Tuy nhiên, trong điều trị Viêm phổi có xu hướng sử dụng quá rộng rãi và phối hợp kháng sinh thường xuyên là nguyên nhân của tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh ngày càng tăng [12].Vì vậ
Trang 1ĐÁNH GIÁ SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI Ở TRẺ TỪ 2 THÁNG ĐẾN
5 TUỔI TẠI KHOA NHI - BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH ĐẮK LẮK NĂM 2013
Hoàng Ngọc Anh Tuấn
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đăk Lăk
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá thực trạng sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi tại khoa Nhi, Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk năm 2013
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, cắt ngang mô tả
Kết quả: Qua nghiên cứu 174 bệnh nhân từ 2 tháng đến 5 tuổi được chẩn đoán viêm phổi, viêm phổi nặng, viêm phổi rất nặng vào điều trị tại khoa Nhi Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk từ tháng 2 - tháng 6 năm 2013 chúng tôi nhận thấy: Tuổi mắc bệnh trung bình là 12,9 ± 8,4 tháng, nhóm tuổi mắc nhiều từ 2 tháng - 12 tháng chiếm 59,2% Giới tỷ lệ nam (63,8%) mắc cao hơn nữ (36,2%) Dấu hiệu khởi phát trẻ thường có ho (87,3%), sốt (78,2%), và rối loạn tiêu hóa (12,1%) Khi toàn phát, 53,4% trẻ có dấu hiệu nguy hiểm toàn thân, 31,6% có rút lõm lồng ngực, 69,5% có sốt; 66,1% có ho; và 52,3% khó thở Cận lâm sàng: tăng CRP ≥ 6 mg/dl trở lên chiếm tỷ lệ 70,7%; tăng bạch cầu >10 x 109 /l chiếm 61,5%; bạch cầu hạt trung tính > 45% trở lên chiếm 49,5% Phân loại viêm phổi: nhóm bệnh nhân mắc viêm phổi chiếm tỷ lệ cao nhất 66,1%, viêm phổi rất nặng chỉ có 0,6% Kết quả sử dụng kháng sinh
xu hướng dùng Cephalosporin thế hệ 3 rất phổ biến thay cho Penicillin trong những năm trước Các kháng sinh đều được dùng đường tiêm với liều trong giới hạn được khuyến cáo Phối hợp kháng sinh vẫn là cephalosporin + aminosid là lựa chọn ưu tiên Kháng sinh đường uống có tỷ lệ rất thấp, một phần là do các nhóm thuốc viên như cotrimoxazole, amoxicillin không còn phù hợp theo phác đồ Trong cả đợt điều trị có 17,8% phải đổi kháng sinh 01 lần do bệnh không thuyên giảm sau 4 – 5 ngày điều trị, 4,6 % đổi kháng sinh 2 lần dựa vào kết quả kháng sinh đồ Kết luận: Việc sử dụng KS trong điều trị viêm phổi trẻ em rất khác nhau theo kinh nghiệm của từng thầy thuốc vì khó xác định nguyên nhân gây bệnh Do đó, cần được chuẩn hóa qua các nghiên cứu qui mô lớn để hướng dẫn chọn lựa kháng sinh phù hợp hơn
Từ khóa: viêm phổi, kháng sinh, trẻ em
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Hàng năm có khoảng 3 – 5 triệu trẻ chết vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, trong đó virus là nguyên nhân hàng đầu, một vấn đề nan giải trên lâm sàng gặp hàng ngày là phân biệt giữa các nguyên nhân vi khuẩn có thể điều trị được với các nguyên nhân virus không có biện pháp điều trị đặc hiệu Trong nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, viêm phổi là bệnh nhiễm khuẩn phổ biến nhất gây
tử vong cao nhất trong các bệnh nhiễm khuẩn hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam Theo thống kê tổ chức y tế thế giới có khoảng 20% tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi có nguyên nhân do nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp tính, trong đó 90% viêm phổi [18], Vi khuẩn vẫn là nguyên nhân phổ biến trong viêm phổi ở nước ta [2], [6], [11]
Viêm phổi là bệnh thường gặp ở trẻ em, là vấn đề quan tâm của gia đình và toàn xã hội ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất của trẻ, ngày công lao động và tạo nên sự lo lắng cho cha mẹ của trẻ Ở Việt Nam, theo Nguyễn Thu Nhạn và cộng sự đã công bố mô hình bệnh tật trẻ em năm
Trang 22001, bệnh hô hấp chiếm 28,8% và tình hình 10 bệnh có tử vong cao trong đó viêm phổi chiếm 24,3% [10], những năm gần đây qua một số báo cáo vẫn thấy rằng bệnh lý hô hấp tăng rất nhiều
và luôn chiếm hàng đầu như nghiên cứu của Lê Huy Thạch (2006) bệnh cơ quan hô hấp chiếm 37,4% trong đó viêm phổi chiếm 79,4% [13]; nghiên cứu của Võ Phương Khanh (2007) bệnh hô hấp chiếm 39,9% [9], nghiên cứu của Trần Đình Thoại (2006) bệnh lý hô hấp và viêm phổi tương đương chiếm 27,1% [14]
Viêm phổi có thể do nhiều căn nguyên gây nên bao gồm cả virus, vi khuẩn, ký sinh trùng song việc xác định căn nguyên gây viêm phổi không phải là dễ dàng khi kỹ thuật chẩn đoán bằng sinh học phân tử còn giới hạn ở một số trung tâm xét nghiệm Các kỹ thuật xét nghiệm trước đây mới chỉ đáp ứng được một phần yêu cầu điều trị, các thầy thuốc thường lựa chọn kháng sinh theo kinh nghiệm, kết quả điều trị chưa cao, chi phí y tế cao [7] Tuy nhiên, trong điều trị Viêm phổi
có xu hướng sử dụng quá rộng rãi và phối hợp kháng sinh thường xuyên là nguyên nhân của tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh ngày càng tăng [12].Vì vậy việc sử dụng kháng sinh hợp lý ở bệnh nhân viêm phổi rất quan trọng không những giúp nhanh chóng bình phục, giảm tỷ lệ tử vong mà còn giảm khả năng kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh Đã có rất nhiều nghiên cứu về việc tìm hiểu tác nhân gây bệnh cũng như việc sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi ở trẻ
em tại các cơ sở y tế trong cả nước [2],[3],[8],[11] Hiện nay việc xác định tác nhân gây bệnh và cách dùng kháng sinh và nghiên cứu việc chỉ định kháng sinh hợp lý trong điều trị nhiễm khuẩn nói chung và viêm phổi nói riêng đang là một yêu cầu cấp thiết trong thực tế lâm sàng đã được nhiều tác giả quan tâm và còn chưa thống nhất vì có nhiều điểm chưa hợp lý
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá việc sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi của trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi tại khoa Nhi, Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk năm 2013” với các mục tiêu sau:
1 Mô tả đặc điểm chính dịch tễ học, lâm sàng và cận lâm sàng
2 Đánh giá thực trạng sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Tại khoa Nhi Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk
2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Tổng cộng 174 bệnh nhân từ 2 tháng đến 5 tuổi được chẩn đoán viêm phổi, viêm phổi nặng, viêm phổi rất nặng vào điều trị tại khoa Nhi Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2013
2.2.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Trang 3Các bệnh nhân được chẩn đoán viêm phổi, viêm phổi nặng, viêm phổi rất nặng dựa theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (ho, thở nhanh theo lứa tuổi, rút lõm lồng ngực)
- Viêm phổi rất nặng: Trẻ có ho hoặc khó thở cộng với ít nhất 1 trong các triệu chứng chính sau
+ Dấu hiệu nguy hiểm toàn thân (Tím tái; Không uống được hoặc bỏ bú hoặc nôn ra tất cả mọi thứ; Co giật, lơ mơ hoặc hôn mê)
+ Suy hô hấp nặng (khó thở; thở rên; Rút lõm lồng ngực )
+ Sốt (nhiệt độ từ 37,50 c trở lên)
- Viêm phổi nặng: Trẻ có ho hoặc khó thở cộng với ít nhất một trong các triệu chứng chính sau
+ Rút lõm lồng ngực
+ Phập phồng cánh mũi
+ Thở rên và không có các dấu hiệu chính của Viêm phổi rất nặng
+ Sốt (nhiệt độ từ 37,50 c trở lên)
- Viêm phổi: trẻ có ho hoặc khó thở và có nhịp thở nhanh
+ Trẻ < 2 tháng: nhịp thở > 60 lần /phút
+ Trẻ từ 2 tháng đến 12 tháng: nhịp thở > 50 lần/phút
+ Trẻ từ 12 tháng đến 5 tuổi: nhịp thở > 40 lần /phút
Và không có một trong các dấu hiệu chính của viêm phổi nặng và viêm phổi rất nặng Ngoài ra khi nghe phổi có thể thấy ral ẩm nhỏ hạt [4],[16]
2.2.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Có tiền sử hen hoặc bệnh nhân hết dấu hiệu khò khè sau khi khí dung bằng Salbutamol
- Suy dinh dưỡng nặng (P ≤ -2SD)
- Nằm viện trong 2 tuần gần đây
- Hiện đang sử dụng kháng sinh để điều trị các bệnh khác như: viêm màng não, viêm khớp, lỵ…
- Mắc các bệnh bẩm sinh (tim bẩm sinh, Down, dị dạng đường hô hấp,…)
- Trẻ nhiễm HIV/AIDS
2.2.4 Tiêu chuẩn khỏi
Hết thở nhanh;
Không rút lõm lồng ngực
Giảm ho; Không có các dấu hiệu bất thường khác
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 42.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu
2.3.2 Chọn mẫu: chọn mẫu nghiên cứu đáp ứng được theo tiêu chuẩn chọn bệnh
2.3.3 Cỡ mẫu: mô tả loạt ca
2.3.4 Biến số nghiên cứu
+ Giới là biến số nhị giá, có hai giá trị là nam và nữ
+ Tuổi là biến số liên tục, có hai giá trị (Từ > 2 tháng - ≤ 12 tháng, > 12 tháng - ≤ 60 tháng)
+ Các biểu hiện lâm sàng (ho, thở nhanh theo lứa tuổi, rút lõm lồng ngực) mỗi triệu chứng
là một biến nhị giá có 2 giá trị: có; không
+ Biến đổi CRP là biến số định lượng liên tục, sau đó được mã hóa thành biến định tính, có
3 giá trị < 6mg/l, ≥ 6 - < 40mg/l, ≥ 40mg/l
+ Biến đổi số lượng bạch cầu máu ngoại biên là biến số định lượng liên tục, sau đó mã hóa thành biến định tính, có 2 giá trị < 10000mm3, ≥ 10000 mm3
+ Thay đổi công thức bạch cầu máu là biến số định lượng liên tục, sau đó mã hóa thành biến định tính, có 3 giá trị 20 - < 45 %, ≥ 45 - < 60 %, ≥ 60 %
+ Chọn kháng sinh điều trị là biến định tính bao gồm nhóm Các betalactamin (Penicillin, cephalosporin, imipenem, monobactam); Các aminosid; Các phenicol; Các tetracyclin; Các macrolid và chất tương tự; Các rifamycin va polypeptid; Các quinolone
+ Chẩn đoán là biến số định tính bao gồm 3 giá trị Viêm phổi, viêm phổi nặng, Viêm phổi rất nặng
+ Thay đổi kháng sinh là biến số định lượng liên tục bao gồm một lần, hai lần, ba lần
+ Số ngày điều trị là biến số định lượng không liên tục
+ Kết quả điều trị là biến định tính có 3 giá trị ra viện, chuyển viện, tử vong
2.3.5 Chỉ số nghiên cứu
- Dịch tể lâm sàng: tuổi, giới tính
- Chỉ số lâm sàng: ho, thở nhanh theo lứa tuổi, rút lõm lồng ngực
- Chỉ số cận lâm sàng: Nhận xét biến đổi CRP, SLBC máu ngoại biên, công thức bạch cầu
- Đánh giá điều trị
+ Chọn kháng sinh điều trị, mấy loại, Thay đổi kháng sinh điều trị, mấy lần
+ Tổng số ngày điều trị, trung bình, Kết quả điều trị
2.3.6 Phương pháp thu thập thông tin
Thiết lập phiếu điều tra theo mẫu phù hợp mục tiêu nghiên cứu Mỗi bệnh nhân có một phiếu điều tra riêng và theo dõi trong suốt quá trình điều trị
Trang 52.3.7 Xử lý và phân tích số liệu
- Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm Medcalc
- Biến định lượng: trung bình và độ lệch chuẩn
- Kiểm định thống kê, Khi so sánh các tỷ lệ giữa các nhóm nghiên cứu và PR liên quan giữa một biến số với một số yếu tố thì dùng phép kiểm chi bình phương (chi –squared test) hoặc phép kiểm chính xác Fisher’ s exact test) khi có > 20% tần số mong đợi trong bảng < 5
- Mức sai biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05
2.4 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Từ ngày 1/ 02 đến ngày 30/07/ 2013
2.5 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU
Việc nghiên cứu dịch tễ lâm sàng, đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng không ảnh hưởng đến người nghiên cứu Không vi phạm y đức
III KẾT QUẢ
Qua nghiên cứu chúng tôi ghi nhận kết quả đạt được như sau:
3.1 Mô tả đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng và cận lâm sàng
3.1.1 Phân bố theo tuổi
Bảng 1 Phân bố theo tuổi
< 0,05
Lứa tuổi > 2 th – ≥ 12 th gặp cao nhất chiếm 59,2%; lứa tuổi > 12 th – ≥ 60 th chiếm tỷ lệ 40,8%, tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 12,9 ± 8,4
3.1.2 Phân bố theo giới
Bảng 2 Phân bố theo giới
< 0,01
Giới nam có tỷ lệ mắc cao 63,8%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
3.1.3 Đặc điểm lâm sàng
Bảng 3 Dấu hiệu khởi phát
Trang 6Dấu hiệu khởi phát khi vào viện gặp cao nhất là ho chiếm 87,3%, tiếp theo là sốt chiếm 78,2%, các dấu hiệu còn lại chiếm tỷ lệ 19 – 21%
Bảng 4 Dấu hiệu toàn phát
Trong các dấu hiệu toàn phát chúng tôi ghi nhận trẻ có sốt chiếm 69,5% và ho chiếm 66,1%, gặp ít nhất là dấu hiệu rút lõm lồng ngực 31,6%
3.1.4 Đặc điểm cận lâm sàng
Bảng 5 Biến đổi CRP
Bệnh nhân có kết quả CRP nằm trong nhóm từ ≥ 6 - < 40 chiếm 54,5% và nhóm có CRP cao ≥ 40 mg/dl chiếm 16,2%
Bảng 6 Biến đổi số lượng bạch cầu máu
Nhóm bệnh nhân có số lượng bạch cầu > 10 x 109 /l chiếm 61,5%
Bảng 7 Thay đổi công thức bạch cầu máu
Đa số bệnh nhân có số lượng bạch cầu hạt trung tính từ 20 – 60 chiếm tỷ lệ cao 93%
Bảng 3.8 kết quả phân loại bệnh viêm phổi
Trang 7Trong nhóm nghiên cứu phân loại bệnh nhân nhóm viêm phổi chiếm tỷ lệ cao nhất 66,1%
3.2 Đánh giá các kháng sinh sử dung trong điều trị viêm phổi
Bảng 9 Các kháng sinh được sử dụng tại khoa Nhi
Cephalosporin
Aminosid
Khác
Nhóm kháng sinh được sử dụng nhiều nhất tại khoa Nhi là nhóm Cephalosporin (Cefotaxim 1g chiếm 57,8%), tiếp theo là nhóm Aminosid (Gentamycin 80mg chiếm 15,1% và Newgen genetil 100mg chiếm 13,1%)
Bảng 10 Kháng sinh được lựa chọn điều trị ban đầu theo mức độ viêm phổi
Các thuốc
và cách điều trị ban đầu Mức độ bệnh
% (n=174)
Phác đồ kháng sinh đơn độc (n= 105)
Phác đồ dùng kháng sinh phối hợp (n = 69)
Có 105 bệnh nhân được điều trị ban đầu bằng 01 kháng sinh chủ yếu là Cefotaxim 1g (chiếm
Trang 853,4%) và có 69 bệnh nhân được điều trị phối hợp 2 kháng sinh thường là Cephalosporin và Aminosid (chiếm 20,6%)
Bảng 11 Cách sử dụng kháng sinh trong cả đợt điều trị
VP (n=84) VPN (n=89) VPRN (n= 01) Tổng (n=174)
Với 174 bệnh nhân thì có 40 phải thay đổi kháng sinh, đổi một lần có 31 bệnh nhân, đổi 2 lần có
8 bệnh nhân và duy nhất 1trường hợp là thay 3 lần
Bảng 12 Số lần sử dụng kháng sinh so với quy định
Việc dùng thuốc kháng sinh chia lần sử dụng trong 24 giờ thực hiện đúng so với phác đồ hầu hết đều được tiêm 2 lần/ngày, chỉ có Cefotaxim dùng liều thấp chiếm 83% và Betiam là 100 %
Bảng 13 kết quả điều trị
Kết quả điều trị 174 bệnh nhân mắc bệnh viêm phổi, viêm phổi nặng và viêm phổi rất nặng Không có trường hợp nào tử vong, ra viện chiếm 98,2% chỉ có 1,8% bệnh phải chuyển tuyến trên
IV BÀN LUẬN
4.1 Mô tả đặc điểm về dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng
4.1.1 Lứa tuổi
Trang 9Bệnh viêm phổi có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi tuổi mắc bệnh trung bình là 12,9 ± 8,4 tháng, bệnh nhân tuổi ít nhất là 2 tháng, cao nhất là 48 tháng, lứa tuổi từ 2 tháng đến ≤ 12 tháng chiếm 59,2%, kết quả của chúng tôi gần tương tự theo nghiên cứu của APPIS trẻ từ 3 - 11 tháng chiếm tỷ lệ 63% và cao hơn nghiên cứu của ISCAP: 44% [19] Lứa tuổi trung bình mắc bệnh trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn của tác giả Luis C
là 19 tháng [17]
4.1.2 Giới
Trong nghiên cứu của chúng tôi giới nam có tỷ lệ mắc cao hơn chiếm 63,8% trong khi nữ chiếm 36,2% và chúng có ý nghĩa thống kê khi p< 0,01 So sánh kết quả với các nghiên cứu của APPIS và ISCAP thì giữa nam và nữ mắc bệnh không có sự khác biệt, tỷ lệ mắc tương đương nhau
4.1.3 Dấu hiệu khởi phát
Khi trẻ bị viêm đường hô hấp dưới thường có dấu hiệu khởi phát như ho, sốt, rối loạn tiêu hóa Kết quả nghiên cứu của chúng tôi 87,3% bệnh nhân có dấu hiệu ho; 78,2% trường hợp có sốt và chỉ có 12,1% là có rối loạn tiêu hóa Kết quả nghiên cứu của nhóm ISCAP cho thấy dấu hiệu ho chiếm 98,8%, bệnh nhân sốt 76%, tiêu chảy 6% [19], còn nghiên cứu của Luis C kết quả chỉ ra rằng dấu hiệu ho và sốt thường gặp trong giai đoạn khởi phát của bệnh nhân mắc viêm phổi với tỷ lệ tương ứng là 98,8% và sốt 97,8% [17] Kết quả của chúng tôi có thấp hơn so với nhóm nghiên cứu ISCAP và tác giả Luis C
4.1.4.Dấu hiệu toàn phát
Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi khi bệnh nhân nhập vào khoa bệnh nhân có dấu hiệu nguy hiểm toàn thân chiếm 53,4% cao hơn nghiên cứu của Võ Minh Hiền 36,6%, tuy nhiên dấu hiệu rút lõm lồng ngực thì có kết quả thấp hơn 31,6% so với 99,3% [7] Còn dấu hiệu sốt chiếm 69,5%; ho chiếm 66,1%; khó thở chiếm 52,3% Kết quả này so với kết quả nghiên cứu của
Lê Thị Minh Hương và Đào Minh Tuấn thì sốt chiếm 64,4%; ho chiếm 100%; khó thở chiếm 74% [15] thì dấu hiệu sốt gặp trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi có kết quả tương đương còn
ho và khó thở thì có tỷ lệ thấp hơn
4.1.5 Cận lâm sàng
Kết quả bệnh nhân có biểu hiện CRP ≥ 6 mg/dl trở lên chiếm 70,7%; SLBC > 10 x 109 /l chiếm 61,5%; bạch cầu hạt trung tính > 45% trở lên chiếm 49,5% So với kết quả nghiên cứu của
Tô Văn Hải [5], Lê Thị Minh Hương và Đào Minh Tuấn [15] thì kết quả của chúng tôi cao hơn Điều này củng có thể do có sự khác nhau một phần về mức độ nặng của bệnh trong quá trình chọn lựa đối tượng nghiên cứu
Trang 104.1.6 Kết quả phân loại bệnh viêm phổi
Với tổng số 174 bệnh nhân thuộc nhóm nghiên cứu qua phân tích thấy rằng nhóm bệnh nhân mắc viêm phổi chiếm tỷ lệ cao nhất 66,1% ít nhất là bệnh nhân mắc viêm phổi rất nặng chiếm 0,6%
4.2 Đánh giá các kháng sinh sử dụng trong điều trị viêm phổi
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấy nhóm cephalosporin chiếm 66% (Cefotaxim chiếm 57,8%), tiếp là nhóm kháng sinh Aminosid chiếm 31,5% (Gentamycin 80mg 15,1%, Newgen genetil 100mg 13,1%) So với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Bàng thì nhóm cephalosporin
sử dụng nhiều hơn chúng tôi chiếm (74%) nhưng nhóm Aminosid thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi (12%) [3] Kháng sinh hay lựa chọn ban đầu cho bệnh nhân mắc viêm phổi, viêm phổi nặng là cefotaxim chiếm 53,4% so với Cefazolin (50%) nghiên cứu của Nguyễn Văn Bàng Có 21 bệnh nhân được điều trị kết hợp 2 kháng sinh ngay từ đầu phối hợp giữa Cephalosporin (Cefotaxim) và Aminosid (Gentamycin, Amikacin) được chẩn đoán là Viêm phổi Còn 48 bệnh nhân chẩn đoán Viêm phổi nặng hoặc viêm phổi rất nặng được sử dụng 2 kháng sinh phối hợp nay từ đầu, trong
đó 44 trường hợp phối hợp giữa 2 nhóm cephalosporin với Aminosid chiếm 37,2% chỉ có 2,29 là phối hợp giữa Vancomycin và Levofloxacin Trong khi nghiên cứu của Nguyễn Tiến Dũng và Nguyễn Văn Bàng chỉ 13% trên 100 bệnh nhân được phối hợp 2 kháng sinh ngay từ đầu với phối hợp giữa 2 nhóm β-Lactam và aminosid [4] Tuy nhiên, tại Bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội theo
Hà Thu Hiền điều trị viêm phổi trẻ em chủ yếu là các kháng sinh được lựa chọn ở dạng phối hợp (91,4%) với 2 phác đồ là Ampicillin – Gentamycin; Ampicillin – Cefotaxim [6] Đối với nghiên cứu của chúng tôi đa số bệnh nhân viêm phổi điều trị ban đầu vẫn là một kháng sinh Điều này cũng có kết quả tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Văn Bàng và cũng phù hợp với khuyến cáo
về sử dụng kháng sinh ở Việt Nam [3], [4] cũng như có kết quả tương tự với một số nghiên cứu của các tác giả nước ngoài [18] Nghiên cứu của chúng tôi việc dùng kháng sinh phối hợp ngày từ đầu đối với bệnh nhân viêm phổi cũng còn cao chiếm 25% cũng như đối với nhóm bệnh viêm phổi nặng (53%) việc phối hợp ở những bệnh nhân này thì không phù hợp với phác đồ đã đưa ra,
lý giải vấn đề này theo chúng tôi tỷ lệ kháng thuốc cao (Chloramphenicol, Cotrimoxazole, Amoxillin) nên không được lựa chọn trong điều trị, và ngại dùng sợ dị ứng, tiêm chích khó khăn nên không dùng, như Benzathin Penicillin Ngày nay việc phát triển kháng sinh cephalosporin có nhiều ưu điểm dễ sử dụng và tác dụng phổ rộng nên được lựa chọn ưu tiên nhiều hơn
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi dùng kháng sinh đường uống có tỳ lệ rất thấp 1,15% đa
số là dùng kháng sinh đường tĩnh mạch (98,85%) kết quả này cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Văn Bàng kháng sinh dùng đường uống là 7,6% và đường tiêm tĩnh mạch chiếm tỷ lệ (92,4%)