Mục tiêu của đề tài - M ục tiêu tổng quát Đánh giá các loại hình sử dụng đất làm cơ sở phân hạng thích hợp đất đai sảnxuất nông nghiệp của xã Linh Sơn, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên th
Trang 1TRẦN THỊ PHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH HỢP CỦA CÁC LOẠI HÌNH
SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
TẠI XÃ LINH SƠN, HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60850103
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS.TS ĐÀM XUÂN VẬN
Thái Nguyên - Năm 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện nghiên cứu đã được cám ơn và các thôngtin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 06 tháng 09 năm 2014
Tác giả
Trần Thị Phương
Trang 3Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều cơquan, nhiều tổ chức và cá nhân Tôi xin trân trọng bày tỏ lời cảm ơn với tất cả tập thể
và các cá nhân đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu Trước hết, tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Đàm Xuân Vận, đã trực tiếp hướng dẫntôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm TháiNguyên, các thầy cô giáo trong Khoa Tài Nguyên & Môi trường và Khoa Sau đạihọc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trang bị cho tôi những kiến thứcquý báu và giúp tôi hoàn thiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Linh Sơn, UBND huyệnĐồng Hỷ, phòng thống kê, Hội nông dân tập thể đã tận tình giúp đỡ tôi trong quátrình thu thập số liệu và kiểm nghiệm kết quả nghiên cứu
Tôi xin trân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡtôi trong quá trình nghiên cứu
Thái Nguyên, ngày 06 tháng 09 năm 2014
Tác giả
Trần Thị Phương
Trang 4MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Vai trò của công tác đánh giá đất 4
1.2 Cơ sở lí luận về đánh giá đất 5
1.3 Tình hình nghiên cứu đánh giá đất ở nước ngoài 6
1.3.1 Đánh giá đất đai theo phân loại định lượng (Soil Taxonomy) của Mỹ 6
1.3.2 Đánh giá đất đai ở Liên Xô (cũ) 7
1.3.3 Đánh giá đất đai ở Anh 8
1.3.4 Đánh giá đất đai ở Canađa 10
1.3.5 Đánh giá đất đai ở Ấn Độ 10
1.3.6 Nghiên cứu đánh giá đất của tổ chức FAO 11
1.3.7 Nhận xét chung về các phương pháp đánh giá đất đai ở nước ngoài 17
1.4 Nghiên cứu về đánh giá đất ở Việt Nam 18
1.5 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 25
1.5.1 Quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 25
1.5.2 Xác định các yếu tố và chỉ tiêu phân cấp bản đồ đơn vị đất đai 27
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 30
2.2 Nội dung nghiên cứu 30
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của xã 30
2.2.2 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 30
2.2.3 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 31
2.2.4 Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất 31
2.2.5 Đề xuất những loại hình sử dụng đất có triển vọng 31
2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp 31
2.3.2 Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp 32
Trang 5Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội 35
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 35
3.1.1.1 Vị trí địa lý 35
3.1.1.2 Đặc điểm khí hậu 35
3.1.1.3 Địa hình, địa mạo 35
3.1.1.4 Điều kiện thuỷ văn 36
3.1.1.5 Điều kiện thổ nhưỡng 36
3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 38
3.1.2.1 Dân số và lao động 38
3.1.2.2 Hiện trạng sử dụng đất của xã Linh Sơn năm 2013 39
3.1.2.3 Tình hình phát triển các ngành sản xuất 41
3.1.2.4 Cơ sở hạ tầng 44
3.2 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 46
3.2.1 Xây dựng các bản đồ đơn tính 46
3.2.1.1 Cơ sở dữ liệu không gian 46
3.2.1.2 Cơ sở dữ liệu thuộc tính 46
3.2.2 Mô tả các đơn vị bản đồ đất đai (LMU) 49
3.3 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp xã Linh Sơn 55
3.3.1 Các loại hình sử dụng đất của xã Linh Sơn 55
3.3.2 Các hệ thống sử dụng đất của xã Linh Sơn 57
3.3.3 Xác định các yêu cầu sử dụng đất 59
3.4 Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất 62
3.4.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế của các kiểu dụng đất 62
3.4.2 Phân tích hiệu quả môi trường của các loại hình sử dụng đất 67
3.4.3 Phân tích hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất 69
3.4.4 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất 70
Trang 63.5.2 Phân hạng thích hợp hiện tại của các LUT 72
3.5.3 Phân hạng thích hợp tương lai 76
3.6 Đề xuất hướng sử dụng đất trong tương lai 81
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Đề nghị 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC
Trang 7LUT Land Use Type – Loại hình sử dụng đất
LMU Land Mapping Unit – Đơn vị bản đồ đất đai
LUS Land Use System – Hệ thống sử dụng đất
Trang 8Bảng 1.1 Các chỉ tiêu phân cấp của bản đồ đơn vị đất đai 29
Bảng 3.1 Các loại đất sản xuất nông nghiệp của xã Linh Sơn 36
Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp xã Linh Sơn năm 2013 39
Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp xã Linh Sơn năm 2013 40
Bảng 3.4 Năng suất một số cây trồng chính của xã Linh Sơn giai đoạn 2011- 2013 42
Bảng 3.5 Diễn biến sản xuất ngành chăn nuôi giai đoạn 2011 - 2013 43
Bảng 3.6 Tổng hợp kết quả thuộc tính của bản đồ đất 46
Bảng 3.7 Tổng hợp kết quả thuộc tính của bản đồ địa hình 47
Bảng 3.8 Tổng hợp kết quả thuộc tính của bản đồ thành phần cơ giới 47
Bảng 3.9 Tổng hợp kết quả thuộc tính của bản đồ độ dày tầng đất 48
Bảng 3.10 Tổng hợp kết quả thuộc tính của bản đồ độ phì 48
Bảng 3.11 Tổng hợp kết quả thuộc tính của bản đồ chế độ tưới 49
Bảng 3.12 Số lượng và đặc tính các đơn vị đất đai xã Linh Sơn 50
Bảng 3.13 Các loại hình sử dụng đất xã Linh Sơn 55
Bảng 3.14 Hệ thống sử dụng đất ở xã Linh Sơn 58
Bảng 3.15 Yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất 60
Bảng 3.16 Hiệu quả kinh tế các loại cây trồng chính tính bình quân cho 1 ha 63
Bảng 3.17 Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất 64
Bảng 3.18 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất tính bình quân cho 1 ha 66
Bảng 3.19 Mức độ thích hợp đất đai hiện tại 73
Bảng 3.20 Mức độ thích hợp hiện tại của các loại hình sử dụng đất 74
Bảng 3.21 Kết quả phân hạng thích hợp đất đai hiện tại 75
Bảng 3.22 Mức độ thích hợp đất đai tương lai 79
Bảng 3.23 Mức thích hợp tương lai của các loại hình sử dụng đất 80
Bảng 3.24 Kết quả phân hạng thích hợp đất đai tương lai 81
Bảng 3.25 Loại hình sử dụng đất cho tương lai 82
Bảng 3.26 So sánh diện tích các LUT hiện tại và đề xuất 83
Trang 9Hình 1.1 Sơ đồ các bước chính trong đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất 14
Hình 1.2 Sơ đồ cấu trúc của phân hạng thích hợp đất đai theo FAO 15
Hình 1.3 Qui trình GIS trong xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 26
Hình 3.1 Cơ cấu các thành phần dân tộc 38
Hình 3.2 Hiện trạng sử đất của xã Linh Sơn năm 2013 39
Hình 3.3 Cơ cấu kinh tế của xã Linh Sơn năm 2013 43
Hình 3.4 Cảnh quan LUT 2 màu – lúa 56
Hình 3.5 Cảnh quan LUT chuyên rau, màu và cây CNNN 56
Hình 3.6 Cảnh quan LUT 2 lúa 57
Hình 3.7 Cảnh quan LUT 2 lúa – màu 57
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giácủa mỗi quốc gia Đất đai là yếu tố duy nhất của sự sống, nếu không có đất sẽkhông có sản xuất và cũng không có sự tồn tại của con người Cho nên việc bảo vệnguồn tài nguyên đất đai là một vấn đề hết sức quan trọng
Trong cuộc sống đất đai đóng vai trò là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thiếuđược, trong cuộc sống hàng ngày với các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp,lâm nghiệp và cả sinh hoạt của mình, con người đã tác động trực tiếp vào đất đai, làmthay đổi hệ sinh thái tự nhiên và đôi khi làm giảm dần tính bền vững của đất đai Đặc biệt
là đất nông nghiệp có hạn về diện tích, có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiênnhiên và sự thiếu hiểu biết của con người trong quá trình hoạt động sản xuất Khi xã hộiphát triển, dân số tăng nhanh, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh, kéo theo những đòi hỏingày càng tăng về lương thực, thực phẩm, nhu cầu sinh hoạt, nhu cầu về đất sử dụng vàomục đích chuyên dùng Trên thực tế đã để lại những hậu quả nghiêm trọng do việc sửdụng đất chưa hợp lý như đất bị rửa trôi, xói mòn, đất bị sa mạc hóa Điều này đã tạo nên
áp lực ngày càng lớn đối với đất sản xuất nông nghiệp, làm cho quỹ đất nông nghiệpluôn có nguy cơ bị suy giảm diện tích, trong khi khả năng khai hoang đất mới và các loạiđất khác chuyển sang đất nông nghiệp rất hạn chế
Để giải quyết vấn đề trên, các nhà khoa học của nhiều nước trên thế giới
đã tập trung nghiên cứu đánh giá đất từ rất lâu và ngày càng hiện đại hơn Đánhgiá đất đai là một nội dung nghiên cứu không thể thiếu được trong chương trìnhphát triển một nền nông lâm nghiệp bền vững và có hiệu quả, vì đất đai là tư liệusản xuất cơ bản nhất của người nông dân, họ phải tự tích lũy những hiểu biết hạnchế trong sử dụng đất của mình, đồng thời nắm được những phương thức sửdụng đất thích hợp Trong nền nông nghiệp ổn định và phát triển bền vững thìcông tác đánh giá đất đai là công việc đầu tiên mang tính nền tảng cho qui hoạch
sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả cao
Việc đánh giá đúng mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất để tổchức sử dụng hợp lý, có hiệu quả đang trở thành một vấn đề có tính thiết thực với
Trang 11tất cả các địa phương Từ kết quả đánh giá tiềm năng đất đai phải đưa ra được cácgiải pháp mang tính chiến lược và định hướng sử dụng đất cho tương lai để tổ chức
sử dụng đất hiệu quả và lâu bền Những năm gần đây, phương pháp đánh giá phânhạng đất thích hợp theo chỉ dẫn của FAO đã được nhiều nước trên thế giới côngnhận và áp dụng
Xã Linh Sơnlà một xã trung du miền núi nằm ở phía nam của huyện Đồng
Hỷ, là một xã có diện tích nông nghiệp khá lớn Việc định hướng quy hoạch cácvùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp theo hướng tập trung và chuyên môn hoátạo ra vùng nguyên liệu và sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao phục vụ xuất khẩuđem lại hiệu quả kinh tế là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết
Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu đánh giá được tiềm năng đất đai vàcác tài nguyên thiên nhiên của xã để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đa dạnghóa sản phẩm, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, từng bước nâng cao đời sống của nhândân trong xã
Việc đánh giá các loại hình sử dụng đất thích hợp nhằm sử dụng đất hiệu quả
và lâu bền trên cơ sở xây dựng một nền nông nghiệp đa canh và mang tính thươngmại là nhu cầu bức thiết trong phát triển nông nghiệp nông thôn ở xã Linh Sơn,huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên Xuất phát từ thực tiễn đó, được sự hướng dẫncủa PGS.TS Đàm Xuân Vận tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Đánh giá khả năng
huy ện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”.
2 Mục tiêu của đề tài
- M ục tiêu tổng quát
Đánh giá các loại hình sử dụng đất làm cơ sở phân hạng thích hợp đất đai sảnxuất nông nghiệp của xã Linh Sơn, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên theo hướng dẫncủa FAO
-M ục tiêu cụ thể
+ Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên về đất đai, đặc điểm kinh tế - xãhội của vùng nghiên cứu, phát hiện những tiềm năng và tồn tại trong sử dụngđất sản xuất nông nghiệp của xã
Trang 12+ Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai của xã.
+ Xác định hướng phát triển trong sử dụng đất nông nghiệp của xã LinhSơn, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên thông qua yêu cầu sử dụng đất của các loạihình sử dụng đất
3 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên về đất đai, đặc điểm kinh tế - xãhội của vùng nghiên cứu, phát hiện những tiềm năng và tồn tại trong sử dụngđất sản xuất nông nghiệp của xã
- Xác định hướng phát triển trong sử dụng đất nông nghiệp của xã Linh Sơn,huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên thông qua yêu cầu sử dụng đất của các loại hình
sử dụng đất
- Trên cơ sở kết quả đánh giá các loại hình sử dụng đất, đề xuất được cácloại hình sử dụng đất thích hợp phục vụ sản xuất nông nghiệp tại xã Linh Sơn,huyện Đồng Hỷ
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
* V ề khoa học
- Góp phần bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận khoa học cho việc sử dụngđất nông nghiệp tại xã Linh Sơn, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và khu vựcvùng đồi núi phía Bắc Việt Nam
* V ề thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu chỉ rõ thế mạnh và sự hạn chế của các đặc tính, tínhchất đất đai và các loại hình sử dụng đất hiện tại trong sản xuất nông nghiệp ở khuvực nghiên cứu
- So sánh ưu thế của loại hình sử dụng đất đề xuất với loại hình sử dụng đấttrước đây của xã
- Xây dựng các giải pháp sử dụng hợp lý, có hiệu quả và bền vững nguồn tàinguyên đất cho phát triển nông nghiệp trên địa bàn xã Linh Sơn - huyện Đồng Hỷ -Tỉnh Thái Nguyên
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Vai trò của công tác đánh giá đất
Khoa học đánh giá đất đai ra đời và phát triển cùng với sự phát triển củakhoa học nông nghiệp và các lĩnh vực khoa học khác Đánh giá đất đai là một phầnquan trọng của việc đánh giá tài nguyên thiên nhiên và cũng là cơ sở để định hướng
sử dụng đất hợp lý, bền vững trong sản xuất nông, lâm nghiệp Đánh giá đất đai từlâu đã được các nhà khoa học ở nhiều quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế quan tâmnghiên cứu, những kết quả đánh giá đất đã được tổng kết và khái quát chung trongkhuôn khổ hoạt động của các tổ chức liên hợp quốc như: FAO, unesco và đượccoi như tài sản tri thức chung của nhân loại
Đất đai đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người,
nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất C.Mac đã nhấn mạnh
"Lao động là cha, đất đai là mẹ của mọi của cải vật chất xã hội" Đất đai là cộinguồn cung cấp lương thực, thực phẩm và vật chất khác cho con người Để sử dụnghợp lý và có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đang là một vấn đề cấp bách đặt ra chocác nhà khoa học
Hiện nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khaithác được 1,5 tỷ ha, còn lại đa phần là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khókhăn [2] Trong 45 năm qua, theo kết quả đánh giá của Liên hợp quốc về "Chươngtrình môi trường " cho thấy: 1,2 tỷ ha đất đang bị thoái hoá ở mức trung bình hoặcnghiêm trọng do những hoạt động của con người Cho đến những năm đầu của thế
kỷ 21 này vẫn còn gần 1/10 dân số thế giới thiếu ăn và bị đe dọa hàng năm mức sảnxuất so với yêu cầu sử dụng lương thực trên thế giới vẫn thiếu hụt từ 150 - 200 triệutấn Mặt khác, hàng năm có khoảng 6 - 7 triệu ha đất nông nghiệp bị loại bỏ do xóimòn và thoái hoá Để giải quyết được nhu cầu về lương thực không ngừng gia tăngcon người phải tiến hành thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và mở rộngdiện tích đất nông nghiệp [8] Bên cạnh đó, việc ngăn chặn được những suy thoái vềtài nguyên đất đai gây ra do sự thiếu hiểu biết của con người và hướng tới việc sử
Trang 14dụng và quản lý đất một cách có hiệu quả trong tương lai thì công tác nghiên cứu vềđánh giá đất là rất quan trọng và cần thiết[3].
Theo Đoàn Công Quỳ (2000)[18], đánh giá đất đai gắn liền với sự tồn tại củaloài người và khoa học công nghệ; gắn liền với việc sử dụng đất hiện tại và tươnglai; là cơ sở cốt lõi để sử dụng đất bền vững Việc đánh giá đất phải được xem xéttrên phạm vi rất rộng, bao gồm cả không gian, thời gian, các yếu tố tự nhiên và xãhội
1.2 Cơ sở lí luận về đánh giá đất
* Đánh giá đất dựa vào điều kiện tự nhiên
Đánh giá đất đai dựa vào điều kiện tự nhiên là: Xác định mối quan hệ củacác yếu tố cấu thành đất (sinh vật, địa hình, khí hậu, đá mẹ, thời gian và tác động củacon người), các điều kiện sinh thái đất và các thuộc tính của chúng có tính quy luậthoặc không có tính quy luật ảnh hưởng (tốt hoặc xấu) tới hiệu quả và mục đích củacác loại sử dụng đất
Theo FAO[26, 27]:
- Đánh giá đất đai về mặt tự nhiên chỉ ra mức độ thích nghi đối với sử dụngđất hoàn toàn dựa trên cơ sở các điều kiện tự nhiên mà không xem xét đến các điềukiện kinh tế
- Đánh giá đất đai về mặt tự nhiên nhấn mạnh các khía cạnh bền vững tươngđối của sự thích nghi cuả các điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng… vì chúng ít thay đổihơn so với các yếu tố kinh tế
- Đánh giá đất đai về mặt tự nhiên được sử dụng để chia các đơn vị đất đaithành các nhóm quản lý, phục vụ các nghiên cứu chi tiết và hoàn toàn có giá trịtrong thời gian lâu dài vì các mức thích nghi về mặt tự nhiên thay đổi rất chậm
* Đánh giá đất đai dựa vào các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu
qu ả về môi trường
- Đánh giá đất đai dựa vào hiệu quả kinh tế
Đánh giá kinh tế đất là các ước tính thực tế của sự thích nghi về kinh tế ở mỗiđơn vị đất đai theo các chỉ tiêu về kinh tế Các chỉ tiêu này cũng thể hiện mối liênquan tới các đặc tính của đất đai
Trang 15Các chỉ tiêu kinh tế thường dùng trong đánh giá đất là:
+ Tổng giá trị sản phẩm
+ Thu nhập thuần tuý
+ Hiệu quả sử dụng vốn
+ Giá trị ngày công lao động
- Đánh giá đất đai dựa vào hiệu quả xã hội
+ Giá trị sản xuất trên lao động nông lâm (nhân khẩu nông lâm)
+ Tỷ lệ giảm hộ đói nghèo
+ Mức độ giải quyết công ăn việc làm, thu hút lao động
+ Sản phẩm tiêu thụ trên thị trường
+ Đời sống người lao động, cơ sở hạ tầng
- Đánh giá đất đai dựa vào hiệu quả môi trường
+ Tỷ lệ che phủ
+ Mức độ xói mòn
+ Khả năng bảo vệ, cải tạo đất
+ Tỷ lệ diện tích đất trồng được trồng rừng
+ Tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp được giao sử dụng
1.3 Tình hình nghiên cứu đánh giá đất ở nước ngoài
Đánh giá đất đai đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới và trở thành một khâutrọng yếu trong các hoạt động đánh giá tài nguyên hay quy hoạch sử dụng đất Côngtác đánh giá đất đai có vai trò rất lớn trong việc sử dụng tài nguyên đất đai bền vững vàtrở thành công cụ cần thiết cho việc quy hoạch, bố trí sử dụng đất hợp lý Hiện nay,những kết quả và thành tựu về đánh giá đất đai đã được người ta tổng kết trong phạm
vi hoạt động của các tổ chức Liên hợp quốc và coi đó như tàisản trí thức chung củanhân loại Có thể khái quát một số phương pháp đánh giá đất đai trên thế giới như sau:
1.3 1 Đánh giá đất đai theo phân loại định lượng (Soil Taxonomy) của Mỹ
Tại Mỹ công tác phân hạng đất đai nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên đất đãđược quan tâm vào những năm 1950 Mặc dù công tác điều tra phân loại đất củaHoa Kỳ mang tính thực tiễn cao, nhưng việc thể hiện kết quả điều tra lại quá phức
Trang 16tạp do đó khó vận dụng trong thực tế sản xuất Vì vậy, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đãxây dựng một phương pháp đánh giá đất đai mới: "Phân loại tiềm năng đất đai" Cơ
sở đánh giá tiềm năng sử dụng đất dựa vào các yếu tố hạn chế trong sử dụng đấtnhững yếu tố hạn chế này được chia thành 2 nhóm:
- Nhóm các yếu tố hạn chế vĩnh viễn bao gồm những hạn chế không dễ dàngthay đổi và cải tạo được như: độ dốc, độ dày tầng đất, điều kiện khí hậu khắc nghiệt
- Nhóm những yếu tố hạn chế tạm thời có khả năng cải tạo được bằng cácbiện pháp quản lý và chăm sóc như: hàm lượng dinh dưỡng, điều tiết nước
Đất đai được đánh giá theo 3 cấp: Nhóm, nhóm phụ và loại Có 2 phươngpháp đánh giá đất đai được áp dụng rộng rãi ở Mỹ:
- Phương pháp tổng hợp: Phân chia phức hệ lãnh thổ tự nhiên và đánh giáđất đai theo năng suất cây trồng trong nhiều năm (10 năm trở lên) Khi tiến hànhđánh giá đất đai, các nhà khoa học đã tiến hành phân hạng đất đai cho từng loạicây trồng chính
- Phương pháp yếu tố: Bằng cách thống kê yếu tố tự nhiên và kinh tế để sosánh, lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm để làm mốc so sánh với các đất khác
Ở mức tổng quát, Mỹ đã phân hạng đất đai bằng phương pháp quy nhóm đấtphục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp gọi là đánh giá tiềm năng đất Người ta chia đấtđai trong lãnh thổ Mỹ thành 8 nhóm khác nhau: Bốn nhóm đầu là thích hợp cho sảnxuất nông nghiệp và bốn nhóm sau là những nhóm không thích hợp cho sản xuấtnông nghiệp được dùng vào các mục đích sử dụng khác
Phương pháp đánh giá "Phân loại tiềm năng đất đai" của Mỹ tuy không đisâu vào từng loại hình cụ thể đối với sản xuất nông nghiệp và xác định về mặt hiệuquả kinh tế - xã hội, song lại rất quan tâm đến những yếu tố hạn chế bất lợi trong sửdụng đất và việc xác định các biện pháp bảo về đất có tính đến các vấn đề về môitrường là rất có ý nghĩa cho việc tăng cương bảo vệ môi trường sinh thái
1.3 2 Đánh giá đất đai ở Liên Xô (cũ)
Phương pháp đánh giá được hình thành từ đầu những năm 50, sau đó đãđược phát triển và hoàn thiện vào năm 1986 nhằm tiến hành đánh giá và thống kê
Trang 17chất lượng tài nguyên đất đai để phục vụ cho mục đích xây dựng chiến lược quản lý
và sử dụng đất cho các đơn vị hành chính và sản xuất trên lãnh thổ Liên bang XôViết Phương pháp đánh giá đất ở Liên Xô cũ được ứng dụng theo hai hướng làđánh giá đất chung và riêng (theo hiệu suất cây trồng là ngũ cốc và cây họ đậu).Đơn vị đánh giá đất là các chủng, loại đất Quy định đánh giá đất cho cây có tưới,đất được tiêu úng, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ thâm canh và đồng cỏ chănthả Chỉ tiêu đánh giá đất là năng suất, giá thành sản phẩm (rúp/ha), mức hoàn vốn,địa tô cấp sai (phần có lãi thuần tuý)[20]
Nguyên tắc đánh giá mức độ sử dụng đất thích hợp là phân chia khả năng sửdụng đất đai trên toàn lãnh thổ theo các nhóm và các lớp thích hợp
- Nhóm đất thích hợp được phân theo điều kiện vùng sinh thái đất đai tựnhiên trên phạm vi vùng rộng lớn
- Lớp đất thích hợp là những vùng được tách ra theo sự khác biệt về loại hìnhthổ nhưỡng như điều kiện địa hình, mẫu chất, thành phần cơ giới và chế độ nước.Trong cùng một lớp sẽ có sự tương đồng về điều kiện sản xuất, khả năng ứng dụng
kỹ thuật cũng như các biện pháp cải tạo và bảo vệ đất
Việc phân hạng và đánh giá đất đai được thực hiện theo 3 bước:
- Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tínhchất tự nhiên)
- Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai (yếu tố được xem xét kết hợp vớikhí hậu, độ ẩm, địa hình…)
- Đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đất đai)
1.3 3 Đánh giá đất đai ở Anh
Tại Anh đang ứng dụng hai phương pháp đánh giá phân hạng đất đai là dựavào thống kê sức sản xuất tiềm năng của đất và căn cứ vào thống kê sức sản xuấtthực tế của đất
Theo phương pháp thứ nhất, xác định khả năng trồng cây nông nghiệp củađất phụ thuộc vào 3 nhóm nguyên nhân chính sau đây:
Trang 18- Những nguyên nhân hoàn toàn không phụ thuộc vào người sử dụng đất Đó
là các yếu tố tự nhiên như: khí hậu, vị trí địa lý, địa hình, độ dốc, thành phần cơgiới Người sử dụng đất phải lựa chọn phương thức tốt nhất để khai thác đất đai vàhạn chế các ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên
- Những nguyên nhân đòi hỏi các biện pháp đầu tư lớn mới khắc phục đượcnhư các công trình tưới tiêu, thau chua, rửa mặn
- Những nguyên nhân đòi hỏi người sử dụng đất thực hiện các biện phápthông thường hàng năm là có thể khắc phục được như: cải tạo độ chua, cung cấpchất dinh dưỡng cho đất
Theo phương pháp thứ hai, việc đánh giá đất đai căn cứ hoàn toàn vào năngsuất thực tế trên đất được lấy làm tiêu chuẩn, lấy năng suất bình quân nhiều năm ởtrên đất tốt nhất hoặc đất trung bình so sánh với năng suất trên đất tiêu chuẩn
Trên cơ sở các phương pháp đánh giá đó, đất đai của nước Anh được chiathành 5 nhóm:
- Nhóm 1 gồm các loại đất thuận lợi nhiều mặt để sản xuất nông nghiệp,trồng được nhiều loại cây cho năng suất cao
- Nhóm 2 gồm các loại đất có một số yếu tố hạn chế nhưng mức độ ảnhhưởng không lớn lắm, có khả năng thích hợp với nhiều loại cây trồng
- Nhóm 3 gồm các loại đất có chất lượng trung bình, thích hợp với trồng cỏ vàmột số ít cây lương thực, tầng đất mỏng, địa hình không bằng phẳng, khí hậu quá lạnh
- Nhóm 4 gồm các loại đất nghèo dinh dưỡng, canh tác khó khăn, chỉ trồngđược các loại cây ít đòi hỏi đầu tư thâm canh
- Nhóm 5 gồm các loại đất chỉ thích hợp làm đồng cỏ, chăn nuôi, khôngtrồng được cây lương thực
Tóm lại, khi đánh giá đất đai theo phương pháp này còn gặp nhiều khó khăn
vì năng suất của cây trồng phụ thuộc vào loại cây được chọn, điều kiện đất đai vàkhả năng đầu tư của người sử dụng đất[16]
Trang 191.3 4 Đánh giá đất đai ở Canađa
Canađa đánh giá đất đai theo các tính chất tự nhiên của đất và năng suất ngũcốc nhiều năm Trong nhóm cây ngũ cốc lấy cây lúa mì làm tiêu chuẩn và khi cónhiều loại cây thì dùng hệ số quy đổi ra lúa mì Trong đánh giá đất đai các chỉ tiêuthường được lưu ý là thành phần cơ giới, cấu trúc đất, mức độ muối độc trong đất,xói mòn và đá lẫn Phẩm chất đất đai được đánh giá bằng thang điểm 100 theo tiêuchuẩn trồng lúa mì Trên cơ sở đó đất của Canađa được chia thành 7 nhóm:
- Nhóm 1 gồm những loại đất có thể trồng được nhiều loại cây, địa hình bằngphẳng, tầng đất dày, khả năng giữ nước tốt, không bị xói mòn
- Nhóm 2 gồm những loại đất bị xói mòn do điều kiện khí hậu không thuậnlợi, độ thấm nước kém, nghèo dinh dưỡng, có khả năng thích hợp với một số loạicây trồng Khi sử dụng cần đầu tư phân bón, lao động, có biện pháp chống xói mòn,rửa trôi đất
- Nhóm 3 gồm những loại đất có độ dốc lớn (250 - 300), thành phần cơ giớinặng, nghèo dinh dưỡng, những nơi thấp dễ bị ngập úng, tầng đất mỏng, có sỏi đá,
có thể bị nhiễm mặn, chỉ thích hợp cho một số cây trồng
- Nhóm 4 gồm những loại đất thích hợp với rất ít cây trồng, có nhiều trở ngạinhư nhóm 3, khí hậu khắc nghiệt, không có khả năng giữ nước, bị xói mòn mạnh,tầng đất mỏng, có nhiều sỏi đá, cây trồng trên đất này cho năng suất thấp, mặc dùđầu tư chăm bón nhiều[21]
- Nhóm 5 gồm những loại đất ít trồng cây hàng năm mà phải trồng cây lâunăm, nhưng cũng rất cần sự đầu tư chăm sóc và các biện pháp cải tạo đất
- Nhóm 6 gồm những loại đất chỉ dùng vào mục đích chăn thả gia súc, giacầm, nếu trồng cây ngắn ngày cần có sự đầu tư lớn cho khâu làm đất
- Nhóm 7 gồm những loại đất không thể sản xuất nông nghiệp được
1.3 5 Đánh giá đất đai ở Ấn Độ
Tại Ấn Độ, một số bang đã tiến hành đánh giá đất đai, áp dụng các phươngpháp tham biến, biểu thị mối quan hệ giữa các yếu tố dưới dạng các phương trìnhtoán học sau:
Trang 20Y = F(A) F(B) F(C) F(X)Trong đó: Y Biểu thị sức sản xuất của đất.
Dựa theo nguyên tắc trên, đất đai của Ấn Độ được chia thành 6 nhóm:
- Nhóm thượng hảo hạng: đất đạt 80 - 100%, có thể trồng bất kỳ loại cây nàocũng cho năng suất cao
- Nhóm tốt: Đạt 60 - 79%, đất có thể trồng bất kỳ loại cây nào nhưng chonăng suất thấp hơn
- Nhóm trung bình: Đạt 40 - 59%, đất trồng được một số nhóm cây trồngkhông đòi hỏi đầu tư chăm sóc nhiều
- Nhóm nghèo: đạt 20 - 39%, đất chỉ trồng được một số loại cây cỏ
- Nhóm rất nghèo: đạt 10 - 19%, đất chỉ làm đồng cỏ chăn thả gia súc
- Nhóm cuối cùng: Đạt dưới 10%, đất không thể dùng vào sản xuất nôngnghiệp được
Đứng trước tình hình suy thoái đất đang diễn ra mạnh mẽ và ngày một giatăng, ngay từ những năm đầu của thập kỷ 70 nhiều quốc gia thuộc các nước pháttriển đã không ngừng hoàn thiện các hệ thống đánh giá đất của mình, vì đánh giá sửdụng đất thích hợp là cơ sở cần thiết cho quy hoạch sử dụng đất và phát triển sảnxuất nông nghiệp
Trung tâm nghiên cứu phân loại đất quốc tế do UNESCO tài trợ, FAO thựchiện đã xây dựng được bản đồ đất toàn cầu tỷ lệ 1: 5.000.000 Để thống kê quỹ đấttoàn cầu, FAO đã tập hợp trên 300 nhà khoa học thổ nhưỡng hàng đầu thế giới và
Trang 21làm việc trong nhiều năm, đã đưa ra được một bảng phân loại đất và bản đồ đất thế
giới (Soil map of the world, FAO - UNESCO, 1975, 1988, 1990).
Qua những hội thảo quốc tế người ta nhận thức được tầm quan trọng xuấtphát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiến sản xuất đặt ra đó là cần phải có những giảipháp hợp lý trong sử dụng đất nhằm hạn chế và ngăn chặn những tổn thất đối với tàinguyên đất đai
Thấy rõ được tầm quan trọng của công tác đánh giá, phân hạng đất đai là cơ
sở cho việc quy hoạch sử dụng đất, tổ chức FAO đã tập hợp các nhà khoa học đất vàcác chuyên gia đầu ngành về nông nghiệp để tổng hợp các kết quả và kinh nghiệmđánh giá đất đai của các nước và thấy rõ cần phải có những nỗ lực không chỉ đơnphương ở từng quốc gia riêng rẽ, mà phải thống nhất các nguyên tắc và tiêu chuẩnđánh giá đất đai trên phạm vi toàn cầu Kết quả là Uỷ ban Quốc tế nghiên cứu đánhgiá đất đã được thành lập tại Rome (Italia) của tổ chức FAO đã cho ra đời bản dựthảo đánh giá đất lần đầu tiên vào năm 1972 Sau đó đã được Blikman và Smythbiên soạn và cho in ấn chính thức vào năm 1973 Năm 1975, bản dự thảo đã đượccác chuyên gia đánh giá đất hàng đầu của tổ chức FAO tham gia đóng góp, đến năm
1976 "Đề cương đánh giá đất đai - A Framework for Land Evaluation,1976” đã
được biên soạn[25]
Cơ sở của phương pháp đánh giá đất theo FAO là dựa trên phân hạng đất thích
hợp (Land suitability classification) Nền tảng của phương pháp này là so sánh, đối chiếu mức độ thích hợp giữa yêu cầu của các loại hình sử dụng đất (Land Use Type) với chất lượng đất và đặc tính vốn có của đơn vị bản đồ đất (Land Mapping Unit), kết
hợp với việc phân tích các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường liên quan đến sửdụng đất để lựa chọn phương án sử dụng đất tốt nhất
Đánh giá đất theo FAO được ứng dụng rộng rãi để đánh giá khả năng của đấtđai đối với các mục đích sử dụng đất của con người trong sản xuất nông nghiệp,lâm nghiệp, thuỷ lợi, quy hoạch vùng và bảo tồn thiên nhiên
- Đánh giá mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá và phân hạng cho cácloại hình sử dụng đất cụ thể Việc đánh giá đất đai đòi hỏi phải có sự so sánh giữa lợi
Trang 22nhuận thu được và đầu tư cần thiết trên các loại hình sử dụng đất LUT khác nhau(phân bón, lao động, thuốc trừ sâu, chi phí máy móc )
- Yêu cầu phải có quan điểm tổng hợp trong đánh giá đất, nghĩa là phải có sựphối hợp và tham gia đầy đủ của các nhà nông học, lâm nghiệp, kinh tế và xã hộihọc Việc đánh giá đất đai phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội củavùng/ khu vực cần nghiên cứu
- Khả năng thích hợp của các LUT đưa vào sử dụng phải dựa trên cơ sở bềnvững, các nhân tố sinh thái trong sử dụng đất phải được cân nhắc để quyết định.Đánh giá đất tập trung so sánh giữa các sử dụng đất của các LUT khácnhau[28][30]
- Đánh giá mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá và phân hạng cho cácloại hình sử dụng đất cụ thể Việc đánh giá đất đai đòi hỏi phải có sự so sánh giữa lợinhuận thu được và đầu tư cần thiết trên các loại hình sử dụng đất LUT khác nhau(phân bón, lao động, thuốc trừ sâu, chi phí máy móc )
- Yêu cầu phải có quan điểm tổng hợp trong đánh giá đất, nghĩa là phải có sựphối hợp và tham gia đầy đủ của các nhà nông học, lâm nghiệp, kinh tế và xã hộihọc Việc đánh giá đất đai phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội củavùng/ khu vực cần nghiên cứu
- Khả năng thích hợp của các LUT đưa vào sử dụng phải dựa trên cơ sở bềnvững, các nhân tố sinh thái trong sử dụng đất phải được cân nhắc để quyết định.Đánh giá đất tập trung so sánh giữa các sử dụng đất của các LUT khác nhau
Trong tài liệu “Đánh giá đất đai vì sự nghiệp phát triển” của FAO (1986) đã chỉdẫn các bước thực hiện đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất theo hình 1.1
Trang 23Hình 1.1 Sơ đồ các bước chính trong đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất
Cả quy trình đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất gồm 9 bước, trong đóbước 7 là bước chuyển tiếp giữa đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất Cuốicùng là việc áp dụng đánh giá đất để triển khai thực hiện vào sản xuất cho vùngnghiên cứu
- Khái niệm về bản đồ đơn vị đất đai
Theo khái niệm của FAO "Đơn vị bản đồ đất đai (LMU)" là một khoanh/ vạt
đất được xác định cụ thể trên bản đồ đơn vị đất đai với những đặc tính và tính chấtđất đai riêng biệt, thích hợp đồng nhất cho từng loại hình sử dụng đất, có cùng mộtđiều kiện quản lý đất và cùng một khả năng sản xuất và cải tạo đất Mỗi đơn vị đấtđai có chất lượng riêng và nó có khả năng thích hợp với một loại hình sử dụng đấtnhất định (FAO, 1983) Tập hợp các đơn vị bản đồ đất đai trong khu vực/vùng đánhgiá đất được thể hiện bằng bản đồ đơn vị đất đai
Theo đề xuất của FAO, việc xây dựng các LMU phải dựa trên những yếu tốđất đai có ảnh hưởng rõ đến khả năng thích hợp của các LUT
- Các đặc tính của đơn vị bản đồ đất đai
1 Xác định
mục tiêu
2 Thu thập tài liệu
3 Xác định loại hình sử dụng đất
4 Xác định đơn vị đất đai
5 Đánh giá khả năng thích hợp
6 Xác định hiện trạng KT –
XH và môi trường
7 Xác định
LH sử dụng đất thích hợp nhất
8 Quy hoạch sử dụng đất
9 áp dụng
của việc đánh
giá đất
Trang 24+ Các đơn vị đất đai được thể hiện trên bản đồ là những vùng với những đặctính và tính chất đủ để tạo lên sự khác biệt với các đơn vị đất đai khác và đảm bảo
sự thích hợp với các loại hình sử dụng đất khác nhau
+ Các đơn vị đất đai có thể được mô tả theo các đặc tính và tính chất của chúng.Đặc tính là tính chất tương đối đơn giản có thể đo đếm được như lượng mưa bìnhquân hàng năm, thành phần cơ giới khác biệt của đất, chế độ nhiệt, chế độ ẩm, khả năngthoát nước của đất, chế độ cung cấp chất dinh dưỡng cho đất
Phân loại đất thích hợp của FAO dựa trên hệ thống phân vị 4 cấp: Cấp Bộ(Order), hạng (Class), hạng phụ (Subclass) và đơn vị đất thích hợp (Unit)
+ Cấp thích hợp (Land Suitability Order): phản ánh loại thích hợp, nó chỉ ra
đất đai là thích hợp hay không thích hợp với loại hình sử dụng đất được xem xét(trong đó ký hiệu S: thích hợp và N: không thích hợp)
+ Hạng thích hợp (Land Suitability Class): phản ánh các mức độ thích hợp đối
với các LUT, hạng được ký hiệu bằng chữ số với 3 mức sau: S1 (rất thích hợp): cho
thấy các đơn vị đất đai không thể hiện những yếu tố hạn chế hoặc chỉ thể hiện ở mức
độ nhẹ, dễ khắc phục và không làm ảnh hưởng đến năng suất, lợi nhuận thu được ở
loại hình sử dụng đất đánh giá; S2 (thích hợp trung bình): chỉ các đơn vị đất đai có
những hạn chế ở mức độ trung bình đối với loại hình sử dụng đất đánh giá Những
Trang 25hạn chế này sẽ làm giảm sức sản xuất hay lợi nhuận thu được hoặc phải tăng mức đầu
tư để đạt được mức lợi nhuận cần thiết khi sử dụng; S3 (thích hợp thấp): đặc tính đơn
vị đất đai xuất hiện nhiều hoặc một số yếu tố hạn chế nghiêm trọng khó khắc phụcđối với các loại hình sử dụng đất được xác định, lợi nhuận thu được kém và đòi hỏichi phí đầu tư cao Tuy nhiên chưa đến mức phải loại bỏ các loại hình sử dụng đất đó.+ Hạng của cấp không thích hợp được chia ra làm hai loại: N1 (không thích hợphiện tại): đặc tính của đơn vị đất đai không thích hợp với LUT hiện tại vì có các yếu
tố hạn chế nghiêm trọng Tuy nhiên các yếu tố hạn chế đó có thể được khắc phụcbằng biện pháp đầu tư rất lớn hay các giải pháp về khoa học và kỹ thuật áp dụngtrong tương lai để có thể cải tạo được đất đai nhằm nâng hạng thích hợp lên; N2(không thích hợp vĩnh viễn): đặc điểm của đất có những yếu tố hạn chế rất nghiêmtrọng không thể khắc phục được bằng bất cứ biện pháp kỹ thuật hoặc kinh tế nàotrong hiện tại cũng như trong tương lai
+ Hạng phụ (Sub-Class): hạng phụ thích hợp phản ánh các yếu tố đang hạn chếđến khả năng sử dụng đất của vùng nghiên cứu Các yếu tố hạn chế ở hạng phụ chủyếu là các điều kiện tự nhiên và đất đai như: khí hậu (lụt: f, hạn hán: d…), điều kiệnđất đai (địa hình: t, độ dốc: s…), tính chất đất (mặn: s, được tưới: i…) Hạng phụthích hợp thường đi kèm các ký hiệu của yếu tố hạn chế đối với kiểu sử dụng đấtnào đó (ví dụ: S2i, S2t ) Những hạng thuộc cấp không thích hợp N có thể đượcchia ra các hạng phụ tuỳ thuộc vào loại hạn chế chẳng hạn như N1i, N1e
+ Đơn vị thích hợp (Unit):đơn vị đất được phân ra theo các yếu tố hạn chế ởhạng phụ trong sản xuất và đầu tư sản xuất Các yếu tố hạn chế về quản lý kinh tếphụ thuộc vào các nông hộ/ nông trại Để nhận biết các đơn vị thích hợp đất đai,việc quản lý chi tiết có thể được điều tra cụ thể trên đồng ruộngvà cho từng nông
Trang 26- Hệ thống phân loại thích hợp đất đai dựa trên các tính chất đất cùng với cácthuộc tính về khí hậu và các tham số sinh học khác.
- Hệ thống phân loại thích hợp đất đai dựa vào đất, các tham số sinh học cùngvới các yếu tố kinh tế - xã hội
Vào năm 1996, tổng kết về các hệ thống đánh giá trên đây FAO đã có nhận định:
- Hệ thống phân loại dựa chủ yếu vào tính chất đất phù hợp cho việc áp dụngtrong các vùng nghiên cứu nhỏ Chúng chỉ có thể áp dụng đối với vùng rộng lớn khicác điều kiện khí hậu và cảnh quan là tương đối đồng nhất
- Ở những vùng đa dạng về cảnh quan và khí hậu, việc đánh giá đất nếu chỉ dựariêng vào tính chất đất thì không thể đảm bảo mức độ chính xác về mặt phương pháp.Đối với phạm vi những vùng nghiên cứu rộng lớn, đa dạng về cảnh quan như: độ dốc,địa hình, mật độ sông suối, loại đá mẹ và lớp phủ thực vật thì việc tổng hợp các sốliệu đất và khí hậu là cần thiết để giúp cho việc phân loại sử dụng đất chính xác hơn,đặc biệt trong những vùng rộng, có ít diện tích đất nông nghiệp và mật độ dân cư thấp
- Các nhân tố kinh tế - xã hội yêu cầu phải được cân nhắc kỹ trong những vùngsản xuất nông nghiệp đã được hình thành từ lâu và những vùng sản xuất nôngnghiệp có mật độ dân cư đông đúc Phương pháp đánh giá đất đai thích hợp còn liênquan tới các số liệu sinh học cùng các yếu tố xã hội sở hữu đất đai, khả năng laođộng, những quyết định về mặt chính sách, luật pháp, hệ thống giao thông, các cơ
sở chế biến, thị trường và khả năng có sẵn cho việc phát triển tài chính các nhân
tố kinh tế xã hội là những kết quả giúp cho việc đánh giá mang tính thực tiễn hơn
Các phương pháp trên tiêu biểu cho những xu hướng đánh giá đất đai đangđược áp dụng trên thế giới Bên cạnh sự khác nhau về mục đích, phương thức,phương pháp và hệ thống phân vị, các trường phái đánh giá đất đó có một số điểmgiống nhau như sau:
- Xác định đối tượng đánh giá đất đai là toàn bộ tài nguyên đất của vùng lãnhthổ nghiên cứu
Trang 27- Quan niệm đất đai là một thể tự nhiên bao gồm thổ nhưỡng và các yếu tốkhác như địa hình, mẫu chất, khí hậu, thuỷ văn, thảm thực vật, động vật
- Đánh giá đất đai gắn với mục đích sử dụng nông nghiệp theo nghĩa rộng(bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi)
- Trong khi đánh giá đất đai, chú trọng tất cả các thành phần của đất có ảnhhưởng thực tế nhất đối với phẩm chất tự nhiên và khả năng sử dụng chúng trong sảnxuất, biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và môi trường, đồng thời cũng chútrọng tới các yếu tố vật lý khó khắc phục
- Hệ thống phân vị khép kín cho phép đánh giá từ khái quát đến chi tiết, trênqui mô lãnh thổ quốc gia, vùng, các đơn vị hành chính và cơ sở sản xuất
1.4 Nghiên cứu về đánh giá đất ở Việt Nam
Nghiên cứu về đánh giá đất đai ở Việt Nam mới thực sự được bắt đầu ởnhững năm đầu của thập kỷ 70, Bùi Quang Toản cùng nhiều nhà khoa học của ViệnNông hoá - Thổ nhưỡng như: Vũ Cao Thái, Nguyễn Văn Thân, Đinh Văn Tỉnh …
đã nghiên cứu và thực hiện công tác đánh giá, phân hạng đất đai ở 23 huyện, 286hợp tác xã và 9 vùng chuyên canh Kết quả nghiên cứu bước đầu đã thiết thực phục
vụ cho công tác tổ chức lại sản xuất và xây dựng cấp huyện Từ kết quả nghiên cứu
và kiểm nghiệm trên thực tiễn, Bùi Quang Toản đã đề ra quy trình kỹ thuật phânhạng đất đai áp dụng cho hợp tác xã và các vùng chuyên canh
Khái niệm đánh giá, phân hạng đất đai đã có từ lâu Trong thời kỳ phongkiến thực dân, để thu thuế đất đã có sự phân chia "Tứ hạng điền, lục hạng thổ".Công tác đánh giá, phân hạng đất đai được nhiều cơ quan khoa học nghiên cứu vàthực hiện như: Viện Nông hoá - Thổ nhưỡng, Viện Quy hoạch và Thiết kế nôngnghiệp, Tổng cục địa chính (nay là Bộ tài nguyên & Môi trường), các trường đạihọc nông nghiệp và các tỉnh, thành [3]
- Đặc biệt, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp trong nhiều năm qua đãthực hiện nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về đánh giá, phân hạng đất đai Côngtác được triển khai rộng rãi trên toàn quốc, từ phân hạng tổng quan toàn quốcđếncác tỉnh thành và các địa phương với nhiều đối tượng cây trồng, nhiều vùng chuyên
Trang 28canh và các dựa án đầu tư cả của trong nước và nước ngoài Đánh giá phân hạng đấtđai đã trở thành quy định bắt buộc trong công tác quy hoạch đất đai của Viện Bộnông nghiệp và phát triển nông thôn đã ban hành tiêu chuẩn ngành 10 TCN 343-98
về Quy trình đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp, quy trình được xây dựng dựatrên cơ sở vận dụng nội dung, phương pháp đánh giá đất của FAO theo điều kiện vàtiêu chuẩn cụ thể của Việt Nam[4]
- Để thực hiện chỉ thị 299 – TTg về phân hạng đất trồng lúa, năm 1991 Tổngcục Quản lý ruộng đất (nay là Bộ tài nguyên & Môi trường) đã ban hành quy trìnhphân hạng đất trồng lúa áp dụng cho cấp huyện và hợp tác xã Quy trình đã đề ra 5nguyên tắc cơ bản và 4 bước tiến hành cụ thể Công tác đã được triển khai rộng rãi
ở các vùng đồng bằng Đây là tài liệu mang tính khoa học gắn liền với thực tiễn
Phương pháp đánh giá sử dụng đất thích hợp của FAO bắt đầu được nghiêncứu ứng dụng ở Việt Nam vào những năm cuối của thập kỷ 80 Bước đầu vận dụngthử nghiệm phương pháp đánh giá đất của FAO ở nước ta đã thu được kết quả nhấtđịnh Sau đó phương pháp đánh giá đất của FAO dần được hoàn thiện, lần lượtđược nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên phạm vi đánh giá khác nhau:
* Đánh giá đất theo FAO trên phạm vi toàn quốc
- Trong chương trình quy hoạch tổng thể (Master Plan) vùng đồng bằng sôngCửu Long và sông Hồng đã áp dụng phương pháp phân hạng đất của FAO nhằmxác định khả năng thích nghi của đất đai đối với các loại hình sử dụng đất phổ biến.Phương pháp này không những đánh giá toàn diện điều kiện tự nhiên mà còn xemxét đất đai ở khía cạnh kinh tế – xã hội
- Dự thảo Nghị định của Chính phủ về phân hạng đất tính thuế – 1993 với sựtham gia của các cơ quan chức năng và nhiều nhà khoa học đã đề ra chỉ tiêu và tiêuchuẩn phân hạng đất trồng lúa, cây trồng cạn ngắn ngày, nuôi trồng thuỷ sản, trồngcây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả… Căn cứ để xác định hạng đất gồm 5 yếu tố:chất đất, vị trí địa hình, điều kiện khí hậu thời tiết, điều kiện tưới tiêu Kết quả nghiêncứu về đánh giá, phân hạng đánh giá đất đai ở Việt Nam này mới chỉ áp dụng đối vớilĩnh vực sản xuất nông nghiệp
Trang 29- Ở Đồng bằng sông Cửu Long, một số nghiên cứu chuyên đề (Casestudy) ởkhu vực nhỏ đã bước đầu ứng dụng phương pháp đánh giá đất đai định lượng củaFAO (Lê Quang Trí, 1989; Trần Kim Tính, 1986).
Trong khuôn khổ “Chương trình quy hoạch tổng thể Đồng bằng sông CửuLong” (Mekong Delta Master Plan – VIE 87/031), một nghiên cứu nhằm khái quáthoá khả năng sử dụng đất toàn vùng đồng bằng đã được thực hiện (M.E.F VanMansvoost, Nguyễn Văn Nhân, 1993) làm cơ sở cho việc xây dựng các phương án sửdụng đất toàn vùng Tuy nhiên, kết quả đánh giá đất chỉ dừng lại ,ở việc xem xét cácđiều kiện tự nhiên liên quan đến mục tiêu sử dụng đất Bên cạnh đó, một nghiên cứu
về chuyên đề sử dụng đất phèn và mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long trong khuôn khổ
dự án nói trên (VIE 87/031) đã ứng dụng phương pháp đánh giá đất đai định lượngcủa FAO (1983), nhằm chỉ ra các khả năng thích nghi về sử dụng đất của các loại đất
có vấn đề ở Đồng bằng sông Cửu Long Đây là những thử nghiệm đầu tiên ở ViệtNam, bước đầu ứng dụng các phương pháp đánh giá đất đai định lượng gắn với yếu
tố kinh tế của sử dụng đất, qua đó đánh giá khả năng đất đai không những ở phạm trùkinh tự nhiên mà còn xem xét đất đai ở khía cạnh kinh tế – xã hội
Những năm gần đây, công tác đánh giá đất đai ở nước ta đã và đang đượcnghiên cứu và triển khai nhằm phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất theo hướngchuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển nông nghiệp bền vững Các chương trìnhnghiên cứu về đánh giá đất đã được triển khai rộng trên phạm vi toàn quốc vớinhiều đối tượng cây trồng và vùng đất chuyên canh khác nhau Các nhà khoa họcđất của các cơ quan nghiên cứu và đào tạo về đất đai của Việt Nam đã phối hợp vớinhau, đồng thời mở rộng mối quan hệ hợp tác với các tổ chức và nhà khoa họcQuốc tế để nhanh chóng tiếp thu chương trình đánh giá phân hạng đất của FAO, vậndụng có kết quả do tình hình của Việt Nam Những kết quả ban đầu của chươngtrình ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật trong đánh giá đất của FAO vào các vùngsinh thái nông nghiệp khác nhau của Việt Nam, đặc biệt đã vận dụng thành công vềcác bước đi trong đánh giá đất và vận dụng các chỉ tiêu phân cấp cụ thể cho vùng đãđược ghi nhận khả quan Điển hình,năm 1993 Viện Quy hoạch và Thiết kế nông
Trang 30nghiệp đã chỉ đạo thực hiện công tác đánh giá đất trên cả 9 vùng sinh thái của cảnước với bản đồ tỷ lệ 1/250.000 Bước đầu đã xác định được tiềm năng đất đai củacác vùng và khẳng định việc vận dụng nội dung, phương pháp đánh giá đất củaFAO theo tiêu chuẩn và điều kiện cụ thể của Việt Nam là phù hợp trong hoàn cảnhhiện nay và đã kịp thời tổng kết và vận dụng các kết quả này vào chương trình đánhgiá và đề xuất sử dụng tài nguyên đất phát triển nông nghiệp bền vững thời kỳ 1996
- 2000 và 2010 hoàn thành năm 1995 [18]
* Đánh giá đất thích hợp theo FAO trên phạm vi vùng sinh thái và các tỉnh
Vùng Tây Nguyên: Năm 1989 Vũ Cao Thái [11] đã lần đầu tiên thử nghiệmđánh giá sử dụng đất thích hợp cho một số loại cây trồng như cà phê, cao su, chè, dâutằm Tây Nguyên, trên cơ sở vận dụng phương pháp phân hạng thích hợp của FAO đểđánh giá định tính và đánh giá khái quát tiềm năng đất Kết quả nghiên cứu tác giả đãđưa ra những tiêu chuẩn đánh giá phân hạng đất cho từng loại cây trồng Tuy nhiên cácchỉ tiêu chỉ thiên về yếu tố thổ nhưỡng mà chưa đề cập đến yếu tố sinh thái và xã hội
Các nghiên cứu của Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng, Nguyễn Văn Tân, ĐỗĐình Đài, Nguyễn Văn Tuyên (1995) đã xác định Tây Nguyên có 3 vùng, 18 tiểuvùng, 54 đơn vị sinh thái nông nghiệp và 195 đơn vị đất đai Trên bản đồ hiện trạng
sử dụng đất tỷ lệ 1/250.000 cho thấy Tây Nguyên có 5 hệ thống sử dụng đất chính và
29 loại sử dụng đất hiện tại Tiến hành phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, hiệu quảmôi trường, mối quan hệ của các loại hình sử dụng đất với tiềm năng phát triển nôngnghiệp của vùng và mục tiêu của cả nước đã xác định được các loại sử dụng đất sauđây thỏa mãn yêu cầu, đó là: lúa nước 2 vụ có tưới, hoa màu và cây công nghiệp ngắnngày, điều, cà phê, tiêu, chè, cao su và dâu tằm
Vùng đồng bằng Sông Hồng: Nguyễn Công Pho (1995) [10, 11]đã tiến hành
“Đánh giá đất vùng đồng bằng sông Hồng trên quan điểm sinh thái và phát triển lâubền” theo phương pháp đánh giá đất của FAO (bản đồ tỷ lệ 1/250.000) đã xây dựnghướng sử dụng đất trên quan điểm sinh thái lâu bền, phục vụ cho công tác quyhoạch tổng thể của vùng Kết quả đánh giá đất đã xác định: Đồng bằng Sông Hồng
có 33 đơn vị đất đai (trong đó có 22 đơn vị đất thuộc đồng bằng, 11 đơn vị đất đai
Trang 31thuộc đồi núi) Loại hình sử dụng đất rất đa dạng với 3 vụ sản xuất chính là vụxuân, vụ mùa và vụ đông Cây trồng bao gồm cây lúa nước, cây trồng cạn ngắnngày, cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm, tổng cộng có 28 loại hình sử dụng đất.Kết quả phân hạng đất thích hợp hiện tại và tương lai dựa trên cơ sở đầu tư thủy lợicho thấy tiềm năng đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp ở vùng đồng bằng Sông Hồng
là rất lớn Về hiệu quả kinh tế, nếu chỉ chuyên canh lúa thì cho mức thu nhập thấp,luân canh lúa với cây trồng cạn ngắn ngày thì cho thu nhập cao hơn
Năm 1995, Lê Hồng Sơn ứng dụng đánh giá đất vào đa dạng hoá cây trồngvùng đồng bằng sông Hồng, dựa trên cơ sở đánh giá, tác giả đã xác định và đề xuấtcác hệ thống cây trồng trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền 100.000 ha đấtbãi ven sông vùng đồng bằng sông Hồng
Vùng đồi núi phía Bắc: Lê Duy Thước (1992), Lê Văn Khoa (1993), Lê TháiBạt (1995)[1, 11, 21], khi nghiên cứu đánh giá đất vùng núi phía Bắc đã có nhữngnhận định tổng quát về quỹ đất của vùng Nét nổi bật là sự hình thành quỹ đất theođai cao gồm 6 nhóm và 24 loại đất với đặc điểm phát sinh và sử dụng đa dạng Cácnhóm đất chính đươc nghiên cứu là đất đỏ vàng và đất mùn vàng đỏ trên núi đềusuy giảm về độ phì Trong vùng có 4 loại hình sử dụng đất chính (đất ruộng lúa, đấtchuyên màu và cây công nghiệp ngắn ngày, đất trồng cây lâu năm và đất rừng) Kếtquả đánh giá đất thích hợp cho thấy đất thích hợp cao chiếm 0,4%, đất thích hợptrung bình 17,2%, đất thích hợp thấp 33,0%, và không thích hợp 49,4% Việc tổchức sử dụng đất hợp lý trong nông nghiệp cần đặt ra theo hướng bố trí cây trồng,vật nuôi phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái, loại hình và hệ thống sử dụng đấtđược chọn phù hợp với mức độ thích hợp theo tiêu chuẩn sử dụng đất bền vững
Nguyễn Đình Bồng (1995)[2] cũng đã vận dụng phương pháp đánh giá đấtcủa FAO để đánh giá tiềm năng sản xuất nông, lâm nghiệp cho đất trống đồi núitrọc ở Tuyên Quang (bản đồ tỷ lệ 1/250.000) với tổng diện tích 3,9 triệu ha Kết quảđánh giá đã xác định 123 đơn vị bản đồ đất đai, 25 loại hình sử dụng đất chính(trong đó có 21 loại hình sử dụng đất nông nghiệp, 3 loại hình sử dụng đất lâmnghiệp và một loại hình thủy sản) Tác giả phân lập được 57 hệ thống sử dụng đất
Trang 32trên 6 tiểu vùng đại diện chính và lựa chọn được 12 loại hình sử dụng có triển vọngtrong vùng.
Các kết quả nghiên cứu đánh giá đất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long [13, 14,16] đã khẳng định: trong việc sử dụng đất ở đồng bằng sông Cửu Long tài nguyên đất vànước là hai yếu tố chủ yếu khống chế khả năng sử dụng đất
Vùng Đông Nam Bộ: Các công trình nghiên cứu của Phạm Quang Khánh,Trần An Phong, Vũ Cao Thái (1994)[10] về đánh giá đất thích hợp đã chia vùngnghiên cứu thành 54 đơn vị đất đai (bản đồ tỷ lệ 1/250.000) với 602 khoanh, có 7loại hình sử dụng đất chính, 49 loại hình sử dụng đất chi tiết, 94 hệ thống sử dụngđất nông nghiệp, trong đó có 50 hệ thống sử dụng đất được chọn Ngoài ra, đánh giáđất thích hợp theo FAO còn được áp dụng ở phạm vi của một số tỉnh phía Nam nhưbình Định, Kon Tum… với mục đích xác định các hệ thống sử dụng đất, qua đó đềxuất các giải pháp sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả đồng thời duy trì bảo vệ môitrường
* Đánh giá đất thích hợp theo FAO trong phạm vi vùng chuyên canh hẹp
- Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng (1995) [9] “Kết quả bước đầu đánh giátài nguyên đất đai Việt Nam”với nghiên cứu: “Đánh giá đất đai vùng dự án đa mụctiêu EaSoup, DakLak” đã thông qua cải tạo thủy lợi để phân hạng sử dụng thích hợphiện tại và tương lai cho hơn 8.000 ha đất lúa nước, có ý nghĩa hết sức to lớn trongviệc đảm bảo an ninh lương thực cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện EaSoup
và huyện Buôn Đôn (DakLak)
- Nghiên cứu đánh giá đất đai phục vụ định hướng quy hoạch nâng cao hiệuquả sử dụng đất nông nghiệp huyện Giao Lâm vùng đồng bằng sông Hồng” (Vũ ThịBình, 1995)[19] là một trong những ứng dụng đầu tiên về phương pháp đánh giá đấtcủa FAO cho đánh giá chi tiết ở phạm vi cấp huyện nhằm mục đích phục vụ choquy hoạch sử dụng đất nông nghiệp Kết quả đánh giá đất thích hợp được sử dụnglàm cơ sở để xây dựng quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và đa dạnghóa sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm
Trang 33- Đỗ Nguyên Hải (2000)[7] với đề tài: “Đánh giá đất và hướng sử dụng đấtbền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh” đã xác địnhđất canh tác huyện Tiên Sơn được phân chia ra thành 25 đơn vị đất đai (bản đồ tỷ lệ1/25.000), có 5 nhóm đất khác nhau và 8 đơn vị phụ (trong đó có 7 đơn vị phụ được
sử dụng vào mục đích nông nghiệp) Kết quả đánh giá sử dụng đất thích hợp hiệntại và tương lai đã cho thấy bằng biện pháp cải tạo thủy lợi và cải thiện độ phì đất
có thể làm thay đổi mức độ thích hợp của các LUT Những đề xuất sử dụng đấtthích hợp có thể khai thác một cách có hiệu quả thế mạnh tiềm năng đất đai và duytrì khả năng sử dụng đất bền vững cho huyện Tiên Sơn
- Nghiên cứu “Đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch sử dụng đất nông lâmnghiệp huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” của Đoàn Công Quỳ (2000)[18] đã đánhgiá trên diện tích đất 48.801,20 ha gồm 680 khoanh được chia thành 52 đơn vị đấtđai và 9 loại hình sử dụng đất chính Kết quả nghiên cứu đã khẳng định: Để pháttriển nông lâm nghiệp theo quan điểm sinh thái bền vững, trong tương lai huyện Đại
Từ cần tổ chức khai thác tiềm năng đất đai theo phương thức đa dạng hóa sản phẩm,tăng cường sản xuất sản phẩm hàng hóa, đặc biệt là cây chè, đồng thời đẩy mạnhcông tác trồng rừng phủ xanh đất chống xói mòn, cải thiện môi trường sinh thái
- Ngô Thị Hồng Gấm (2010)[6] với đề tài: “Đánh giá khả năng thích hợp củacác loại hình sử dụng đất phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện Võ Nhai, tỉnhThái Nguyên” đã xây dựng được bản đồ đơn vị đất đai huyện Võ Nhai tỉnh TháiNguyên đã xác định được 34 đơn vị đất đai gồm 993 khoanh đất Trung bình mỗiđơn vị đất đai bao gồm 229,50 ha Khoanh đất đai có diện tích lớn nhất là 1121,68
ha, khoanh có diện tích nhỏ nhất là 12,14 ha Đưa ra được những kiểu sử dụng đất
có hiệu của nhất cho địa bàn huyện
- Trần Thị Thu Hiền (2012)[8] với đề tài: “Nghiên cứu xây dựng bản đồ đơn
vị đất đai phục vụ cho đánh giá đất sản xuất nông nghiệp huyện Đồng Hỷ - tỉnhThái Nguyên” đã xây dựng được bản đồ đơn vị đất đai của huyện Đồng Hỷ - tỉnhThái Nguyên, mô tả các LUM trên toàn huyện, đồng thời đưa ra hướng cải tạo cácLUM trên địa bàn huyện
Trang 34Những nghiên cứu đánh giá đất theo FAO ở tầm vĩ mô của nhiều tác giả
đã có những đóng góp rất lớn trong việc hoàn thiện quy trình đánh giá đất đai ởViệt Nam làm cơ sở cho những định hướng chiến lược về quy hoạch sử dụng đấttoàn quốc và các vùng sinh thái Tuy vậy các nông hộ là những đơn vị sản xuấtđộc lập và sản xuất nông nghiệp đang phát triển theo cơ chế thị trường, do đó đểđịnh hướng cho việc quản lý và sử dụng đất đai đòi hỏi đánh giá đất còn phảitiếp cận ở phạm vi vùng chuyên canh hẹp và phạm vi cấp xã là những địa bàngần gũi với thực tiễn sản xuất nông nghiệp ở nước ta Với những kinh nghiệm cótrong đánh giá đất từ các vùng nghiên cứu cụ thể, chúng ta có thể đúc rút ranhững lý luận cơ bản của công tác đánh giá đất theo FAO và áp dụng sáng tạotrong điều kiện thực tiễn Việt Nam
1.5 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
1.5.1 Quy trình xây d ựng bản đồ đơn vị đất đai
Bản đồ đơn vị đất đai là kết quả của việc chồng xếp các bản đồ đơn tính Bản đồđơn vị đất đai của xã Linh Sơn được xây dựng từ việc chồng xếp của 6 loại bản đồ đơntính là: bản đồ phân loại đất, bản đồ địa hình, bản đồ độ phì, bản đồ độ dày tầng đất, bản
đồ thành phần cơ giới, bản đồ chế độ tưới Và bản đồ đơn vị đất đai ở đây thể hiện diệntích đất trồng cây hàng năm và diện tích đất có tiềm năng để phát triển các cây trồnghàng năm
Để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai, chúng tôi sử dụng công nghệ GIS theo qui trình ở hình
Trang 35Hình 1.3 Qui trình GIS trong xây d ựng bản đồ đơn vị đất đai
2 Merge themes together
3 Clip one theme based
on another
4 Intersection two theme
5.Union two theme
6 Assign data by location
4 Mô tả đơn vị bản đồ đất đai
B ản đồ đơn vị
đất đai
Bản đồ chồng xếp tổng hợp
Dữ liệu không gian
1 Lựa chọn chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị
đất đai
Các phương pháp chồng xếp bản đồ trong Arcgis
Trang 36* Quy trình chồng ghép bản đồ
Quá trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai và đánh giá đất được thực hiện bởi
kỹ thuật GIS Chúng tôi sử dụng chức năng phân tích, xử lý, kỹ thuật chồng ghépbản đồ kết hợp với chỉnh lý bổ sung
Các đơn vị bản đồ đất đai được xác định theo phương pháp chồng ghép nhiềuloại bản đồ thể hiện các đặc tính và tính chất khác nhau của đất gọi là các bản đồđơn tính Các đơn vị bản đồ đất được xác định thông qua việc chồng ghép các bản
đồ đơn tính đó Các bản đồ đơn tính được sử dụng ở đây là bản đồ thổ nhưỡng, bản
đồ địa hình, bản đồ độ phì, bản đồ thành phần cơ giới, bản đồ độ dầy tầng đất, bản
đồ chế độ tưới, bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Việc lựa chọn các chỉ tiêu và phân cấp cho bản đồ đơn vị đất đai phục vụ chođánh giá đất và quy hoạch phát triển nông nghiệp là rất quan trọng Nó yêu cầuphản ánh được ở mức cao nhất các yếu tố liên quan đến chất lượng đất đai (đặc tính
và tính chất) nhằm trả lời các đòi hỏi về yêu cầu của các LUT trên cơ sở dựa vàocác dữ liệu về đất đai trong hệ thống sử dụng đất của vùng nghiên cứu
Cơ sở lựa chọn các chỉ tiêu và phân cấp tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu vàphạm vi sử dụng của chương trình đánh giá đất đai, song phải đảm bảo được cácnguyên tắc chung trong xác định các LMU mà FAO đã đề ra
Theo chỉ dẫn của FAO, để đánh giá các đặc tính đất đai ở phạm vi vùng códiện tích không lớn lắm và có các đặc điểm khí hậu tương đồng thì có thể đi sâu lựachọn các yếu tố thổ nhưỡng như: tính chất của đất (loại đất, các tính chất vật lý, hoáhọc của đất), các đặc tính về địa hình (độ dốc, dáng đất, địa hình tương đối, độ cao),các tính chất về nước (tình hình tưới, tiêu, úng ngập), tính chất phân bố của thực vật
và động vật Các yếu tố trên có ý nghĩa ảnh hưởng quyết định đến sức sản xuất vàkhả năng sử dụng đất Trong đó có những yếu tố ảnh hưởng rất mạnh (yếu tố trội)
và cũng có những yếu tố ảnh hưởng yếu (yếu tố thường) tới khả năng và hiệu quả
sử dụng đất đai Nếu sử dụng được nhiều yếu tố để xác định các đơn vị đất đai thì
Trang 37kết quả cho ra các LMU có khả năng chính xác cao hơn và sẽ có nhiều đơn vị bản
đồ đất đai Để xác định các chỉ tiêu phân cấp trong xây dựng bản đồ đơn vị đất đaichúng tôi dựa vào các căn cứ sau:
- Căn cứ vào điều kiện tự nhiên, đặc điểm, tính chất đất và những nguồn dữliệu có khả năng khai thác được
- Căn cứ vào yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất trong vùngnghiên cứu đối chiếu với những nguồn tư liệu có thể thu thập về thổ nhưỡng, hiệntrạng sử dụng đất, điều kiện thuỷ lợi, kết hợp với điều tra khảo sát ngoài thực địa đểxem xét, cân nhắc về các yếu tố có thể lựa chọn cho việc xác định LMU cho xãLinh Sơn
Trên cơ sở các dữ liệu có được của bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ địa hình, bản
đồ thuỷ lợi và bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỷ lệ 1/25.000 chúng tôi lựa chọn cácchỉ tiêu phân cấp sau: Loại đất, địa hình, độ phì, thành phần cơ giới, chế độ tưới, độdày tầng đất Sở dĩ chúng tôi chọn các chỉ tiêu trên cho vùng nghiên cứu là xuấtphát từ những lý do sau đây:
- Loại đất có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng và phát triển củacây trồng Do các loại đất được hình thành từ nhiều loại đá mẹ khác nhau nên đất
có độ dày và các tính chất ảnh hưởng khác nhau đến khả năng đến khả năng sảnxuất nông nghiệp và thâm canh trong vùng Mỗi loại cây trồng chỉ thích hợp vớimột số loại đất nhất định
- Địa hình là yếu tố chi phối mạnh đến quá trình hình thành đất, trên các loạiđịa hình khác nhau hình thành các loại đất khác nhau Địa hình có ảnh hưởng đếncác tính chất của đất như: tiểu khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ), chế độ nước, chế
Trang 38Bản đồ đơn vị đất đai là kết quả của việc chồng xếp các bản đồ đơn tính Bản
đồ đơn vị đất đai của xã Linh Sơn được xây dựng từ việc chồng xếp 6 bản đồ đơntính là: Bản đồ phân loại đất, bản đồ địa hình, bản đồ thành phần cơ giới, bản đồ độdầy tầng đất, bản đồ chế độ tưới, bản đồ độ phì
Tổng hợp chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai của Xã Linh Sơnđược thể hiện ở bảng 1.1:
Bảng 1.1 Các chỉ tiêu phân cấp của bản đồ đơn vị đất đai
Loại đất (G) Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ
Đất nâu vàng trên phù sa cổĐất vàng nhạt trên đá cátĐất đỏ vàng trên đá macma axitĐất phù sa được bồi chuaĐất phù sa không được bồi chuaĐất phù sa ngòi suối
G1G2G3G4G5G6G7
1234567Địa hình (E) Địa hình cao
Địa hình vànĐịa hình thấp
E1E2E3
123Thành phần cơ
giới (T)
Đất thịt nhẹ (20-30%)Đất thịt trung bình (30-40%)
T1T1
12
123Chế độ tưới (I) Chủđộng
Bán chủ độngKhông chủ động
I1I2I3
123
Độ phì (P) Độ phì thấp
Độ phì trung bình
Độ phì cao
P1P2P3
123
Trang 39Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài chỉ tập trung đánh giá các loại hình
sử dụng đất trồng cây hàng năm trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Linh Sơn,huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên
- Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được tiến hành tại xã Linh Sơn, huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của xã
Điều tra, thu thập về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của xã có liên quanđến sử dụng đất nói chung và ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp nói riêng
- Điều kiện tự nhiên:
+ Vị trí địa lý+ Địa hình+ Đặc điểm khí hậu+ Điều kiện thuỷ văn, thuỷ lợi+ Điều kiện thổ nhưỡng+ Thảm thực vật
- Điều kiện kinh tế - xã hội
+ Dân số và lao động+ Hiện trạng sử dụng đất+ Tình hình phát triển các ngành kinh tế: ngành nông nghiệp, tiểu thủcông nghiệp và dịch vụ
+ Cơ sở hạ tầng: về văn hoá, giáo dục, y tế, về giao thông (đường sắt,đường bộ, đường thuỷ), về mạng lưới điện
- Điều tra, xác định đặc tính và tính chất của các loại đất trồng cây nôngnghiệp hàng năm
Trang 40- Xây dựng các bản đồ đơn tính
- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
- Mô tả các đơn vị đất đai
2.2.3 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
Xác định tiềm năng và những yếu tố hạn chế trong sử dụng đất sản xuất nôngnghiệp của xã thông qua yêu cầu sử dụng đất của các LUT
- Xác định các loại hình sử dụng đất phổ biến của xã
- Các hệ thống sử dụng đất của xã
- Xác định các yêu cầu sử dụng đất
2.2.4 Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất
Trên các phương diện:
- Hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả xã hội
- Hiệu quả bảo vệ và cải thiện môi trường đất đai
2.2.5 Đề xuất những loại hình sử dụng đất có triển vọng
Đề xuất những loại hình sử dụng đất có triển vọng để phân hạng thích hợp đấtđai phục vụ sản xuất nông nghiệp của xã Linh Sơn
- Đánh giá phân hạng thích hợp đất đai
+ Phân hạng thích hợp hiện tại
+ Phân hạng thích hợp tương lai
- Giải pháp thực hiện
- Kết quả phân hạng thích hợp đất đai tương lai
- Đề xuất sử dụng đất trong tương lai
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp
- Các số liệu về điều kiện đất đai (đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, tình hình sửdụng đất đai…), điều kiện kinh tế - xã hội) (tình hình phát triển kinh tế, hạ tầng cơ
sở phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, dân số và lao động, tập quán canh tác, định