Điều này cho thấy trong 3 tháng XII, I, II năm 2011/2012, hoạt động của tín phong trên khu vực xích đạo TBD ở phía Tây và Trung tâm mạnh hơn khá nhiều so với trung bình, còn phía Đông yế
Trang 1Th«ng b¸o vµ dù b¸o KhÝ hËu
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1 DIỄN BIẾN KHÍ HẬU 3 THÁNG XII, I, II NĂM 2011/2012 3
1.1- Diễn biến khí hậu trên thế giới và khu vực 3
1.2- Diễn biến khí hậu ở Việt Nam 5
f- Tình hình thiên tai có nguồn gốc khí tượng thuỷ văn 13
2.1- Nhận định chung về diễn biến khí hậu thế giới và khu vực 14
2.2- Dự báo khí hậu cho Việt Nam 17
Thông báo và Dự báo khí hậu do Trung tâm Nghiên cứu Khí tượng - Khí hậu, Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường soạn thảo và xuất bản hàng tháng
Nội dung của “Thông báo và Dự báo khí hậu” được đăng tải trên Internet theo địa chỉ: http://www.imh.ac.vn
Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về Trung tâm Nghiên cứu Khí tượng - Khí hậu, Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường, Số 23/62, Đường Nguyễn Chí Thanh, Quận Đống Đa, TP.Hà Nội
Điện thoại: 04 62728299
Email: dubaokhihau@imh.ac.vn
Trang 3
3
THÔNG BÁO VÀ DỰ BÁO KHÍ HẬU THÁNG IV, V, VI NĂM 2012 1- DIỄN BIẾN KHÍ HẬU 3 THÁNG XII, I, II NĂM 2011/2012
1.1- Diễn biến khí hậu trên thế giới và khu vực
- Hiện tượng ENSO Bản tin của Trung tâm Dự báo Khí hậu Hoa Kỳ (CPC) ngày
8/III/2012 cho thấy: Trên khu vực xích đạo Thái Bình Dương (TBD), ENSO nghiêng về phía pha lạnh (La Nina) vào tháng XII, I, II năm 20011/2012 Chuẩn sai nhiệt độ mặt nước biển (SSTA) trong 3 tháng qua ở phía Tây dao động từ 0 đến 0,5oC; ở Trung tâm và phía Đông từ -1 đến -0,5 (Hình 1)
Cũng trên khu vực xích đạo TBD, trong 3 tháng qua, gió đông ở tầng thấp và gió tây ở trên cao được tăng cường mạnh trong các tháng XII, tháng I năm 2011/2012 và giảm dần vào tháng II năm 2012 Chỉ số Dao động Nam (SOI) trong 3 tháng XII, I, II năm 2011/2012 có giá trị lần lượt là 23,0; 9,4 và 2,5 (Hình 2a) Trong 3 tháng qua, SSTA tại khu vực NINO3 đều có giá trị âm, tương ứng là -0,96; -0,73 và -0,18 (Hình 2b) Như vậy,
có thể thấy hoạt động của hoàn lưu Walker trong 3 tháng qua hoạt động mạnh hơn so với trung bình
- Hoạt động của gió mùa và tín phong Trong 3 tháng XII, I, II năm 2011/2012, áp
cao lục địa châu Á ảnh hưởng mạnh mẽ đến bán đảo Đông Dương Áp cao TBD có tâm dịch chuyển dần về phía Tây Đây là thời kỳ hoạt động mạnh nhất của gió mùa mùa đông, trong khi đó, gió mùa mùa hè chưa có dấu hiệu hoạt động Trên khu vực xích đạo TBD, chuẩn sai của chỉ số tín phong 3 tháng vừa qua ở phía Tây tương ứng là: 5,5; 2,3; 4,0, ở Trung tâm: 3,3; 2,2; 1,0 và ở phía Đông: -0,8; -2,1; -2,1 Điều này cho thấy trong 3 tháng XII, I, II năm 2011/2012, hoạt động của tín phong trên khu vực xích đạo TBD ở phía Tây
và Trung tâm mạnh hơn khá nhiều so với trung bình, còn phía Đông yếu hơn so với trung bình
Hình 1: Phân bố chuẩn sai nhiệt độ mặt nước biển 3 tháng
(Nguồn: Viện Nghiên cứu Quốc tế về Khí hậu và Xã hội (IRI), tháng III/2012)
Trang 4Tổng kết của IRI về
diễn biến khí hậu trên thế giới
và khu vực trong 3 tháng qua
cho thấy: nhiệt độ vượt chuẩn
từ 1 đến trên 6oC ở hầu khắp
diện tích Bắc Liên bang Nga,
Canađa và Đông Hoa Kỳ;
khoảng 1oC trên đa phần diện
tích Myanma, Thái Lan, một
phần diện tích Malayxia và
Inđônêxia Nhiệt độ hụt chuẩn
khoảng 1 đến trên 4oC ở hầu
hết các nước thuộc Tây Á, Tây
Bắc Trung Quốc và Tây Alaxca
(Hoa Kỳ) Đối với Việt Nam,
nhiệt độ xấp xỉ chuẩn trên
phạm vi cả nước (Hình 3)
Cũng theo tổng kết của
IRI trong 3 tháng qua, đáng chú
ý nhất vẫn là sự phân bố của
lượng mưa trên khu vực Đông
Nam Á: lượng mưa vượt chuẩn
từ 50 đến 300mm ở một phần
diện tích Nam Thái Lan, Nam
Cămpuchia, Malaixia, đại bộ
phận diện tích Inđônêxia và
Philippin Lượng mưa hụt
chuẩn từ 50 đến 200mm ở một
phần diện tích Tây Inđônêxia;
khoảng 50mm ở phía Bắc của Myanma và Lào Đối với lãnh thổ Việt Nam, lượng mưa vượt chuẩn từ 50 đến 100mm trên khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Ngãi và từ Ninh Thuận trở vào; lượng mưa hụt chuẩn khoảng 50mm ở Tây Bắc (Hình 4)
Hình 2a: Diễn biến của SOI
(Nguồn: IRI, tháng III/2012)
Hình 3: Phân bố chuẩn sai nhiệt độ trung bình 3 tháng
(Nguồn: IRI, tháng III/2012)
Hình 4: Phân bố chuẩn sai lượng mưa 3 tháng
Trang 55
1.2- Diễn biến khí hậu ở Việt Nam
a- Nhiệt độ
Trong 3 tháng XII, I, II năm 2011/2012, nhiệt độ trung bình (NĐTB) từ lớn hơn 9
đến trên 27,5oC (Bảng 1), hụt chuẩn từ 0 đến xấp xỉ 2oC trên đại bộ phận diện tích ở phía
Bắc (từ Đà Nẵng trở ra); vượt chuẩn từ 0 đến xấp xỉ 1,5oC tại Tây Bắc và ở phía Nam (từ
Quảng Nam trở vào - Hình 5a), riêng tại Kon Tum có NĐTB vượt chuẩn cao hơn: 1,7oC
NĐTB tháng II/2012 dao động từ 11,5 đến trên 28oC; phân bố của chuẩn sai nhiệt độ tháng
II tương tự như ở 3 tháng, với chuẩn sai âm từ nhỏ hơn -1,5 đến 0oC và chuẩn sai dương từ 0
Tháng
II
3 tháng XII - II
Tháng
II
3 tháng XII - II
Tháng
II Điện Biên 17,9 19,7 0,9 1,4 Đà Nẵng 21,5 22,2 -0,5 -0,2 Sơn La 15,2 16,7 -0,5 -0,2 Quy Nhơn 23,9 24,5 0,2 0,4
102°E 104°E 106°E 108°E 110°E 112°E 114°E
Q§ Hoµng Sa
Q§ Tr−ê
ng S a
Trang 6Nhiệt độ tối cao trung bình (NĐTCTB) trong 3 tháng qua dao động từ trên 12,5 đến
33oC (Bảng 2), hụt chuẩn chủ yếu từ 0 đến gần 3oC trên hầu hết diện tích nước ta, riêng ở
Thất Khê (Lạng Sơn) có NĐTCTB hụt chuẩn lớn hơn: 3,3oC NĐTCTB vượt chuẩn từ 0 đến
gần 1 tại tỉnh Kon Tum và đa phần diện tích Nam Bộ, trong đó ở Càng Long có NĐTCTB
vượt chuẩn cao hơn: 1,4oC NĐTCTB tháng II/2012 từ gần 15 đến 34oC, hụt chuẩn từ 0 đến
trên 2,5oC ở đa phần diện tích nước ta; nhiệt độ vượt chuẩn từ 0 đến 2oC ở Tây Bắc Bộ và
đại bộ phận diện tích phía Nam (từ Quảng Nam trở vào)
Bảng 2: Nhiệt độ tối cao trung bình (NĐTCTB) và chuẩn sai (CS) tại một số trạm ( o C)
Tháng
II
3 tháng XII - II
Tháng
II
3 tháng XII - II
Tháng
II Điện Biên 24,8 27,7 0,3 1,6 Đà Nẵng 24,3 25,9 -1,0 -0,2 Sơn La 21,1 23,6 -0,9 0,3 Quy Nhơn 26,3 27,4 -0,9 -0,8
Sa Pa 12,5 15,9 -0,7 1,8 Nha Trang 26,9 27,8 -0,3 0,1 Bắc Quang 18,9 18,2 -1,9 -2,6 Phan Thiết 29,9 30,0 0,5 0,6 Lạng Sơn 16,4 18,4 -2,4 0,0 Tân Sơn Hoà 32,6 32,7 0,8 -0,2 Thái Nguyên 18,5 18,2 -2,3 -2,2 Vũng Tàu 29,7 30,4 0,2 0,9 Láng 18,9 19,0 -1,8 -1,2 Rạch Giá 30,4 31,3 -0,3 -0,5 Bãi Cháy 18,3 17,9 -2,0 -1,6 Cần Thơ 30,9 32,0 0,8 1,2 Phù Liễn 18,3 18,2 -2,3 -1,6 Cà Mau 30,5 31,3 -0,1 -0,1 Thanh Hoá 18,7 18,7 -2,2 -1,6 Plây cu 27,1 28,8 0,3 0,4
Vinh 18,9 19,4 -2,1 -1,3 B M Thuột 27,5 30,4 -0,7 0,1
Nhiệt độ tối thấp trung bình (NĐTTTB) trong 3 tháng XII, I, II năm 2011/2012 từ cao
hơn 6,5 đến trên 24,5oC (Bảng 3), hụt chuẩn từ 0 đến 1,5oC trên đại bộ phận diện tích phía Bắc
(từ Đà Nẵng trở ra); vượt chuẩn từ 0 đến 2,5oC ở Tây Bắc và khu vực từ Quảng Nam trở vào,
riêng ở Kon Tum có NĐTTTB vượt chuẩn cao hơn: 3,3oC NĐTTTB tháng II/2012 từ nhỏ
hơn 8,5 đến 25oC, phân bố chuẩn sai của NĐTTTB tháng II gần giống như ở 3 tháng với
chuẩn sai âm dao động từ dưới -1,5 đến 0oC và chuẩn sai dương dao động từ 0 đến 2,5oC,
riêng ở Kon Tum có NĐTTTB vượt chuẩn cao hơn: 3,1oC
Bảng 3: Nhiệt độ tối thấp trung bình (NĐTTTB) và chuẩn sai (CS) tại một số trạm ( o C)
Tháng
II
3 tháng XII - II
Tháng
II
3 tháng XII - II
Tháng
II Điện Biên 14,2 15,2 1,4 1,6 Đà Nẵng 19,9 20,4 0,3 0,4 Sơn La 11,7 12,7 0,2 0,1 Quy Nhơn 22,3 22,8 0,8 1,2
Vinh 15,4 15,5 -0,7 -0,8 B M Thuột 18,8 19,2 0,8 0,8
Trang 78oC Trị số thấp nhất của NĐTTTĐ trong tháng II/2012 là 3,9oC xảy ra ở Sa Pa (Lào Cai) vào ngày 28
Bảng 4: Nhiệt độ tối cao tuyệt đối (NĐTCTĐ) và tối thấp tuyệt đối (NĐTTTĐ) tại một số trạm ( o C)
XII - II
Chênh lệch (*)
Tháng
II
Chênh lệch (*)
3 tháng XII - II
Chênh lệch (*)
Tháng
II
Chênh lệch (*)
Trang 8b- Mưa
Tổng lượng mưa (TLM) ở nước ta
trong 3 tháng XII, I, II năm 2011/2012 có
phân bố như sau: trên đại bộ phận diện tích
nước ta TLM nhỏ hơn 200mm; khu vực từ
Quảng Trị đến Khánh Hòa có TLM từ 200
đến trên 800mm (Hình 6) Nơi có lượng mưa
cao nhất là TP Huế (Thừa Thiên Huế):
942mm, tiếp sau là ở Trà My (Quảng Nam):
758mm; nơi có lượng mưa nhỏ nhất là ở Mai
Châu (Hòa Bình): 6mm, tiếp đến là ở Kon
Tum: 8mm
Lượng mưa 3 tháng qua hụt chuẩn
với tỷ chuẩn từ 50 đến nhỏ hơn 100% trên
đa phần diện tích nước ta Lượng mưa vượt
chuẩn với tỷ chuẩn chủ yếu từ 100 đến trên
200% xảy ra ở một phần diện tích Bắc Bộ
và đa phần diện tích từ Quảng Trị trở vào
(Hình 7a) Nơi có lượng mưa vượt chuẩn
cao nhất là ở Vũng Tàu (Bà Rịa - Vũng
Tàu): 428,9%, tiếp sau là ở Phước Long
(Bình Phước): 361,7% Nơi có lượng mưa
hụt chuẩn nhiều nhất là ở Mai Châu (Hòa Bình): 13,9% và Buôn Ma Thuột (Đắc Lắc):
39,7%
Trong tháng II/2012, trên hầu hết diện tích cả nước có TLM nhỏ hơn 100mm (Bảng 5),
trong đó ở một số nơi thuộc Tây Bắc cả tháng không có mưa Nơi có lượng mưa lớn nhất trong
tháng là ở Quảng Ngãi: 124mm và Trà My (Quảng Nam): 111mm
Bảng 5: Tổng lượng mưa (TLM (mm)) và tỷ chuẩn (%) ở một số trạm
Tháng
II
3 tháng XII - II
Tháng
II
3 tháng XII - II
Tháng
II Điện Biên 108 7 146,7 25,6 Đà Nẵng 432 37 142,0 154,8
Bắc Quang 96 30 44,4 42,2 Phan Thiết 28 6 115,7 2000,0
Hình 6: Phân bố lượng mưa 3 tháng
102°E 104°E 106°E 108°E 110°E 112°E 114°E 8°N
10°N 12°N 14°N 16°N 18°N 20°N 22°N 24°N
Q§ Hoµng Sa
Q§ Tr−ê
ng S a
Trang 99
Hình 7: Phân bố tỷ chuẩn lượng mưa 3 tháng (a) và tháng II (b)
Lượng mưa tháng II/2012 hụt chuẩn từ 50 đến trên 100% ở phần lớn diện tích cả
nước Lượng mưa vượt chuẩn với tỷ chuẩn từ 100 đến lớn hơn 200% xảy ra trên đại bộ
phận diện tích ở phía Nam (từ Quảng Nam trở vào - Hình 7b) Một số nơi có lượng mưa
vượt chuẩn rất cao như Vũng Tàu (Bà Rịa - Vũng Tàu): 18000,0%, Phan Thiết (Bình
Thuận): 2000,0%; Tân Sơn Hòa (TP Hồ Chí Minh): 1000,0%; ngược lại một số nơi thuộc
Tây Bắc cả tháng không có mưa nên tỷ chuẩn lượng mưa bằng 0 Tháng II là tháng rất ít
mưa, lượng mưa thường chỉ vài mm, tháng II/2012 do ảnh hưởng của không khí lạnh, nhiều
nơi thuộc phía Nam lãnh thổ nước ta có mưa trái mùa, lượng mưa từ hàng chục đến hàng
trăm mm, cho nên tỷ chuẩn ở những nơi này rất cao
Bảng 6: Số ngày mưa (SNM) và chuẩn sai (CS) tại một số trạm (ngày)
Tháng
II
3 tháng XII - II
Tháng
II
3 tháng XII - II
Q§ Hoµng Sa
Q§ Tr−ê
ng S a
Trang 10Số ngày mưa (SNM) trong 3 tháng XII, I, II năm 2011/2012 vượt chuẩn chủ yếu từ
1 đến trên 25 ngày ở hầu hết diện tích nước ta (Bảng 6) SNM hụt chuẩn từ 1 đến trên 5
xảy ra ở một phần nhỏ diện tích thuộc Bắc Bộ SNM trong tháng II/2012 vượt chuẩn từ 1
đến trên 10 ngày trên phần lớn diện tích lãnh thổ; hụt chuẩn từ 1 đến trên 5 ngày xảy ra
trên đa phần diện tích thuộc Bắc Bộ và hầu hết diện tích từ Quảng Bình đến Kon Tum
Lượng mưa ngày lớn nhất (LMNLN) 3 tháng qua phổ biến từ trên 10 đến 50mm
(Bảng 7) Trị số lớn nhất đo được là 140mm tại TP Huế (Thừa Thiên Huế) vào ngày
16/XII/2011 LMNLN tháng II/2012 phổ biến từ 1 đến 15mm Trị số lớn nhất của LMNLN
tháng II đo được là 56mm tại Quảng Ngãi vào ngày 17
Bảng 7: Lượng mưa ngày lớn nhất (LMNLN) ở một số trạm (mm)
Tháng
II
3 tháng XII - II
Tháng
II
nhỏ hơn 200 giờ, ở Tây Bắc và khu vực từ
Quảng Nam đến Khánh Hòa có TSGN từ
200 đến 400 giờ; Tây Nguyên, cực nam
Trung Bộ và Nam Bộ có TSGN dao động từ
400 đến cao hơn 700 giờ (Hình 8) Nơi có
TSGN cao nhất là ở Kon Tum: 732 giờ, tiếp
sau là ở Plâycu (Gia Lai): 723 giờ TSGN
thấp nhất là ở Vinh (Nghệ An): 35 giờ và
Hà Tĩnh: 39 giờ TSGN hụt chuẩn từ gần 50
đến xấp xỉ 350 giờ trên toàn lãnh thổ Tháng
II/2012, TSGN có xu thế tăng dần từ Đông
sang Tây, từ Bắc vào Nam Trên đa phần
diện tích từ Hà Tĩnh trở ra có TSGN nhỏ
hơn 50 giờ; Tây Bắc và khu vực từ Quảng
Bình đến Ninh Thuận có TSGN từ 50 đến
200 giờ; Tây Nguyên và Nam Bộ có TSGN
lớn hơn 200 giờ TSGN hụt chuẩn từ 1 đến
135 giờ trên hầu hết diện tích lãnh thổ; vượt chuẩn từ 1 đến trên 30 giờ ở đa phần diện tích
Q§ Hoµng Sa
Q§ Tr−ê
ng S a
Trang 11Tháng
II
3 tháng XII - II
Tháng
II
3 tháng XII - II
Tháng
II Điện Biên 448 191 -56,7 11,3 Đà Nẵng 207 126 -185,6 -23,2
Sa Pa 296 146 -64,6 31,9 Nha Trang 275 115 -275,3 -100,6 Bắc Quang 125 24 -71,2 -25,6 Phan Thiết 629 249 -144,7 -16,9 Lạng Sơn 137 26 -118,0 -31,2 Tân Sơn Hoà 366 119 -349,0 -135,0 Thái Nguyên 118 18 -118,2 -27,4 Vũng Tàu 606 250 -136,1 -7,6
Tổng lượng bốc hơi (TLBH) trong 3
tháng XII, I, II năm 2011/2012 hụt chuẩn từ 5
đến cao hơn 200mm xảy ra trên đại bộ phận
diện tích nước ta; vượt chuẩn từ 1 đến lớn hơn
35mm xảy ra ở một vài nơi thuộc Bắc Bộ và
Nam Trung Bộ (Bảng 9)
Tỷ số giữa TLM và TLBH gọi là chỉ
số ẩm K, K < 1 ứng với điều kiện thiếu hụt
ẩm, K > 1 ứng với điều kiện dư thừa ẩm
Trong 3 tháng qua, trên đa phần diện tích
nước ta có K < 1; khu vực từ Hà Tĩnh đến
Quảng Ngãi có K dao động từ 1 đến trên 4
(Hình 9) Chỉ số K lớn nhất trong 3 tháng qua
là ở TP Huế (Thừa Thiên Huế): 13,85, tiếp
sau là ở Trà My (Quảng Nam): 9,84; K nhỏ
nhất là ở Kon Tum: 0,02 và tiếp sau là ở Mai
Q§ Hoµng Sa
Q§ Tr−ê
ng S a
Trang 12Bảng 9: Chuẩn sai của tổng lượng bốc hơi (CSLBH (mm)) và chỉ số ẩm (CSA)
Tháng
II
3 tháng XII - II
Tháng
II
3 tháng XII - II
Tháng
II Điện Biên -7,4 -12,4 0,53 0,10 Đà Nẵng -34,3 -7,3 2,51 0,61 Sơn La -21,9 -4,6 0,48 0,07 Quy Nhơn -9,6 6,8 1,28 0,49
Sa Pa -16,1 27,4 1,23 0,28 Nha Trang 36,8 8,2 0,64 0,24 Bắc Quang -11,9 -4,7 0,91 0,91 Phan Thiết 13,6 -0,5 0,07 0,05 Lạng Sơn -23,7 -15,9 0,38 0,14 Tân Sơn Hoà -127,3 -27,6 0,29 0,42 Thái Nguyên 35,2 2,7 0,29 0,29 Vũng Tàu -52,0 -24,6 0,22 0,33 Láng -22,5 -11,4 0,53 0,41 Rạch Giá -12,7 -19,8 0,37 0,25 Bãi Cháy -16,9 -15,2 0,45 0,43 Cần Thơ 3,2 21,8 0,28 0,09 Phù Liễn -47,4 -14,6 0,96 1,32 Cà Mau -38,5 -13,7 0,39 0,24 Thanh Hoá 37,6 -2,6 0,41 0,41 Plây cu -88,8 -41,6 0,08 0,17 Vinh -49,4 -9,6 2,04 1,55 B M Thuột -213,3 -69,6 0,05 0,00 Huế -64,7 -10,3 13,85 2,38 Đà Lạt -119,4 -44,8 0,75 1,49
e- Một số hiện tượng khí tượng đặc biệt
Không khí lạnh (KKL): Trong ba tháng XII, I, II năm 2011/2012 có 15 đợt KKL: tháng XII có 5 đợt, tháng I có 5 đợt (chi tiết đã được trình bày trong bản thông báo và dự báo khí hậu (TB&DBKH) trước) và tháng II có 5 đợt xảy ra vào các ngày 2, 7, 10, 16, và 25 Các đợt KKL tháng II gây mưa nhỏ ở các tỉnh phía Đông Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và dải ven biển Nam Trung Bộ; riêng đợt KKL ngày
16 đã gây rét đậm ở các tỉnh miền Bắc, vùng núi có nơi rét hại
Bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) Trong ba tháng qua có 3 ATNĐ hoạt động trên Biển Đông: tháng XII có 2 cơn (chi tiết đã được trình bày trong bản TB&DBKH trước), tháng I không có cơn nào và tháng II có 1 cơn ATNĐ hình thành ngày 17/II trên khu vực nam Biển Đông và đến ngày 20 thì suy yếu và tan ở vùng biển phía Tây Nam quần đảo Trường Sa ATNĐ này không ảnh hưởng đến thời tiết đất liền nước ta
Mưa lớn Trong ba tháng XII, I, II năm 2011/2012 có 1 đợt mưa lớn trái mùa xảy ra trong tháng II tại một số tỉnh thuộc phía Nam lãnh thổ Mưa lớn đã làm ngã
đổ hàng ngàn ha lúa ở Long An
Sương mù Trong ba tháng qua tại rất nhiều nơi trên cả nước như các tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc, ven biển Bắc Bộ và Trung Bộ đã xuất hiện sương mù dày đặc vào đêm và sáng sớm