1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp

159 328 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 866,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân loại trong bảo hiểm thương mại: bảo hiểm Bảo hiểm phi nhân thọ và bảo hiểm nhân thọ - hai lĩnh vực hoạt động kinh doanh bảo hiểmHoạt động bảo hiểm được ghi nhận với tư cách là một h

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xu thế mở cửa hội nhập với kinh tế khu vực và quốc tế tạo ranhững thuận lợi cũng như khó khăn, thách thức đối với phát triểnkinh tế Chính phủ chủ trương phát triển các loại hình doanh nghiệpkinh doanh bảo hiểm theo hướng đa dạng hình thức sở hữu nhằm thuhút nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm Chủ trươngnày đã tạo ra những cơ hội mới cho các doanh nghiệp kinh doanhbảo hiểm hiện nay Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nôngnghiệp (ABIC) ra đời và phát triển trong hoàn cảnh đó có nhiềuthuận lợi nhưng đồng thời sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn.Vấn đề cấp bách đặt ra cho Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàngNông nghiệp là làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh trongđiều kiện thị trường có sự tham gia của các công ty bảo hiểm nướcngoài và các công ty bảo hiểm đa quốc gia Một trong các giải pháp

đó chính là nâng cao quả kinh doanh, thúc đẩy phát triển thị trường

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, là một chỉ tiêuchất lượng tổng hợp Đánh giá hiệu quả kinh doanh chính là quátrình so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu về với mục đích đóđược đặt ra và dựa trên cơ sở giải quyết các vấn đề cơ bản của nền

Trang 2

kinh tế như kinh doanh sản phẩm gì, kinh doanh như thế nào… Do

đó việc nghiên cứu và xem xét vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh

là một đòi hỏi tất yếu đối với mỗi doanh nghiệp trong quá trỡnh kinhdoanh hiện nay Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đang là một bàitoán khó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp đều phải quan tâm đến, đây làmột vấn đề có ý nghĩa quan trọng quyết định đến sự tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có độ nhạybén, linh hoạt cao trong qúa trình kinh doanh của mình Là cán bộđang công tác tại ABIC, nhận thức được vấn đề nêu trên tôi đã chọn

đề tài: “Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp”.

2 Mục đích nghiên cứu của Luận văn

- Khái quát được những vấn đề lý luận liên quan đến bảo hiểm

và hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ

- Làm rõ thực trạng hiệu quả kinh doanh tại Công ty cổ phầnBảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp

- Trên cơ sở hệ thống hoá phân tích lý luận và nghiên cứu khảosát thực tế, Luận văn sẽ đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinhdoanh tại Công ty cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn

Trang 3

- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn vềhiệu quả kinh doanh trong bảo hiểm phi nhân thọ.

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề trêntại ABIC thời gian khảo sát nghiên cứu từ năm 2007 đến năm 2009

và định hướng cho thời gian tới

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kếthợp với duy vật lịch sử, đồng thời áp dụng biện pháp phân tích sosánh trong quá trình nghiên cứu phân tích để đạt được kết quả tốtnhất

5 Những đóng góp khoa học của đề tài.

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về kinh doanh bảo hiểm,thị trường bảo hiểm, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảohiểm phi nhân thọ

- Qua nghiên cứu rút đánh giá được thực trạng hoạt động kinhdoanh, khả năng cạnh tranh của Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngânhàng nông nghiệp nhằm phát hiện những điểm yếu và nguyên nhântồn tại

Trang 4

- Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm tăng hiệu quả kinhdoanh bảo hiểm của Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng nôngnghiệp.

6 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,Luận văn được trình bày trong ba chương:

- Chương 1: Tổng quan về bảo hiểm phi nhân thọ và hiệu quả

kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ

- Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh bảo hiểm tại

Công ty Cổ phần bảo hiểm ngân hàng Nông nghiệp

- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công

ty cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp

Trang 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ

VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH BẢO HIỂM

1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ

1.1.1 Khái niệm, vai trò và các loại hình Bảo hiểm phi nhân thọ

1.1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm

Bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xưa trong lịch sử văn minhnhân loại Tuy nhiên, bảo hiểm thực sự xuất hiện từ khi nào thìngười ta vẫn chưa có được câu trả lời chính xác Ý tưởng về bảohiểm được coi là đã xuất hiện từ khá lâu, khi mà người xưa đã nhận

ra lợi ích của việc xây dựng một kho thóc lúa dự trữ chung phòngkhi mất mùa, chiến tranh Vì vậy, ngay từ xa xưa, con người đã có

ý thức về những bất trắc có thể xảy đến với mình, và tìm cách phòngtránh chúng

Để có một khái niệm chung nhất về bảo hiểm, chúng ta có thểđưa ra định nghĩa: “Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường củangười bảo hiểm với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mấtmát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã thoả thuận gây ra, vớiđiều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng bảohiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm”

Sự khác nhau trong các quan niệm xuất phát từ việc nhìn nhận

BH ở các góc độ và cách thức tiếp cận khác nhau BH là một lĩnhvực rộng và phức tạp hàm chứa yếu tố kinh doanh, pháp lý và kỹ

Trang 6

thuật nghiệp vụ đặc trưng nên rất khó tìm được một định nghĩa hoànhào thể hiện được tất cả những khía cạnh đó Điều có thể chấp nhậnđược là xây dựng một khái niệm từ góc độ và cách thức tiếp cận hữuích cho mục đích nghiên cứu Theo cách hiểu chung nhất, BH là mộtphương thức chuyển giao, phân tán rủi ro trên cơ sở quy luật sốđông, theo đó một bên (người tham gia BH) nộp một khoản tiền nhấtđịnh (được gọi là phí BH) cho bên kia (DNBH) để đổi lấy lời hứarằng khi rủi ro, sự kiện BH xảy ra, DNBH sẽ bồi thường hoặc trảtiền BH cho NĐBH hoặc người thụ hưởng BH.

1.1.1.2 Bản chất của bảo hiểm

Mục đích chủ yếu của bảo hiểm là gớp phần ổn định cuộc sống

và sản xuất cho những người tham gia và kiến tạo nguồn vốn để pháttriển kinh tế và xã hội của đất nước Chính vì vậy, bản chất của bảohiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm quốc nội giữa nhữngngười tham gia bảo hiểm nhằm đáp ứng nhu cầu về tài chính phátsinh khi rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra với đối tượng bảo hiểm.tuy nhiên, phân phối trong bảo hiểm chủ yếu là phân phối không đều

và phần lớn không mang tính bồi hoàn trực tiếp

Ngoài ra, bản chất của bảo hiểm còn được thể hiện ở các khíacạnh cụ thể như sau:

- Rủi ro và sự tồn tại của rủi ro là nguồn gốc của bảo hiểm

- Cơ chế chuyển giao rủi ro trong bảo hiểm được thực hiện

Trang 7

giữa các bên tham gia bảo hiểm và bên bảo hiểm thông qua các camkết bảo hiểm Theo cơ chế này, bên tham gia phải nộp phí bảo hiểm

và bên bảo hiểm cam kết bồi thường hay chi trả tiền bảo hiểm khiđối tượng bảo hiểm hay người được bảo hiểm gặp phải rủi ro hay sựkiện bảo hiểm

- Phí bảo hiểm mà bên tham gia nộp cho bên bảo hiểm phảiđược thực hiện trước khi rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra Ngượclại, khỏa tiền bên bảo hiểm trả cho bên tham gia hay người thứ bachỉ được thực hiện sau khi sự kiện bảo hiểm hay rủi ro xảy ra gây ratổn thất

- Việc san sẻ rủi ro, bù trừ tổn thất trong bảo hiểm được bênbảo hiểm tính toán và quản lý dựa vào số liệu thống kê rủi ro và tìnhhình tổn thất, cũng như quỹ bảo hiểm mà họ thiết lập được dựa trênnguyên tắc số đông bù số ít

- Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính chứ không phải

là hoạt động sản xuất Chính vì vậy, lợi ích của các bên được luậthóa rất cụ thể và vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực này rấtquan trọng

1.1.1.3 Vai trò của bảo hiểm

Vì vậy, bảo hiểm có vai trò quan trọng trong cuộc sốngcủa con người Tham gia bảo hiểm sẽ mang lại những lợi ích chongười tham gia như sau:

Trang 8

- Người tham gia bảo hiểm (cá nhân hay tổ chức) được trợ cấp,bồi thường những thiệt hại thực tế do rủi ro, bất ngờ gây ra thuộcphạm vi bảo hiểm Nhờ đó họ nhanh chóng ổn định kinh tế, khôiphục đời sống và sản xuất kinh doanh…

- Nhờ có bảo hiểm những người tham gia đóng góp một số phítạo thành nguồn quỹ bảo hiểm lớn ngoài chi trả hay bồi thường còn

là nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế…

- Bảo hiểm, nhất là bảo hiểm thương mại còn đóng góp tíchluỹ cho ngân sách…

- Bảo hiểm cùng với người tham gia bảo hiểm thực hiện cácbiện pháp để phòng ngừa tai nạn xảy ra nhằm giảm bớt và hạn chếhậu quả thiệt hại

- Bảo hiểm là chỗ dựa tinh thần cho mọi người, mọi tổ chức;giúp họ yên tâm trong cuộc sống, trong sinh hoạt sản xuất kinhdoanh; bảo hiểm thể hiện tính cộng đồng, tương trợ, nhân văn sâusắc

- Bảo hiểm còn góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tếgiữa các nước, nhất là thông qua hoạt động tái bảo hiểm v.v

- Cuối cùng, hoạt động bảo hiểm thu hút một số lao động nhấtđịnh, góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp cho xã hội (theothống kê, bảo hiểm các nước thu hút 1% lực lượng lao động xã hội)

Trang 9

1.1.1.4 Phân loại trong bảo hiểm thương mại: bảo hiểm Bảo hiểm phi nhân thọ và bảo hiểm nhân thọ - hai lĩnh vực hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Hoạt động bảo hiểm được ghi nhận với tư cách là một hoạtđộng kinh doanh do các doanh nghiệp bảo hiểm chuyên nghiệp tiếnhành Trong kinh tế thị trường, bảo hiểm được coi là một biện pháphữu hiệu mà mỗi cá nhân, mỗi gia đình và mỗi doar nh nghiệp sửdụng để đối phó với rủi ro của mình

Bảo hiểm gồm hai lĩnh vực hoạt động lớn là bảo hiểm nhân thọ

và bảo hiểm phi nhân thọ

Bảo hiểm nhân thọ là loại bảo hiểm dài hạn liên quan đến tuổithọ của con người Sự sống và cái chết của con người là sự kiện chủyếu được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Nói cáchkhác, trong bảo hiểm nhân thọ, thông thường người bảo hiểm phảitrả tiền bảo hiểm khi người được bảo hiểm bị chết hoặc còn sốngđến một thời điểm chỉ rõ trong hợp đồng bảo hiểm Có ba dạng hợpđồng bảo hiểm nhân thọ chủ yếu, đó là: bảo hiểm nhân thọ trongtrường hợp tử vong; Bảo hiểm nhân thọ trong trường hợp sống vàbảo hiểm nhân thọ hỗn hợp

Khác với bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ là loại bảohiểm ngắn hạn Đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm phinhân thọ bao gồm các loại tài sản, trách nhiệm dân sự Bảo hiểm phi

Trang 10

nhân thọ là một lĩnh vực bảo hiểm có phạm vi rất rộng Nó bao gồmtất cả các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự

và một phần bảo hiểm con người Như vậy, đối tượng của bảo hiểmphi nhân thọ đa dạng, phong phú hơn rất nhiều

Sự phân chia hoạt động bảo hiểm thành hai lĩnh vực bảo hiểmnhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ có ý nghĩa quan trọng cả trong lýluận và thực tiễn Sở dĩ như vậy là bởi sự khác biệt giữa hai lĩnh vựcnày không những chi phối quá trình nghiên cứu, ban hành các luật

lệ, qui tắc, qui định mà còn chi phối cả quá trình tổ chức, quản lý,kiểm tra, giám sát hoạt động bảo hiểm trong thực tiễn

* Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ cơ bản

Nghiệp vụ BH được phân loại theo nhiều cách khác nhau tuỳtheo mục đích của các nhà lập pháp và DNBH Tuy nhiên, liên quanđến những vấn đề kế toán, các nghiệp vụ BH được phân loại theocác tiêu thức sau đây:

a Phân loại theo đối tượng BH

Theo tiêu thức này, chia thành ba nhóm: BH tài sản (BHTS),

BH trách nhiệm dân sự (BHTNDS), BH con người PNT (BHCN)

- BH tài sản: Đây là loại hình BH mà đối tượng được BH là tàisản (cố định hay lưu động) của người được BH Ví dụ: BH cho thiệthại vật chất xe cơ giới, BH hàng hoá của các chủ hàng trong BHhàng hoá xuất nhập khẩu, BH tài sản của chủ nhà trong BH trộm

Trang 11

cắp Giá trị BH là giá trị thực tế của tài sản tham gia BH, nó là căn

cứ quan trọng để tính phí BH và giới hạn thanh toán tiền bồi thườngBH

- BH trách nhiệm dân sự: có đối tượng được BH là trách nhiệmdân sự của người được BH đối với người thứ ba theo luật dịnh Vídụ: BH trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, BH trách nhiệm dân

sự của chủ lao động, BH trách nhiệm công cộng ,khác với BH tàisản và BH con người, đối tượng của BH mang tính trìu tượng BHtrách nhiệm dân sự áp dụng một số nguyên tắc như: nguyên tắc bồithường, nguyên tắc thế quyền hợp pháp

- BH con người PNT: là loại hình BH có đối tượng BH là sinhmạng, sức khoẻ, khả năng lao động của con người nhưng khác với

BH con người nhân thọ, BH con người PNT là loại hình BH chỉ liênquan đến rủi ro như: bệnh tật, tai nạn, mất khả năng lao động và kể

cả tử vong Đặc điểm của loại này là không liên quan đến tuổi thọcủa con người Ví dụ: BH tai nạn 24/24, BH tai nạn hành khách, BHkhách du lịch ,nguyên tắc khoán được áp dụng chủ yếu khi thanhtoán tiền BH (tức là về nguyên tắc, số tiền chi trả BH sẽ dựa vào quyđịnh chủ quan của hợp đồng và số tiền BH được thoả thuận khi kýkết hợp đồng chứ không dựa vào thiệt hại thực tế Tuy nhiên, có thể

áp dụng kết hợp với nguyên tắc bồi thường khi thanh toán các chiphí y tế phát sinh nằm trong phạm vi được BH của các hợp đồng BHcon người

Trang 12

b Phân loại theo tính chất bắt buộc

Theo tiêu thức này bao gồm: BH PNT bắt buộc và BH PNT tựnguyện

- BH PNT bắt buộc: là những loại BH mà pháp luật có quyđịnh về nghĩa vụ tham gia BH của các tổ chức, cá nhân có mối quan

hệ nhất định với loại đối tượng bắt buộc phải được BH Thôngthường, đối với loại hình BH bắt buộc, pháp luật sẽ quy định về điềukiện BH, mức phí BH, số tiền tối thiểu mà các tổ chức, cá nhân thamgia BH và DNBH có nghĩa vụ thực hiện

BH bắt buộc chỉ áp dụng với một số loại BH nhằm mụcđích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội Tuy nhiên, tính bắtbuộc không làm mất đi nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng trong quan

hệ hợp đồng khi các bên tự nguyện lựa chọn đối tác và thoả thuậnnhững vấn đề không phải tuân theo quy định thống nhất của phápluật

- BH PNT tự nguyện: là loại hình BH mà người tham gia

BH có toàn quyền lựa chọn theo nhu cầu và ý muốn của bản thân,hợp đồng BH được ký kết trên cơ sở tự nguyện giữa người BH vàngười tham gia BH

1.1.1.5 Đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm

Thứ nhất, sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình, không tồn

tại dưới dạng vật thể, là sự đảm bảo về mặt vật chất trước những rủi

Trang 13

ro cho khách hàng được bảo hiểm đi kèm theo là các dịch vụ hỗ trợliên quan Tại thời điểm giao dịch, sản phẩm chủ yếu mà doanhnghiệp bảo hiểm cung cấp ra thị trường chỉ là những lời hứa, nhữnglời cam kết bồi thường hay chi trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiệnbảo hiểm Trong trường hợp đó, người mua buộc phải tin vào nhữnglời cam kết, lời hứa của người bán - doanh nghiệp bảo hiểm Thôngthường tâm lý không ai mong muốn rủi ro, sự cố xảy ra với bảnthân, tổ chức để được nhận bồi thường hay trả tiền bảo hiểm.

Thứ hai, sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không mong đợi, là

có “hiệu quả xê dịch” Khách hàng không nhận được lợi ích tức thìcủa sản phẩm Thông thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, nhàbảo hiểm thực hiện bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm Từ thờiđiểm mua bảo hiểm đến thời điểm thực sự nhận được giá trị sử dụngtheo hợp đồng bảo hiểm đã ký kết có khoảng cách khá dài.Vì vậy,người mua bảo hiểm không “mong đợi” sản phẩm bảo hiểm, bởi vìrủi ro khi đã xảy ra thì đồng nghĩa với thương tích, thiệt hại thậm chí

là mất mát, do đó số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường, chitrả khó có thể bù đắp được

Thứ ba, sự đảo ngược chu trình sản xuất kinh doanh trong hoạt

động kinh doanh bảo hiểm Phí bảo hiểm - tiền bán sản phẩm bảohiểm được thu trước, cam kết của người bán bảo hiểm được thựchiện sau Do vậy, không thể xác định trước một cách chính xác hiệuquả bán sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ Mặt khác, phí bảo hiểm -

Trang 14

giá cả của sản phẩm bảo hiểm không tính toán trên cơ sở chi phí mànhà bảo hiểm đã bỏ ra để cấu tạo nên sản phẩm mà xác định trên cơ

sở tính toán tần suất tổn thất chi phí trung bình trên một tổn thất.Trong khi đó những thông số này tính toán dựa vào thống kê rủi ro

vì thế có thể định giá không hợp lý và thiếu chính xác vì định giátheo tổn thất đã phát sinh trong quá khứ nhưng lại dùng để thanhtoán cho những tổn thất có thể xảy ra trong tương lai Trường hợpphí ấn định quá cao, người được bảo hiểm không được đảm bảoquyền lợi đặc biệt đối với những nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc.Ngược lại nếu phí quá thấp sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toáncủa nhà bảo hiểm trong việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường và chi trảtiền bảo hiểm

Thứ tư, sản phẩm bảo hiểm dễ sao chép, bắt chước Một hợpđồng bảo hiểm dù là bản gốc cũng không được cấp bằng phát minh,sáng chế và không được bảo hộ độc quyền Do đó đối thủ cạnh tranh

có thể bán một cách hợp pháp những bản hợp đồng sao chép

Thứ năm, sản phẩm bảo hiểm khó xác định hiệu quả kinh

doanh trong từng chu kỳ (bán-mua-bồi thường) Người bán sản phẩmbảo hiểm thu được phí bảo hiểm từ người mua nhưng người bán cóthể bồi thường cũng có thể không, có thể bồi thường ngay sau khibán cũng có thể sau thời gian dài Vì vậy có thể nói rất khó xác địnhhiệu quả kinh doanh trong thời kỳ nhất định (thường là một năm)

1.1.2 Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ

1.1.2.1 Khái niệm và các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ

Trang 15

Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổchức và hoạt động theo quy định của Luật Kinh doanh Bảo hiểm vàcác quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảohiểm.

DNBH là một loại doanh nghiệp dịch vụ; hoạt động của nócũng nhằm mục đính sinh lời Điểm khác nhau cơ bản giữa doanhnghiệp bảo hiểm với các doanh nghiệp khác là ở chỗ: Doanh nghiệpbảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm; nó có tráchnhiệm trả tiền cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người đượcbảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm nếu người mua bảo hiểm đóngphí bảo hiểm cho doanh nghiệp

DNBH PNT là tổ chức hoạt động kinh doanh nhằm mục đíchsinh lời theo đó DNBH chấp nhận rủi ro của người được BH, trên cơ

sở bên mua đóng phí BH để DNBH trả tiền bồi thường cho ngườiđược BH hoặc người thụ hưởng khi xảy ra sự kiện BH

1.1.2.2 Đặc điểm chung về kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ

Thứ nhất, là doanh nghiệp vừa kinh doanh bảo hiểm vừa quản

lý quỹ đầu tư vốn, trong đó kinh doanh BH bao gồm 3 loại hoạtđộng là BH gốc, nhận tái BH và nhượng tái BH

- Kinh doanh bảo hiểm gốc: Là hoạt động trực tiếp tạo radoanh thu cho doanh nghiệp Đó là việc doanh nghiệp cung cấp cácdịch vụ BH trực tiếp cho các tổ chức, cá nhân tham gia BH Là hoạt

Trang 16

động cơ bản, là cơ sở cho sự tồn tại của DNBH Đây là một quátrình liên hoàn từ khâu cấp đơn hoặc ký hợp đồng với người thamgia BH, thu phí BH, theo dõi quá trình thực hiện hợp đồng BH, giámđịnh tổn thất và giải quyết bồi thường BH.

Kết quả từ hoạt động kinh doanh BH gốc là cơ sở, là nền tảng

để công ty có đủ tiềm lực khuyếch trương hoạt động và tăng cườnghoạt động đầu tư nhằm mang lại lợi nhuận và sự phát triển bềnvững

- Kinh doanh nhận tái bảo hiểm: Là việc doanh nghiệp BH, DNtái BH nhận một phần hay toàn bộ rủi ro của doanh nghiệp BHkhác.Đứng trên góc độ kinh doanh BH thì hoạt động nhận tái BHnhư là một hình thức bán BH Sau khi nhận tái BH, người nhận tái

BH có thể nhượng tái BH cho những người nhận tái BH khác

Mục đích của hoạt động nhận tái BH là để tăng thêm nguồn thuphí BH cho doanh nghiêp Ngoài ra, mục đích lớn hơn của hoạtđộng nhận tái BH là việc chia sẻ rủi ro giữa các DNBH Trong mốiquan hệ đan xen với nhau trên thị trường, một DNBH khi thì đứng ở

vị trí người nhận lại rủi ro nhưng có khi lại ở vị trí là người chia sẻrủi ro

- Kinh doanh nhượng tái bảo hiểm: Là việc doanh nghiệp BH,doanh nghiệp tái BH chuyển một phần hay toàn bộ rủi ro đã nhận

BH cho doanh nghiệp BH khác Đối với các công ty BH việc đảmbảo an toàn trong kinh doanh BH luôn được đặt lên hàng đầu và đểthực hiện được điều đó, một công ty BH cũng phải tìm cách tự BHcho chính bản thân mình thông qua việc nhượng tái BH Nhượng tái

Trang 17

BH là việc một công ty BH chuyển một phần trách nhiệm BH đãcam kết với khách hàng (người được BH) của mình cho một hoặcnhiều công ty khác.

Do nguồn vốn của một DNBH luôn là một số hữu hạn Tuynhiên, với hoạt động kinh doanh BH gốc, tại cùng một thời điểm,trách nhiệm của DNBH đã cam kết với khách hàng lại là rất lớn.Trong trường hợp có tổn thất mang tính thảm hoạ thì nguy cơ mấtkhả năng thanh toán của DN hoàn toàn có thể xảy ra Điều này trướchết dẫn đến phá sản DNBH và sau đó là đẩy khách hàng, nhữngngười đã tham gia BH tại DN đến nguy cơ không khắc phục đượchậu quả tổn thất Vì vậy, hoạt động nhượng tái BH giúp công ty BH

có được tình hình tài chính lành mạnh, an toàn; giúp người tham gia

BH yên tâm về khả năng chi trả bồi thường của DNBH; giúp DNBHchủ động tính toán được giới hạn trách nhiệm tài chính tối đa tại mộtthời điểm nhất định bất kỳ; giúp chia sẻ rủi ro trong cộng đồng , từ

đó tạo cho công ty BH một năng lực cạnh tranh tốt nhất để phát triểnhoạt động kinh doanh BH gốc của mình

Thứ hai, luôn đối mặt với rủi ro

Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểmnhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhậnrủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóngphí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho ngườithụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sựkiện bảo hiểm Do đó doanh nghiệp bảo hiểm luôn đối mặt với các

Trang 18

rủi ro khách quan có thể xẩy đến bất cứ lúc nào Vì vậy doanhnghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ còn tiến hành hoạt động:

- Đề phòng và hạn chế rủi ro tổn thất là một trong những nộidung rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm Làm tốtcông tác này không chỉ giúp DNBH giảm chi bồi thường để nângcao hiệu quả kinh doanh, mà còn tạo thêm niềm tin đối với kháchhàng tham gia bảo hiểm, từ đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội

Giám định tổn thất là khâu trung gian có vai trò hết sức quantrọng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, nó là cơ sở để DNBHtiến hành bồi thường Việc bồi thường có được tiến hành nhanhchóng, chính xác và hợp lý hay không chủ yếu phụ thuộc vào côngtác giám định Hoạt động giám định và bồi thường là một trongnhững tiêu chí đánh giá chất lượng sản phẩm bảo hiểm và hoạt độngkinh doanh bảo hiểm Hoạt động này nếu thực hiện tốt sẽ trực tiếpgóp phần nâng cao uy tín cho DNBH và từ đó giúp DNBH thực hiệncạnh tranh và mở rộng thị trường

Ngoài ra các DNBH phi nhân thọ còn thực hiện một số hoạtđộng khác theo quy định của pháp luật, như đào tạo và tư vấn; xâydựng các phương án quản lý rủi ro cho khách hàng; tổ chức các hoạtđộng dịch vụ khác có liên quan v.v

Khác với các DN SXKD, đối với DNBH, chi phí trực tiếpKDBH là không xác định được trước Chi phí trong kỳ tăng, giảm

Trang 19

tuỳ thuộc vào các rủi ro của hợp đồng BH Nếu xảy ra rủi ro nhiều,

DN bồi thường nhiều nhưng không quá giới hạn trách nhiệm đã thoảthuận trong hợp đồng BH và ngược lại Vì vậy, chi phí trực tiếpKDBH không ổn định vì rủi ro trong BH mang tính ngẫu nhiên vàtrách nhiệm của DNBH kéo dài cho đến khi hợp đồng BH hết hiệulực DNBH không biết chính xác vào thời gian nào rủi ro sẽ xảy ra

và mức độ tổn thất là bao nhiêu Mặt khác, do các yếu tố chi phíkhông ổn định và không biết trước nên giá thành dịch vụ BH có thểkhác nhau tuỳ thuộc vào rủi ro BH Từ đó DNBH khó chủ độnggiảm giá thành một cách chính xác, sự cạnh tranh giữa các DNBHchủ yếu là ở chất lượng phục vụ, uy tín của DN

Kết quả hoạt động kinh doanh là số tiền chênh lệch giữa doanhthu, thu nhập trong kỳ với các khoản chi phí tương ứng với số doanhthu, thu nhập đó Hay nói cách khác, kết quả hoạt động kinh doanh

số chênh lệch giữa doanh thu thuần với chi phí bán hàng, chi phíquản lý doanh nghiệp, và kết quả hoạt động tài chính, kết quả hoạtđộng khác Cụ thể kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpbảo hiểm bao gồm:

- Kết quả của hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc và tái bảohiểm

- Kết quả của hoạt động tài chính

- Kết quả hoạt động khác

Kết quả hoạt động kinh doanh được xác định như sau:

Trang 20

- khoảCácngiảmtrừ

-ChiphítrựctiếpKDBHG

-Chi phíbán hàng,chi phíquản lýdoanhnghiệp

-Cáckhoảngiảmtrừ

-ChiphítrựctiếpKDTBH

-Chi phíbấn hàng,chi phíquản lýdoanhnghiệp

Kết quả hoạt

động kinh doanh

bảo hiểm =

Kết quả hoạt độngkinh doanh bảohiểm gốc +

Kết quả hoạt độngkinh doanh tái bảo

Chi phí hoạt động

khác

1.2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH BẢO HIỂM

1.2.1 Khái niệm, bản chất hiệu quả kinh doanh bảo hiểm

1.2.1.1 Quan điểm, Khái niệm cơ bản về hiệu quả kinh doanh bảo hiểm

Ngày nay, ở mỗi lĩnh vực khác nhau thì người ta có những kháiniệm khác nhau về hiệu quả, và thông thường khi nói đến hiệu quả

Trang 21

của một lĩnh vực nào đó thì người ta gắn ngay tên của lĩnh vực đóliền ngay sau hiệu quả Tương ứng với các lĩnh vực kinh tế, chính trị

và xã hội là 2 phạm trù hiệu quả: Hiệu quả kinh tế và Hiệu quả chínhtrị và hiệu quả xã hội

* Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạtđược các mục tiêu kinh tế của một thời kỳ nào đó Nếu đứng trênphạm vi từng yếu tố riêng lẻ thì chúng ta có phạm trù hiệu quả kinh

tế, và xem xét vấn đề hiệu quả trong phạm vi các doanh nghiệp thìhiệu quả kinh tế chính là hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp.Hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh tế là hệ số giữa kếtquả thu về và chi phí bỏ ra để đạt được hiệu quả đó Trong đó kếtquả thu về chỉ là kết quả phản ảnh những kết quả kinh tế tổng hợpnhư là: doanh thu, lợi nhuận, nếu ta xét theo từng yếu tố riêng lẻthì hiệu quả kinh tế là thể hiện trình độ và sử dụng các yếu tố đótrong quá trình sản xuất kinh doanh, nó phản ánh kết quả kinh tế thuđược từ việc sử dụng các yếu tố tham gia vào quá trình kinh doanh.Nhìn ở từng doanh nghiệp riêng lẻ hiệu quả kinh tế được biểu hiệnqua phạm trù hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một chỉtiêu phản ánh đầy đủ các mặt của cả một quá trình kinh doanh củamột doanh nghiệp Cụ thể là:

Trang 22

Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạtđược từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở sosánh lợi ích thu được với chi phí bỏ ra trong suốt quá trình kinhdoanh của doanh nghiệp Ta có thể hiểu hiệu quả kinh doanh là chỉtiêu phản ánh trình độ và khả năng quản lý của doanh nghiệp

Trong thực tế hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp đạtđược trong các trường hợp:

- Kết quả tăng, chi phí giảm

- Kết quả tăng, chi phí giảm nhưng tốc độ tăng của chi phí nhỏ hơntốc độ tăng của kết quả

Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạtkết quả tối đa với chi phí tối thiểu, hay là phải đạt kết quả tối đa vớichi phí nhất định hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tốithiểu

* Hiệu quả xã hội và hiệu quả chính trị

Hiệu quả xã hội là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồnlực sản xuất xã hội nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định.Nếu đứng trên phạm vi toàn xã hội và nền kinh tế quốc dân thì hiệuquả xã hội và hiệu quả chính trị là chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng củahoạt động kinh doanh đối với việc giải quyết những yêu cầu và mụctiêu chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội Bởi vậy hai loại hiệu quảnày đều có vị trí quan trọng trong việc phát triển đầu nước một cách

Trang 23

toàn diện và bền vững Đây là chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triểncủa nền kinh tế xã hội ở các mặt: trình độ tổ chức sản xuất, trình độquản lý, mức sống bình quân thực tế ở các nước tư bản chủ nghĩa

đã cho thấy các doanh nghiệp tư bản chỉ chạy theo hiệu quả kinh tế

mà không đặt vấn đề hiệu quả chính trị xã hội đi kèm và dẫn đếntình trạng: thất nghiệp, khủng hoảng có tính chu kỳ, ô nhiễm môitrường, chênh lệch giàu nghèo quá lớn

1.2.1.2 Bản chất của hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh mặt chất lượng củacác hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lựckinh doanh (lao động, máy móc thiết bị, nguyên liệu, tiền vốn) trongquá trình tiến hành các hoạt động sản xuất, hoạt động kinh doanhcuả doanh nghiệp Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng caonăng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội Đây là haimặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh doanh Chínhviệc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính chất cạnhtranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hôị, đặt ra yêucầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực Đểđạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chútrọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu lực của các yếu

tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí

Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phảiđạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu, hay là phải đạt kết quả tối đa

Trang 24

với chi phí nhất định hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chiphí tối thiểu Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là chi phí tạo

ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời phải bao gồm

cả chi phí cơ hội Chi phí cơ hội là chi phí của sự lựa chọn tốt nhất

đã bị bỏ qua, hay là chi phí của sự hy sinh công việc kinh doanhkhác để thực hiện hoạt động kinh doanh này Chi phí cơ hội phảiđược bổ sung vào chi phí kế toán và phải loại ra khỏi lợi nhuận kếtoán để thấy rõ lợi ích kinh tế thực Cách tính như vậy sẽ khuyếnkhích các nhà kinh doanh lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất

có hiệu quả hơn

1.2.1.2 Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Hiệu quả kinh doanh bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm

là thước đo sự phát triển của DNBH, nó phản ánh trình độ sử dụngcác nguồn lực, các nguồn chi phí của doanh nghiệp trong việc tạo ranhững kết quả kinh doanh nhất định nhằm đạt được các mục tiêukinh tế và xã hội mà DNBH phi nhân thọ đã đề ra

Với tư cách là thước đo sự phát triển và trình độ phát triển, hiệuquả kinh doanh phải thể hiện ở các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế - xã hộikhác nhau Nhưng vấn đề cần lưu ý ở đây là không phải tất cả cácchỉ tiêu kinh tế, xã hội có liên quan đều là chỉ tiêu hiệu quả Các chỉtiêu phản ánh hiệu quả chỉ có thể được xác định bằng tỷ lệ so sánhgiữa kết quả với chi phí Nếu lấy mỗi chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh

Trang 25

doanh so với một chỉ tiêu phản ánh chi phí sẽ được một chỉ tiêuphản ánh hiệu quả

Việc phản ánh tình hình sử dụng các loại chi phí trong việc tạo

ra những kết quả kinh doanh là nội dung cơ bản của hiệu quả kinh tếnói chung và hiệu quả kinh doanh bảo hiểm nói riêng Nội dung nàyđược phản ánh bởi nhiều chỉ tiêu Mỗi chỉ tiêu hiệu quả biểu thị mộtmặt, một yếu tố hay một loại chi phí nào đó trong quá trình sử dụng.Các chỉ tiêu này lại mang tính tương đối, tức là nó phản ánh mức độđạt được để từ đó so sánh với năm trước hoặc những năm trước nữaxem nó tăng, giảm và biến đổi thế nào Xu hướng biến động nhanhhay chậm cho thấy sự tốt lên hay xấu đi trong quá trình sử dụng chiphí hoặc các nguồn lực

Hiệu quả kinh doanh bảo hiểm gắn liền với những mục tiêu màdoanh nghiệp bảo hiểm đặt ra, gồm cả những mục tiêu kinh tế vàmục tiêu xã hội Nguyên tắc ‘ lấy số đông bù số ít’ trong kinh doanhbảo hiểm càng làm cho tính chất xã hội hóa của bảo hiểm rõ nét hơn

Do đó hiệu quả xã hội của DNBH cũng phải được phản ánh ở trình

đọ sử dụng chi phí trong việc tạo ra những kết quả phục vụ xã hộicủa doanh nghiêp

Nội dung hoạt động kinh doanh chủ yếu của mọi doanh nghiệpbảo hiểm là kinh doanh bảo hiểm (gồm kinh doanh bảo hiểm gốc vàkinh doanh tái bảo hiểm) và đầu tư vốn Do đó ngoài những chỉ tiêu

Trang 26

riêng, hiệu qua kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm phải là chỉtiêu tổng hợp của các nội dung kinh doanh chủ yếu nói trên.

Hiệu quả kinh doanh trong kinh doanh bảo hiểm gốc là sự sosánh giữa thu phí bảo hiểm và các chi phí liên quan đến doanh thu

đó như bồi thường, trả tiền bảo hiểm, chi hoa hồng, chi giá định tổnthất, chi phí quản lý…

Hiệu quả kinh doanh trong kinh doanh tái bảo hiểm là sự sosánh giữa tổng thu (thu nhận tái bảo hiểm và thu nhượng tái bảohiểm) và tổng chi (chi bồi thường nhận tái , chi hoa hồng nhận tái)Hiệu quả kinh doanh đầu tư là sự so sánh giữa doanh thu hoạtđộng tài chính và chi phí hoạt động tài chính

1.2.2 Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh bảo hiểm

1.2.2.1 Hiệu quả kinh doanh xét dưới góc độ kinh tế và xã hội

Đo lường hiệu quả kinh doanh của DNBH không thể dùng mộtchỉ tiêu, mà phải có một hệ thống chỉ tiêu Do phạm trù hiệu quảkinh doanh trong kinh doanh bảo hiểm rất rộng và rất phức tạp Nếu

ký hiệu một chỉ tiêu chi phí nào đó là C và một kết quả kinh doanhnào đó là K thì chỉ tieu hiệu quả được tính từ hai chỉ tiêu trên sẽ là:

H= K hoặc H= C

Trang 27

- Nếu đứng trên góc độ kinh tế: Hiệu quả kinh doanh của DNBH được đo bằng tỷ số giữa doanh thu hoặc lợi nhuận với tổng chi phí trong kỳ:

Hd= DC hoặc He= LCTrong đó :

+Hd và He : Hiệu quả kinh doanh của DNBH tính theo doanhthu và lợi nhuận ;

+ D : Doanh thu trong kỳ

+ L : Lợi nhuận thu được trong kỳ ;

+ C : Tổng chi phí chi ra trong kỳ

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí chi ra trong kỳ tạo rabao nhiêu đồng doanh thu hoặc lợi nhuận Các chỉ tiêu này càng lớncàng tốt

- Nếu xét trên góc độ xã hội hiệu quả kinh doanh của DNBHđược thể hiện ở hai chỉ tiêu :

Hx= Ktg Hoặc Hx= Kbt

Trong đó :

+Hx: Hiệu quả xã hội của của DNBH;

+ Cbt: Tổng chi phí cho hoạt động KDBH trong kỳ ;

+ Ktg : Số khách hàng tham gia bảo hiểm trong kỳ;

+ Kbt : Số khách hàng được bồi thường trong kỳ

Chi tiêu này phản ánh cứ một đồng chi phí chi ra đã thu hútđược bao nhiêu khách hàng tham gia BH hoặc đã góp phần giảiquyết và khắc phục hậu quả cho bao nhiêu khách hàng gặp rủi ro

Trang 28

1.2.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chủ yếu :

a Chỉ tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc

Những thay đổi về doanh thu phí bảo hiểm gốc qua các nămgiúp đánh giá năng lực khai thác của các doanh nghiệp bảo hiểm phinhân thọ: thúc đẩy doanh thu tăng trưởng ổn định, bền vững do mởrộng thị trường hay là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp chấm dứtkhai thác các nghiệp vụ không hiệu quả, thu hẹp phạm vi khai thác

do có nhiều tổn thất, hoặc mất thị phần do sự cạnh tranh từ cácdoanh nghiệp khác Chỉ tiêu này tính như sau :

Trong đó:

- Dnv: là chỉ tiêu phản ánh sự thay đổi về doanh thu phí bảohiểm từng nghiệp vụ

- D1: doanh thu phí bảo hiểm của kỳ hiện tại

- Do: doanh thu phí bảo hiểm của kỳ trước

b Chỉ tiêu tỷ lệ bồi thường

Tỷ lệ bồi thường là một trong các chỉ tiêu thể hiện chất lượngkhai thác và quản lý rủi ro, có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinhdoanh bảo hiểm Tỷ lệ bồi thường cao có khả năng làm cho doanhnghiệp bị thua lỗ, làm ảnh hưởng tới khả năng tài chính của doanhnghiệp bảo hiểm Chỉ tiêu này được tính như sau:

Dnv = D1 – Do Do

Bồi thường thuộc trách nhiệm giữ lại + (tăng) / - (giảm) dự phòng bồi thường

Tỷ lệ bồi thường =

Phí bảo hiểm thuần được hưởng

Trang 29

c Chỉ tiêu tỷ lệ chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Tỷ lệ chi phí là một trong các chỉ tiêu thể hiện khả năng cạnhtranh thông qua việc khống chế chi phí ở mức hợp lý mà vẫn đảmbảo hiệu quả kinh doanh Tỷ lệ chi phí cao sẽ giảm khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng bất lợi tới lợi nhuận thuđược từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp Chỉ tiêunày được tính như sau:

d Chỉ tiêu tỷ lệ kết hợp

Chỉ tiêu tỷ lệ kết hợp là chỉ tiêu tổng quát nhất cho biết khảnăng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhânthọ Xét về lâu dài, chỉ tiêu này quyết định sự ổn định về hiệu quảkinh doanh bảo hiểm lẫn tình hình tài chính của doanh nghiệp bảohiểm Chỉ tiêu này là sự kết hợp giữa tỷ lệ bồi thường và tỷ lệ chiphí kinh doanh Chỉ tiêu này được tính như sau:

Tổng chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Tỷ lệ chi phí hoạt động KDBH =

Doanh thu phí bảo hiểm thuần

Trang 30

Tỷ lệ kết hợp = Tỷ lệ bồi thường + Tỷ lệ chi phí hoạt động kinhdoanh BH

e Chỉ tiêu dự phòng bồi thường trên phí bảo hiểm thuần được hưởng

Chỉ tiêu này so sánh mối liên hệ giữa dự phòng bồi thường đượctrích lập với phí bảo hiểm thuần được hưởng để xác định xem doanhnghiệp bảo hiểm có lập dự phòng đầy đủ cho các khiếu nại thuộctrách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm không

Chỉ tiêu này được tính như sau:

Dự phòng bồi thường Chỉ tiêu dự phòng bồi

thường trên

phí bảo hiểm được hưởng

=

Phí bảo hiểm thuần được hưởng

-f Tỷ lệ nợ phí bảo hiểm

Tỷ lệ nợ phí bảo hiểm là chỉ tiêu thể hiện năng lực quản lý phíbảo hiểm thu được của doanh nghiệp bảo hiểm Tỷ lệ này có ảnhhưởng tiêu cực hoặc tích cực tới hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phinhân thọ

g Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận đầu tư

Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận đầu tư đánh giá hiệu quả của hoạtđộng đầu tư tài sản của doanh nghiệp bảo hiểm, một yếu tố quan

Phí bảo hiểm chưa thu được

Trang 31

trọng đóng góp vào lợi nhuận chung của doanh nghiệp Chỉ tiêucũng cho biết chất lượng chung của danh mục đầu tư của doanhnghiệp bảo hiểm

Chỉ tiêu này được tính như sau:

2 x Thu nhập thuần hoạt động đầu tư năm

hiện tại Chỉ tiêu tỷ suất lợi

nhuận đầu tư

=

Tiền mặt và tài sản đầu tư năm hiện tại vànăm trước trừ thu nhập thuần hoạt độngđầu tư năm hiện tại

-h Chỉ tiêu lợi nhuận

* Tỷ suất lợi nhuận

- Tỷ suất lợi nhuận doanh thu của doanh nghiệp bảo hiểm được tính bằng công thức:

Tỷ suất lợi nhuận DT

Lợi nhuận trong kỳTổng doanh thu trongkỳ

Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, lợi nhuận trong kỳ tính trongcông thức trên thường là lợi nhuận trước thuế còn doanh thu trong

kỳ là toàn bộ doanh thu thuần hoạt động kinh doanh bảo hiểm,doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập hoạt động khác Chỉ tiêu

Trang 32

này cho biết trong 100 đồng doanh thu doanh nghiệp bảo hiểm cóđược bao nhiêu đồng lợi nhuận.

- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn của doanh nghiệp bảo hiểm được xác định qua công thức:

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn =

Lợi nhuậnVốn điều lệ thựcgóp

Trong công thức trên lợi nhuận sử dụng để tính và lợi nhuậntrước thuế trong kỳ còn vốn điều lệ thực góp là toàn bộ nguồn vốnđiều lệ của các cổ đông thực tế đã góp vào doanh nghiệp bảo hiểmtrong kỳ

Sở dĩ tỷ suất lợi nhuận trên vốn của các doanh nghiệp bảo hiểmkhông tính trên vốn chủ sở hữu vì nguồn vốn chủ sở của các doanhnghiệp bảo hiểm ngoài vốn điều lệ đã góp của cổ đông còn bao gồmnhiều nguồn vốn, quĩ khác mà các nguồn vốn, quĩ này không đồngnhất về cách xác định ở mỗi doanh nghiệp Do đó, việc xác định tỷsuất lợi nhuận trên vốn điều lệ thực góp cho phép so sánh được mộtcách chính xác hơn giữa các doanh nghiệp Hơn nữa, việc xác định

tỷ suất lợi nhuận trên vốn điều lệ thực góp có ý nghĩa thực tế với các

cổ đông hơn

Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp bảo hiểm tạo ra bao nhiêuđồng lợi nhuận trên 100 đồng vốn điều lệ thực góp Trong các công

Trang 33

ty cổ phần bảo hiểm, đây là chỉ tiêu được các cổ đông quan tâm nhất

vì nó ít nhiều liên quan đến cổ tức mà họ được nhận hàng năm

- Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE- Return on Equity)

Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông (hay trên giá trị tài sản ròng hữu hình).

RO

Lợi nhuận ròngVốn cổ phần

Trị giá ROE được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng theo niên

độ kế toán sau khi đã trả cổ tức cho cổ phần ưu đãi nhưng trước khitrả cổ tức cho cổ phần thường, chia cho toàn bộ vốn chủ sở hữu (hayvốn cổ phần) vào lúc đầu niên độ kế toán Chỉ số này là thước đochính xác nhất để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy được tạo

ra bao nhiêu đồng lời Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sửdụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đốimột cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợithế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quymô

Khi tính toán được tỷ lệ này, các nhà đầu tư có thể đánh giá ởcác góc độ cụ thể như sau:

ROE nhỏ hơn hoặc bằng lãi vay ngân hàng, vậy nếu công ty cókhoản vay ngân hàng tương đương hoặc cao hơn vốn cổ đông, thì lợinhuận tạo ra cũng chỉ để trả lãi vay ngân hàng

Trang 34

ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thì chúng ta phải đánh giá xemcông ty đã vay ngân hàng và khai thác hết lợi thế cạnh tranh trên thịtrường chưa để có thể đánh giá công ty này có thể tăng tỷ lệ ROEtrong tương lai hay không.

- Hệ số thu nhập trên tài sản (Return On Assets - ROA)

Đây là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi củamột công ty so với tài sản của nó ROA sẽ cho ta biết hiệu quả củacông ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời ROA được tính bằngcách chia thu nhập hàng năm cho tổng tài sản, thể hiện bằng con sốphần trăm Công thức tính như sau:

ROA= Thu nhập ròng/Tổng tài sản

Tài sản của một công ty thì được hình thành từ vốn vay và vốnchủ sở hữu Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho cáchoạt động của công ty Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thànhlợi nhuận được thể hiện qua ROA ROA càng cao thì càng tốt vìcông ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh bảo hiểm

1.2.3.1 Các nhân tố bên trong

a) Trình độ quản lý doanh nghiệp

Một nhân tố quan trọng có tác động mạnh mẽ tới hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp bảo hiểm là trình độ quản lý doanh nghiệp,trong đó việc kiểm soát và tiết kiệm chi phí hoạt động; hạn chế,

Trang 35

ngăn chặn trục lợi bảo hiểm trong khâu bồi thường có vai trò thenchốt.

Chi phí hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm là toàn bộ cáckhoản chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm trừ chi lập dự phòng, chibồi thường và trả tiền bảo hiểm Như vậy chi phí hoạt động củadoanh nghiệp bảo hiểm bao giồm chi hoa hồng bảo hiểm, chi giámđịnh tổn thất, chi đòi người thứ ba, chi dịch vụ đại lý, chi đề phònghạn chế tổn thất, chi đánh giá rủi ro, xử lý hàng bồi thường 100%,chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí hoạt động tàichính và chi phí bất thường

Nghiên cứu ảnh hưởng của các khoản chi này cho thấy haikhoản chi có ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp bảo hiểm là chi phí quản lý doanh nghiệp và chi hoa hồngbảo hiểm gốc Chính vì vậy, việc kiểm soát và tiết kiệm hai khoảnchi này là chìa khóa để doanh nghiệp bảo hiểm có thể nâng cao hiệuquả kinh doanh Kiểm soát chi hoa hồng sao cho việc chi hoa hồngcủa doanh nghiệp bảo hiểm đúng đối tượng, đúng chế độ chính sách

là mục tiêu của nhà quản lý Đây là công việc không hề đơn giản,các doanh nghiệp bảo hiểm chạy đua trong việc chi hoa hồng đểdành dịch vụ

Kiểm soát và tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp có liênquan đến mô hình tổ chức bộ máy Hiển nhiên rằng một bộ máyquản lý doanh nghiệp cồng kềnh, chồng chéo, hoạt động yếu kém

Trang 36

không thể nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm

mà có tác động ngược lại

Bên cạnh việc kiểm soát và tiết kiệm chi phí hoạt động, mộtcon đường quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm làhạn chế và ngăn chặn trục lợi bảo hiểm

Trục lợi bảo hiểm là việc bên mua bảo hiểm, đại lý bảo hiểmhoặc những người có liên quan có hành vi lừa đảo doanh nghiệp bảohiểm nhằm thu lợi một cách bất chính Biểu hiện chủ yếu của hành

vi trục lợi bảo hiểm là lợi dụng việc sơ hở của kinh doanh bảo hiểmtrong quản lý nghiệp vụ, lợi dụng kẽ hở của pháp luật để hợp thứchoá thủ tục khiếu nại nhằm nhận tiền bảo hiểm một cách bất hợppháp như một khoản tiền bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm Trênthế giới, cùng với sự phát triển của ngành bảo hiểm, các hình thứctrục lợi bảo hiểm ngày càng đa dạng hơn, thủ đoạn trục lợi cũng tinh

vi hơn và mức độ trục lợi cũng nghiêm trọng hơn

Người thực hiện hành vi trục lợi có thể có ý đồ ngay từ khitham gia bảo hiểm hoặc ý đồ trục lợi phát sinh sau khi gặp rủi ro, tổnthất Thông thường, nếu hành vi trục lợi có ý đồ ngày từ khia thamgia bảo hiểm thì người thực hiện hành vi đó là kẻ chủ mưu cố ý gây

ra tổn thất Trục lợi bảo hiểm có thể là hành động đơn phương củamột người nhưng nguy hiểm hơn khi hành vi trục lợi có tổ chức, có

sự tiếp tay của nhiều người

Trang 37

Có vai trò không kém phần quan trọng để nâng cao hiệu quảkinh doanh bảo hiểm là chính sách khuyên khích nâng cao hiệu quảkinh doanh và chế độ đãi ngộ người lao động Hiệu quả kinh doanhcủa doanh nghiệp bảo hiểm là kết quả tổng hợp về hiệu quả kinhdoanh của tất cả các đơn vị thành viên Chính vì vậy, một chính sáchkhuyến khích nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty áp dụng đốivới các đơn vị thành viên của mình có tác dụng như một đòn bẩykinh tế để nâng cao hiệu quả kinh doanh của toàn doanh nghiệp.Việc áp dụng chế độ chi lương, thưởng gắn với hiệu quả kinh doanh

có tác dụng khuyến khích từng đơn vị và bản thân từng người laođộng trong công ty phấn đấu vì mục tiêu chung Bên cạnh đó, doanhnghiệp sẽ thành công hơn trong kinh doanh nếu có chính sách ưu đãithích hợp với người lao động, trọng dụng chất xám và thu hút nhântài

Ngoài các nhân tố trên, sức mạnh bên trong của chính các công

ty bảo hiểm còn được xây dựng trên cơ sở uy tín và hiệuquả côngtác của mỗi cá nhân, ý thức tổ chức kỷ luật… Các nhân tố bên trongcủa các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ là lời quảng cáo tốt nhất cho mìnhtrên thị trường bảo hiểm Chính vì vậy, các công ty bảo hiểm cầnchú trọng việc tạo ra sức mạnh kinh doanh từ bên trong

b) Năng lực tài chính

Khả năng tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm thể hiện ở qui

mô vốn kinh doanh, qui mô các quĩ dự phòng của doanh nghiệp

Trang 38

Tính đặc thù trong kinh doanh bảo hiểm làm cho qui mô vốn kinhdoanh của doanh nghiệp có vai trò quan trọng hơn nhiều lĩnh vựckinh doanh khác Đối với các doanh nghiệp có chu trình sản xuấtkinh doanh thuận, khác với các doanh nghiệp bảo hiểm, việc thiếuhụt vốn kinh doanh có thể được giải quyết bằng vay vốn từ ngânhàng Kinh doanh bảo hiểm là lĩnh vực kinh doanh đặc biệt có chutrình đảo ngược vì vậy không thể có hậu thuẫn từ nguồn vốn củangân hàng cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm Chính vì lý do đó

mà vốn kinh doanh đối với các doanh nghiệp bảo hiểm có ý nghĩarất lớn đối với việc phát triển qui mô thị trường Trước hết, qui môvốn kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm quyết định phần doanhthu phí bảo hiểm được giữ lại ở doanh nghiệp Nếu qui mô vốn kinhdoanh của doanh nghiệp bảo hiểm còn nhỏ thì một mặt doanhnghiệp phải chuyển một phần khá lớn doanh thu phí bảo hiểm chocác doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm mà chủ yếu là các công ty táibảo hiểm lớn trên thế giới, mặt khác điều đó tạo ra sự lệ thuộc lớncủa doanh nghiệp với thị trường bảo hiểm, tái bảo hiểm nước ngoài.Khả năng nhận tái bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm trongnước bị hạn chế, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chịu sự ảnh hưởngbất lợi hơn khi có các biến động xấu của thị trường bảo hiểm quốc

tế Sau nữa, qui mô vốn kinh doanh lớn sẽ đảm bảo cho hoạt độngđầu tư tài chính trở thành hậu thuẫn quan trọng cho hoạt động kinhdoanh bảo hiểm thuần tuý Xu thế chung của các thị trường bảo

Trang 39

hiểm phát triển, phần lớn lợi nhuận mà các doanh nghiệp bảo hiểm

có được là từ hoạt động đầu tư

Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy

sự phát triển của kinh tế tri thức, đòi hỏi lực lượng lao động phải làđội quân tinh nhuệ, có trình độ khoa học kỹ thuật cao Điều đó càngchứng tỏ vai trò quan trọng của lực lượng lao động đối với việc nângcao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm

d) Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật ứng dụng tiến bộ

Trang 40

Hiện nay còn có nhiều doanh nghiệp do chưa đổi mới cơ chế,

cơ sở vật chất còn nghèo nàn lạc hậu, trang thiết bị còn lạc hậu dẫnđến năng suất thấp

Trong thực tế, qua những năm chuyển đổi cơ chế kinh tế thịtrường vừa qua cho thấy rằng doanh nghiệp nào đạt đựơc trang bịcông nghệ hiện đại thì doanh nghiệp đó sẽ đạt được kết quả và hiệuquả kinh doanh cao tạo được lợi thế trên thị trường có thể cạnh tranhvới các doanh nghiệp khác

1.2.3.2 Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài.

a) Môi trường kinh tế

Xét trên phương diện kinh tế, bảo hiểm thực chất là hoạt động

dự trữ của các cá nhân, gia đình và các tổ chức nhằm đối phó với cácrủi ro bất ngờ có thể xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh vàđời sống Như vậy, hoạt động kinh doanh bảo hiểm chỉ có thể diễn

ra khi kinh tế của các tổ chức, cá nhân và gia đình có dư thừa Nóicách khác nền tảng của mọi hoạt động dự trữ bảo hiểm là kinh tế.Sức mua của thị trường bảo hiểm phụ thuộc vào khả năng tài chínhcủa các doanh nghiệp và dân cư – khách hàng của các doanh nghiệpbảo hiểm Thật vậy, việc tiêu dùng sản phẩm bảo hiểm sẽ là xa lạnếu doanh nghiệp còn lúng túng trong việc lo lương cho người laođộng và người dân còn vất vả kiếm miếng ăn Một nền kinh tế tăngtrưởng cao, sự đúng đắn trong các chính sách kinh tế của Chính phủ,tính ổn định của đồng tiền… sẽ làm tăng nhu cầu của các doanh

Ngày đăng: 10/05/2016, 20:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS Nguyễn Văn Định, “Giáo trình Quản trị kinh doanh bảo hiểm”, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Quản trị kinh doanh bảo hiểm”
Nhà XB: Nxb Thống kê
2. PGS.TS Lưu Thị Hương, “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp”, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp”
Nhà XB: Nxb Thống kê
3. Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright , “Phân tích Tài chính” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phân tích Tài chính
4. Hiệp hội bảo hiểm Việt nam (2007, 2008, 2009), “Bản tin hàng năm” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin hàng năm
5. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam (2000), “Luật số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000 về kinh doanh bảo hiểm” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Luật số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000 về kinh doanh bảo hiểm
Tác giả: Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam
Năm: 2000
6. Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam (2007), “Nghị định số 45, 46/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 quy định chi tiết một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghị định số 45, 46/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 quy định chi tiết một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm
Tác giả: Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam
Năm: 2007
7. Bộ Tài chính (2007), “Thông tư 155, 156/2007/TT-BTC ngày 20/12/2007 hướng dẫn thi hành nghị định số 45, 46/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 quy định chi tiết một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thông tư 155, 156/2007/TT-BTC ngày 20/12/2007 hướng dẫn thi hành nghị định số 45, 46/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 quy định chi tiết một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2007
8. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam (2003), Quyết định số 175/2003/QĐ-TTg ngày 29/08/2003 phê duyệt“Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức của ABIC - Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của ABIC (Trang 54)
Bảng 2.1: Cơ cấu doanh thu theo nghiệp vụ của ABIC năm - Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp
Bảng 2.1 Cơ cấu doanh thu theo nghiệp vụ của ABIC năm (Trang 58)
Hình 2.2: Doanh thu phí bảo hiểm tài sản kỹ thuật năm - Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp
Hình 2.2 Doanh thu phí bảo hiểm tài sản kỹ thuật năm (Trang 60)
Hình 2.3: Doanh thu phí bảo hiểm Phi hàng hải năm 2007- - Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp
Hình 2.3 Doanh thu phí bảo hiểm Phi hàng hải năm 2007- (Trang 62)
Hình 2.4: Doanh thu phí bảo hiểm hàng hải năm 2007-2009 - Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp
Hình 2.4 Doanh thu phí bảo hiểm hàng hải năm 2007-2009 (Trang 64)
Bảng 2.2: Số lượng đại lý của ABIC năm 2007-2009 - Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp
Bảng 2.2 Số lượng đại lý của ABIC năm 2007-2009 (Trang 67)
Bảng 2.6 Mức giữ lại và giới hạn trách nhiệm hợp đồng - Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp
Bảng 2.6 Mức giữ lại và giới hạn trách nhiệm hợp đồng (Trang 73)
Bảng 2.7: Tình hình trích lập dự phòng nghiệp vụ và nguồn vốn - Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp
Bảng 2.7 Tình hình trích lập dự phòng nghiệp vụ và nguồn vốn (Trang 76)
Bảng 2.8: Doanh thu phí bảo hiểm của ABIC năm 2007–2009 - Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp
Bảng 2.8 Doanh thu phí bảo hiểm của ABIC năm 2007–2009 (Trang 77)
BẢNG 2.9: Tốc độ tăng trưởng doanh thu năm 2007-2009 - Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp
BẢNG 2.9 Tốc độ tăng trưởng doanh thu năm 2007-2009 (Trang 78)
Bảng 2.11: Tỷ lệ tồn đọng trong công tác xử lý hồ sơ bồi thường - Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp
Bảng 2.11 Tỷ lệ tồn đọng trong công tác xử lý hồ sơ bồi thường (Trang 82)
Bảng 2.14 : Tình hình Công nợ phí bảo hiểm trong bảng và - Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp
Bảng 2.14 Tình hình Công nợ phí bảo hiểm trong bảng và (Trang 97)
Bảng 2.15: Tỷ lệ nợ phí bảo hiểm của ABIC năm 2007-2009 - Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp
Bảng 2.15 Tỷ lệ nợ phí bảo hiểm của ABIC năm 2007-2009 (Trang 99)
Bảng 2.16 : Tình hình đầu tư của ABIC năm 2007-2009 - Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp
Bảng 2.16 Tình hình đầu tư của ABIC năm 2007-2009 (Trang 100)
Bảng 2.17: Tình hình đầu tư của các DNBH phi nhân thọ năm - Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp
Bảng 2.17 Tình hình đầu tư của các DNBH phi nhân thọ năm (Trang 104)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w