Bàn về Nho giáo, các nhà nghiên cứu đều nhất trí với nhau khi nhận định về ảnh hưởng sâu rộng của nó trong lịch sử, nhưng lại không nhất trí về ảnh hởng của nó trong giai đoạn hiện nay:
Trang 1ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN TRIẾT HỌC
TRẦN THỊ LAN HƯƠNG
PHẠM TRÙ “TRUNG, HIẾU” TRONG NHO GIÁO
VÀ SỰ TIẾP BIẾN CỦA CHÚNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60 22 80
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
MỞ ĐẦU
Trang 21 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những thập niên vừa qua, Nho giáo vẫn nổi lên với tư cách là một vấn đề rất được quan tâm Những công trình nghiên cứu về Nho giáo trên nhiều bình diện khác nhau không ngừng gia tăng về cả số lượng và chất lượng vừa khẳng định sự thu hút của Nho giáo đối với các nhà nghiên cứu, vừa đem lại nhiều cách đánh giá, nhìn nhận mới về vai trò của Nho giáo
Bàn về Nho giáo, các nhà nghiên cứu đều nhất trí với nhau khi nhận định về ảnh hưởng sâu rộng của nó trong lịch sử, nhưng lại không nhất trí về ảnh hởng của nó trong giai đoạn hiện nay: có ý kiến cho rằng, Nho giáo với tính bảo thủ, khép kín, không có chút giá trị và ảnh hưởng nào đối với công cuộc đổi mới; Ngược lại cũng có ý kiến coi Nho giáo rất hữu dụng, vì lý tưởng xây dựng xã hội đại đồng của Nho giáo gần với lý tưởng xã hội Cộng sản chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác Song, chúng tôi lại đặc biệt quan tâm tới ý kiến của một số nhà nghiên cứu cho rằng: trong xã hội hiện đại Nho giáo vẫn có những ảnh hưởng nhất định và có thể kế thừa một số nội dung tích cực của Nho giáo vào xã hội ngày nay
Tuy nhiên, bản thân vấn đề Nho giáo là vấn đề rộng và phức tạp vì thế chúng tôi không có tham vọng nghiên cứu toàn bộ vấn đề, mà chỉ đi vào khía cạnh đạo đức của Nho giáo, bởi trong điều kiện hiện nay, vấn đề suy thoái đạo đức đang buộc mọi người phải quay lại để gìn giữ lấy những giá trị truyền thống Trong khi đó có nhiều người quy cho Nho giáo toàn bộ trách nhiệm về thứ đạo đức mang tính phong kiến, phủ nhận vai trò của Nho giáo trong hệ giá trị đạo đức truyền thống Nói cho đúng, có một nền đạo đức truyền thống Việt Nam phân biệt với đạo đức Nho giáo trên nhiều khía cạnh, nhng không thể vì thế mà phủ nhận hoàn toàn ảnh hưởng và sự gia nhập của các yếu tố Nho giáo vào đạo đức truyền thống của chúng ta Bên cạnh đó, khi vào Việt Nam, Nho giáo không còn nguyên là Nho giáo thời Khổng Mạnh Chính vì vậy, chúng ta cần đánh giá một cách khách quan và nhận định một cách chính xác nội dung đạo đức Nho giáo ở Việt Nam Trên cơ sở đó, phân tích sự tiếp thu, biến đổi của Nho Việt và chỉ ra một số nội dung của Nho giáo có thể tiếp tục được cải tạo và sử dụng vào điều kiện hiện nay Đây là vấn đề không những có giá trị lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Trang 3Lựa chọn khía cạnh đạo đức Nho giáo và tìm hiểu những biến đổi của
nó khi vào Việt Nam, chúng tôi đặt trọng tâm nghiên cứu ở phạm trù “trung, hiếu”, bởi vì: thứ nhất, vấn đề “trung, hiếu” là một trong những vấn đề rất quan trọng trong đạo đức Nho giáo, khi vào Việt Nam nó đã được thể hiện một cách rất sinh động và hiệu quả; thứ hai, vấn đề “trung, hiếu” là vấn đề không của riêng thời đại nào Trong điều kiện nước ta hiện nay, khi rất nhiều người quên đi trách nhiệm của người làm con đối với cha mẹ, trách nhiệm của một công dân đối với tổ quốc , thì việc trở lại với những giá trị căn bản như
“hiếu, trung” để làm ngời càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết
Vì những lý do trên mà chúng tôi chọn đề tài: “Phạm trù trung, hiếu trong Nho giáo và sự tiếp biến của nó ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ triết học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nho giáo đã và đang tiếp tục là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Trong những thập kỷ vừa qua số lượng tác phẩm bàn về Nho không ngừng gia tăng về cả chiều rộng và chiều sâu
- Về Nho giáo nói chung, có nhiều tác phẩm luận bàn về sự hình thành và phát triển của Nho nhưng gần như đều thống nhất tuân thủ theo tiến trình lịch
sử từ Khổng Tử cho đến Nho đời Thanh Cuốn “Nho giáo” của Trần Trọng
Kim được coi là cuốn sách tiếng Việt đầu tiên trình bày về sự phát triển của Nho giáo một cách có hệ thống, được xuất bản từ trước năm 1930 và liên tục được tái bản cho đến nay Tác giả cuốn sách đã giới thiệu cho bạn đọc lịch sử Nho giáo ở Trung Quốc qua các triều đại và phần cuối có đề cập một chút đến
sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam Cũng với tham vọng trình bày một cách có hệ thống về Nho giáo, nhưng chỉ dừng lại ở việc luận bàn về các tác phẩm tiêu biểu của các nhà Nho Trung Quốc gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp
của họ, “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu được đánh giá là ngọn đèn rực
lên trước khi tắt của Nho đương thời Phan Bội Châu và Trần Trọng Kim trong những tác phẩm nêu trên dù có những cách trình bày, lý giải khác nhau về Nho giáo nhưng nhìn toàn cục, cả hai đều đề cao và khẳng định vai trò của Nho giáo, nhất là Nho sơ kỳ
- Về Nho giáo ở Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu cả trên bình diện tôn giáo, lịch sử tư tưởng và triết học Phan Đại Doãn trong tác phẩm
Trang 4“Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam” đã trình bày, phân tích quá trình du
nhập và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam theo tiến trình lịch sử và những ảnh hưởng của Nho đối với gia đình truyền thống Việt Phan Đại Doãn khẳng định: “Xã hội phong kiến Nho giáo đã qua không bao giờ trở lại, nhưng tinh hoa của Nho giáo vẫn là công cụ hữu ích cho quá trình phát triển của xã hội ngày nay” [9, 309] Cũng bàn về vấn đề vai trò của Nho giáo đối với xã hội
ngày nay, tác phẩm “ Nho giáo xưa và nay” do Vũ Khiêu chủ biên đã tập hợp
được nhiều bài viết nghiên cứu về Nho giáo trên các khía cạnh khác nhau: kinh tế (Trần Đình Hượu); đạo đức (Trần Văn Giàu); văn hoá (Trần Quốc Vư-ợng); giáo dục (Đặng Đức Siêu); Mỗi tác giả đều cố gắng đánh giá một cách khách quan và chỉ ra những tác động của Nho giáo trong tiến trình lịch sử đối với đời sống xã hội nói chung và từng lĩnh vực nói riêng Về vấn đề này,
Nguyễn Tài Thư trong cuốn “Nho học và Nho học ở Việt Nam” khẳng định:
“Nho học đã ảnh hưởng đến thế giới quan, nhân sinh quan, nếp sống, phong tục tập quán, vv của ngời Việt Nam Vì vậy ở một góc độ nhất định nó không những là một bộ phận của truyền thống mà còn là cốt lõi của mọi truyền thống dân tộc.” [48, 194]
- Về phạm trù “trung, hiếu” của Nho giáo Đây là hai phạm trù quan trọng của đạo đức Nho, thường đợc bàn tới khi đề cập tới vấn đề luân lý, nhân
cách, lối sống Ngoài tác phẩm “Hiếu kinh” do Đoàn Trung Còn dịch, nội
dung cặp phạm trù “trung, hiếu” thường được đề cập xen kẽ khi trình bày nội dung cơ bản của Nho giáo, Nho giáo ở Việt Nam mà ít thấy được bàn riêng rẽ
Gần đây trong tác phẩm Trung Quốc “Đối thoại với tiên triết về văn hoá
ph-ơng Đông thế kỷ XXI” của Trần Chí Lưph-ơng được dịch ra tiếng Việt đã gây
đ-ược tiếng vang Trong tác phẩm của mình, với lối viết đối thoại hiện đại, tác giả đã mượn lời của các tiên triết để nói về tư tưởng của họ và ý nghĩa của nó trong thế kỷ 21 Mặc dù “hiếu, trung” cũng được Trần Chí Lương bàn đến nh-ưng tác giả không tập trung phân tích sâu vấn đề Đây đó cũng có những nhà nghiên cứu khác đi sâu hơn vào chữ “trung”, “hiếu” của Nho giáo và đánh giá
sự tiếp biến của nó trong xã hội ta Chẳng hạn: Trần Văn Giàu trong “Tác
phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh” trên cơ sở trở lại với Nho giáo
chính thống, đã đi sâu vào từng mối quan hệ vua – tôi, cha – con và so sánh với một số đại biểu Nho Việt như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du để khẳng định:
Trang 5đạo quân thần là trung hiếu và đạo quân thần ấy ảnh hưởng rất rõ nét đối với
đời sống đạo đức của ngời Việt Phan Đại Doãn trong tác phẩm “Một số vấn
đề về Nho giáo Việt Nam” đã phân tích vấn đề “Nhà nước pháp luật hoá những
quan niệm hiếu nghĩa” để rút ra tư tưởng hiếu hay đạo hiếu ở Việt Nam gồm:
- Đạo hiếu thể hiện ở việc con cháu phải nuôi dưỡng ông bà cha mẹ
- Hiếu là nhân cách con người, là gốc của nhân luân
- Hiếu là quan hệ đứng dọc trong gia đình và dòng họ Nghĩa là hiếu có
ý nghĩa quan trọng nhất, bậc cao nhất trong các nguyên tắc ứng xử gia đình Nhìn chung Nho giáo và Nho giáo ở Việt Nam là mảng đề tài đã được nhiều nhà nghiên cứu khai thác Với những nhận định sâu sắc, các tác giả đã đánh giá về giá trị và hạn chế của hệ tư tưởng Nho giáo trên nhiều bình diện khác nhau Cũng có những ý kiến trái ngược về công và tội của Nho giáo nhưng phần lớn đều nhất trí khẳng định ảnh hưởng của Nho giáo đối với đời sống đạo đức của người Việt là rất rõ nét Tuy nhiên đi sâu vào chữ “trung” và nhất là chữ “hiếu” theo hướng khái lược từ Nho Tiên Tần đến Tống Nho, để chỉ ra sự tiếp biến của cặp phạm trù này trong Nho Việt nhằm khẳng định một
số giá trị “trung, hiếu” trong điều kiện hiện nay thì cho tới nay chưa thấy có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào công bố Chúng tôi coi đây là mảng đề tài mở và mạnh dạn đi vào nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích
Luận văn trình bày quan niệm “trung, hiếu” của Nho giáo và sự tiếp biến của nó trong quá trình du nhập và phát triển ở Việt Nam trong lịch sử, trên cơ sở đó bước đầu đưa ra nhận định về giá trị của “trung, hiếu” đối với đời sống đạo đức hiện nay
Nhiệm vụ
- Phân tích điều kiện lịch sử cụ thể sự ra đời của Nho giáo và làm rõ nội dung phạm trù “trung, hiếu” trong quan niệm của Nho qua ba thời kỳ: Nho Tiên Tần, Nho Hán, Nho Tống
- Chỉ ra những nhân tố tác động tạo ra sự “tiếp biến” của Nho giáo khi vào Việt Nam và minh chứng cho sự “tiếp biến” của phạm trù “trung hiếu” trên cơ sở phân tích cặp phạm trù này trong tư tưởng của một số nhà Nho tiêu biểu của Việt Nam
Trang 6- Đánh giá và rút ra giá trị căn bản của “trung, hiếu” cần tiếp tục duy trì trong xã hội ngày nay
4 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn là Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của đảng Cộng sản Việt Nam về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong điều kiện mới
- Phương pháp nghiên cứu: Khi áp dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử triết học, luận văn đặt toàn bộ vấn đề nghiên cứu dưới ánh sáng của phương pháp Duy vật lịch sử, vì vậy ngoài việc sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh luận văn còn quán triệt nguyên tắc lịch sử cụ thể và nguyên tắc khách quan, toàn diện trong quá trình triển khai đề tài
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn trình bày khái lược được nội dung “trung, hiếu” của Nho giáo ở Trung Quốc, chỉ ra đợc sự tiếp biến của “trung, hiếu “ trong Nho giáo ở Việt Nam và đưa ra được một số nhận định về giá trị “trung, hiếu” trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn chia thành hai chương, sáu tiết
CHƯƠNG1
PHẠM TRÙ TRUNG, HIẾU TRONG NHO GIÁO Ở TRUNG QUỐC
Trang 7
1.1.Phạm trù trung, hiếu trong quan niệm của của các nhà Nho Tiên Tần
1.1.1.Xã hội thời Xuân thu – Chiến quốc, cơ sở hình thành Nho Tiên Tần
Đến cuối thời Tây Chu, Trung Quốc bắt đầu bước vào một thời kỳ quá
độ toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá tạo tiền đề cho sự giải phóng
con ngời khỏi sự chi phối của thế giới quan thần thoại, tôn giáo để tiếp cận với
thế giới quan triết học Bước quá độ về kinh tế được đánh dấu bằng sự ra đời
của đồ sắt thay thế đồ đồng Nông nghiệp và các ngành nghề có liên quan đến
nông nghiệp được phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu tác động tới mọi
mặt của đời sống xã hội dẫn tới một loạt khác biệt khác về chính trị, tư tưởng,
văn hoá Sự khác biệt thể hiện trước nhất ở sự phân chia kẻ giàu, người nghèo
và sự sắp xếp lại cơ cấu các giai cấp và tầng lớp trong xã hội Trong khi đó
chế độ lãnh chúa phân quyền với mục đích giải quyết nhanh các công việc tại
chỗ lại trở thành cơ hội để các nớc chư hầu đối địch, thôn tính lẫn nhau Xã
hội rối loạn, chiến tranh giữa các nước xảy ra liên miên
Điều kiện lịch sử cụ thể với những biến động sâu sắc, toàn diện đã đặt
ra những vấn đề triết học, đạo đức luân lý, kinh tế đòi hỏi những ngời thức
thời, tài trí, yêu người phải tìm phương pháp giải quyết Bên cạnh đó mỗi
nư-ớc, mỗi tầng lớp đều muốn có một hệ thống tư tưởng riêng để tìm cách thống
trị nước khác, bộ phận khác Trong điều kiện như vậy, một loạt các nhà tư
t-ưởng lớn, các trường phái triết học nảy sinh và Nho giáo là một trong sáu
trường phái của Lục gia tiên Tần của thời kỳ này
1.1.2.Quan niệm của các nhà Nho Tiên Tần về trung, hiếu
Quan niệm về trung
Điều nhân là trọng tâm, là hạt nhân của đạo Khổng Về nguyên tắc, chữ
“nhân” theo quan niệm của Khổng Tử gồm “trung” và “thứ” Trung thứ tức là
cái gì mình muốn thì cũng muốn cho người, cái gì mà mình không muốn thì
chớ đem đối xử với người khác Như vậy, điều “trung” theo nghĩa rộng không
chỉ là đạo đức của bề tôi mà là tiêu chuẩn hành vi đạo đức trong đối xử giữa
người với người phải hết lòng, thành tâm, thật ý
Trong quan niệm của Nho giáo tiên Tần, bề tôi phải trung với vua là lẽ
tất nhiên Tuy nhiên chữ “trung” trong quan điểm của Khổng Tử thường biến
dịch và hàm chứa nhiều nội dung Tựu chung lại có một số nội dung chính:
Trang 8Một là, theo Khổng Tử xét cái đáng theo mà theo mới gọi là trung
Khổng Tử bảo: con theo mệnh cha há đã là hiếu, tôi theo mệnh vua há đã là trung? Chỉ có xét cái đáng theo mà theo mới là hiếu là trung vậy Chính vì thế,
“trung” trong quan niệm của Khổng Tử ngoài nghĩa phụng sự vua, phận bề tôi còn phải có nghĩa vụ khuyên vua lấy đạo nhân nghĩa để trị dân Chủ trương của Khổng Tử là thi hành một hình thức vương đạo, lấy nhân làm ngyên tắc căn bản Làm bề tôi thì phải khuyên vua lấy nhân làm trọng, theo vương đạo
Ba là, “trung” trong quan niệm phải xuất phát từ tâm Nghĩa là nhận
được chức trách vua ban thì trước phải dốc lòng trung làm cho tốt, sau mới nghĩ đến bổng lộc của bản thân Học với mục đích để ra làm quan, giúp triều đình nhưng nếu có tài mà chưa được cắt cử giữ trọng trách thì quyết không được vì thế mà bất trung
Mạnh Tử là người có nhiều quan điểm thống nhất với tư tưởng Khổng
Tử về chữ “trung” Ông cũng cho rằng người có lòng trung thì cũng phải làm cho những người xung quanh có lòng trung như vậy mới là trung Làm rõ hơn quan điểm của Khổng Tử về tính hai chiều trong quan hệ vua – tôi, cho phép
bề tôi tuỳ đức độ của từng ông vua mà thực hành trung Mạnh Tử khẳng định: Vua xem bề tôi như tay chân, bề tôi xem vua như bụng dạ của mình Vua xem
bề tôi như chó ngựa, bề tôi xem vua như người dưng Vua xem bầy tôi như bùn rác, bầy tôi xem vua như giặc thù
Về bề tôi, Mạnh Tử cho rằng: người nào biết dùng nhân chính để nhắc nhở vua, được gọi là có nết cung Người nào giãi bày với vua điều hay lẽ thiệt, biết can gián việc làm tà khuất của vua, được gọi là có đức kính Kẻ nào nói rằng vua mình không có sức thực hiện nhân chính, được gọi là kẻ làm hại vua vậy Tuy nhiên, cũng giống như Khổng Tử, trong quan niệm của Mạnh Tử về việc bề tôi có thể và phải can ngăn vua vẫn còn nặng tính hình thức, thiên về cải lương mà không dứt khoát, rõ ràng Nghĩa là khuyên can phải lựa lúc, lựa
Trang 9chiều, khuyên mà không được lại kính mà vâng chứ không làm trái Đến Tuân
Tử thì khác, ông cho phép bề tôi giết vua khi vua bạo ngược mà không coi là bất trung Khi vua bạo tàn như Kiệt, Trụ thì giết là giết tên Kiệt, tên Trụ, không phải giết vua, không mang tội bất trung Tuân Tử còn chỉ ra rằng bề tôi
có bốn hạng: đại trung, thứ trung, hạ trung, kẻ quốc tặc
Tuân Tử nhất trí với Khổng Tử và Mạnh Tử về việc bề tôi trung với vua phải giữ cho được lễ Thậm trí Tuân Tử còn khẳng định: trung là lễ, xét việc hành lễ để suy người trung Như vậy, mặc dù đạo trung đến Tuân Tử cũng đã thay đổi nhiều song có thể thấy tựu chung lại quan niệm về “trung” của Nho Tiên Tần linh hoạt, mềm dẻo và có tính hai chiều chứ không cứng nhắc, hàm chứa một nội dung rộng rãi, không bị cực đoan, tuyệt đối đối hoá
Quan niệm về hiếu
Nho tiên Tần bàn nhiều về “hiếu đễ”, đề cao tột bậc hai chữ ấy và cũng tốn nhiều công phu để giảng giải, định rõ nội dung của “hiếu đễ” nhất là “hiếu”, nhưng không đưa ra được một định nghĩa chung Thường thì tuỳ theo trường hợp cụ thể mà nội dung của “hiếu” được giảng giải khác nhau Tựu trung lại
“hiếu” trong quan niệm của Nho giáo tiên Tần có những nội dung cơ bản sau:
Một là, người có hiếu trước hết phải nuôi dưỡng cha mẹ nhưng nuôiphải đi liền với kính Khổng Tử bảo: Người con hiếu ngày nay, nói có thể
nuôi được cha mẹ Đến như chó, ngựa người ta còn nuôi được Nếu chẳng kính cha mẹ, sao có khác thế chăng? Cho nên theo Khổng Tử thờ cha mẹ duy
có sắc mặt hoà vui là khó Chứ khi phụ huynh có việc con em chịu khó làm việc; hay khi có cơm rượu, mời phụ huynh ăn uống chưa hẳn đã là hiếu Mạnh
Tử về sau phát triển ý của Khổng Tử nhưng cũng chỉ khẳng định và nhấn mạnh chủ yếu vào việc phụng dưỡng cha mẹ, coi đó là thực hành đạo hiếu Trong năm điều Mạnh Tử cho là bất hiếu thì có đến ba điều liên quan tới phụng dưỡng cha mẹ Đây được coi là yêu cầu đầu tiên, đơn giản nhất của người con hiếu Đến Tuân Tử, Tuân Tử cho rằng: cầm thú có cha con mà không có tình phụ tử Cho nên đạo làm người là phải biết biền biệt Nếu không thì con người và cầm thú chẳng khác gì nhau
Hai là, người con hiếu thảo phải nhớ tuổi của cha mẹ mình, nếu có việc
đi xa thì phải nói để cha mẹ biết, cha mẹ khỏi lo lắng Yêu cầu này của Nho
Tiên Tần đối với phận làm con trước là để mừng vì cha mẹ được trường thọ,
Trang 10sau là biết khi cha mẹ tuổi cao, sức yếu để lo lắng được kỹ càng, chu tất Bên cạnh đó, người con đi phải báo, về phải vào trình để cha mẹ được biết cũng là
để vấn cha mẹ xem người có điều gì căn dặn hay không
Ba là, người con có hiếu phải giữ gìn thân thể mà mẹ cha cho mình Đó
là lý do vì sao thầy Tăng Tử trước lúc lâm trung gọi bảo học trò mở chân tay, thân thể ra kiểm tra, thấy còn nguyên mới bảo học trò là từ đây mới yên tâm
về đạo hiếu của mình Sau này khi phát triển quan điểm của Khổng Tử, Mạnh
Tử cũng cho rằng: Trong các việc cần phụng sự thì phụng sự cha mẹ là quan trọng nhất; trong những việc phải giữ gìn thì việc giữ gìn thân thể của mình là quan trọng nhất; kẻ chẳng biết giữ gìn, lại còn huỷ hoại thân thể cho đến mang bệnh, vướng tật, thế mà lại có thể phụng sự cha mẹ chí hiếu thì không thể có
Bốn là, người con có hiếu phải biết can ngăn cha mẹ khi họ sai lầm
Các nhà Nho tiên Tần cho rằng làm con thì phải vâng lời cha mẹ nhưng không yêu cầu thực hành hiếu một cách thụ động, cứng nhắc, một chiều Tuân
Tử về sau giải thích kỹ hơn ý của Khổng Tử về việc con không theo mệnh cha là: Có ba trường hợp con không theo mệnh cha: một là khi nào theo mệnh thì cha mẹ nguy, còn không theo mệnh thì cha mẹ yên; hai là khi nào theo mệnh thì cha mẹ nhục, không theo mệnh thì cha mẹ vinh; ba là khi nào không theo mệnh cha thì hợp với đạo trung, còn theo mệnh thì không hợp với đạo trung
Năm là, người có hiếu còn là người nối được chí hướng của ông cha
Khổng Tử yêu cầu: làm con lúc cha còn sống nhất định xem cái chí hướng đó
và cố gắng hoàn thành sự nghiệp mà cha ông khởi dựng Khi cha mất đi, có định thay đổi gì cũng nhất định phải đợi hết ba năm tang chế, trước là tỏ lòng hiếu kính với cha, sau là có thời gian để định hình sự thay đổi cho cẩn thận
Sáu là, người con hiếu khi cha mẹ qua đời sẽ thực tâm thương tiếc, làm mọi việc đều theo lễ, không cẩu thả cho xong cũng không thái quá, bất cập
Khổng Tử coi việc con cháu tiễn cha mẹ sang thế giới khác là cử chỉ hiếu thuận nhưng ông cũng luôn nhắc nhở mọi việc đều không được thái quá, bất cập: không ăn mặc đẹp đẽ, loè loẹt; không khóc lóc nỉ non; không lựa điều văn vẻ để nói; cũng không vì thương cha mẹ mất mà không coi trọng bản thân,
bỏ ăn, bỏ ngủ ba ngày Trong ba năm chịu tang Nho giáo Tiên Tần yêu cầu phải thực hiện việc cúng tế đều đặn để “thờ sống” cũng như “thờ thác”
Trang 11Mạnh Tử phát triển quan điểm của Khổng Tử khẳng định rằng mai táng cha mẹ trong cơn tử biệt mới là việc trọng đại hơn hết của người con có hiếu Giống mạnh Tử, Tuân Tử cho rằng: tang lễ là cách tỏ tình của người sống đối với người chết, làm cho sự chết thêm phần trang trọng, là suy từ lòng thờ người sống mà tống táng người chết, không coi chết khác sống, không coi mất
khác còn, cho sự chấm dứt với bắt đầu là một
Tóm lại, với Nho sơ kỳ “trung”, “hiếu” là những đức tính tốt, rất quan trọng, ai cũng nên có, cũng phải cố thực hiện “Trung” là cốt lõi của chế độ chính trị đẳng cấp, “hiếu” là nguyên tắc căn bản của chế độ tông pháp nhưng
“trung, hiếu” Các nhà Nho Tiên Tần đều muốn hướng về xây dựng một xã hội thịnh trị như nhà Chu nên trong quan niệm của Nho sơ kỳ để làm tròn đạo
“hiếu trung” phải tuân thủ thể chế nhà Chu, trong đó quan trọng nhất là tuân thủ lễ tế trời đất và cúng tổ tiên Lợi dụng điều này cho nên các học phái Nho
về sau thường khoác cho Nho giáo tính thần bí, tuyệt đối hoá thiên về một chiều nào đó để phục vụ mục đích chính trị
1.2.Phạm trù trung, hiếu trong quan niệm của các nhà Hán Nho
1.2.1 Điều kiện lịch sử và sự phát triển của Nho dưới đời Hán
Năm 221 TCN, Tần Thuỷ Hoàng thiết lập nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc Nhà Tần thực hiện chính sách cực đoan ra lệnh: trừ sách sử nhà Tần, sách bói, sách thuốc, sách trồng cây còn sách khác của Nho giáo đều phải đem đốt hết
Năm 206 TCN, Lưu Bang lãnh đạo lực lượng chống nhà Tần thắng lợi, lập ra Nhà Hán Về kinh tế, nhà Hán tạo điều kiện khôi phục và phát triển sản xuất bằng cách: giảm nhẹ sưu thuế, phục viên binh lính cho về sản xuất, giảm hẳn việc xây dựng những công trình lớn Bên cạnh đó để củng cố lòng tin của dân chúng và quan lại, triều đình nhà Hán tiến hành: huỷ bỏ nhiều điều luật hà khắc của nhà Tần; khôi phục lại tước vị cũ, trả lại ruộng đất cho những người thuộc giai cấp địa chủ đã phải vì chiến tranh mà rời bỏ quê hương, quy định tất
cả ruộng đất trong nước đều thuộc quyền sở hữu của vua, gọi là “vương điền”
Nhưng nội bộ nhà Hán lúc nào cũng có sự tranh giành quyền lực, kết hợp với tính chất ăn bám, quan liêu của nhà nước phong kiến làm cho xã hội không ổn định và cản trở sự thống nhất về kinh tế, chính trị của nhà Hán Mâu thuẫn xã hội vốn đã gay gắt lại càng nặng nề hơn khi thiên tai liên tục xảy ra
Trang 12Để điều hoà mâu thuẫn giai cấp trong xã hội, khống chế các tập đoàn phong kiến địa phương, củng cố quyền lực tập trung và nô dịch dân chúng nhà Hán cần có vũ khí tinh thần Rút kinh nghiệm từ những thất bại của nhà Tần, Nhà Hán phục hồi lý luận chính trị, đạo đức, thần quyền thời Tây Chu vì thế Nho được chú trọng và dần khôi phục được vị trí
1.2.2 Quan niệm của các nhà Hán Nho về trung, hiếu
Đẩy cái học của Nho lên đỉnh điểm, khoác cho Nho tấm áo choàng thần
bí là Nho của Đổng Trọng Thư Ông cho rằng “tam cương” là đạo người, do trời quy định và nghĩa quân thần, phụ tử, phu phụ đều lấy đạo âm dương Vua
là dương, tôi là âm; cha là dương, con là âm mà âm là hợp của dương; con là hợp của cha; tôi là hợp của vua nên đã là phận bề tôi, phận làm con tất phải có tính phục tùng, “trung, hiếu” là vâng mệnh mà làm, không được trái vì lẽ thường: Vua là tượng của trời nên có đức che chở, hướng dẫn, bề tôi là tượng của đất nên có đức chuyên chở, tuân theo; cha thuộc mùa xuân nên có đức sinh, con thuộc mùa hạ nên có đức dưỡng, tuân theo, tất cả là do trời định đoạt Như vậy quan hệ vua tôi, cha con đã được khép vào tính chất một chiều khắt khe Bất trung, bất hiếu là có tội với vua, với cha mà cũng là có tội với trời Theo đó “trung và hiếu” tất hoà làm một bởi đều vâng mệnh trời cả: Trời, đất và người là gốc của muôn vật Trời sinh, đất nuôi, người thành tựu Trời lấy hiếu đễ mà sinh, đất lấy ăn mặc mà nuôi, người lấy lễ nhạc mà thành tựu
Ba điều ấy hợp thành một thể, hễ thiếu một điều là không được Không có hiếu đễ thì không có cái để sinh, không có cái ăn mặc thì không có cái để nuôi, không có lễ nhạc thì không có cái để thành tựu Đến Tống Nho vẫn thấy các đại biểu nói tới “thiên lý” để luận về “trung, hiếu” nhưng Nho nói chung và
“trung, hiếu” của Nho nói riêng vẫn tiếp tục con đường của nó với những biến đổi mới
1.3 Phạm trù trung, hiếu trong quan niệm của các nhà Tống Nho
1.3.1 Điều kiện lịch sử và vai trò của Nho dưới đời Tống
Nho giáo đến cuối nhà Hán thì bề ngoài rất thịnh nhưng bên trong thì suy Năm 960, nhà Tống được lập, dựng một nền thống trị thống nhất Suốt thời gian tồn tại, triều đình Tống tỏ rõ sự yếu đuối, bạc nhược, lúc nào cũng chủ trương cầu hoà với giặc, mâu thuẫn giữa dân chúng với triều đình sâu sắc