phức hợp các vị trí, vai trò, chuẩn mực và giá trị gắn

kết trong những loại cơ cấu xã hội nhất định và tổ chức ra các loại hoạt động của con người tương đối ổn định trong việc giải quyết các vấn đề cơ bản để tạo ra các nguồn lực cho sự phát triển bền vững của đời sống, trong việc tái tạo các cá nhân, và trong việc duy trì các cơ cấu xã hội trong một môi trường nhất định”23 Các nghiên cứu về thể chế xã hội ở nước ngoài thường cho rằng thể chế xã hội bao gồm thể chế xã hội chính thức (Hiến pháp, các đạo luật, các án lệ, các biện pháp chế tài do luật pháp quy định )

và các thể chế xã hội phi chính thức (phong tục, tập quán, đạo đức, các điều cấm kỵ, các quy tắc ứng xử nội bộ cộng đồng, các quy tắc, quy chế của hội nghề nghiệp ) Các thể chế xã hội đều có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, thúc đẩy phát triển xã hội

Ở Việt Nam có những tác giả đồng nhất thiết chế xã hội với thể chế xã hội:

“Thiết chế xã hội là mẫu hình của hành vi, là kiểu tổ chức nhất định của các hoạt động

xã hội và các quan hệ xã hội nhằm làm cho các hành vi của con người phù hợp với những chuẩn mực và quy phạm mà xã hội đặt ra… Thiết chế xã hội là công cụ để điều hoà, điều chỉnh hành vi của con người”24 Giáo trình Quản lý xã hội của Trường đại học

17 C.Mác và Ph.Ăngghen- Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia,H, 1998, t42,tr.169

18 C.Mác và Ph.Ăngghen- Toàn tập, Sđd, t.46,tr.355

19 C.Mác và Ph.Ăngghen- Toàn tập, Sđd, t 3, tr.11,36

20 C.Mác và Ph.Ăngghen- Toàn tập, Sđd, t13,tr.16

21 I.Robertson, Xã hội học, tiếng Anh, xuất bản ở Mỹ năm 1987, tr.662, dẫn theo sách :”Đảng lãnh đạo phát triển

xã hội và quản lý phát triển xã hội thời kỳ đổi mới- một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, PGS.TS Đinh Xuân Lý (chủ biên), NXB Chính trị quốc gia, H,2009

Trang 20

kinh tế quốc dân do GS.TS Đỗ Hoàng Toàn làm chủ biên lại cho rằng thiết chế xã hội

là khái niệm bao trùm cả thể chế xã hội và tổ chức/cấu trúc xã hội, theo đó "Thiết chế

xã hội là một hệ thống các quy định, luật lệ, giá trị và cấu trúc xã hội nhằm mục đích duy trì sự tồn tại và biến đổi xã hội theo một hướng nhất định”25 Một số học giả lại cho rằng thể chế xã hội chỉ gồm các quy tắc xử sự dùng để điều chỉnh quan hệ xã hội, nhằm đạt được những mục đích xã hội nhất định Xuất phát từ quan niệm trên, PGS.TS Phạm

Hữu Nghị cho rằng, pháp luật xã hội “là tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh

các quan hệ xã hội trong quá trình kiểm soát, giải quyết các vấn đề xã hội”26

PGS.TS.Phạm Duy Nghĩa cho rằng thể chế xã hội dường như không là thuật ngữ

của giới luật học, mà thường được sử dụng rộng hơn trong giới kinh tế học phát triển,

kinh tế học thể chế hay xã hội học với những nội hàm không thể chặt chẽ như giới luật học mong đợi Do vậy, để không quá mất công vì việc tranh luận về định nghĩa, tác giả

đề xuất chỉ nên nêu ra một số đặc trưng để mặc định cách hiểu của nhóm nghiên cứu, tức là không tranh luận đúng sai, mà mặc nhiên quy định những hiện tượng trong đời sống con người được xem là thể chế xã hội nếu chúng đáp ứng một số tiêu chí như sau: (i) đó là những hệ thống liên kết nhiều người, (ii) những hệ thống đó tồn tài lâu dài, (iii) những hệ thống đó có năng lực tạo ra tục lệ, thói quen hay quy phạm tác động lâu dài đến hành vi ứng xử của con người, (iv) có những sức ép, chế tài hay phương cách để định hướng hành vi của con người tuân thủ những tục lệ hay quy phạm đã được xác lập27 Như vậy, có thể hiểu thể chế xã hội, theo tác giả mặc định, bao gồm các thiết chế (hiểu theo nghĩa là các tổ chức), hệ thống quy phạm và cơ chế thực hiện các quy phạm đó

Trong phạm vi đề tài, Nhóm nghiên cứu tiếp cận thể chế xã hội theo nghĩa hẹp, tức là chỉ bao gồm các quy tắc, chuẩn mực xử sự (luật chơi) để điều chỉnh hành vi con người (cá nhân, tổ chức, cộng đồng dân cư – người chơi) khi tham gia vào các quan hệ

xã hội nhằm giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình phát triển của một xã hội, một quốc gia Theo cách hiểu này, thể chế xã hội được dùng để phân biệt với các quy tắc, chuẩn mực xử sự điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến các phương diện khác của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, môi trường

Từ đây, có thể đi đến quan niệm của Đề tài về thể chế xã hội: Thể chế xã hội là hệ

thống các quy phạm xã hội, nghĩa là toàn bộ các quy tắc, chuẩn mực, giá trị do Nhà nước và các chủ thể ngoài nhà nước tạo ra để điều chỉnh hành vi của các cá nhân khi tham gia vào các quan hệ xã hội nhằm giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình phát triển của đất nước vì mục tiêu công bằng, tiến bộ xã hội, dân chủ, nhân đạo, văn minh

Các thể chế xã hội sinh ra do nhu cầu quản lý các vấn đề xã hội của con người trong quá trình tồn tại và phát triển Các thể chế xã hội là một bộ phận của đời sống xã hội đồng thời là công cụ, phương tiện để các thiết chế xã hội (do nhà nước và các tổ chức xã hội khác) quản lý phát triển xã hội Các thể chế xã hội có tác dụng phối hợp hoạt động riêng rẽ của các tổ chức, cộng đồng và cá nhân trong xã hội theo những định hướng nhất định vì lợi ích con người, vì sự ổn định và phát triển xã hội

Hệ thống các thể chế xã hội biểu hiện trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội và tinh thần của xã hội, đồng thời cũng mang trong mình những yếu tố lịch sử, những đặc

25 Trường đại học kinh tế quốc dân, Giáo trình Quản lý xã hội của do GS.TS.Đỗ Hoàng Toàn làm chủ biên, NXB Khoa học và Kỹ thuật,H,2006, tr.122

26 Phạm Hữu Nghị (chủ biên), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách, pháp luật xã hội, Nxb Công an nhân dân Hà Nội 2002, tr.20

27 PGS.TS Phạm Duy Nghĩa - Thể chế xã hội và Dân chủ, Tham luận tại Hội thảo “Một số vấn đề lý luận về thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội” do Đề tài tổ chức tại Hà Nội, 6/2009

Trang 21

trưng của một dân tộc, một đất nước và tính chất của chính quyền nhà nước Các thể chế xã hội luôn phản ánh một cách tập trung sự tác động của các quy luật khách quan,

xu thế phát triển xã hội được con người nhận thức và sử dụng chúng một cách có ý thức vào những mục đích của mình

2 NHẬN DIỆN CÁC THỂ CHẾ XÃ HỘI

2.1 Phương pháp tiếp cận

Thể chế xã hội - với cách hiểu là các quy tắc, chuẩn mực xử sự của con người, là sản phẩm của một chủ thể - một thiết chế xã hội cụ thể, trong mối quan hệ tương tác với các chủ thể - thiết chế xã hội khác Do vậy, việc nhận diện những đặc trưng, nguyên lý vận hành của một thể chế xã hội chỉ có thể được làm rõ khi nó được nghiên cứu, xem xét trong mối quan hệ tương tác giữa chủ thể của một thể chế xã hội này, nghĩa là chủ thể của hành vi ứng xử theo quy tắc (chính thức hoặc không chính thức), với (các) chủ thể của thể chế xã hội khác Sẽ là phiến diện, manh mún nếu chỉ thuần túy xem xét quy tắc ứng xử của một thiết chế xã hội để thấy được vai trò của loại chủ thể này trong phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội

Do đó, việc nhận diện các thể chế xã hội không thể tách rời khỏi việc nhận diện các thiết chế xã hội tương ứng đồng thời phải làm rõ mối quan hệ giữa các loại thể chế xã hội và thiết chế xã hội đó

2.2 Căn cứ để nhận diện thể chế xã hội

Cho đến nay, việc nhận diện và phân loại các thể chế xã hội vẫn là chủ đề để ngỏ cho các nhà nghiên cứu tuỳ theo góc nhìn và cách tiếp cận vấn đề từ các khoa học chuyên ngành kinh tế, luật học, xã hội học Một cách phân loại để nhận diện được chấp nhận khá phổ biến trong các nghiên cứu luật học, đó là, từ góc nhìn quan hệ giữa nhà nước với người dân có thể chia thành thể chế quan phương và phi quan phương, thể chế chính thức (quan phương, nhà nước) và thể chế phi chính thức (phi quan phương, ngoài nhà nước) mặc dù các thuật ngữ này cho đến nay vẫn còn gây tranh luận Tuy nhiên, cách nhận diện này mới chỉ dừng lại ở sự phân biệt giữa một bên là thể chế do nhà nước tạo lập ra và một bên là tất cả các thể chế còn lại do các thiết chế xã hội khác ngoài nhà nước tạo ra mà không làm rõ được “một phức hợp các vị trí, vai trò, chuẩn mực và giá trị gắn kết trong những loại cơ cấu xã hội nhất định” như quan điểm của Jonathan Turner về thể chế xã hội đã dẫn ở trên

Quan điểm này xuất phát từ luận điểm là xã hội trong bất kỳ một quốc gia nào (xã hội – quốc gia) đều được cấu trúc bởi các thiết chế xã hội (các chủ thể) với những đặc tính, chức năng riêng biệt, tương tác với nhau, tạo nên sự vận động xã hội Các thiết chế

xã hội này vận hành trong tương tác với nhau, tác động lên sự vận động, phát triển xã hội, dưới hình thức các quy tắc ứng xử- các thể chế xã hội Do vậy, có những loại thể chế xã hội ra đời và tồn tại cùng với sự tồn tại của xã hội trong suốt quá trình phát triển, điều chỉnh các nhóm quan hệ mang tính phổ quát, không chỉ của một nhóm người mà của cả xã hội, nhưng cũng có những thể chế ra đời và tồn tại chỉ cùng với những nhóm chủ thể nhất định trong phạm vi lãnh thổ, dân cư nhất định Các thiết chế xã hội này, theo mô hình phổ quát về phát triển xã hội, được thực hiện thông qua các nhóm xã hội, các tổ chức xã hội đều là hoặc có tiềm năng là những chủ thể tham gia vào giải quyết các vấn đề xã hội, thúc đẩy phát triển xã hội, tham gia quản lý phát triển xã hội theo phương thức đặc trưng của mình

Với phương pháp tiếp cận hệ thống như đã trình bày ở trên, Nhóm nghiên cứu lựa chọn cấu trúc xã hội phổ biến của một xã hội- quốc gia làm căn cứ để nhận diện các thể chế xã hội và các tổ chức xã hội tương ứng

Trang 22

2.3 Các loại thể chể xã hội

Có thể khái quát cấu trúc xã hội phổ biến của xã hội-quốc gia với các chủ thể

phát triển xã hội và các thể chế xã hội do các chủ thể đó tạo ra làm công cụ hoạt động

và tác động lên xã hội như sau:

- Nhà nước và Pháp luật với sự vận hành quyền lực Nhà nước

- Đảng chính trị và cương lĩnh, đường lối với hoạt động chính trị

- Doanh nghiệp với điều lệ và bộ quy tắc ứng xử của doanh nghiệp trong sự vận hành của Thị trường

- Tổ chức xã hội và quy tắc, điều lệ của các tổ chức xã hội với sự vận hành, hoạt động của xã hội dân sự

- Tổ chức tôn giáo và các giáo lý, đạo đức tôn giáo với đời sống tâm linh

- Cộng đồng dân cư và luật tục, hương ước với sinh hoạt làng, xã

- Gia đình và sinh hoạt dòng tộc

Sự nhận diện trên đây về các chủ thể phát triển xã hội và thể chế xã hội mang tính chất khái quát nhằm mô tả những thành phần cơ bản và phổ biến nhất trong xã hội của bất kỳ quốc gia nào Tuy nhiên, cần lưu ý rằng ở mỗi quốc gia, mỗi tổ chức xã hội

và thể chế xã hội do các chủ thể đó tạo ra làm công cụ hoạt động và tác động lên xã hội đều có những khác biệt rõ rệt do chịu tác động bởi các yếu tố về môi trường chính trị, lịch sử, văn hóa, địa-chính trị, mức độ phát triển, Có thể, đơn cử sự khác biệt về thể chế xã hội ở các quốc gia như sau: Quốc gia nào cũng có Nhà nước, nhưng mô hình Nhà nước và pháp luật cũng như nguyên lý vận hành quyền lực nhà nước không giống nhau; Quốc gia nào cũng có đảng phái chính trị nhưng đướng lối, phương thức hoạt động chính trị rất khác nhau ở mỗi quốc gia tuỳ thuộc quốc gia đó thừa nhận chế độ một đảng hay chế độ đa đảng Vì vậy, xuât phát từ đặc điểm của Việt Nam, TS.Văn Đức

Thanh đưa ra cách phân loại các định chế xã hội (được hiểu là tổng hoà giữa hệ thống

tổ chức thiết chế với hệ thống quy phạm điều tiết cá nhân, cộng đồng) thành định chế xã

hội chính trị và định chế xã hội dân sự trong đó định chế xã hội chính trị ở Việt Nam

gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước CHXHCN Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và 6 tổ chức chính trị - xã hội thành viên (Công đoàn, Phụ nữ, Thanh niên, Cựu chiến binh ) còn định chế xã hội dân sự thì bao gồm định chế xã hội của cộng đồng dân cư, định chế xã hội phi chính phủ, định chế xã hội tôn giáo, tín ngưỡng, định chế xã hội kinh tế 28 Cách phân loại này thể hiện rõ đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay với Nhà nước ở vị trí trung tâm, một Đảng cầm quyền lãnh đạo Nhà nước

và xã hội cùng với một nhóm các tổ chức chính trị- xã hội được coi là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Tuy nhiên, nhìn từ góc độ chủ thể phát triển xã hội thì việc đưa các tổ chức chính trị (Đảng cầm quyền) và các tổ chức chính trị- xã hội vào cùng một nhóm với Nhà nước là không phù hợp vì vị trí, vai trò và đặc biệt là cách thức, công cụ để các chủ thể này tham gia giải quyết các vấn đề xã hội hoàn toàn khác nhau Trong cơ cấu xã hội của bất cứ quốc gia nào, sự tồn tại và vận hành của các thể chế xã hội khác, ngoài pháp luật do Nhà nước ban hành, đều là điều tất yếu khách quan trong quá trình phát triển xã hội Ngay cả ở các quốc gia phát triển, khi hệ thống pháp luật đã ở giai đoạn cao trong lịch trình tiến hóa của mình, các học giả vẫn cho rằng, bên cạnh một “trật tự pháp luật chính thức” vẫn có các “trật tự mang tính quy chế/quy tắc/thể chế” ngoài pháp luật Chẳng hạn, Stewart Macaulay, một học giả trong lĩnh vực

28 TS.Văn Đức Thanh, Quan niệm định chế xã hội- vấn đề lý luận cần thiết trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN- http://www.tapchicongsan.org.vn/details.a 6/21/2007

Trang 23

xã hội học pháp luật ở Hoa Kỳ nhận xét: “Chúng ta đang sống trong một xã hội có đa trật tự pháp lý chứ không phải một trật tự pháp lý - ở đó các quy tắc được hình thành, giải thích và áp dụng, cưỡng bách không phải chỉ do các thiết chế công quyền mà do cả các thiết chế tư nhân Giữa các trật tự pháp lý ấy hầu như chỉ có một sự phối hợp khá lỏng lẻo… Các thiết chế tư nhân có vai trò ở đây có thể kể đến từ các tổ chức bất hợp pháp như tổ chức mafia đến các tổ chức hợp pháp như Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ Các hiệp hội thương mại, các liên đoàn thể thao, các giáo hội, các tổ chức cộng đồng và cả các tổ chức tư nhân khác như các loại công ty trong nền kinh tế đều thực thi những quyền năng mà trên thực tế có giá trị hữu hiệu như quyền năng pháp lý Các tổ chức này tạo ra các quy tắc, giải thích và áp dụng các quy tắc ấy trong hoạt động thường nhật Các tổ chức ấy có thể áp dụng các biện pháp thưởng… hoặc các biện pháp chế tài như việc đình chỉ, chấm dứt tư cách thành viên ”29

Theo quan niệm của những học giả này, nếu như cơ cấu của mọi xã hội đều đa tầng, đa nấc, đa chủ thể, thì hệ thống các quy tắc ứng xử (trong đó nhất là các quy tắc thưởng phạt – định chuẩn – khuyến khích thực hiện hoặc trừng phạt sự lệch chuẩn/vi phạm) cũng có tính đa tầng, đa trật tự như vậy Cũng theo quan điểm này, không một xã hội nào có một nền “văn hóa pháp lý” thống nhất, mà trên thực tế, mọi nền văn hóa pháp lý đều có nhiều tầng nấc, thứ bậc và kết cấu phức tạp Thậm chí, có quan điểm cho rằng, trong mỗi xã hội đều có nhiều “văn hóa pháp lý” khác nhau, giữa chúng đôi khi còn mâu thuẫn, khắc chế nhau (cách nhìn theo thuyết xung đột - conflict perspective); người theo thuyết chức năng (functional-structural approach) thì cho rằng các trật tự

này đều có chức năng, vai trò riêng và chúng tồn tại hòa hợp với nhau Tuy nhiên, Nhà

nước và pháp luật luôn đóng vai trò chủ đạo, định hướng và tạo khuôn khổ cho sự vận

hành hoạt động của các thể chế xã hội khác nhằm thúc đẩy sự phát triển xã hội

3 NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA CÁC THỂ CHẾ XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI, QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

3.1 Nhà nước và Pháp luật

Nhà nước là một thiết chế chính trị xã hội đặc biệt, một lực lượng nảy sinh từ xã

hội, do nhu cầu của chính con người, để giữ gìn những xung đột xã hội, giai cấp trong một trật tự hợp lý (nguồn gốc giai cấp của nhà nước), để tổ chức lực lượng chống thiên tai, bão lụt, các rủi ro (nguồn gốc xã hội của nhà nước), thực hiện chức năng duy trì, điều hoà và kiểm soát sự tồn tại và phát triển của xã hội Từ cội nguồn sinh ra, nhà nước

đã là cần thiết, không thể thiếu đối với cuộc sống của con người Cách đây gần 500 năm, Thomas Hobbes trong luận văn Leviathan vào năm 1651 đã nhận thức sâu sắc rằng cuộc sống mà không có một nhà nước hiệu lực để duy trì trật tự thì “rất đơn độc, nghèo nàn, đồi bài, tàn bạo và ngắn ngủi Từ các cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính,

xã hội gần đây, Ngân hàng thế giới cũng đưa ra nhận xét nếu nhà nước sụp đổ từ bên

trong thì cũng tức là sẽ “để mặc cho các công dân của nó mất cả những điều kiện cơ

bản của cuộc sống ổn định: luật pháp và an ninh, sự tin cậy trong các hợp đồng và

những phương tiện trao đổi lành mạnh”30 Để thực hiện được chức năng duy trì, điều

29 Stewart Macaulay, “Law and the Behavioral Sciences: Is There Any There There?” 6 Law and Policy 249 (1984) (Nguyên văn: “we live in a world of “legal pluralism” where rules are made and interpreted and sanctions imposed by many public and private governments which are only loosely coordinated… Examples of private governments range from the Mafia to the American Arbitration Association Trade associations, sports leagues, church groups, neighborhood organizations and many other “private” units such as business corporations exercise what are, effectively, legal powers They make rules…they interpret them in their day-to-day operations; they offer benefits… and they may suspend or expel members, associations or employees as a sanction”)

30 Ngân hàng thế giới, Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, Báo cáo về tình hình phát triển thế giới

1997, NXB Chính trị Quốc gia, H, tr.20

Trang 24

hoà và kiểm soát sự tồn tại và phát triển của xã hội, nhà nước được nhân dân giao phó

quyền lực từ chủ quyền nhân dân Khi quyền lực nhân dân được tín thác cho nhà nước,

quyền lực này trở thành quyền lực nhà nước Nhà nước dân chủ hiện đại thực thi quyền lực nhà nước thông qua những chức năng chủ yếu như:

s- Về đối nội: tổ chức và quản lý kinh tế, tạo môi trường kinh tế vĩ mô và kinh tế vi

mô đảm bảo sự vận hành hiệu quả của thị trường; tạo ra một hạ tầng thể chế - pháp luật và những quy tắc có khả năng khuyến khích, huy động các nguồn lực đầu tư cho phát triển; đảm bảo phúc lợi, an sinh xã hội và dịch vụ công cộng (văn hoá, giáo dục, khoa học-công nghệ, y tế, cơ sở hạ tầng vật chất- kỹ thuật cần thiết), bảo vệ môi trường; đảm bảo trật tự công cộng, bảo vệ các quyền và lợi ích cơ bản của công dân, quyền con người

- Về đối ngoại: Thực thi chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế

Nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, hoạt động chủ yếu thông qua hệ thống quy tắc mang tính mệnh lệnh, bắt buộc chung được nhà nước ban hành hoặc thừa

nhận dưới những hình thức nhất định, đó là pháp luật – một thể chế xã hội quan trọng,

không thể thiếu

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và

vì dân, đại diện cho ý chí của giai cấp công nhân và đông đảo quần chúng nhân dân lao động Vì vậy, quyền lực Nhà nước là quyền lực của nhân dân Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do Đại hội Đảng VII thông qua đã khẳng định “Nhà nước ta phải có đủ quyền lực và khả năng định ra pháp luật và tổ chức quản lý mọi mặt của đời sống xã hội bằng pháp luật” Hiến pháp 1992 cũng đã thể chế hoá quan điểm trên thành một nguyên tắc hiến định "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” (Điều 12)

Nhà nước sử dụng pháp luật với vai trò là công cụ quản lý đắc lực để thiết lập, duy trì quyền lực công cộng của mình, thực hiện các chức năng của Nhà nước thông qua hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước

thừa nhận hoặc ban hành theo một trình tự thủ tục luật định và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước trên cơ sở giáo dục và thuyết phục mọi người tôn trọng và thực hiện Pháp luật gắn liền với nhà nước từ nguồn gốc đến bản chất, kiểu nhà nước nào có kiểu pháp luật đó Pháp luật phản ánh những lợi ích, nhu cầu chung và

phổ biến của xã hội, của dân tộc “Lợi ích” là “điều có ích, có lợi cho một đối tượng nào

đó, trong mối quan hệ với đối tượng ấy”31 và “nhu cầu” là “điều đòi hỏi của đời sống,

tự nhiên và xã hội”32 Pháp luật lấy lợi ích và nhu cầu xã hội là cơ sở khách quan để hình thành và cũng là mục đích để tồn tại và phát triển Ngược lại, pháp luật có ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành và phát triển các lợi ích xã hội, tạo điều kiện cho các lợi ích đó phát triển hoặc hạn chế, loại bỏ sự phát triển của các lợi ích mâu thuẫn, đi ngược lại với các lợi ích, nhu cầu chung Sự tác động tích cực đối với việc hình thành

và phát triển các lợi ích có ý nghĩa về mặt xã hội là đặc điểm mang tính nguyên tắc của

pháp luật xã hội chủ nghĩa “Pháp luật của chúng ta với đầy đủ tính chất dân chủ chân

chính, đã phản ánh những quyền lợi chính đáng của mọi công dân…”33 Khi phản ánh

sự thống nhất về quyền lợi chung của xã hội và quyền lợi riêng của mỗi thành viên

Trang 25

trong xã hội bằng những tiêu chuẩn khác nhau, pháp luật đã bảo đảm cho sự phát triển cân đối, toàn diện và trên cơ sở một lợi ích chung cho toàn xã hội

Lợi ích và nhu cầu được phản ánh trong pháp luật về xã hội là lợi ích và nhu cầu

về mặt xã hội của người dân trong đó có lợi ích và nhu cầu của con người mong muốn

được ăn no, mặc ấm, được hạnh phúc, công bằng và bình đẳng trong xã hội Đó là những lợi ích, nhu cầu chính đáng, thuộc về quyền con người Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Tuy nhiên, trong cuộc sống phức tạp và có nhiều tác động trở ngại bởi thiên nhiên, tạo hoá

và bởi chính con người nên có một bộ phận người không được hưởng các lợi ích và được đáp ứng các nhu cầu của mình, họ chịu sự chênh lệch, thua kém về thu nhập, mức sống, điều kiện sống so với xã hội nói chung Chính vì vậy, pháp luật có nhiệm vụ phản ánh và ghi nhận các nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của những người nghèo, bất hạnh, rủi ro, đồng thời phải quy định các biện pháp bảo đảm cho họ đạt được những nguyện vọng, nhu cầu đó Trong trường hợp họ không có đủ điều kiện để thực hiện thì Nhà nước, thông qua pháp luật phải có trách nhiệm hỗ trợ, giúp đỡ Việc hỗ trợ, giúp đỡ

có thể bằng những công cụ trực tiếp như hỗ trợ đầu tư, cho vay vốn, thúc đẩy phát triển kinh tế hoặc công cụ gián tiếp như hỗ trợ kỹ thuật, lương thực-thực phẩm, dạy nghề…; có sự ưu đãi như miễn, giảm thuế nông nghiệp… Tất cả những vấn đề này chỉ

có thể được bảo đảm thực hiện một cách hiệu quả thông qua pháp luật Điều đó có nghĩa là đã tạo ra “môi trường pháp luật” mà trong đó Nhà nước, xã hội và người dân tuân thủ theo những quy định pháp luật với mục đích phát triển xã hội

Không chỉ có tính “phản ánh” các lợi ích và nhu cầu xã hội mà pháp luật còn có tính “định hướng phát triển” các nhu cầu và lợi ích đó phù hợp với trình độ phát triển xã hội xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện hình thành các lợi ích xã hội mới, tiến bộ mà con người hướng đến Tính “định hướng” của pháp luật hoàn toàn khác với việc pháp luật

“cao hơn” trình độ phát triển kinh tế Nếu tính “định hướng” của pháp luật tức là khả năng pháp luật có thể vượt lên trước, đón bắt và dự liệu trước những lợi ích và nhu cầu

sẽ phát sinh thì sự “cao hơn” muốn nói đến sự xa rời, sự không “ăn khớp” giữa pháp luật với cơ sở hạ tầng, với điều kiện kinh tế, tức là pháp luật không phản ánh đúng lợi ích và nhu cầu xã hội

Khi nói đến Pháp luật với tính chất là một loại thể chế xã hội cần nhấn mạnh vai trò quan trọng của pháp luật trên 2 phương diện sau:

- Pháp luật bảo đảm an ninh chính trị và an toàn xã hội cho người dân

An toàn xã hội là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế - xã hội nói chung và việc thực hiện công bằng xã hội nói riêng Không

có an toàn xã hội thì người dân không thể yên tâm sinh sống, lao động sản xuất để tạo

ra của cải cho bản thân, gia đình và xã hội, xoá nghèo và vươn lên làm giàu An toàn xã hội luôn có nguy cơ bị phá vỡ hoặc bị xâm hại từ nhiều phía, bởi vì xã hội luôn có những biến đổi không ngừng, sự phức tạp của phân tầng xã hội, sự khác biệt về trình độ nhận thức và điều kiện của đời sống vật chất và tinh thần, các động cơ chính trị kinh tế, văn hoá, tôn giáo và đạo đức khác nhau Những biến đổi lớn có tính chất bước ngoặt thường tác động làm thay đổi mối tương quan lợi ích giữa các cá nhân và các nhóm xã hội khác nhau, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, với sự cạnh tranh gay gắt và những vấn đề xã hội phát sinh từ mặt trái của

nó làm cho các quan hệ trên tất cả các bình diện trở nên hết sức phức tạp Trong tình hình đó, pháp luật là phương tiện có hiệu lực nhất để xác lập, điều chỉnh, hướng dẫn các hành vi xử sự của các chủ thể trong xã hội, góp phần củng cố và bảo đảm an ninh, an

Trang 26

toàn xã hội; xác lập mối tương quan lợi ích giữa nhà nước, các nhóm xã hội và giữa các

cá nhân, điều tiết sao cho các quan hệ đó phát triển theo xu hướng tích cực không dẫn đến các mâu thuẫn, bất bình hoặc xung đột xã hội Bên cạnh đó, pháp luật với sức mạnh quyền lực Nhà nước, quyền lực của nhân dân còn đóng vai trò ngăn ngừa, kiềm chế các hành vi gây mất trật tự xã hội, xâm hại đến lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân thông qua các quy phạm mang tính chất cấm đoán, các chế tài nghiêm khắc Dù là người giàu hay nghèo đều bình đẳng trước pháp luật và đều phải sống và làm việc trong trật tự xã hội luật định

- Pháp luật là yếu tố bảo đảm sự phát triển bền vững

Cái đích của tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội là để hướng tới sự phát triển bền vững Phát triển bền vững bao hàm cả ba mặt của sự phát triển: mặt kinh tế, mặt môi trường và mặt xã hội Trong quá trình vận động và phát triển, ba mặt đó có mối quan hệ tương tác và hỗ trợ lẫn nhau: sự tăng trưởng và phát triển kinh tế sẽ tác động làm thay đổi cơ cấu xã hội, môi trường tự nhiên, vừa là tác nhân vừa là tiền đề để giải quyết những vấn đề xã hội và môi trường; đến lượt mình, sự ổn định và tiến bộ xã hội sẽ là cơ

sở bảo đảm cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững Phát triển bền vững được xác định theo các tiêu chí cơ bản là: về kinh tế, đó là sự phát triển kinh tế - xã hội với tốc

độ cao, liên tục trong một thời gian dài và trong một không gian rộng; xã hội có sự tiến bộ không ngừng, công bằng xã hội được bảo đảm, mọi người được tự do, bình đẳng, dân chủ; trật tự và an toàn xã hội được bảo đảm; về xã hội, đó là quan hệ xã hội lành mạnh, nhân dân có điều kiện để lao động, đi lại, học hành, chữa bệnh và có điều kiện để hưởng thụ các giá trị văn hoá một cách bình đẳng; về môi trường, đó là các nguồn tài nguyên thiên nhiên được sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm; giảm tiêu thụ năng lượng và các tài nguyên thiên nhiên khác; môi trường sinh thái được bảo vệ cho hiện tại và tương lai

Như vậy, với tư cách là chủ thể phát triển và quản lý phát triển xã hội, nhà nước

có khả năng tác động mạnh mẽ nhất, toàn diện và hiệu quả nhất vào việc giải quyết các vấn đề xã hội thông qua việc ban hành hệ thống chính sách, pháp luật về bảo đảm xã hội, xây dựng và vận hành tổ chức bộ máy thực hiện và quản lý việc thực hiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực này, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo đảm xã hội

từ phía các chủ thể khác và vi phạm của chính các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước Đồng thời, Nhà nước có trách nhiệm ban hành các chính sách, pháp luật nhằm huy động các thiết chế xã hội khác kết hợp các nguồn lực xã hội để cùng thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội

Trong nhà nước pháp quyền thì sự điều tiết của nhà nước được thực hiện chủ yếu bằng pháp luật đồng thời pháp luật cũng chính là sự điều tiết, giới hạn quyền hạn và ràng buộc trách nhiệm của nhà nước trước nhân dân, xã hội Pháp luật là công cụ quản

lý phát triển xã hội của nhà nước đồng thời tạo khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của mọi thiết chế xã hội khác khi tham gia vào giải quyết các vấn đề xã hội, là công cụ để các thiết chế xã hội ngoài nhà nước giám sát hoạt động của nhà nước theo các mục tiêu phát triển xã hội

3.2 Đảng cầm quyền và đường lối chính trị

Mặc dù về phương thức tổ chức và hoạt động, đảng phái chính trị - thực ra cũng

là một dạng thức của một tổ chức xã hội, bao gồm những người tham gia tự nguyện, có

cùng ý chí chính trị liên quan tới quyền lực Nhà nước Mỗi đảng phái chính trị đều có cương lĩnh, mục tiêu, tôn chỉ định hướng cho các hoạt động chính trị của mình Khi một đảng phái chính trị trở thành đảng cầm quyền, với tư cách là một chủ thể phát triển xã

Trang 27

hội, đảng cầm quyền tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội thông qua việc lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng việc:

- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện cương lĩnh, chương trình hành động, đường lối, chính sách phát triển xã hội thích hợp và cần thiết cho từng giai đoạn lịch sử;

- Lãnh đạo xây dựng thể chế về tổ chức và vận hành của nhà nước pháp quyền

và xã hội dân sự Quan điểm của C.Mác về xã hội dân chủ gồm nhà nước pháp quyền

và xã hội dân sự34 là cơ sở tư tưởng để các đảng mác xít lãnh đạo việc thực hành mục tiêu bảo đảm tốt hơn quyền công dân, quyền con người thông qua nhà nước pháp quyền

và xã hội dân sự, từng bước hình thành “loài người xã hội hoá” của các “cộng đồng lao động tự do” dưới chủ nghiã cộng đồng Thể chế ở đây được hiểu bao gồm cả pháp luật của nhà nước pháp quyền và thể chế hoạt động của xã hội dân sự;

- Lãnh đạo định hướng phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, tạo tiền đề phù hợp

và có tính quyết định đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội theo đường lối, chính sách phát triển xã hội của đất nước

Ở Việt Nam, do đặc thù của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo toàn diện đối với hệ thống chính trị, trong đó lãnh đạo Nhà nước là trực tiếp và chủ yếu nhất Vai trò lãnh đạo của Đảng được khẳng định trong Hiến pháp

1992: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại

biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” (Điều 4) Được trang bị bởi học thuyết Mác-Lênin là hệ thống các quan

niệm khoa học giải thích các hiện tượng tự nhiên, xã hội cũng như quy luật tồn tại và phát triển của chúng và vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh của Việt Nam, Đảng đề ra những chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với quy luật, có sức thuyết phục, động viên lớn, đồng thời có khả năng biến các chủ trương, chính sách của mình thành hiện thực Pháp luật là công cụ quản lý sắc bén và hữu hiệu của Nhà nước

mà trong mối quan hệ với Đảng, pháp luật có vai trò thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng nhằm “hiện thực hóa”, đưa chủ trương, đường lối chính sách của Đảng đi vào cuộc sống

Trong thời kỳ đổi mới đất nước với việc thực hiện mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế, Đảng chủ trương tiếp tục thực hiện nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo và coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong đường lối phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ phải hướng vào mục tiêu thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm cho sự phát triển bền vững Trong Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, khi xác định phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội trong 5 năm 1986–1990, Đảng đã đề ra 3 chương trình lớn là lương thực - thực

phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu: “nhiệm vụ đặt ra là phải đạt cho được mục

tiêu đảm bảo nhu cầu ăn trong toàn xã hội và bước đầu có dự trữ”35 Bên cạnh đó,

Đảng cũng xác định “hơn bao giờ hết, chúng ta phải luôn luôn kết hợp chặt chẽ kinh tế

với xã hội, xã hội với kinh tế Mục tiêu ổn định tình hình, giải phóng năng lực sản xuất không chỉ là phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật mới mà còn là giải quyết các vấn đề xã hội, từ công ăn việc làm đến đời sống vật chất và văn hóa, bồi dưỡng sức dân, xây dựng các quan hệ xã hội tốt đẹp, lối sống lành mạnh, thực hiện

34 C.Mác và PH.Ăngghen: Toàn tập, Sđd t3,tr.12

35 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI – Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), NXB Chính trị quốc gia, HN, 2005, tr.164

Trang 28

công bằng xã hội, với ý thức người lao động là lực luợng sản xuất lớn nhất, là chủ thể của xã hội”36

Đến Đại hội Đảng Khoá VII, nhiệm vụ này được xác định rõ ràng hơn khi khẳng định mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, nâng cao đời sống vật chất và đời

sống tinh thần của nhân dân

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng đã

chỉ rõ “chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy

mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” 37 ,

đặt con người vào vị trí trung tâm, giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể lao động và cả cộng đồng dân tộc, động viên và tạo điều kiện cho mọi người Việt Nam phát huy ý chí tự lực tự cường, ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước Lợi ích của mỗi người, của tập thể và của toàn xã hội gắn bó hữu cơ với nhau Việc phát huy nhân tố con người trong chính sách xã hội phải trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân Nhiệm vụ cụ thể đặt ra là

phải quan tâm đến con người ở các yếu tố việc làm, dân trí, sức khỏe… Đặc biệt, cũng

tại Đại hội Đảng VIII, với quan điểm “tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và

công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển” đã đề ra

nhiều chủ trương về phát triển văn hóa, xã hội giáo dục, y tế, các chính sách xã hội, xóa

đói giảm nghèo… Đối với đồng bào dân tộc miền núi cũng có chính sách ưu đãi riêng

thông qua Chương trình phát triển phát triển kinh tế – xã hội miền núi và đồng bào dân tộc (gọi tắt là Chương trình 135)

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X khai mạc ngày 18/4/2006 với chủ đề

"Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển", Đại hội đã đề ra mục tiêu "Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngày

trong từng bước và từng chính sách phát triển" Cụ thể là:

Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước,

ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách

xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế -

xã hội Tập trung giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc, khuyến khích mọi người làm giàu theo luật pháp, thực hiện hiệu quả các chính sách xoá đói giảm nghèo Tạo điều kiện và cơ hội tiếp cận bình đẳng các nguồn lực phát triển hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản, vươn lên thoát nghèo vững chắc

ở các vùng nghèo và các bộ phận dân cư nghèo 38

Như vậy, trong suốt quá trình thực hiện đường lối đổi mới, các vấn đề phát triển

xã hội luôn được Đảng chú trọng bên cạnh nhiệm vụ phát triển kinh tế, hội nhập quốc

tế Đồng thời trong từng thời kỳ thì các vấn đề phát triển xã hội lại đặt ra với những yêu cầu mới, cấp độ mới phù hợp với tình hình thực tiễn, tập trung vào giải quyết các vấn

đề cơ bản như: xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí (giáo dục), nâng cao đời sống tinh thần (văn hóa), chăm sóc sức khỏe (y tế), nâng cao hiểu biết pháp luật (tư vấn pháp

36 Sđd, tr 198,199

37 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII – Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), NXB Chính trị quốc gia, HN, 2005, tr.321

38 Sđd, tr 101

Trang 29

luật)… Quan điểm rõ ràng và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về phát triển xã hội một lần nữa thể hiện sự cam kết mạnh mẽ với cộng đồng quốc tế về việc thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ

3.3 Các tổ chức xã hội và thể chế của các tổ chức xã hội

3.3.1 Khái niệm tổ chức xã hội

Tổ chức xã hội được dùng với nhiều nghĩa khác nhau trong các ngành khoa học khác nhau và trong tư duy đời thường Trong xã hội học, khái niệm tổ chức xã hội được xem như là một thành tố của cơ cấu xã hội, là một hệ thống các quan hệ, tập hợp liên kết cá nhân nào đó để đạt được một mục đích nhất định Các nhà nghiên cứu xã hội học

đã chỉ ra các dấu hiệu cơ bản nhất của tổ chức xã hội như sau:

(i) Nhóm xã hội được lập ra có chủ định và các thành viên của nhóm đó ý thức được rằng nhóm của họ tồn tại để đạt được mục đích nhất định;

(ii) Nhóm xã hội được xem là tổ chức xã hội phải có sự thể hiện cụ thể các quan

hệ quyền lực xã hội, tức là có quan hệ lãnh đạo - phục tùng, những cá nhân thành viên của tổ chức được phân bố trong mạng lưới các quan hệ quyền lực theo thứ bậc trên - dưới, cao - thấp;

(iii) Cùng với hệ thống các quan hệ quyền lực, tổ chức xã hội là một tập hợp các

vị thế và vai trò Mỗi một thành viên của tổ chức xã hội có vị thế xác định trong nhóm

và được trao những trách nhiệm và quyền hạn nhất định, dù họ là những người đứng thấp nhất trong thang bậc quyền lực của tổ chức Để thực hiện tốt các trách nhiệm và vị thế của từng thành viên, tổ chức xã hội cũng đặt ra cho những thành viên này một tập hợp hành vi được phép làm và những hành vi không được làm;

(iv) Vai trò của các thành viên tổ chức xã hội được thực hiện theo sự mong đợi của

tổ chức Chính vì lẽ đó, trong mọi tổ chức luôn có những quy tắc điều chỉnh mối quan hệ giữa các vai trò Những quy tắc này sẽ phối hợp việc thực hiện vai trò của các thành viên khiến cho tổ chức hoạt động được nhịp nhàng, ổn đinh Chính những quy tắc này được coi

là “luật của tổ chức”, hay trong Đề tài này, đó chính là thể chế của tổ chức xã hội;

(v) Phần lớn các mục đích và các mối quan hệ của tổ chức được chính thức và công khai Không chỉ lãnh đạo của tổ chức mà các thành viên, thậm chí cả người ngoài

tổ chức đều có thể biết đến mục đích của phần lớn các hoạt động của tổ chức Tương tác giữa các thành viên và các thành viên của tổ chức với bên ngoài phần nhiều dựa trên

vị thế và vai trò của họ được thừa nhận một cách chính thức trong các bản quy tắc, điều

lệ của tổ chức39

Như vậy, yếu tố cơ bản kết nối các thành viên của tổ chức xã hội là lợi ích, niềm tin, mối quan tâm và mục đích chung trên các lĩnh vực khác nhau: văn hóa, kinh tế, thể thao, môi trường Quy tắc, Điều lệ của các tổ chức xã hội là "Luật" của các loại tổ chức không thuộc Nhà nước Với sự công nhận hoặc thừa nhận của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, Điều lệ của tổ chức xã hội được ban hành và thực thi trong toàn

bộ hệ thống của tổ chức đó, có giá trị bắt buộc thi hành đối với các thành viên của tổ chức Ở nước ta, hầu hêt Điều lệ của các đoàn thể nhân dân (hay còn gọi là tổ chức chính trị- xã hội) đều do cơ quan có thẩm quyền của Đảng xem xét, phê duyệt Do tính chất đặc thù của hoạt động tâm linh, việc nghiên cứu về tổ chức tôn giáo và các giáo lý của tôn giáo sẽ được xem xét ở một phần riêng

39 Bùi Thế Cường, “Các tổ chức xã hội ở Việt Nam”, Học liệu Mở Việt Nam, http://vi.wikipedia.org

Trang 30

3.3.2 Những đặc điểm cơ bản của tổ chức xã hội

Các tổ chức xã hội đều có một số dấu hiệu đặc trưng chung, đó là: tự nguyện, tự

quản, không vì mục đích lợi nhuận, tự trang trải về tài chính

- Tự nguyện được hiểu là việc tham gia vào một tổ chức xã hội là hoàn toàn dựa

trên ý chí, nguyện vọng của mỗi cá nhân, tự do khỏi mọi sự ép buộc Dấu hiệu đặc trưng này thể hiện quyền tự do của cá nhân trong việc tham gia hoặc không tham gia một tổ chức xã hội nhất định

- Tự quản là mô thức quản lý của mỗi tổ chức xã hội Mô hình tổ chức tự quản

được hiểu là các thành viên của tổ chức tự quyết định cách thức quản lý của tổ chức mà

mình tham gia thông qua Điều lệ của tổ chức, mà không có sự can thiệp từ bên ngoài,

dù cho đó có thể là cơ quan Nhà nước hoặc nhà tài trợ Nói cách khác các thành viên của tổ chức tự quyết định những nội dung quản lý của tổ chức mình như: việc kết nạp thành viên, bầu ban lãnh đạo, quy trình ra quyết định, tôn chỉ mục đích hoạt động, phương thức hoạt động, Tuy nhiên điều này, không có nghĩa là Nhà nước hoàn toàn đứng ngoài quá trình Nhà nước với chức năng duy trì trật tự công cộng luôn có mối

quan tâm đối với a) đảm bảo quyền và tự do của mỗi thành viên khỏi mọi sự vi phạm có

thể có từ phía Tổ chức xã hội; b) đảm bảo sao cho tôn chỉ, mục đích hoạt động của Tổ chức phù hợp với trật tự công cộng, không xâm phạm tới quyền và tụ do của các chủ thể khác trong xã hội

- Không vì mục đích lợi nhuận Đặc trưng này thể hiện rõ nét tính chất xã hội của

các Tổ chức liên kết nhân dân Nếu Nhà nước là một tổ chức hoạt động mang tính quyền lực, Doanh nghiệp (công ty) là tổ chức hoạt động vì mục đích lợi nhuận, thì mục đích hoạt động của các Tổ chức xã hội là nhằm hướng tới một hoặc những mục tiêu

sau: a) tương trợ, bảo vệ lợi ích của các thành viên trong cùng một Tổ chức; b) hoạt

động vì cộng đồng, vì xã hội trên các lĩnh vực của đời sống xã hội (y tế, giáo dục, môi trường, ) – là những hoạt động bổ trợ, bổ sung vào những việc, những nơi mà năng lực và nguồn lực của Nhà nước không đảm đương được; và, c) chia sẻ, hưởng thụ những giá trị văn hoá, nghệ thuật

Thành viên của các tổ chức xã hội không tham gia hội với ý định tìm kiếm lợi nhuận, mà hướng tới việc đáp ứng những nhu cầu của cá nhân và xã hội nhằm đáp ứng

những nhu cầu được goi là ‘dân sự’ Tuy nhiên, cũng cần phải phân biệt hai khái niệm

‘tính chất của Tổ chức xã hội’ với khái niệm ‘hoạt động của Tổ chức xã hội’ Tổ chức

xã hội có thể là Tổ chức không vì mục đích lợi nhuận (tính chất của Tổ chức), nhưng Tổ chức này vẫn có thể có những hoạt động có lợi nhuận Vấn đề quan trọng cần được xác định không phải là bản thân (hành vi) hoạt động có lợi nhuận, mà là ở chỗ lợi nhuận thu

được sẽ sử dụng như thế nào Thực tiễn cho thấy có nhiều Tổ chức xã hội hoạt động thu lợi nhuận, nhưng lợi nhuận đó khi thu về sẽ được sử dụng cho hoạt động của Tổ chức theo đúng Điều lệ, mà không chia cho bất kỳ một cá nhân nào trong Tổ chức Ví dụ, hội của các ca sĩ là một tổ chức xã hội có tôn chỉ hoạt động là bảo vệ lợi ích của các ca sĩ – thành viên của hội và thiện nguyện xã hội Để thực hiện mục tiêu của mình, Hội vẫn có thể tổ chức các biểu diễn thu tiền để dùng vào các hoạt động từ thiện của hội

- Tự trang trải về tài chính Các tổ chức Nhà nước hoạt động bằng nguồn tài

chính từ ngân sách Nhà nước Các doanh nghiệp hoạt động bằng vốn đầu tư của các chủ doanh nghiệp, của các cổ đông Khác với những tổ chức Nhà nước và doanh nghiệp, các Tổ chức xã hội hoạt động dựa vào nguồn tài chính do các hội viên đóng góp, do sự quyên góp của nhân dân, sự tài trợ tình nguyện của doanh nghiệp, và cũng có thể bằng

cả sự hỗ trợ tài chính từ nguồn ngân sách nhà nước Nhà nước thường hỗ trợ tài chính

Trang 31

từ Ngân sách Nhà nước cho các tổ chức xã hội trên cơ sở đấu thầu hoặc giao việc nhằm thực hiện bổ sung những dự án, hoặc chương trình chính sách xã hội

Đặc điểm tự trang trải về tài chính là một đặc điểm rất quan trọng của Tổ chức xã hội Việc tự trang trải tài chính hoạt động là một thách thức khiến cho các Tổ chức xã hội phải hoạt động năng động, dành được uy tín trước các nhà tài trợ bằng chất lượng công việc, bằng phong cách làm việc minh bạch, công khai, có trách nhiệm Tự trang trải tài chính hoạt động cũng là một yếu tố khiến cho Tổ chức xã hội ở vào vị thế độc lập với các

cơ quan Nhà nước và Thị trường, và như vậy có khả năng làm tốt chức năng giám định, phản biện xã hội đối với chính sách và hoạt động của Nhà nước và Thị trường, làm cho Nhà nước và Thị trường hoạt động minh bạch hơn và có trách nhiệm hơn

Các tổ chức hội thường được phân loại theo hai loại tiêu chí chủ yếu là: tiêu chí thành viên và tiêu chí mục tiêu hoạt động

(1) Dựa theo tiêu chí thành viên, có thể phân thành hai loại tổ chức xã hội: Tổ

chức có quy chế hội viên và tổ chức không có quy chế hội viên

Tổ chức có quy chế hội viên, thường được gọi là hội, hiệp hội, liên đoàn, là

một loại Tổ chức xã hội được thành lập và hoạt động trên cơ sở liên kết tự nguyện, bình đẳng của các hội viên (có thể là cá nhân hoặc tổ chức)

Tổ chức không có quy chế hội viên, thường có tên gọi là Trung tâm, Viện, Quỹ,

là một loại Tổ chức xã hội do một hoặc một số cá nhân làm sáng lập viên thành lập Hoạt động của của Tổ chức không có quy chế thành viên được điều chỉnh bằng quy chế

do các sáng lập viên thông qua Tổ chức loại này không có hội viên Nhân viên làm việc trong những tổ chức này được hưởng các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng lao động mà

họ ký với nhà quản lý

(2) Dựa theo tiêu chí mục tiêu hoạt động, có thể phân thành hai loại Tổ chức xã hội

chủ yếu: Tổ chức hoạt động vì lợi ích thành viên và Tổ chức hoạt động vì phúc lợi xã hội

Tổ chức hoạt động vì lợi ích thành viên, hay còn gọi là tổ chức ‘không vì phúc

lợi xã hội’, thường được coi là những tổ chức ‘đóng’ Thành viên của những tổ chức này chỉ hạn chế trong một phạm vi nghề nghiệp, sở thích, hoặc mối quan tâm nhất định Những tổ chức loại này chủ yếu tập trung vào những hoạt động nhằm bảo vệ lợi ích, hoặc đáp ứng sở thích nhu cầu của một nhóm những thành viên cùng nghề nghiệp, cùng

sở thích hoặc mối quan tâm Tổ chức loại này có thể là Hội những người chơi tem, Câu lạc bộ những người nuôi tôm, hoặc Hiệp hội kiến trúc sư, v.v

Tổ chức hoạt động vì phúc lợi xã hội là loại Tổ chức xã hội có những hoạt động

hướng tới việc đáp ứng các nhu cầu phát sinh trong xã hội trên nhiều lĩnh vực khác nhau (y tế, giáo dục, môi trường, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ rừng, đánh giá và vận động chính sách, ) Hoạt động của những Tổ chức xã hội loại này thường mang lại một

hoặc những tác dụng như sau: a) bổ sung, hỗ trợ giải quyết những vấn đề xã hội và ở

những nơi mà Nhà nước không đủ khả năng giải quyết; b) phát hiện những bất cập trong đời sống xã hội và trong hoạt động điều hành quản lý của Nhà nước; c) Thuyết phục, vận động các cơ quan công quyền về những chính sách, giải pháp xã hội theo quan điểm của các nhóm lợi ích trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông, nâng cao nhận thức xã hội

(3) Các tổ chức chính trị- xã hội là một bộ phận đặc biệt trong hệ thống các tổ

chức xã hội ở Việt Nam Địa vị chính trị- pháp lý của các tổ chức chính trị- xã hội, bao gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên : Liên đoàn lao động Việt Nam,

Trang 32

Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam được quy định tại Hiến pháp và các Luật về tổ chức và hoạt động của các tổ chức này như Luật MTTQVN, Luật Công đoàn cũng như tại Điều lệ của các tổ chức Có thể hiểu, ở Việt Nam, các tổ chức chính trị- xã hội là những điểm gắn kết giữa quyền lực chính trị và quyền lực xã hội, nơi mà các tổ chức xã hội tham gia trực tiếp vào việc thực hiện quyền lực chính trị, tạo nên những vùng giao nhau của hệ thống chính trị và hệ thống xã hội Các tổ chức chính trị- xã hội cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước tạo thành hệ thống chính trị Việt Nam 40, trong đó các tổ chức chính tri- xã hội được xác định là “cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân” Các tổ chức chính trị-xã hội thực hiện các chức năng chính sau:

(i) Đại diện, bảo vệ lợi ích của các thành viên và hội viên, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân;

(ii) Tập hợp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, sự đồng thuận xã hội;

(iii) Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;

(iv) Tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân (tham gia công tác bầu

cử, tham gia xây dựng chính sách và pháp luật, tham gia tố tụng, giới thiệu, tuyển chọn một số chức danh tư pháp như thẩm phán, hội thẩm nhân dân );

(v) Giám sát và phản biện xã hội (chức năng giám sát đã được ghi nhận trong Hiến pháp và Luật MTTQVN, riêng chức năng phản biện xã hội mới được ghi nhận trong Văn kiện Đại hội Đảng X);

(vi) Tham gia hoạt động đối ngoại nhân dân, phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước trên thế giới vì hoà bình, hợp tác và phát triển

3.3.4 Vai trò của các tổ chức xã hội trong phát triển xã hội

Nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, Tổ chức xã hội có thể có những vai trò như sau:

Bảo vệ lợi ích của các hội viên Nhiều tổ chức xã hội được hình thành xuất phát

từ nhu cầu phối hợp nỗ lực chung của tập thể các thành viên trong cùng một lĩnh vực nghề nghiệp nhằm bảo vệ lợi ích và quyền lợi nghề nghiệp được tốt hơn Ví dụ, một trong những nhiệm vụ quan trọng của Liên hiệp các hội văn học, nghệ thuật là bảo vệ quyền tác giả của các hội viên

Chia sẻ niềm đam mê, mối quan tâm Một số Tổ chức xã hội được thành lập chỉ

để nhằm chia sẻ niếm đam mê, mối quan tâm Những tổ chức loại này phải kể đến là Câu lạc bộ những người chơi tem, Hội của người già chơi chim,

Hoạt động từ thiện, nhân đạo Trong các biến cố thiên tai như lũ lụt, dịch bệnh

Nhà nước bao giờ cũng có trách nhiệm đưa ra những nguồn lực quốc gia để cứu trợ

nhân đạo cho nhân dân Tuy nhiên, cùng với sự phát triển và tiến bộ xã hội, ngày càng

xuất hiện nhiều tổ chức xã hội hoạt động nhân đạo, tổ chức quyên góp, phân phối từ thiện, giúp đỡ các nạn nhân thiên tai, giúp đỡ những nhóm người thiệt thòi Có thể kể

40 Sách “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội X của Đảng” (Nxb CTQG, H, 2006) xác định rõ: Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với

nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện, tham gia thực hiện quyền lực chính trị hoặc đưa ra các quyết định chính trị Cấu trúc của hệ thống chính trị khá đa dạng nhưng cơ bản bao gồm 3 bộ phận - đảng chính trị, nhà nước và các tổ chức chính trị- xã hội Khái niệm hệ thống chính trị được Đảng ta sử dụng từ Hội nghị Trung ương 6 khoá VI (thay cho khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản”) bao gồm: Đảng, Nhà nước, Mặt trận

Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thành viên của Mặt trận

Trang 33

tới những tổ chức lớn có tầm quốc tế như Hội chữ thập đỏ, Hội trăng lưỡi liềm quốc tế,

và những tổ chức từ nguyện nhỏ như các quỹ, tổ chức từ thiện do các tôn giáo lập nên (của Nhà Phật, của Nhà Thờ Thiên chúa), hoặc do doanh nghiệp hoặc nhân dân tự lập nên Ông Bill Gate, người giầu nhất hành tinh, đã lập ra Quỹ Bill Gate rất lớn với nguồn tài chính hàng chục tỷ USD, để làm từ thiện trên toàn cầu, trong đó đặc biệt chú ý tới hoạt động cứu trợ những người bị nhiễm HIV/AIDS

Thực tiễn quản lý ở nhiều nước là khuyến khích các cá nhân và doanh nghiệp tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo Để làm điều này, nhiều quốc gia đã thực hiện chính sách ưu đãi về thuế đối với các cá nhân hoặc doanh nghiệp có đóng góp tài chính cho hoạt động xã hội Cụ thể là, các khoản đóng góp từ thiện thì được khấu trừ vào chi phí, và không bị tính để đánh thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân Bằng chính sách này, Chính phủ của nhiều nước đã phát huy được sức mạnh của toàn

xã hội, động viên doanh nghiệp và các cá nhân cùng với các tổ chức xã hội tích cực hoạt động xã hội, từ thiện, nhân đạo

Hoạt động tham gia giải quyết những vấn đề xã hội, môi trường Xã hội nào

trong quá trình phát triển cũng đều phải đối mặt với những vấn đề về xã hội và môi trường Nhà nước nào cũng đều có những chương trình đặc biệt do Chính phủ chủ trì (ví dụ như Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo, hoặc Chương trình trồng rừng, như trong trường hợp Việt nam) để xử lý những vấn đề xã hội và môi trường Tuy nhiên, cần phải thấy rằng nguồn lực về tài chính và con người của Nhà nước không phải khi nào cũng đủ để đáp ứng được mọi yêu cầu Sự tham gia của Tổ chức xã hội hỗ trợ việc giải quyết các vấn đề về xã hội và môi trường luôn có ý nghĩa rất quan trọng và thiết thực Thực tiễn đã chứng minh tính hiệu quả của các dự án, chương trình xoá đói, giảm nghèo, bảo vệ môi trường do các tổ chức xã hội thực hiện

Giám định xã hội, phản biện xã hội đối với Nhà nước và Thị trường

Giám định, phản biện xã hội chính sách được hiểu là sự đánh giá về tính hợp lý,

chính đáng của một chính sách cụ thể do Nhà nước hoặc Thị trường tiến hành dưới góc

độ lợi ích của toàn xã hội hay một nhóm các cá nhân

Vận động chính sách được hiểu là những hoạt động của Tổ chức xã hội nhằm tác

động lên cá nhân, tổ chức, cơ quan có thẩm quyền ban hành chíh sách nhằm đạt được những ưu thế về quyền, lợi ích cho tổ chức hoặc nhóm lợi ích trong xã hội mà tổ chức này đại diện Để làm rõ bản chất của hoạt động mang tính ‘chính trị’ này của Tổ chức

xã hội, hãy cùng phân tích một ví dụ tình huống dưới đây

Trước việc Nhà nước ban hành chính sách về nhập khẩu xe ôtô cũ, có nhiều tổ chức xã hội khác nhau quan tâm về Chính sách này Hiệp hội sản xuất ôtô trong nước – là tổ chức xã hội của những nhà sản xuất ôtô, thì có mối quan tâm tới việc chính sách nhập khẩu ôtô cũ liệu có làm ảnh hưởng tới thị trưòng ôtô sản xuất trong nước hay không? Trong khi đó, hội của những doanh nghiệp thương mại, nhập khẩu ôtô thì lại quan tâm tới việc thuế nhập khẩu ôtô liệu có ở mức hợp lý để họ có thể kinh doanh được? Đối với người sử dụng ôtô thì mong muốn

có được sự thông thoáng trong việc nhập khẩu ô tô với hy vọng là giá ô tô ở thị trường nội địa sẽ giảm đi đáng kể Đối với hội của những người hoạt động bảo vệ môi trường đô thị, thì điều quan tâm trước nhất của họ là việc nhập khẩu ôtô cũ liệu có làm suy thoái thêm môi trường không khí, gây tắc nghẽn giao thông, tăng thêm tai nạn giao thông do đường xá bị quá tải

Những quyết sách lớn trong việc điều hành quản lý Nhà nước, trên phạm vi một quốc gia, hay dù là ở phạm vi một địa phương, đều có tác động mạnh lên lợi ích của các nhóm cư dân trong xã hội Trong khi đó, lợi ích của các nhóm cư dân, như chúng ta

Trang 34

thấy qua tình huống nêu trên, là rất khác nhau, thậm chí xung đột với nhau Điều này cho thấy rằng trong một xã hội, sự đa nguyên về lợi ích và từ đó là đa nguyên về thái độ trước một quyết sách mà Nhà nước sẽ hoặc đã ban hành–là một điều hết sức bình thường, tự nhiên, và không thể tránh khỏi

Vì thế, các tổ chức xã hội, vì lợi ích của hội viên, sẽ luôn quan tâm đến những chính sách và hoạt động của các cơ quan Nhà nước trong các lĩnh vực liên quan Việc thể hiện thái độ đồng tình, hay không đồng tình, hoặc bày tỏ nguyện vọng (đề xuất) của các tổ chức hội - thực ra, đây chính là hoạt động giám định, phản biện trước một Chính sách đã hoặc sắp ban hành Hoạt động này diễn ra một cách tự nhiên, không nhất thiết phải có một quy chế pháp luật nào, cho phép’ hoặc ‘không cho phép’ Nói cách khác, hành vi giám định, phản biện đối với chính sách hoặc hoạt động của Nhà nước, và kể cả của thị trường (ví dụ như doanh nghiệp hoạt động gây ô nhiễm môi trường) là hành vi phát sinh từ quyền tự do của nhân dân được phát biểu chính kiến, thái độ trước những vấn đề quốc kế dân sinh - quyền tự do ngôn luận, đã được Pháp luật quốc tế ghi nhận,

và quy định tại Hiến pháp của hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới

Hành vi giám định, phản biện xã hội đối với chính sách, hoạt động của Nhà nước hoặc Thị trường từ phía các tổ chức xã hội, mà kết quả của nó thể hiện ở đa nguyên ý kiến của các nhóm lợi ích khác nhau, có thể tạo nên áp lực cho Nhà nước trong việc ban hành các quyết sách điều hành quản lý Nhà nước Tuy nhiên, sự đa nguyên ý kiến của các nhóm lợi ích được bày tỏ thông qua hoạt động của các Tổ chức xã hội, đồng thời còn có mặt tích cực, vì đây chính là một kênh thông tin rất hữu ích để Nhà nước cân nhắc về nguyện vọng và mối quan tâm của các nhóm lợi ích trong xã hội, và dựa vào đó

để có thể ban hành được một Chính sách hợp lý và có lợi nhất vì cái chung của toàn xã hội Sự cọ xát các ý kiến khác nhau trong xã hội chính là tiền đề, điều kiện tự nhiên làm phát sinh khả năng đồng thuận xã hội cao Chấp nhận hoạt động giám định, phản biện chính sách từ phía các tổ chức xã hội, là một sự khôn ngoan của Nhà nước trong việc tìm kiếm sự đồng thuận xã hội Đồng thời, khi chính sách của Nhà nước được xây dựng dựa trên sự đồng thuận xã hội, thì cũng có nghĩa là tính khả thi của chính sách được đảm bảo

3.3.5 Xã hội dân sự và vai trò của xã hội dân sự trong phát triển xã hội: Các tổ

chức xã hội, các liên kết xã hội được hình thành (chính thức hoặc phi chính thức) dựa trên niềm tin sự tự nguyện của các thành viên có cùng lợi ích, sở thích, mối quan tâm

hoạt động trong không gian là xã hội dân sự (XHDS) - xã hội của các công dân tự tổ

chức để chăm lo về công việc trực tiếp liên quan tới quyền và lợi ích của dân (dân sự) Nhiều nhà nghiên cứu khi bàn về xã hội dân sự thường nhìn nhận cấu trúc xã hội của mỗi quốc gia gồm có 3 trụ cột cơ bản Đó là: Nhà nước – Xã hội dân sự - Thị trường Tổ chức phi chính phủ quốc tế CIVICUS (Liên minh Thế giới về sự tham gia của người dân)

định nghĩa xã hội dân sự là “lĩnh vực vượt ra ngoài phạm vi gia đình, nhà nước và thị

trường, mà ở đó người dân thành lập các hiệp hội để thúc đẩy những lợi ích chung"41

Mối quan hệ tương tác giữa Nhà nước với Tổ chức xã hội (xã hội dân sự)

Nhà nước thực thi Quyền lực công, có hiệu lực áp đặt đối với tất cả các thiết chế

xã hội khác Không gian vận hành của Xã hội Dân sự, do vậy, phụ thuộc rất nhiều vào ý định chính trị của Nhà nước Vì thế, phương thức tổ chức và vận hành Quyền lực Nhà nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mức độ, quy mô vận hành và hiệu ích của XHDS Nếu Nhà nước được tổ chức và vận hành một cách đầy đủ theo các nguyên lý

41 Báo cáo về xã hội dân sự Việt nam, 2005 do VIDS, UNDP và SNV thực hiện, Dẫn theo Tham luận của TS hoàng Ngọc Giao, “Tổ chức xã hội- một trong những thiết chế xã hội cơ bản, quan trọng trong phát triển xã hội- tại Hội thảo

“Các thể chế xã hội phi quan phương trong phát triển xã hội và quan rlý phát triển xã hội” do Đề tài tổ chức

Trang 35

cơ bản của Nhà nước Pháp quyền, Nhà nước hành xử theo nhận thức coi XHDS đồng hành cùng với Nhà nước trong quá trình phát triển của dân tộc, thì luôn tạo nên một môi trường chính trị - pháp lý thuận lợi cho sự vận hành của XHDS

Nhà nước là thiết chế có quyền hạn quyết định về mức độ, phạm vi của ‘không

gian dân sự ngoài nhà nước’, tức là XHDS Nhà nước thông qua luật pháp và các thiết chế hành chính của mình có thể công nhận, tôn trọng và đảm bảo sự vận hành một cách độc lập (autonomy) và sự phát triển của XHDS Nhưng, đồng thời, cũng chính Nhà nước có thể bằng quyền lực chính thức của mình hạn chế, thu hẹp hoặc thậm chí triệt tiêu sự tồn tại, vận hành của XHDS

Dưới chế độ Nhà nước Pháp quyền, nơi mà mọi thiết chế chính trị -xã hội được xây dựng trên nền tảng pháp quyền và tự do cơ bản của con người, Nhà nước thực thi

chức năng phục vụ hơn là chức năng cai trị xã hội Nhà nước phục vụ mang trong mình bản chất quyền lực nhân dân, do vậy, mối quan tâm chủ yếu của Nhà nước là phát huy

mạnh mẽ quyền và tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền lập hội, quyền hội họp, quyền tham gia các công việc của Nhà nước và Xã hội Công chức, cơ quan quyền

lực được đặt vào vị trí ‘công bộc’ của nhân dân; và không phải là ‘quan cai trị’ Bộ máy

Nhà nước phục vụ hoạt động theo các nguyên tắc minh bạch, công khai, có trách nhiệm Tiếng nói độc lập từ phía XHDS phản ánh tính đa dạng của xã hội, và đa nguyên ý kiến trong các nhóm lợi ích, các giai tầng xã hội – có tác dụng như những thông tin phản hồi

từ xã hội, giúp cho Nhà nước hình thành và ban hành các chính sách, và ra các quyết

định thực sự vì dân, vì sự phát triển của toàn xã hội, giảm thiểu tối đa cơ hội lạm dụng

quyền lực Nhà nước vì lợi ích của một thiểu số nhóm, cá nhân Do vậy, việc hình thành một XHDS mạnh không chỉ là một nhu cầu của nhân dân, mà cũng đồng thời là một xu thế phù hợp với các thiết chế của Nhà nước Pháp quyền Trong trường hợp này Nhà nước và XHDS có mối liên hệ mật thiết, bổ sung lẫn cho nhau trong công cuộc phát triển

Để phát triển bền vững, lành mạnh, giữa XHDS và Nhà nước phải có quan hệ bổ sung lẫn nhau Nhà nước lấn lướt, o ép XHDS thì Nhà nước dễ trở thành chuyên quyền độc đoán Ngược lại, XHDS đối lập với Nhà nước, cạnh tranh với Nhà nước về quyền lực thì dễ đưa tới tình trạng vô chính phủ

Thừa nhận vai trò của XHDS như một chủ thể - thiết chế xã hội bình đẳng trong phát triển, không có nghĩa là XHDS không chịu sự điều chỉnh của Quyền lực Nhà nước Quan niệm thái quá về tính tự quản, tự lập (autonomy) của XHDS trong quan hệ với Nhà nước dễ dẫn tới những hậu quả bất lợi cho ổn định xã hội, trật tự công cộng, kìm hãm sự phát triển của Dân tộc Với chức năng duy trì trật tự công cộng, Nhà nước có quyền đưa ra những hạn chế cụ thể đối tổ chức và hoạt động của XHDS Tuy nhiên những hạn chế này chỉ được coi là chính đáng về mặt chính trị, và phù hợp pháp luật quốc tế42 khi có lý do thỏa đáng, với những tiêu chí rõ rệt, minh bạch về nhu cầu bảo vệ

an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe cộng đồng, đạo đức xã hội, và vì sự đảm bảo quyền và tự do cơ bản của các công dân khác Tổ chức xã hội phải được trao các quyền pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích của mình trước các cơ quan công lý (tài phán hành chính, tòa hành chính, Toà án Hiến pháp)

42 Điều 22 Công ước LHQ năm 1966 vê các quyền chính trị và dân sự quy định:“1) Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ lợi ích của mình 2) Việc thực hiện quyền này không bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định và những hạn chế này là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, để bảo vệ sức khoẻ hoặc đạo đức của công chúng, hoặc các quyền và tự do của các người khác Điều này không ngăn cản việc hạn chế hợp pháp đối với những người trong các lực lượng vũ trang và cảnh sát.”

Trang 36

Ở Việt Nam, quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN không tách rời

với phát triển xã hội dân chủ hài hoà, đồng thuận dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được xác lập và thực hiện trong gần hai thập kỉ Đổi mới

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng năm 1991 đã xác định phương hướng “Chính sách xã hội tác động trực tiếp đến việc hình thành một cộng đồng xã hội văn minh, trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân cư đều có nghĩa vụ và quyền lợi chính đáng, đoàn kết chặt chẽ, góp phần xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh Quan tâm thích đáng lợi ích và phát huy khả năng của các tầng lớp dân cư vì sự nghiệp “ích nước, lợi nhà” Những thành tựu phát triển kinh tế thị

trường định hướng XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và quá trình dân

chủ hoá mạnh mẽ, toàn diện đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng đã thúc đẩy sự

ra đời và phát triển nhanh chóng các tổ chức dân sự hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Nếu trong thời kỳ trước Đổi mới, các tổ chức dân sự truyền thống chủ yếu là Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên thì đến giữa những năm 90 của thế kỷ XX đã có khoảng gần 1.000 tổ chức dân sự; năm 2001 có 1.400 tổ chức và đến năm 2005 đã lên tới 2.150 tổ chức hoạt động theo 4 nhóm: các đoàn thể quần chúng (tổ chức chính trị - xã hội); các hội nghề nghiệp và các tổ chức bảo trợ; các tổ chức phi chính phủ của Việt Nam và các tổ chức dân sự tại cộng đồng43

Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của các tổ chức dân sự được củng cố từng bước với việc ban hành các đạo luật về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn, Thanh niên , các luật về bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phát huy dân chủ XHCN (Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Bình đẳng giới, Luật Báo chí, Pháp lệnh về dân chủ ở cơ sở ), các thể chế về xã hội hoá mạnh mẽ các lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, văn hoá, thể thao Nhà nước pháp quyền đã tạo khuôn khổ pháp lý ngày càng đầy đủ hơn để huy động năng lực và phát huy tính tích cực công dân của mọi

cá nhân, mọi tầng lớp dân cư, để họ thông qua các tổ chức dân sự hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, phi lợi nhuận nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần đa dạng của các thành viên xã hội; góp phần tác động tích cực vào việc tăng cường tính minh bạch và dân chủ của quá trình hoạch định các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước; chia sẻ trách nhiệm và nguồn lực với Nhà nước để thực hiện các chính sách xoá đói giảm nghèo, tăng cường tính khoan dung, tương thân, tương ái, công bằng trong

xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững, hài hoà; thực hiện giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, duy trì trách nhiệm giải trình của Nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp trước nhân dân về các vấn đề liên quan đến người dân, tăng cường sự hiểu biết và đồng thuận xã hội Kết quả của quá trình đó

là từng bước hình thành mối quan hệ ngày một toàn diện, hài hoà giữa ba yếu tố: kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự dưới sự lãnh đạo của Đảng vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Hiện thực khách quan đó ở Việt Nam trong hơn hai thập kỉ qua có thể coi là sự đóng góp sáng tạo của Đảng

và nhân dân ta vào việc xác lập một giá trị vừa mang tính phổ biến của nhân loại vừa mang tính đặc thù của Việt Nam, đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN không tách rời với phát triển xã hội dân sự hài hoà, đồng thuận dưới sự lãnh đạo của Đảng44

Mặc dù về lí luận và thực tiễn, xã hội dân sự đã hiện diện như một chủ thể phát triển xã hội nhưng hiện tại, vẫn còn có những quan điểm nghi ngại về việc mở rộng

43 GS.TS Dương Xuân Ngọc: Xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiến, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội năm 2009

ơ GS.TS Đỗ Hoài Nam: Vị trí cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện mới, tr.226

Trang 37

không gian cho xã hội dân sự hoạt động ở Việt Nam Tuy sự nghi ngại này có những cơ

sở nhất định, nhưng phải khẳng định rằng, khi thiếu không gian cho các tổ chức xã hội dân sự hình thành, đó cũng là khi các cá nhân trong xã hội thiếu các môi trường tương tác cần thiết để phát triển, điều đó, xét về lâu dài, rất có hại cho sự phát triển chung của

xã hội Nếu coi sự hiện diện của các liên kết xã hội (hợp pháp) góp phần làm tăng tính đoàn kết của xã hội, thì việc phát triển các tổ chức thuộc xã hội dân sự là một phương thức quan trọng làm gia tăng vốn xã hội – loại vốn rất cần cho sự phát triển bền vững của bất cứ xã hội nào Trong bối cảnh nhu cầu hình thành xã hội dân sự đang ngày một lớn dần ở Việt Nam, điều hợp lý hơn cả là Nhà nước sớm ban hành và dùng pháp luật

về các tổ chức xã hội (Luật về hội, Luật về tổ chức phi chính phủ, hoặc Luật về tổ chức

xã hội, ), định ra một số yêu cầu về nội dung mà điều lệ của các tổ chức xã hội cần phải có, qua đó giúp Nhà nước có được thông tin về quản lý và tổ chức của mỗi tổ chức

xã hội nhằm đáp ứng những mối quan tâm nêu trên của Nhà nước

3.4 Doanh nghiệp và Trách nhiệm xã hội

Doanh nghiệp là một thiết chế kinh tế- xã hội hoạt động trong không gian được

gọi là thị trường Thị trường vận hành theo những nguyên lý đặc thù, như: tìm kiếm lợi nhuận, cạnh tranh, tự do và bình đẳng giao dịch và theo các quy luật khách quan về

giá trị, lợi nhuận, tự do lưu thông hàng hóa, lao động và tư bản Tuy nhiên, điều này

không có nghĩa là thị trường vận hành một cách tự nhiên, không chịu sự điều tiết của thể chể nhà nước (pháp luật) Vì sự hài hòa của phát triển xã hội, vì lợi ích của người tiêu dùng và khách hàng, thị trường không chỉ chịu sự điều tiết của nhà nước mà còn có thể chịu sự điều chỉnh, tác động rất mạnh mẽ của xã hội dân sự Các doanh nghiệp hoạt động trong thị trường đều sử dụng các nguồn lực xã hội và môi trường, đều gây ra các chi phí xã hội và các hệ quả xã hội đồng thời tác động (thường là tác động xấu, xâm hại đến môi trường), do vậy, doanh nghiệp không thể chỉ có trách nhiệm duy nhất là tối đa hoá lợi nhuận và tuân thủ nghĩa vụ đóng thuế theo pháp luật Thực tế ở các nước và ngay ở Việt Nam đều đã chỉ ra rằng, nếu chỉ nhìn nhận đơn giản cho rằng doanh nghiệp hoạt động duy nhất vì lợi nhuận và bù đắp chi phí xã hội, cũng như "trả tiền" cho các dịch vụ công mà doanh nghiệp hưởng lợi thông qua việc đóng thuế, có thể thấy những ô nhiễm môi trường và chi phí xã hội mà doanh nghiệp gây ra có thể lớn hơn rất nhiều lần lợi ích mà công ty này mang lại từ tiền thuế hay tạo việc làm (như trường hợp công ty Vedan) Tất cả những sự kiện của doanh nghiệp như khai trương một dòng sản phẩm mới, đặt một nhà náy, đóng cửa một chi nhánh đều kéo theo những hệ quả xã hội nhất định Do đó, không thể tách rời hoàn toàn giữa tính chất kinh tế và xã hội khi nhìn nhận bản chất và hoạt động của doanh nghiệp Người quản lý doanh nghiệp cần phải hành

động với tư cách là một chủ thể xã hội - một “công dân doanh nghiệp” (corporate

citizenship) thực hiện trách nhiệm xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội, vì lợi ích của người tiêu dùng, khách hàng đồng thời cũng là vì lợi ích tăng trưởng và phát triển bền vững của chính doanh nghiệp.Trách nhiệm của họ không phải là quyết định điều gì tốt hay xấu cho xã hội mà là đáp ứng những gì mà xã hội mong muốn, trông đợi ở doanh nghiệp như một thành viên đầy đủ của xã hôi

Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate social responsibility- viết tắt tiếng Anh là CSR, tiếng Việt là TNXHDN) đưa ra lần đầu tiên vào năm 1953 và

đã gây ra những cuộc tranh luận kéo dài, chủ yếu xoay quanh hai vấn đề chủ chốt: (i) bản chất của doanh nghiệp hiện đại và (ii) mối quan hệ 3 bên- doanh nghiệp- xã hội- nhà nước Cho đến nay vẫn còn có nhiều quan niệm khác nhau về TNXHDN, về phạm

vi TNXHDN Từ góc độ nghiên cứu, ví dụ như Carroll (1999) cho rằng: "TNXHDN là

Trang 38

tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở doanh nghiệp trong mỗi thời điểm nhất định” còn theo Matten và Moon (2004) thì

“TNXHDN là một khái niệm chùm bao gồm nhiều khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường Đó là một khái niệm động và luôn được thử thách trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù”45 Ở cấp độ của các tổ chức kinh tế thế giới, Hội

đồng Thương mại thế giới với chủ trương phát triển bền vững đã đưa ra định nghĩa

"TNXHDN là sự cam kết của doanh nghiệp trong việc ứng xử một cách hợp đạo lý và đóng góp cho sự phát triển kinh tế đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ cũng như của cộng đồng địa phương, của toàn xã hội"; Liên hiệp Quốc cũng đưa ra 10 nguyên tắc chung cho việc thực hiện TNXHDN gồm các nguyên tắc về bảo đảm quyền con người, các nguyên tắc về đảm bảo tiêu chuẩn lao động trong doanh nghiệp (tôn trọng quyền tự do hiệp hội, tôn trọng thoả ước lao động tập thể, lọai bỏ lao động cưỡng bức, lao động trẻ em, loại bỏ sự phân biệt đối xử liên quan đến việclàm và nghề nghiêp ), các nguyên tắc về bảo vệ môi trường (hỗ trợ các biện pháp phòng ngừa đối với các thách thức về môi trường, phát triển và quảng bá các công nghệ thân thiện với môi trường ) và về chống tham nhũng (chống lại mọi hình

thức tham nhũng như hối lộ, tống tiền ) Ở cấp độ khu vực, Uỷ ban Châu Âu đưa ra

"Văn bản xanh" trong đó TNXHDN được hiểu là việc doanh nghiệp đưa các vấn đề xã hội và môi trường vào các hoạt động cũng như trao đổi với các bên liên quan một cách

tự nguyện Với các công ty đa quốc gia, TNXHDN cũng được hiểu tương tự nhưng cụ

thể hơn, ví dụ Công ty ADIDAS cho rằng "TNXHDN là khái niệm theo đó doanh nghiệp lồng ghép các vấn đề xã hội và môi trường vào kế hoạch kinh doanh và vào mối quan hệ với cổ đông trên cơ sở tự nguyện"

TNXHDN có vai trò là lực cản cuối cùng giúp giữ cho doanh nghiệp không đi quá

đà vì lợi ích kinh tế mà vi phạm các chuẩn mực đạo đức (vốn không phải lúc nào cũng được thể hiện đầy đủ bằng các quy phạm pháp luật), quên mất trách nhiệm của mình về các tác động tiêu cực mà doanh nghiệp gây ra cho các thành phần khác trong xã hội Trong thế giới hiện đại, đặc biệt là ở các nước phát triển, người tiêu dùng và nhà đầu tư ngày càng tính đến các tiêu chí thành tích của doanh nghiệp về đạo đức kinh doanh, lao động, môi trường, xã hội khi họ quyết định tiêu dùng hay đầu tư, nghĩa là họ không chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm mà còn quan tâm, coi trọng cách thức các doanh nghiệp làm ra các sản phẩm đó, tiêu biểu như các phong trào tẩy chay sản phẩm gây béo phì, phong trào thương mại công bằng (bảo đảm điều kiện lao động và giá mua nguyên liệu ở các nước thế giới thứ 3), phong trào tẩy chay sản phẩm bóc lột lao động trẻ em, sản phẩm sử dụng lông thú Trước áp lực xã hội và các cơ chế giám sát xã hội- chính trị- môi trường, nhiều doanh nghiệp, nhất là các công ty đa quốc gia, đã chủ động đưa TNXHDN vào chương trình hành động của mình một cách nghiêm túc như: chương trình tiết kiệm năng lương, giảm khí thải carbon, sử dụng vật liệu tái sinh, cải thiện nguồn nước sinh hoạt, xoá mù chữ, xây dựng trường học, cứu trợ, ủng hộ nạn nhân thiên tai, thành lập quỹ và trung tâm nghiên cứu vắc xin, phòng chống AIDS và các dịch bệnh khác ở các nước nhiệt đới, các nước đang phát triển Ở Mĩ đã thành lập Câu lạc bộ Một phần trăm (One Percent Club) là tập hợp các doanh nghiệp cam kết sử dụng ít nhất 1% lợi nhuận của mình vào các công tác xã hội Theo tổ chức Giving USA Foundation, số tiền doanh nghiệp đóng góp cho các hoạt động xã hội trên toàn thế giới

45 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - Một số vấn đề lý luận và yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước đối với TNXHDN ở Việt Nam- Theo www.thongtinphapluatdansu.wordpress.com, 11/3/2010

Trang 39

lên đến 13,77 tỷ USD (năm 2005) và gần 1000 doanh nghiệp được đánh giá là “công dân doanh nghiệp tốt” Nổi bật là ngân hàng Grameen do TS Muhammad Yunus đã cung cấp tín dụng vi mô cho 6,6 triệu người, trong đó 97% là phụ nữ nghèo ở Bangladesh vay tiền để cải thiện cuộc sống (Giải Nobel hoà bình 2006) Ngược lại, các doanh nghiệp không quan tâm đến TNXHDN sẽ bị giảm năng lực cạnh tranh, mất cơ hội tiếp cận thị trường, thậm chí tính bền vững của doanh nghiệp cũng bị đe doạ (ví dụ như sự đổ vỡ của các tập đoàn Enron, công ty kiểm toán Arthur Anderson ) Nhà quản trị học nổi tiếng Peter Ferdinand Drucker, người đã làm việc cho nhiều tập đoàn lớn

như General Electric, Coca-cola, IBM và Intel cho rằng: "Một công ty thua lỗ là Công

ty thiếu Trách nhiệm xã hội”46

Ở Việt Nam, với nền kinh tế thị trường mới đang ở giai đoạn đầu phát triển, nhận thức của doanh nghiệp và xã hội về TNXHDN còn chưa đầy đủ, việc áp dụng và thực thi TNXHDN chưa được chú trọng và quan tâm

Về nhận thức, TNXHDN lúc đầu chỉ được hiểu chủ yếu là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người lao động của mình và các vấn đề xã hội trong nội bộ doanh nghiệp Cũng có nhận thức cho rằng TNXHDN chỉ là việc thiện nguyện mà Doanh nghiệp cần phải làm cho xã hội, thậm chí cũng có doanh nghiệp nhìn nhận lệch lạc, gắn các công tác xã hội với mục tiêu quảng bá cho thương hiệu của mình Tuy nhiên, cùng với quá trình hội nhập kinhh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, TNXHDN đã được hiểu với nội hàm ngày càng mở rộng, đúng đắn hơn và gần với quan niệm về TNXHDN của cộng đồng quốc tế Nhóm nghiên cứu Đề tài cấp bộ của Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội, đưa ra quan niệm: "TNXHDN là sự tự cam kết của doanh nghiệp thông qua việc xây dựng và thực hiện hệ thống các quy định về quản lý, bằng các phương pháp quản lý thích hợp, công khai, minh bạch trên cơ sở tuân thủ pháp luật, thực hiện các ứng xử trong quan hệ lao động nhamừ kết hợp hài hoà lợi ích của doanh nghiệp, người lao động, khách hàng, cộng đồng, xã hội, người tiêu dùng và đạt đượcmục tiêu phát triển bền vững"47

Về hành động, một số doanh nghiệp Việt Nam đã đưa TNXHDN vào chiến lược kinh doanh của mình, tiêu biểu như: Chương trình "6 triệu ly sữa cho trẻ em Việt Nam”

và Quỹ học bổng “Đèn đom đóm” của Vinamilk, Dutch Lady; HUB Cafe với việc tạo

ra một thư viện cộng đồng với hơn 10.000 đầu sách phục vụ người đọc, là nơi chia sẻ kiến thức, tài liệu cho sinh viên

TNXHDN được bảo đảm và đề cao bằng các đạo luật (thể chế nhà nước), các thể chế xã hội (điều lệ của các hiệp hội mà doanh nghiệp là thành viên) và trong các Bộ quy tắc ứng xử (Code of conduct-CoC) về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Ngược lại, bất cứ CoC nào cũng đề cập đến việc doanh nghiệp phải tôn trọng pháp luật của quốc gia sở tại nơi doanh nghiệp thành lập hoặc hoạt động

Trong quan hệ với TNXHDN, Nhà nước và pháp luật có vai trò rất quan trọng TNXHDN chỉ trở thành một biểu hiện lành mạnh trong đời sống xã hội khi nó được bảo đảm bằng sự hoàn thiện khung pháp luật, bộ máy nhà nước, kinh tế thị trường và các thể chế xã hội dân sự khác, trong đó, đặc biệt quan trọng là vai trò của Nhà nước chủ trì, thu hút cộng đồng doanh nghiệp và xã hội dân sự vào việc soạn thảo các luật như Luật Cạnh tranh, kiểm soát độc quyền, Luật về Hội, Luật vận động chính sách, Luật bảo

đảm quyền được thông tin

46 Nguyễn Văn Bình- Chủ tịch HĐQT Tập đoàn thép Việt Nhật - “Bàn về trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp”

47 Đề tài CB2007-01-04”Các giải pháp thúc đẩy việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế” do TS Lê Thanh Hà, Trưởng khoa quản lý lao động làm chủ nhiệm

Trang 40

3.5 Tôn giáo và các giáo lý

3.5.1 Khi nghiên cứu Tôn giáo với tính chất là một thiết chế - chủ thể của phát

triển xã hội và giáo lý của tôn giáo với tính chất là một loại thể chế xã hội của một quốc

gia - xã hội thì điều đầu tiên cần làm rõ là chủ thuyết và cơ sở chính trị - pháp lý của

mối quan hệ giữa tôn giáo với Nhà nước và xã hội đó

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu tôn giáo thì việc xây dựng mô hình Nhà nước thế tục ở các nước Âu-Mỹ hàng trăm năm qua được đánh giá như là một trong những thành tựu tư tưởng triết học về tiến trình xã hội và luật pháp trong việc thực hiện

tính hiện đại (modernité) của tôn giáo Theo quan điểm của giới nghiên cứu Âu-Mỹ thì

ban đầu thế tục chỉ là sự chuyển giao tài sản của Giáo hội cho Nhà nước, nghĩa là

chuyển vào tay thế tục, dần dần khái niệm thế tục hóa được dùng để mô tả sự giải

phóng hữu hiệu mối quan hệ giữa con người với thế giới mà không bị các truyền thống tôn giáo kiềm chế Kéo theo đó là việc thiết lập mối quan hệ về luật pháp trong đó Nhà nước hoàn toàn trung lập về mặt tôn giáo (còn gọi là nhà nước phi tôn giáo) đồng thời dẫn đến sự hình thành một xã hội dân sự mà ở đó công dân được hưởng các quyền cá nhân theo pháp luật cũng như được giải phóng một cách tương đối trong việc thực hành đời sống tôn giáo so với các học thuyết, giáo luật của tôn giáo đã được Giáo hội chế định Việc xây dựng mô hình nhà nước thế tục những thập kỷ gần đây ngày càng trở

nên phong phú sinh động khi đời sống tôn giáo thế giới đang đứng trước xu thế Đa

nguyên về tôn giáo (pluralisme religieux) Thực tế khách quan này đã tạo nên những

sức ép không nhỏ trong việc bổ sung, hoàn thiện các mô hình nhà nước thế tục thích hợp cho mỗi quốc gia, mỗi khu vực trên thế giới

Theo nhà nghiên cứu Đỗ Quang Hưng, trong việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và các tổ chức tôn giáo cũng như việc xây dựng nhà nước pháp quyền về mặt tôn

giáo thì quá trình xây dựng một mô hình Nhà nước thế tục thích hợp với Việt Nam cũng

đã bắt đầu từ giữa thế kỷ XX48 Đó là mô hình ưu tiên cho sự đa dạng (Pluralisme

religieux), dành cho những nước mà thể chế thế tục đi liền với việc xác định các “tôn giáo được thừa nhận” Một trong những người sáng lập ra lý thuyết tách quyền lực của tôn giáo ra khỏi quyền lực của Nhà nước là William Penn có nói rằng: vì tôn giáo cơ bản là vấn đề cá nhân con người nên Chính phủ cần có thái độ ủng hộ mọi tôn giáo hơn

là chỉ ủng hộ một tôn giáo! Việt Nam với nền văn minh lúa nước ở cội nguồn và truyền thống Tam giaó đồng nguyên được thừa nhận trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc thì việc lựa chọn mô hình nhà nước thế tục ưu tiên cho sự đa dạng tôn giáo cũng là lẽ đương nhiên bởi đó là sự lựa chọn "thiên thời, địa lợi, nhân hoà"

Nhiệm vụ đầu tiên của việc thiết lập mô hình nhà nước thế tục là việc Nhà nước công nhận các tổ chức tôn giáo về mặt luật pháp theo phương thức: Nhà nước lựa chọn những tôn giáo tiêu biểu để công nhận và trực tiếp quản lý, đồng thời tôn trọng các tôn giáo khác Sắc lệnh số 234-SL, ngày 14/6/1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ở Hà Nội chính là văn bản đã đặt nền móng xây dựng mô hình nhà nước thế tục ở Việt Nam dựa

trên hai nguyên tắc cơ bản: đoàn kết dân tộc – tôn giáo và sự bình đẳng giữa các tôn

giáo trước pháp luật

Việc công nhận các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam từ 1955, đặc biệt từ sau khi đất

nước thống nhất từ 1975 đến nay, được thực hiện theo cách thức đăng ký của các tổ

chức tôn giáo Nhà nước thường công nhận “trọn gói”, nghĩa là Nhà nước công nhận những tổ chức tiêu biểu nhất cho mỗi Giáo hội, Hội thánh, ví dụ công nhận Hội đồng

48 Đỗ Quang Hưng, Xây dựng mô hình nhà nước thế tục trong môi trường đa dạng hóa tôn giáo: cái bất biến và cái

khả biến – trường hợp Việt Nam - http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.

Ngày đăng: 11/05/2016, 01:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w