Một trong những hoạt động quan trọng đó là phân tích tài chính và đánh giá hiệuquả tài chính, thông qua đó tìm các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh trongtương lai của doanh nghiệp.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong kinh doanh, dù ở lĩnh vực nào doanh nghiệp cũng luôn mong muốn đạtlợi nhuận cao với những chi phí tối thiểu Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triểnbền vững cần phải có các hoạt động: nghiên cứu nhu cầu thị trường, phân tích tình hìnhhiện tại của cả nền kinh tế, của chính doanh nghiệp
Một trong những hoạt động quan trọng đó là phân tích tài chính và đánh giá hiệuquả tài chính, thông qua đó tìm các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh trongtương lai của doanh nghiệp
Chính vì vậy em chọn đề tài: “Phân tích tình hình tài chính tại Công ty
TNHH Thương mại Dịch vụ Diên Phước” để hiểu rõ hơn về tình hình kinh doanh của
công ty
2 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các báo cáo tài chính qua ba năm (từ năm 2008 đếnnăm 2010) tại Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Diên Phước
3 Phạm vi nghiên cứu
Không gian:
Đề tài được thực hiện tại Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Diên Phước
Thời gian:
Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian từ 15/02/2011 – 28/04/2011
Số liệu được sử dụng phân tích trong đề tài từ năm 2008 đến năm 2011
4 Mục đích nghiên cứu
Phân tích tình hình tài chính để thấy được mặt mạnh, mặt yếu trong Công ty từ
đó đưa ra đánh giá về tình hình tài chính và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệuquả sử dụng tài chính
SVTH: Võ Nguyễn Thanh Tuyền Trang 1
Trang 2Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1 Một số vấn đề cơ bản
1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụcho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằmđánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chấtlượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực của doanhnghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản
lý phù hợp
Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro phásản tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánhgiá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanhnghiệp Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những
dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệptrong tương lai Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính - mộttrong các hướng dự đoán doanh nghiệp
1.1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.2.1 Mục tiêu
Hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp bao gồm những nội dung cơ bảnsau: xác định nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, tìm kiếm và huy động nguồn vốn đápứng tốt nhu cầu và sử dụng vốn hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất
Việc tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho các nhà quản lý doanhnghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng của hoạt động tài chính,xác định đầy đủ và đúng đắn các nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tốđến tình hình tài chính của doanh nghiệp Từ đó, có những giải pháp hữu hiệu nhằm ổnđịnh và nâng cao tình hình tài chính của doanh nghiệp.Trong nền kinh tế vận độngtheo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước ở nước ta hiện nay, các doanhnghiệp đều có quyền bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh thì người ta chỉ quan
SVTH: Võ Nguyễn Thanh Tuyền Trang 2
Trang 3tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các khía cạnh khác nhau như: cácnhà đầu tư, nhà cho vay, nhà cung cấp, khách hàng Nhưng vấn đề mà người ta quantâm nhiều nhất là khả năng tạo ra các dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanhtoán và mức lợi nhuận tối đa của doanh nghiệp
1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp
Hoạt động tài chính đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của mỗi doanh nghiệp và có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành, tồn tại vàphát triển của doanh nghiệp
Nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: chủdoanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng kể cả các cơ quan Nhà nước vàngười làm công, mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trêncác góc độ khác nhau
Đối với người quản lý doanh nghiệp:
Đối với người quản lý doanh nghiệp mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếmlợi nhuận và khả năng trả nợ Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục sẽ bị cạn kiệt các nguồnlực và buộc phải đóng cửa Mặt khác, nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán
nợ đến hạn cũng bị buộc phải ngừng hoạt động
SVTH: Võ Nguyễn Thanh Tuyền Trang 3
Trang 4Để đầu tư vào các tài sản, doanh nghiệp phải có nguồn tài trợ, nghĩa là phải cótiền để đầu tư Các nguồn tài trợ đối với một doanh nghiệp được phản ánh bên phảicủa bảng cân đối kế toán Vốn chủ sở hữu là khoản chênh lệch giữa giá trị của tổng tàisản và nợ của doanh nghiệp Vấn đề đặt ra ở đây là doanh nghiệp sẽ huy động nguồntài trợ với cơ cấu như thế nào cho phù hợp và mang lại lợi nhuận cao nhất
Nhà quản lý tài chính phải chịu trách nhiệm điều hành hoạt động tài chính vàdựa trên cơ sở các nghiệp vụ tài chính thường ngày để đưa ra các quyết định vì lợi íchcủa cổ đông của doanh nghiệp Các quyết định và hoạt động của nhà quản lý tài chínhđều nhằm vào các mục tiêu tài chính của doanh nghiệp: đó là sự tồn tại và phát triểncủa doanh nghiệp, tránh được sự căng thẳng về tài chính và phá sản, có khả năng cạnhtranh và chiếm được thị phần tối đa trên thương trường, tối thiểu hoá chi phí, tối đahoá lợi nhuận và tăng trưởng thu nhập một cách vững chắc Doanh nghiệp chỉ có thểhoạt động tốt và mang lại sự giàu có cho chủ sở hữu khi các quyết định của nhà quản
lý được đưa ra là đúng đắn
Đối với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm hàng đầu của họ là thời gian hoàn vốn,mức sinh lãi và sự rủi ro Vì vậy, họ cần các thông tin về điều kiện tài chính, tình hìnhhoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của các doanh nghiệp
Đối với các chủ nợ của doanh nghiệp
Nếu phân tích tài chính được các nhà đầu tư và quản lý doanh nghiệp thực hiệnnhằm mục đích đánh giá khả năng sinh lợi và tăng trưởng của doanh nghiệp thì phântích tài chính lại được các ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng thương mại chodoanh nghiệp sử dụng nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp
Trong nội dung phân tích này, khả năng thanh toán của doanh nghiệp được xemxét trên hai khía cạnh là ngắn hạn và dài hạn Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn,người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp,nghĩa là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối với các món nợ khi đến hạn trả Nếu
là những khoản cho vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả
SVTH: Võ Nguyễn Thanh Tuyền Trang 4
Trang 5năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi sẽ tuỳ thuộc vào khả năngsinh lời này.
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họchủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họ chú ý đặc biệt đến sốlượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ đó so sánh với số nợngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp
Đối với các nhà cung ứng vật tư hàng hoá, dịch vụ cho doanh nghiệp, họ phảiquyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng hay không, họcần phải biết được khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại và trong thời giansắp tới
Đối với người lao động trong doanh nghiệp
Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp, ngườiđược hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chínhcủa doanh nghiệp Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động của doanh nghiệp cótác động trực tiếp tới tiền lương, khoản thu nhập chính của người lao động
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước
Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của Nhà nướcthực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinhdoanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách,chế độ và luật pháp quy định không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hìnhthực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và khách hàng
1.1.4 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.4.1 Hệ thống kế hoạch tài chính
Bảng báo cáo kết quả kinh doanh
SVTH: Võ Nguyễn Thanh Tuyền Trang 5
Trang 6Một loại thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tíchtài chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh Khác vớibảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh cho biết sự dịch chuyển củavốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; nó cho phép dự tính khảnăng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai
Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh đồng thời cũng giúp cho nhà phân tích sosánh doanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hoá, dịch vụ với tổng chi phíphát sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp Trên cơ sở đó, có thể xácđịnh được kết quả sản xuất kinh doanh: lãi hay lỗ trong năm Như vậy, báo cáo kết quảkinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh tình hình tàichính của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Nó cung cấp những thông tintổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật vàtrình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tác dụng của việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh các chỉ tiêu về doanh thu, lợinhuận và tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của doanh nghiệp Do
đó, phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng cho ta đánh giá khái quát tìnhhình tài chính doanh nghiệp, biết được trong kỳ doanh nghiệp kinh doanh có lãi hay bị
lỗ, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và vốn là bao nhiêu Từ đó tính được tốc độ tăngtrưởng của kỳ này so với kỳ trước và dự đoán tốc độ tăng trong tương lai
Ngoài ra, qua việc phân tích tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, tabiết được doanh nghiệp có nộp thuế đủ và đúng thời hạn không Nếu số thuế còn phảinộp lớn chứng tỏ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là không khả quan
Như vậy, việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp ta cónhững nhận định sâu sắc và đầy đủ hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc mà bất
kỳ doanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụng thông tin của doanh
SVTH: Võ Nguyễn Thanh Tuyền Trang 6
Trang 7nghiệp Nếu bảng cân đối kế toán cho biết những nguồn lực của cải (tài sản) và nguồngốc của những tài sản đó; và báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thu nhập và chi phíphát sinh để tính được kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh, thì báo cáo lưu chuyểntiền tệ được lập để trả lời các vấn đề liên quan đến luồng tiền vào ra trong doanhnghiệp, tình hình thu chi ngắn hạn của doanh nghiệp Những luồng vào ra của tiền vàcác khoản coi như tiền được tổng hợp thành ba nhóm: lưu chuyển tiền tệ từ hoạt độngsản xuất kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính và lưu chuyển tiền tệ từhoạt động bất thường.
Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thông tin về tìnhhình sản xuất kinh doanh chưa có trong hệ thống báo cáo tài chính, đồng thời giải thíchthêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa được trình bày nhằm giúp chongười đọc và phân tích các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính có một cái nhìn cụ thể vàchi tiết hơn về sự thay đổi những khoản mục trong bảng cân đối kế toán và kết quả hoạtđộng kinh doanh
1.1.4.2 Tài liệu kế toán chi tiết
Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính của mộtdoanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó Đấy là một báo cáo tài chính phảnánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, dưới hìnhthái tiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản Xét về bản chất, bảng cânđối kế toán là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản với vốn chủ sở hữu và công nợphải trả (nguồn vốn)
Để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, tài liệu chủ yếu là bản cânđối kế toán.Thông qua nó cho phép ta nghiên cứu, đánh giá một cách tổng quát tìnhhình tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và những triểnvọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp
Tác dụng của phân tích bảng cân đối kế toán:
SVTH: Võ Nguyễn Thanh Tuyền Trang 7
Trang 8 Cho biết một cách khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua cácchỉ tiêu về tổng tài sản và tổng nguồn vốn.
Thấy được sự biến động của các loại tài sản trong doanh nghiệp: tài sản lưuđộng, tài sản cố định
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp qua các khoản phải thu và các khoảnphải trả
Cho biết cơ cấu vốn và phân bổ nguồn vốn trong doanh nghiệp
1.2 Một số chỉ tiêu trong phân tích tài chính
1.2.1 Phân tích các tỷ số về thanh khoản
Tỷ số thanh toán là tỷ số đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công
ty Loại tỷ số này gồm có: tỷ số khả năng thanh toán hiện thời, tỷ số khả năng thanhtoán nhanh, tỷ số khả năng thanh toán nhanh bằng tiền
1.2.1.1 Tỷ số thanh toán hiện hành
Một trong những thước đo khả năng thanh toán của một doanh nghiệp được sửdụng rộng rãi nhất là khả năng thanh toán hiện hành
Tỷ số này cho thấy: Doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thànhtiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Tỷ số này đo lường khả năngtrả nợ của doanh nghiệp
Tỷ số thanh toán hiện hành giảm, cho thấy khả năng thanh toán giảm và cũng làdấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra Ngược lại, tỷ số thanh toánhiện hành cao điều đó có nghĩa doanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ.Tuy nhiên, nếu tỷ số thanh toán hiện hành quá cao sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động vìdoanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động hay nói cách khác là việc quản
lý tài sản lưu động không hiệu quả
1.2.1.2 Tỷ số thanh toán nhanh
SVTH: Võ Nguyễn Thanh Tuyền Trang 8
Tỷ số thanh toán hiện thời =
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Trang 9Khi xác định tỷ số thanh toán hiện thời chúng ta đã tính hàng tồn kho trong giátrị tài sản lưu động đảm bảo cho nợ ngắn hạn Tuy nhiên, trên thực tế hàng tồn khokém tính thanh khoản hơn vì phải mất thời gian và chi phí tiêu thụ mới có thể chuyểnthành tiền Để tránh tình trạng như vậy, chúng ta nên dùng tỷ số thanh toán nhanh.
Tỷ số thanh toán nhanh được tính toán dựa trên những tài sản lưu động có thểnhanh chóng chuyển đổi thành tiền, tài sản có tính thanh khoản bao gồm tất cả tài sảnlưu động trừ hàng tồn kho
1.2.1.3 Tỷ số thanh toán bằng tiền
Tỷ số thanh toán bằng tiền mặt thể hiện mối quan hệ so sánh giữa vốn bằng tiền
và các khoản nợ ngắn hạn Xác định bằng công thức:
Tỷ số trong chỉ tiêu này có thể bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán ngắnhạn, nếu sự chuyển hóa các khoản đầu tư chứng khoán trở thành tiền một cách thuậnlợi nhanh chóng Tỷ lệ này là một tiêu chuẩn còn khắc khe hơn tỷ lệ thanh toán nhanh,
nó đòi hỏi cần phải có tiền để thanh toán
1.2.2 Phân tích các tỷ số về quản trị tài sản
Các doanh nghiệp thường phải đi vay và huy động vốn từ nhiều nguồn khácnhau để hình thành nên tài sản của mình Nếu họ có quá nhiều tài sản hình thành từnguồn vốn vay mượn, chi phí trả lãi sẽ quá cao, do đó lợi nhuận của họ sẽ bị sụt giảm.Mặt khác, nếu tài sản của họ quá thấp, họ sẽ mất đi lợi ích có thể có được
1.2.2.1 Tỷ số luân chuyển hàng tồn kho
SVTH: Võ Nguyễn Thanh Tuyền Trang 9
Tỷ số thanh toán nhanh =
Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Trang 10Tỷ số luân chuyển hàng tồn kho đo lường mức doanh số bán liên quan đến mức
độ tồn kho của các loại hàng hóa, thành phẩm, nguyên vật liệu
Hàng tồn kho là một bộ phận tài sản dự trữ với mục đích đảm bảo cho quá trìnhsản xuất liên tục, mức độ tồn kho cao hay thấp phụ thuộc vào loại hình kinh doanh,nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào, mức tiêu thụ sản phẩm Tỷ số luân chuyển hàng tồnkho được tính theo công thức sau:
1.2.2.2 Vòng quay khoản phải thu khách hàng
Là tỷ lệ giữa doanh thu bán chịu với số dư bình quân khoản phải thu của khách hàng trong kỳ
1.2.2.3 Kỳ thu tiền bình quân
Thời gian thu tiền bình quân đo lường tốc độ luân chuyển “những khoản nợ cầnphải thu” Số vòng quay các khoản phải thu hoặc kỳ thu tiền bình quân cao hay thấpphụ thuộc chính sách bán chịu của doanh nghiệp Nếu số vòng quay thấp thì hiệu quả
sử dụng vốn kém do vốn bị chiếm dụng nhiều, nhưng số vòng quay các khoản phải thuquá cao thì sẽ giảm sức cạnh tranh dẫn đến giảm doanh thu Thời gian thu tiền bánhàng bình quân được tính:
1.2.2.4 Vòng quay vốn ngắn hạn
SVTH: Võ Nguyễn Thanh Tuyền Trang 10
Trang 111.2.2.5 Hiệu suất sử dụng vốn cố định và tài sản cố định
Tỷ số này phản ánh hiệu suất của nguyên giá tài sản cố định và vốn cố định
1.2.2.6 Hiệu suất sử dụng toàn bộ vốn
D/E = 1: Rủi ro ở mức trung bình
D/E < 1: Rủi ro dưới mức trung bình
D/E > 1: Rủi ro trên mức trung bình
Trang 12Thông thường các công ty mong muốn có một tỷ lệ nợ cao vì:
- D/E và D/A cao dẫn đến lợi nhuận trên vốn tự có cao
- Nợ mang lại lợi ích tiết kiệm thuế
- Ngược lại thì các chủ nợ thích một tỷ lệ thấp, vì tỷ lệ nợ càng thấp thì món nợcàng được bảo đảm trong trường hợp công ty bị phá sản
1.2.3.4 Tỷ số thanh toán lãi vay
Hệ số thanh toán lãi nợ vay được tính toán bằng cách chia lợi nhuận trước thuế
và lãi nợ vay cho lãi nợ vay của công ty
Lợi nhuận trước thuế + lãi nợ vay
Hệ số thanh toán lãi nợ vay =
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán lãi vay của công ty hay nói lên mộtđồng chi phí lãi vay có bao nhiêu đồng thu nhập trước thuế và lãi nợ vay đảm bảothanh toán cho chi phí lãi vay
1.2.4 Phân tích các tỷ suất lợi nhuận
1.2.4.1 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
SVTH: Võ Nguyễn Thanh Tuyền Trang 12
Tỷ suất tự tài trợ =
Vốn chủ sở hữuTổng số nguồn vốn
Trang 13Chỉ tiêu này phản ánh mức độ sinh lời của một đồng doanh thu Nó được tínhbằng quan hệ so sánh giữa lợi nhuận sau thuế và doanh thu thuần.
1.2.4.2 Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản
Phản ánh mức độ sinh lời của tài sản, được xác định bằng quan hệ so sánh giữa lợi nhuận sau thuế với tổng tài sản trong kỳ
1.2.4.3 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Phản ánh mức độ sinh lợi của vốn chủ sở hữu, được xác định bằng quan hệ sosánh giữa lợi nhuận sau thuế và vốn chủ sở hữu
1.2.5 Phân tích rủi ro trong quan hệ với lợi nhuận
1.2.5.1 Điểm hòa vốn
Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó doanh thu bằng tổng chi phí Vì vậy, tại điểmnày hoạt động của doanh nghiệp không lời cũng không lỗ Như thế, muốn xác địnhđược điểm hòa vốn phải xác định được hai yếu tố là tổng doanh thu và tổng chi phí
SVTH: Võ Nguyễn Thanh Tuyền Trang 13
Trang 14Tổng chi phí sản xuất kinh doanh gồm các bộ phận cơ bản sau: Giá vốn hàngbán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí cố định, chi phí biếnđộng.
Điểm hòa vốn đánh giá rủi ro của một doanh nghiệp hoặc rủi ro của một dự án;giúp lựa chọn những phương thức sản xuất khác nhau và đánh giá khả năng tạo lãi củamột phương án sản xuất sản phẩm mới
1.2.5.2 Tác động của đòn bẩy
Đòn cân định phí
Đòn cân định phí còn gọi là đòn bẩy vận hành hay đòn bẩy kinh doanh nói lênmức tác động của định phí đối với kết quả sản xuất kinh doanh Đòn cân định phí đượcxác định thông qua chỉ tiêu độ nghiêng đòn cân định phí
Độ nghiêng đòn cân định phí thể hiện quan hệ giữa tốc độ tăng (giảm) lợi nhuậntrước thuế và lãi vay (EBIT) so với tốc độ tăng (giảm) doanh thu
EBIT: Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
F: định phí
DOL càng lớn, rủi ro kinh doanh càng cao và ngược lại DOL cho thấy tác độngcủa rủi ro kinh doanh tức là khi doanh nghiệp có chi phí cố định cao thì điểm hòa vốncao, song nếu vượt qua được điểm hòa vốn thì chỉ cần tăng đôi chút doanh thu cũnglàm EBIT tăng đáng kể
Ngược lại, doanh nghiệp có chi phí cố định thấp thì điểm hòa vốn đạt ở mứcthấp hơn Khi vượt qua điểm hòa vốn, nếu doanh thu tăng ít thì EBIT tăng không đáng
kể Tại điểm hòa vốn DOL không xác định
Rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp là rủi ro do những bất ổn phát sinh tronghoạt động của doanh nghiệp khiến cho lợi nhuận hoạt động giảm Định phí tác độngđến độ nghiêng đòn bẩy hoạt động là một bộ phận của rủi ro kinh doanh Các yếu tố
SVTH: Võ Nguyễn Thanh Tuyền Trang 14
Trang 15khác của rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp là sự bất ổn của doanh thu và chi phí sảnxuất Đây là hai yếu tố chính, còn đòn bẩy hoạt động làm khuyết đại sự ảnh hưởng củacác yếu tố này lên lợi nhuận hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, bản thân đòn bẩyhoạt động không phải nguồn gốc của rủi ro, bởi lẽ độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh caocũng chẳng có rủi ro nếu như doanh thu và cơ cấu chi phí cố định
Tóm lại, rủi ro trong kinh doanh là rủi ro tiềm ẩn gắn liền với doanh nghiệp do
sự thay đổi của thị trường, giá cả, lạm phát…những sự thay đổi này ảnh hưởng đếncấu trúc chi phí, từ đó ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Đòn cân nợ
Đòn cân nợ còn gọi là đòn bẩy tài chính là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số nợ sovới tổng tài sản của doanh nghiệp ở một thời điểm nhất định Đòn bẩy tài chính liênquan đến việc sử dụng các nguồn tài trợ có chi phí cố định
Doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính với hy vọng là sẽ gia tăng được lợinhuận cho chủ sở hữu Nếu sử dụng phù hợp, doanh nghiệp có thể dung các nguồn vốn
có chi phí cố định, bằng cách phát hành trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi, để tạo ra lợinhuận lớn hơn chi phí trả cho việc huy động vốn có lợi tưc cố định Phần lợi nhuậncòn lại sẽ thuộc về chủ sở hữu của doanh nghiệp
Để đo mức tác động của đòn cân nợ người ta dung chỉ tiêu độ nghiêng đòn cân
nợ Độ nghiêng đòn cân nợ thể hiện quan hệ tỷ lệ giữa tốc độ tăng (giảm) của lợinhuận trên mỗi cổ phần (hay tỷ lệ tiền lãi trên vốn chủ sở hữu) với tốc độ tăng (giảm)của tiền lời chưa trừ lãi vay và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (EBIT)
Đòn cân nợ được tính theo công thức sau:
Trang 162.1.1 Sơ lược về công ty
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ Ánh Minh Cường Công tythành lập ngày: 02 tháng 04 năm 2009 Giấy phép đăng ký kinh doanh số: 4102012003
do Sở Kế hoạch đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp
Trụ sở chính đặt tại: 55 Nguyễn Văn Hồng, phường 17, quận Gò Vấp, Tp.HồChí Minh
Ngành nghề kinh doanh: mua bán vật liệu xây dựng các loại, xây dựng côngtrình dân dụng, mua bán và thi công lắp đặt hệ thống thiết bị: hệ thống báo cháy, báođộng và chữa cháy, hệ thống âm thanh, hệ thống camera quan sát, hệ thống chống sét
Vốn điều lệ: 1.400.000.000 VND
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý công ty
SVTH: Võ Nguyễn Thanh Tuyền Trang 16
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
PHÒNGMARKETING
PHÒNGKINH DOANH
PHÒNG
KẾ TOÁNPHÒNG
NHÂN SỰ
Trang 172.1.3 Chức năng, nhiệm vụ các phòng, ban
|Ban giám đốc:
Giám đốc: là người chịu trách nhiệm cao nhất
Phó Giám đốc: tham mưu, giúp đỡ giám đốc về hoạt động của công ty
|Phòng nhân sự:
SVTH: Võ Nguyễn Thanh Tuyền Trang 17