1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thu nhận, xử lý báo động cấp cứu từ các thiết bị inmarsat inmarsat c

9 660 4

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 171,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống Inmarsat thiết kế một kênh thông tin vệ tinh ưu tiên riêng trong các trường hợp cấp cứu, khẩn cấp.. ======================= Thu nhận, xử lý báo động cấp cứu từ các thiết bị phát

Trang 1

Thu nhận, xử lý báo động cấp cứu từ các thiết bị Inmarsat

Hệ thống Đài TTDH VN thu nhận và xử lý báo động cấp cứu phát đi từ các thiết bị Inmarsat B, Inmarsat-C

Hệ thống Inmarsat thiết kế một kênh thông tin vệ tinh ưu tiên riêng trong các trường hợp cấp cứu, khẩn cấp Mỗi thiết bị Inmarsat-B, C đều có khả năng tạo một bức điện yêu cầu với mức ưu tiên cấp cứu với cách thức khá đơn giản cho người sử dụng Chỉ cần nhấn nút được thiết kế sẵn trên thiết bị, khai thác viên trên tàu có thể chuyển bức điện cấp cứu tới Đài Thông tin vệ tinh Inmarsat (Đài LES) đã được chọn sẵn trong máy

Đặc tính nổi bật của phương thức cấp cứu từ thiết bị Inmarsat là ngay sau khi gửi đi điện cấp cứu, tàu bị nạn và Đài LES có thể thiết lập ngay liên lạc 2 chiều với nhau bằng các phương thức Thoại hoặc Telex

Với chất lượng thông tin cao, ổn định, tầm phủ sóng rộng khắp toàn cầu (ngoại trừ hai vùng Cực Bắc và Cực Nam), việc trang bị các thiết bị Inmarsat theo GMDSS được quy định bắt buộc đối với các tàu hàng, tàu vận tải hành trình trên các tuyến hàng hải trong nước và quốc tế

=======================

Thu nhận, xử lý báo động cấp cứu từ các thiết bị phát tín hiệu cấp cứu qua Hệ thống vệ tinh Cospas-Sarsat

Thiết bị phát tín hiệu cấp cứu qua Hệ thống vệ tinh Cospas-Sarsat gồm 3 loại:

• Thiết bị phát tín hiệu cấp cứu ELT (Emergency Locator Transmitter): dùng trong ngành hàng không

• Thiết bị phát tín hiệu cấp cứu EPIRB (Emergency Position Indicating Radio Beacon): dùng trong ngành hàng hải

• Thiết bị phát tín hiệu cấp cứu PLB (Personal Locator Beacon): dùng trên đất liền

Thiết bị phát tín hiệu cấp cứu qua vệ tinh hoạt động theo 2 cơ chế: tự động và nhân công

• Phát tín hiệu cấp cứu tự động: khi tàu chìm xuống độ sâu khoảng 2-4m, dưới áp lực của nước khóa của bộ nhả thủy tĩnh được bật tung ra, làm thiết bị được giải phóng ra giá đỡ và nổi lên trên mặt biển Nước biển lúc này sẽ làm dây dẫn điện ngắn mạch phao, làm phao kích hoạt, tự động phát tín hiệu cấp cứu lên vệ tinh.

• Phát tín hiệu cấp cứu nhân công : trong các trường hợp cấp cứu, khẩn cấp, người bị nạn

có thể chủ động kích hoạt thiết bị phát tín hiệu cấp cứu bằng tay

Khi các thiết bị trên phát tín hiệu cấp cứu và được các vệ tinh trong hệ thống COSPAS-SARSAT thu nhận và xử lý tín hiệu Các tín hiệu đó được chuyển tiếp tới Đài thu và xử lý tín hiệu vệ tinh LUT, ở đó thông tin thu nhận sẽ được xử lý để xác định vị trí bị nạn cùng các thông tin liên quan

Trang 2

đến người và phương tiện bị nạn Các thông tin này sẽ cùng được gửi tới Trung tâm Điều hành MCC (Mission Control Centre) và Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn RCC (Rescue Co-ordination Centre) quốc gia cũng như tới các MCC khác hoặc tới một tổ chức tìm kiếm và cứu nạn thích hợp xác định tính chất bị nạn của thông tin này để phối hợp hành động

Sơ đồ thông tin phối hợp tìm kiếm cứu nạn

Trang 3

Hệ thống thông tin vệ tinh Inmarsat

Inmarsat được sáng lập vào năm 1979 để phục vụ cho những người đi biển, với mục đích theo dõi quản lý tầu thuyền và cung cấp các ứng dụng ứng cứu và tiêu khiển ngoài khơi qua vệ tinh Các dịch vụ mang tính thương mại bắt đầu vào năm 1982, và kể từ đó, một loạt các dịch vụ phân phối của Inmarsat đã bành trướng nhằm thâu tóm các khu vực thị trường trên đất liền và hàng không Đến những năm đầu của thập kỷ 90, Inmarsat có 64 nước thành viên Vào tháng 4 năm 1999, Inmarsat trở thành một công ty trách nhiệm hữu hạn có trụ sở chính đặt tại Luân Đôn.

1 Hệ thống Inmarsat

Inmarsat được sáng lập vào năm 1979 để phục vụ cho những người đi biển, với mục đích theo dõi quản lý tầu thuyền và cung cấp các ứng dụng ứng cứu và tiêu khiển ngoài khơi qua vệ tinh Các dịch vụ mang tính thương mại bắt đầu vào năm 1982, và kể từ đó, một loạt các dịch vụ phân phối của Inmarsat đã bành trướng nhằm thâu tóm các khu vực thị trường trên đất liền và hàng không Đến những năm đầu của thập kỷ 90, Inmarsat có 64 nước thành viên Vào tháng 4 năm

1999, Inmarsat trở thành một công ty trách nhiệm hữu hạn có trụ sở chính đặt tại Luân Đôn Hệ thống Inmarsat bao gồm ba thành phần cơ bản sau:

- Phần không gian Inmarsat, là phần bao gồm các vệ tinh địa tĩnh được bố trí trên vùng Đại Tây

Dương (Đông (AOR-E ) và Tây (AOR-W)), Thái Bình Dương (POR) và Ấn Độ Dương (IOR)

- Các trạm đất liền mặt đất (LES), là các trạm được các nhà điều hành viễn thông sở hữu và tạo

ra các kết nối tới hạ tầng cơ sở mạng mặt đất Gần đây, có khoảng 40 trạm đất liền mặt đất bố trí xuyên suốt thế giới với ít nhất là một trạm trong mỗi vùng bao vệ tinh

- Các trạm mặt đất di động, là các trạm đem lại cho người sử dụng khả năng giao tiếp qua vệ

tinh

Inmarsat bắt đầu phân phối dịch vụ bằng việc thuê dung lượng của vệ tinh gồm ba phi thuyền không gian MARI-SAT được Tổng công ty Comsat General cung cấp định vị lần lượt tại 72,5o

Đông, 176,5o Đông, và 106,5o Tây

Giữa những năm 1990 và 1992, Inmarsat phóng bốn trong số các vệ tinh Inmarsat-2 của chính mình Chúng có một sức chứa bằng khoảng 250 mạch Inmarsat-A, gấp khoảng 3 đến 4 lần dung lượng của các vệ tinh đã phóng trước kia Các vệ tinh có một lượng tải tin bao gồm hai bộ tách sóng hỗ trợ khoảng không tới các liên kết di động trong các băng tần L/S (1,6 GHz cho liên kết uplink, 1,5 GHz cho liên kết downlink) và các liên kết Không gian - Trái đất trong các dải băng tần C/S (6,4 GHz cho liên kết uplink, 3,6 GHz cho liên kết downlink) Các vệ tinh có một khối lượng khi phóng là 1300 Kg, và sẽ giảm xuống còn 700 Kg khi nằm trên quỹ đạo Các vệ tinh

Trang 4

phát các chùm sóng phủ toàn cầu với một công suất bức xạ đẳng hướng hiệu dụng là 39 dBW ở băng thông L

Giai đoạn tiếp theo trong quá trình phát triển của phần không gian là giai đoạn cùng với việc phóng các vệ tinh Inmarsat-3 Điều đáng chú ý là các vệ tinh này tuyển dụng công nghệ chùm điểm để tăng EIRP và các khả năng sử dụng lặp tần Mỗi vệ tinh Inmarsat-3 có một chùm phủ sóng toàn cầu cộng với 5 chùm điểm Các vệ tinh cho ra một EIRP chùm điểm lên tới 48 dBW, gấp 8 lần công suất của các chùm phủ sóng toàn cầu thuộc Inmarsat-2 Băng thông và công suất

có thể được phân phối một cách năng động giữa các chùm tia nhằm tối ưu hoá độ bao phủ theo nhu cầu Điều này tạo ra một dấu hiệu đầy ý nghĩa cho các loại hình dịch vụ mà Inmarsat giờ đây

có thể cho ra mắt và cũng như cho các thiết bị mà có thể sử dụng để truy nhập mạng Bên cạnh lượng tải tin truyền thông, các vệ tinh Inmarsat-3 cũng mang một tải lượng thông tin hàng hải để nâng cao các hệ thống hàng hải qua vệ tinh thuộc GPS và GLONASS

Hiện tại, Inmarsat tuyển dụng bốn vệ tinh điều hành thuộc Inmarsat-3 và sáu vệ tinh dự phòng, tất cả bao gồm ba vệ tinh Inmarsat-3 và ba vệ tinh Inmarsat-2 Ba vệ tinh Inmarsat nữa đang được đưa ra để mời thuê dung lượng Cấu hình vệ tinh được liệt kê trong bảng 1

Bảng 1: Cấu hình vệ tinh Inmarsat

AOR-W INMARSAT-3 F4 (54o W) INMARSAT-2 F2 (98o W)

INMARSAT-3 F2 (15.5o W)

AOR-E INMARSAT-3 F2 (15.5o W) INMARSAT-3 F5 (25o E)

INMARSAT-3 F4 (54o W)

IOR INMARSAT-3 F1 (64o E) INMARSAT-2 F3 (65o E)

POR INMARSAT-3 F3 (178o E) INMARSAT-2 F1 (179o E)

Độ bao phủ trên toàn thế giới do tổ chức Inmarsat cung cấp được mô tả trong hình 1

Trang 5

2 Các dịch vụ của Inmarsat

Hàng hải và điện thoại di động đất liền Inmarsat cung cấp một dải rộng lớn các dịch vụ qua một

trong những hệ thống của Inmarsat

Vào năm 1982, Inmarsat-A là một hệ thống đầu tiên được góp mặt vào loại hình dịch vụ dưới thương hiệu có tên STANDARD-A Các thiết bị đầu cuối có kích cỡ khoảng một hoặc hai chiếc valy, tuỳ thuộc vào nhà sản xuất, và nặng khoảng 20 Kg đến 50 Kg Thiết bị đầu cuối này hoạt động với một chiếc ăngten parabol có đường kính khoảng 1m với một công suất EIRP là

-36dBW và một mức nhiệt G/T là -4 dBK-1 Về tính sẵn có của vệ tinh và LES, thông thường, người sử dụng có thể lựa chọn tuyến để thiết lập cuộc gọi Các dịch vụ thoại Inmarsat-A chiếm băng thông từ 300 đến 3000 Hz qua việc sử dụng một kênh đơn lẻ (SCPC/FM) Người ta sử dụng các kỹ thuật về hoạt hoá âm thoại và về chỉ định nhu cầu để tăng hiệu suất của nguồn vệ tinh Điều chế BPSK được sử dụng cho việc truyền dữ liệu với tốc độ lên tới 19,2 Kbit/s, và cho các dịch vụ truyền fax với tốc độ 14,4 Kbit/s Tốc độ truyền dữ liệu cũng có thể lên đến 64 Kbit/s

sử dụng điều chế khoá dịch pha lệch 90o (QPSK) Một thiết bị kết cuối đòi hỏi phải có một kênh

để thiết lập cuộc gọi bằng việc phát một tín hiệu điều chế 4,8 Kbit/s theo BPSK sử dụng thủ tục ALOHA Inmarsat-A hoạt động trong băng tần truyền phát từ 1636 đến 51645 MHz và trong dải băng tần thu nhận từ 1535 đến 1543,5 MHz Các kênh thoại hoạt động với một khoảng cách tần

số là 50 KHz, trong khi các kênh dữ liệu lại được tách biệt một khoảng 25 KHz

Trang 6

Hình 1: Độ bao phủ của dịch vụ Inmarsat

Inmarsat-B được hiện diện trong loại hình dịch vụ vào năm 1993, thực chất để cung cấp một phiên bản kỹ thuật số cho dịch vụ thoại thuộc Inmarsat-A Hệ thống này kết hợp hoạt hoá âm thoại với điều khiển nguồn điện tích cực để giảm thiểu các yêu cầu về EIRP qua vệ tinh Các thiết bị đầu cuối hoạt động với công suất 33,29 hoặc 25 dBW với một mức nhiệt G/T là -4 dBK-1 Thoại được tạo ra với tốc độ bít 16 Kbit/s bằng việc sử dụng phương pháp mã hoá tiên đoán

Trang 7

tương thích (APC), mã mà sau đó được mã hoá bằng mã chập 3/4 mức tốc độ, làm tăng tốc độ kênh lên tới 24 Kbit/s Tín hiệu được điều chế qua offset-QPSK Dữ liệu được truyền đi với tốc

độ từ 2,4 đến 9,6 Kbit/s, trong khi fax lên tới 9,6 Kbit/s qua điều chế offset-QPSK Các dịch vụ

dữ liệu tốc độ cao (HSD) thuộc Inmarsat-B cho ra các truyền thông số tốc độ 64 Kbit/s tới những người sử dụng trên biển và đất liền, và cho ra khả năng kết nối tới các mạng ISDN qua một LES đấu nối phù hợp Một thiết bị kết cuối đòi hỏi phải có một kênh để thiết lập một cuộc gọi bằng việc phát đi một tín hiệu điều chế qua offset-QPSK có tốc độ 34 Kbit/s bằng thủ tục ALOHA Các kênh được ấn định việc sử dụng một kênh BPSK TDM Inmarsat-B hoạt động trên băng tần truyền phát là 1626,5 đến 1646,5 MHz và băng tần thu nhận là 1525 đến 1545 MHz

Các thiết bị kết cuối INMARSAT-C cung cấp các dịch vụ có tốc độ dữ liệu thấp với tốc độ thông tin là 600 bit/s Loại mã chập bán mức tốc độ, với độ dài ràng buộc là 7, tạo ra tốc độ truyền là

1200 bit/s Các tín hiệu được truyền đi bằng phương pháp điều chế BPSK, trong một dải băng thông là 2,5 KHz Các kết cuối là các thiết bị có kích thước và trọng lượng nhỏ Phần lớn các thiết bị này hoạt động với một ăngten vô hướng Các thiết bị đầu cuối hoạt động với một mức nhiệt G/T là -23dBK-1 và một công suất EIRP xê dịch từ 11 đến 16 dBW Kênh yêu cầu hồi tiếp

sử dụng các tính hiệu được điều chế theo ALOHA BPSK với tốc độ 600 bit/s Các kênh được gán cho việc sử dụng một tín hiệu điều chế theo TDM BPSK Hệ thống này cung cấp các dịch vụ

dữ liệu và tin nhắn và truyền tiếp theo hai đường, và các dịch vụ báo cáo dữ liệu, báo cáo định vị

và quảng bá cuộc gọi nhóm nâng cao (EGC) EGC cho phép hai loại hình quảng bá được truyền phát: đó là SafetyNET, thực hiện việc truyền phát thông tin bảo an hàng hải; nhóm FleetNet, cho phép các thông tin thương mại được gửi đi tới một nhóm người sử dụng cụ thể Các thiết bị kết cuối có thể gắn vào các phương tiện giao thông hoặc các tàu thuyền trên biển, đồng thời các thiết

bị kết cuối hình dạng như chiếc cặp tài liệu cũng hiện diện phong phú INMARSAT-C, bằng cách tăng mỗi dải tần lên 5 KHz, hoạt động trong băng tần truyền phát từ 1626,5 MHz đến 1645,5 MHz và băng tần thu nhận từ 1530 MHz đến 1545 MHz

Xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi về một chiếc điện thoại di động cá nhân cầm tay kết nối qua vệ tinh đầu tiên, vào tháng 12 năm 1992, người ta đã tung ra thị trường dịch vụ thương mại, hệ thống INMARSAT-M Hệ thống này cung cấp loại hình điện thoại với tốc độ 4,8 kbit/s bằng việc sử dụng loại mã kích thích đa băng tần cải tiến (IMBE), loại mã mà sau khi được mã hoá bằng mã chập 3/4 tỉ mức tốc độ, sẽ tăng một tốc độ truyền là 8 Kbit/s Ngoài ra, các dịch vụ dữ liệu và chuyển fax tốc độ 2,4 Kbit/s (1,2-2,4 Kbit/s) cũng được xuất chúng INMARSAT-M hoạt động trong lĩnh vực hàng hải và loại hình di động trên đất liền Các thiết bị kết cuối phục vụ ngành hàng hải hoạt động trên công suất EIRP thuộc một trong hoặc tất cả hai giá trị 27 dBW hoặc 21 dBW và với một mức nhiệt G/T là -12 dBK-1 Kênh yêu cầu hồi tiếp sử dụng các tín hiệu điều chế theo slotted-ALOHA BPSK với tốc độ 3 Kbit/s Các kênh được gán cho việc sử dụng một tín hiệu điều chế theo TDM BPSK Vệ tinh hàng hải INMARSAT-M hoạt động trong các băng tần truyền phát từ 1626,5 MHz đến 1646,5 MHz và các băng tần thu nhận từ 1525 MHz đến 1545 MHz, với khoảng cách kênh là 10 KHz Phiên bản di động trên đất liền hoạt động trên băng thông truyền phát là 1626,5-1660,5 MHz và băng tần thu nhận là 1525 đến 1559 MHz, với khoảng cách kênh cũng là 10 KHz

Thiết bị kết cuối M khai thác năng lượng chùm điểm của các vệ tinh

INMARSAT-3 để cho ra đời các dịch vụ loại M, song sử dụng các thiết bị kết cuối nhỏ gọn hơn so với của INMARSAT-M Các kết cuối là những thiết bị thu gọn và có kích cỡ nhỏ, khoảng bằng kích

Trang 8

thước của chiếc máy tính laptop, trọng lượng dưới 5Kg Các phiên bản dành cho hàng hải và các phương tiện giao thông cũng hiện diện rất phong phú, cũng như các phiên bản cho điện thoại vùng nông thôn, chỉ cần một chiếc đĩa 80 cm

Các hệ thống khác do Inmarsat cho ra mắt gồm có INMARSAT-D+, hệ thống được sử dụng để lưu trữ và hiển thị các tin nhắn có số ký tự chữ và số lên đến 128 Các ứng dụng nổi trội bao gồm các nhắn tin cá nhân, điều khiển giám sát và yêu cầu dữ liệu (SCADA), cũng như quảng bá điểm-đa điểm Thông qua vệ tinh Inmarsat, hệ thống INMARSAT-E được sử dụng để cung cấp các dịch vụ cảnh báo và giải trí thư giãn cho lĩnh vực hàng hải trên toàn cầu

Hàng không Inmarsat cung cấp một loạt các dịch vụ thuộc lĩnh vực hàng không có xấp xỉ 2000

phi cơ mà hiện tại đang được lắp ráp bởi các kết cuối không gian Cũng như các vùng di động và hàng hải, các kết cuối hàng không hiện diện trong một loạt các loại hình kết cuối được tung ra phục vụ các nhu cầu của từng thị trường riêng biệt Dựa theo tính tương đương của di động đất liền, hệ thống MIMI-AERO nhằm vào những người sử dụng phi cơ loại nhỏ và tạo nên một kênh đơn lẻ cho truyền fax và các cuộc gọi điện thoại

Hệ thống AERO-C là thực thể tương đương mang tính dịch vụ hàng không của kết cuối

INMARSAT-C, đồng thời cho phép các tin nhắn dữ liệu hoặc đoạn khoá văn bản lưu và chuyển tiếp ở tốc độ thấp được gửi hoặc nhận bởi một phi thuyền vệ tinh Tại bất kỳ đâu trong vùng chùm phủ sóng toàn cầu, truyền thông thoại, fax, và dữ liệu đa kênh đạt tới tốc độ 10.5 Kbit/s đều được AERO-H đáp ứng AERO-H hoạt động trên băng tần truyền phát là 1530 đến 1559 MHz, và trên băng tần thu nhận là 1626,5 đến 1660,5 MHz Hệ thống AERO-H+ là một bước tiến hoá của AERO-H, và hoạt động chủ yếu trong các vùng bao phủ chùm điểm được tạo ra bởi các vệ tinh thuộc hệ INMARSAT-3 và hơn nữa có thể chuyển mạch sang chùm sóng phủ toàn cầu khi nằm ngoài vùng bao phủ chùm điểm

Hệ thống AERO-I cũng khai thác các chùm điểm là các khả năng của các vệ tinh thuộc

INMARSAT-3, đồng thời nhằm vào các thị trường của các phi cơ vệ tinh tải lượng ngắn và trung bình AERO-I đáp ứng tới bảy kênh cho một trạm phi cơ dưới đất Các dịch vụ dữ liệu gói cũng

có mặt phong phú thông qua chùm sóng toàn cầu Hệ AERO-L cho ra các truyền thông dữ liệu tốc độ thấp với mức 600 Kbit/s và được sử dụng chủ yếu cho các thủ tục điều khiển lưu lượng không gian, điều hành và quản lý

Mạng truy nhập toàn cầu (GAN) Inmarsat đã phóng lên mạng vệ tinh GAN vào cuối năm 1999.

Mục đích của GAN là cung cấp các dịch vụ mạng thuộc mobile-ISDN và thuộc giao thức

Internet (IP) di động Các dịch vụ được GAN hỗ trợ này là các dịch vụ HSD 64Kbit/s, các dịch

vụ âm thoại 4,8Kbit/s sử dụng các thuật toán mã hoá sinh động đa băng thông tiên tiến, và các dịch vụ kỹ thuật tuần tự băng thông âm thoại có modem Các kết cuối thường hoạt động ở mức công xuất 2,5 dBW với một mức nhiệt G/T là 7 dBK-1 Các tốc độ kênh lần lượt là 5,6 và 65,5 Kbit/s với khoảng cách kênh là 5 và 40 KHz Các kết cuối hoạt động trên các băng tần khi truyền phát là 1626,5-1660,5 MHz, và thu nhận là 1525-1559 MHz

Trang 9

Hình 2: Một ví dụ về thiết bị kết cuối mạng GAN

Các kết cuối là các thiết bị có dạng laptop, nặng khoảng 4Kg, và được đấu nối với các vệ tinh thông qua các ăngten có hai hoặc ba tầng Các nhà sản xuất có xu hướng cho ra sự lựa chọn về việc thêm một trạm cơ sở (BS) CDCT vào khối modem hoạt động trên băng thông 1880 đến

1900 MHz Điều này cho phép các kết cuối hoạt động với một máy điện thoại DECT, tạo lợi nhuận trong vận hành vô tuyến điện Như trên hình vẽ 2

Dự án Hosizons tháng 12 năm 1999, ban Giám đốc của Inmarsat đã phê duyệt giai đoạn tiếp

theo của quá trình phát triển phần không gian với quyết định tiến hành tiếp với một yêu cầu về tính mềm dẻo cho các vệ tinh INMARSAT-4 trị giá 1,4 tỷ đô la Mỹ Thế hệ sau của các vệ tinh

sẽ bao gồm hai vệ tinh nằm trong vòng quỹ đạo cộng với một trạm dự phòng trên mặt đất Các

vệ tinh sẽ được đặt tại các vị trí 54o Tây và 64o Đông và mỗi vệ tinh sẽ có trọng lượng là 3 tấn, gấp ba lần trọng lượng của các vệ tinh INMARSAT-3 Các vệ tinh sẽ được thiết kế để hỗ trợ các dịch vụ có tốc độ dữ liệu trong khoảng từ 144 đến 432 Kbit/s và sẽ cung cấp các dịch vụ bổ trợ cho các dịch vụ thuộc mạng UMTS/IMT-2000 trên mặt đất Mạng này sẽ được gọi là mạng GAN băng rộng (BGAN) Hai loại dịch vụ chuyển mạch kênh và chuyển mạch gói sẽ được hỗ trợ trên mạng Kết cuối người sử dụng có lẽ sẽ chẳng khác gì thiết bị kết cuối dạng laptop đang được sử dụng cho các dịch vụ mạng GAN FES hàng không, hàng hải, và vùng xa xôi cũng sẽ được hỗ trợ Lượng tải tin sẽ bao gồm 200 chùm điểm hẹp với một công suất EIRP là 67 dBW, bao trùm đất liền và các tuyến thuộc hàng không và hàng hải chủ chốt; ngoài ra còn 19 chùm bao phủ toàn cầu thuộc công suất 39dBW Các vệ tinh sẽ hoạt động trong băng tần 1,5/1,6 GHz và là dịch vụ

có mặt vào cuối năm 2004, hai năm sau sự ra mắt của các dịch vụ UMTS mặt đất

Ngày đăng: 10/05/2016, 15:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ thông tin phối hợp tìm kiếm cứu nạn - Thu nhận, xử lý báo động cấp cứu từ các thiết bị inmarsat  inmarsat c
Sơ đồ th ông tin phối hợp tìm kiếm cứu nạn (Trang 2)
Bảng 1: Cấu hình vệ tinh Inmarsat - Thu nhận, xử lý báo động cấp cứu từ các thiết bị inmarsat  inmarsat c
Bảng 1 Cấu hình vệ tinh Inmarsat (Trang 4)
Hình 1: Độ bao phủ của dịch vụ Inmarsat - Thu nhận, xử lý báo động cấp cứu từ các thiết bị inmarsat  inmarsat c
Hình 1 Độ bao phủ của dịch vụ Inmarsat (Trang 6)
Hình 2: Một ví dụ về thiết bị kết cuối mạng GAN - Thu nhận, xử lý báo động cấp cứu từ các thiết bị inmarsat  inmarsat c
Hình 2 Một ví dụ về thiết bị kết cuối mạng GAN (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w