Vì lẽ đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận án tiến sỹ triết học v
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ THÀNH ĐÔ
GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Ở CÁC TỈNH TRUNG TRUNG BỘ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành : CNDVBC và CNDVLS
Mã số : 62 22 03 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: NGHIÊN CỨU SINH: PGS.TS NGUYỄN VĂN HÒA ĐỖ THÀNH ĐÔ
HÀ NỘI - năm 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận án là công trình khoa học độc lập của tác giả, mọi trích dẫn đều có xuất
xứ rõ ràng Tác giả xin chịu mọi trách nhiệm về công trình của mình !
Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2016
TÁC GIẢ
Đỗ Thành Đô
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa……… 1
Lời cam đoan……… 2
Mục lục……… 3
Danh mục các chữ viết tắt trong luận án……… 4
MỞ ĐẦU……… 5
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI………… 12
Chương 2 Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN TRƯỚC YÊU CẦU HIỆN NAY Ở NƯỚC TA 30
2.1 Ý thức pháp luật……… 30
2.2 Giáo dục ý thức pháp luật và giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên… 56 2.3 Tăng cường công tác giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên trước yêu cầu hiện nay 71
Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở CÁC TỈNH TRUNG TRUNG BỘ 79
3.1 Những yếu tố tác động đến giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ 79
3.2 Thực trạng giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên trong các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ 84
3.3 Những vấn đề đặt ra trong công tác giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ hiện nay……… 111
Chương 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở CÁC TỈNH TRUNG TRUNG BỘ……… 121
4.1 Phương hướng nâng cao chất lượng giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ……… 121
4.2 Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ……… 124
KẾT LUẬN……… 154
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ………… 157
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 158
PHỤ LỤC……… 168
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CNH,HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội ra đời và tồn tại cùng với xã hội
có giai cấp, ý thức pháp luật ngày càng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Ý thức pháp luật phản ánh trực tiếp các quan hệ kinh tế của xã hội, trước hết là các quan hệ sản xuất được thể hiện trong hệ thống pháp luật Thông qua sự duy trì, điều hành của nhà nước mà ý thức pháp luật tác động mạnh mẽ đến cơ sở kinh tế và các hình thái ý thức xã hội khác Mức độ và hiệu quả sự tác động của ý thức pháp luật đối với đời sống xã hội phụ thuộc vào sự truyền bá và xâm nhập của
ý thức pháp luật cả về bề rộng và bề sâu vào mọi người trong xã hội nói chung và sinh viên nói riêng Vì vậy, việc tổ chức giáo dục ý thức pháp luật cho mọi người trong xã hội nói chung và sinh viên nói riêng là đòi hỏi khách quan trong quá trình đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Nói cách khác, muốn xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền thì việc ban hành pháp luật là điều quan trọng, nhưng quan trọng hơn còn là việc giải thích, hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và thực thi Hiến pháp và pháp luật Cần phải xác định rõ: “Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục và ở tầm cao hơn nhằm làm cho cán bộ, nhân dân hiểu biết
và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”[2, tr.1] Trong xã hội có giai cấp thì các cơ sở giáo dục đại học đều phải tiến hành giáo dục ý thức pháp luật: “Giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống quốc dân được lồng ghép trong chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo; là một nội dung trong chương trình giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học"[88, tr.6] Giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên trong các trường đại học không chuyên luật ở nước ta hiện nay để góp phần đào tạo ra những sinh viên có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt; có kiến thức chuyên môn toàn diện; có kỹ năng thực hành cơ bản; có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo; biết sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật để đáp ứng yêu cầu
Trang 6phát triển của xã hội trong giai đoạn hiện nay
Các tỉnh Trung Trung Bộ nước ta đang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa Tuy nhiên, đây vẫn là khu vực còn chậm phát triển so với các khu vực khác, đời sống của các tầng lớp nhân dân còn thấp và nhiều khó khăn, sự hiểu biết về Hiến pháp và pháp luật của các tầng lớp nhân dân nói chung và sinh viên đang học tập trong các trường đại học ở khu vực này nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế Thời gian qua, công tác giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ mặc dù đã được chú trọng nhưng vẫn còn nhiều bất cập và chưa được quan tâm đúng mức Hơn lúc nào hết, vấn đề giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên trong các trường đại học ở các tỉnh khu vực này cần phải được chú trọng quan tâm nhằm hướng tới mục tiêu: “Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật và hành vi chấp hành pháp luật của nhà giáo, cán bộ quản
lý cơ sở giáo dục và người học, góp phần ổn định môi trường giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện”[99, tr.1] để góp phần tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và các tỉnh Trung Trung Bộ nói riêng
Từ những đặc điểm như trên, nghiên cứu vấn đề giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ trong giai đoạn hiện nay có
ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn Vì lẽ đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Giáo dục
ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận án tiến sỹ triết học với hi vọng nghiên cứu
chuyên sâu về vấn đề ý thức pháp luật, có thể cung cấp những giải pháp góp phần nâng cao công tác giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cụ thể hóa mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học ở nước ta hiện nay và đáp ứng sự phát triển của các tỉnh Trung Trung Bộ thời gian tới
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục đích
Trang 7Làm rõ ý thức pháp luật và mối quan hệ của nó với các hình thái ý thức xã hội khác; làm rõ giáo dục ý thức pháp luật và tầm quan trọng của nó đối với sinh viên; làm rõ thực trạng, những vấn đề đặt ra, phương hướng, giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ trong giai đoạn hiện nay
2.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận án sẽ phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Thứ nhất, phân tích làm rõ khái niệm, nội dung, cấu trúc, chức năng và vai
trò của ý thức pháp luật; mối quan hệ của ý thức pháp luật với các hình thái ý thức
xã hội khác trong việc giáo dục ý thức pháp luật; nội dung, phương pháp, hình thức
và yêu cầu của việc tăng cường giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học ở Việt Nam hiện nay
- Thứ hai, phân tích, đánh giá những yếu tố tác động, những kết quả đạt được,
những bất cập, những nguyên nhân hạn chế trong thời gian qua; nêu lên những yêu cầu cần thiết trong công tác giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên trong các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ trong thời gian tới
- Thứ ba, đề xuất phương hướng, giải pháp đồng bộ và khuyến nghị đến các
bên liên quan nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghiên cứu ý thức pháp luật với tư cách
là hình thái ý thức xã hội trong xã hội có giai cấp; ý thức pháp luật là một thuộc tính
cơ bản trong năng lực và phẩm chất của sinh viên; giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở các tỉnh Trung Trung Bộ dưới tác động của cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức và toàn cầu hóa
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 8- Ý thức pháp luật dưới giác độ của chủ nghĩa duy vật lịch sử và giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên chính quy trong các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ trong giai đoạn hiện nay
- Giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên có liên quan đến nhiều yếu tố như kinh tế - xã hội, các nguồn lực, nội dung giáo dục, chương trình giáo dục, phương pháp và hình thức giáo dục, chủ thể giáo dục.v.v Các yếu tố đó tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau Trong đó đội ngũ giảng viên luật; nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy và học tập môn luật đóng vai trò chủ đạo trong việc giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên Vì thế, do khuôn khổ của mình, luận án sẽ tập trung đi sâu vào phân tích những yếu tố đóng vai trò chủ đạo đó
- Trên cơ sở khảo sát kết quả của giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên chính quy trong các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ, rút ra những nhận xét có tính chất tổng quát, những nhận định này sẽ là cơ sở cho việc đề xuất phương hướng và giải pháp
- Số liệu nghiên cứu lấy từ 13 trường đại học, trong đó có 2 đại học vùng (Đại học Huế và Đại học Đà Nẵng) Số liệu chủ yếu được cập nhật đến hết năm 2013, giai đoạn nghiên cứu chủ yếu từ năm 2010 đến nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận
- Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với hạt nhân là phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về ý thức pháp luật và công tác giáo dục ý thức pháp luật Đặc biệt, luận án dựa trên quan điểm của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, các hình thái ý thức xã hội và
sự tác động qua lại của ý thức xã hội với tồn tại xã hội, vai trò của ý thức pháp luật trong đời sống xã hội để phân tích làm rõ các nội dung liên quan trong luận án
- Kế thừa những kết quả, tư tưởng, quan điểm của các công trình nghiên cứu
đã được công bố có liên quan đến luận án
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 9Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra, chúng tôi sử dụng nhất quán và có hệ thống các phương pháp nghiên cứu khoa học phổ biến là:
- Phương pháp lôgíc và lịch sử: phương pháp này được sử dụng trong luận án
để nhằm phân tích, luận giải làm rõ khái niệm, nội dung, cấu trúc, chức năng và vai trò của ý thức pháp luật; vị trí, vai trò, nhiệm vụ của công tác giáo dục ý thức pháp luật ở Việt Nam hiện nay Việc sử dụng phương pháp lôgíc và lịch sử còn giúp làm
rõ bản chất của ý thức pháp luật trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội, quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển của kinh tế tri thức, trong thể chế kinh tế thị trường, việc đề cao và phát triển nhân tố con người trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: là phương pháp được chúng tôi sử phổ biến
trong luận án, đặc biệt là chương 3 và chương 4 Việc sử dụng phương pháp này giúp chỉ ra những nét đặc thù về đối tượng, nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên trong các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ; làm rõ những yếu tố tác động đến đối với công tác giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên ở các tỉnh Trung Trung Bộ trong giai đoạn hiện nay
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: là phương pháp phổ biến trong nghiên
cứu khoa học, việc sử dụng phương pháp phân tích giúp cho chúng tôi làm rõ được các nội dung của đối tượng nghiên cứu; sử dụng phương pháp tổng hợp sẽ giúp khái quát lại được các vấn đề đã phân tích trước đó, từ đó xây dựng các kết luận của quá trình nghiên cứu Với ý nghĩa và tầm quan trọng của phương pháp nghiên cứu khoa học này, khi triển khai luận án, chúng tôi thường xuyên sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp để triển khai và thâu tóm các nội dung nghiên cứu trong luận án
- Phương pháp điều tra xã hội học: để có cơ sở thực tiễn, chúng tôi đã tiến
hành điều tra, khảo sát thực trạng về công tác giáo dục ý thức pháp luật đối với đội ngũ giảng viên luật và sinh viên đại học hệ chính quy đang học tập trong các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ Sử dụng phương pháp này giúp chúng tôi làm
rõ được thực trạng và nguyên nhân của thực trạng giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên thời gian qua; đồng thời còn là cơ sở để đề xuất phương hướng, giải pháp
Trang 10và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ trong thời gian tới
- Ngoài các phương pháp trên, chúng tôi còn sử dụng phương pháp đánh giá
và phân tích tài liệu (tiếng Việt và ngoại văn) phù hợp đối với từng nội dung nghiên cứu của luận án
5 Đóng góp khoa học của luận án
- Luận án góp phần làm rõ lý luận của ý thức pháp luật, mối quan hệ giữa ý thức pháp luật với ý thức pháp quyền; công tác giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên và tính cấp thiết tăng cường công tác này trước yêu cầu hiện nay ở nước ta
- Luận án góp phần làm rõ những yếu tố tác động, thực trạng giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ thời gian qua
và những vấn đề đặt ra trong công tác giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên ở khu vực này trong giai đoạn hiện nay
- Luận án đề xuất phương hướng, giải pháp và khuyến nghị đến các bên liên quan nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác giáo dục ý thức pháp luật cho
sinh viên các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ trong thời gian tới
6 Ý nghĩa của luận án
6.1 Ý nghĩa khoa học của luận án
Một là, luận án góp phần làm sâu sắc và phong phú lý luận về các hình thái ý
thức xã hội của triết học Mác - Lênin Đặc biệt là khái niệm, nội dung, kết cấu và vai trò của ý thức pháp luật; mối quan hệ giữa ý thức pháp luật với các hình thái ý thức xã hội khác
Hai là, luận án góp phần làm sâu sắc thêm quan điểm lý luận của Đảng Cộng
sản Việt Nam về tăng cường giáo dục ý thức pháp luật trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Một là, luận án cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn, phương hướng, giải pháp và
nêu lên các khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý giáo dục có liên quan và các
Trang 11trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay
Hai là, luận án được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người làm
công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học, luật học, các môn khoa học xã hội và nhân văn; tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên các trường đại học và những người làm công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục công trình khoa học đã công bố, danh mục các chữ viết tắt, phụ lục, nội dung chính của luận án gồm
4 chương, 11 tiết
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Ý thức pháp luật và công tác giáo dục YTPL cho sinh viên trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay là vấn đề rộng lớn, có tính thời sự và rất phức tạp YTPL và giáo dục YTPL cho sinh viên được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu dưới nhiều giác độ khác nhau, các công trình có liên quan trực tiếp hay gián tiếp
đến đề tài “Giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh
Trung Trung Bộ trong giai đoạn hiện nay” bao gồm:
1.1 Các công trình liên quan đến ý thức pháp luật và giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên trước yêu cầu hiện nay ở nước ta
- “Sự hình thành ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa của cá nhân” của
K.I.Belxki (1982) Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về các vấn đề
xã hội, đặc biệt là sự tác động qua lại của TTXH và YTXH, sự tương tác qua lại của các hình thái YTXH, tác giả đã phân tích quá trình hình thành, sự tác động của điều kiện KT-XH và các nhân tố ảnh hưởng đến YTPL XHCN Cuốn sách được viết trước công cuộc đổi mới ở nước ta và dựa trên những lý giải về điều kiện KT-XH của các nước XHCN ở Liên Xô cũ và các nước Đông Âu trước đây Tuy nhiên, những lý giải của K.I.Belxki về quá trình hình thành và các nhân tố ảnh hưởng đến YTPL XHCN vẫn còn giá trị trong giai đoạn hiện nay, là cơ sở lý luận để chúng tôi
lý giải về YTPL và vai trò của YTPL trong đời sống xã hội
- “Cơ sở khoa học cho việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật”
(Chương trình Khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX.07.17, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, 1995) Đề tài đã đi sâu nghiên cứu làm rõ những nhân tố cơ bản quy định YTPL và lối sống pháp luật là do TTXH và đời sống pháp luật của xã hội quy định; những căn cứ khoa học của việc xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật; những hạn chế, yếu kém của công tác giáo dục YTPL Những nội dung này chính là cơ sở để chúng tôi tham khảo khi phân tích cơ sở lý luận của YTPL và cơ
sở thực tiễn của công tác giáo dục YTPL cho sinh viên đại học ở nước ta hiện nay
Trang 13- “Pháp luật, chính trị, đạo đức và ý thức pháp luật xã hội” (in chung trong
tác phẩm sách chuyên khảo “Những vấn đề cơ bản về Nhà nước và Pháp luật”, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1996) của I.V Diuriagin Bài viết có đề cập đến những vấn đề lớn như: mối quan hệ giữa chính trị, đạo đức và pháp luật; vai trò của YTPL trong đời sống xã hội.v.v Đây là bài viết chuyên khảo có giá trị khoa học, là tài liệu tham khảo để chúng tôi giải quyết những vấn đề liên quan đến cơ sở lý luận của YTPL, mối quan hệ giữa YTPL với các hình thái YTXH khác
- “Tinh thần pháp luật” của Môngtéxkiơ (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội,
1996) và “Bàn về khế ước xã hội” của Rútxô (Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà
Nội, 2004) Các công trình này, ở khía cạnh nào đó đã đề cập đến nội dung và vai
trò của YTPL Có thể nói tác phẩm “Tinh thần pháp luật” và “Bàn về khế ước xã
hội” chính là bộ đôi tác phẩm khai sáng về quan điểm pháp chế, vạch ra định hướng
xây dựng xã hội công dân và NNPQ Đây là những tài liệu tham khảo có giá trị để chúng tôi luận giải về cơ sở lý luận của YTPL và mối quan hệ giữa YTPL với YTPQ
- “Lôgic khách quan của quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật ở Việt Nam” (Luận án tiến sỹ triết học của Nguyễn Thúy Vân, 2001) Luận án dựa
trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về các hình thái YTXH và sự phản ánh của YTXH đối với TTXH cũng như sự phản ánh của YTPL đối với đời sống pháp luật của xã hội Theo tác giả, để có được nhận thức đầy đủ, toàn diện về YTPL của một dân tộc thì cần đi sâu phân tích thực trạng xã hội, các đặc điểm KT-XH quyết định sự hành thành và phát triển của YTPL qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc đó Với cách tiếp cận này, luận án đã đi sâu phân tích một số đặc điểm cơ bản của YTPL ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử Về mặt khách quan, nguồn gốc sâu xa của YTPL Việt Nam trước hết xuất phát từ điều kiện lịch sử của đất nước, từ PTSX chủ yếu là nền sản xuất nhỏ, tiểu nông đã quy định các quan hệ xã hội không đa dạng và phức tạp nên người dân dường như không có nhu cầu điều chỉnh pháp luật Điều này làm cho hệ thống pháp luật kém phát triển, thiếu đồng bộ Mặt khác, do sự ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Phật giáo, Nho giáo coi trọng đạo đức hơn pháp luật, nên trong thời gian dài, xã hội Việt Nam đã duy trì ổn định và trật tự bằng các
Trang 14quy phạm đạo đức nhiều hơn các quy phạm pháp luật Luận án cũng khẳng định: trước yêu cầu đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển mới với sự thay đổi nhanh chóng của LLSX và QHSX, ứng dụng khoa học kỹ thuật.v.v thì đòi hỏi YTPL với
tư cách là hình thái YTXH cũng phải thay đổi cho phù hợp với thực tế khách quan của TTXH Công trình này đã cung cấp cho chúng tôi những căn cứ và định hướng khi phân tích YTPL và vai trò của YTPL trong đời sống xã hội hiện nay
- “Mấy suy nghĩ về việc đổi mới ý thức pháp luật ở nước ta hiện nay” của
Nguyễn Thúy Vân (Tạp chí Triết học, số 10, 2006) Từ cách tiếp cận cho rằng các đặc điểm KT-XH quyết định sự hình thành và phát triển của YTPL qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc, bài viết này cũng nêu bật những đặc điểm của YTPL Việt Nam Tác giả còn khẳng định, công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay đã bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn đẩy mạnh CNH,HĐH với những thời cơ và thách thức lớn Toàn cầu hóa và phát triển nền kinh tế tri thức đang tạo ra những thay đổi căn bản trên phạm vi toàn thế giới cũng như trong đời sống xã hội của mỗi quốc gia bởi sự tác động đa chiều và phức tạp của nó Chính vì thế, trong công cuộc đổi mới đất nước và xây dựng NNPQ XHCN hiện nay, đổi mới
và nâng cao YTPL đóng vai trò quan trọng, tạo ra những thay đổi tích cực trong đời sống pháp luật của xã hội Từ những đặc điểm của YTPL của con người Việt Nam giúp cho chúng tôi có thêm cơ sở để nhìn nhận, phân tích và đánh giá về đối tượng sinh viên, sự cần thiết phải tăng cường công tác giáo dục YTPL cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay
- “Sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật của nhân dân đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay” (Luận án tiến sĩ luật học
của Hồ Việt Tiệp, 2002) Luận án khẳng định, sau 15 năm đổi mới với việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đặt ra yêu cầu cấp bách là cần tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật và xây dựng NNPQ XHCN Yêu cầu đó ngày càng khẳng định vai trò, giá trị to lớn của pháp luật và sự cần thiết phải nhanh chóng nâng cao YTPL cho mọi người, trong đó có đối tượng nông dân ở khu vực nông thôn Dưới góc độ luật học, tác giả nêu lên sự phát triển YTPL của nông dân đồng bằng sông Cửu
Trang 15Long qua các giai đoạn lịch sử; thực trạng phát triển YTPL của nhân dân đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ đổi mới còn hết sức thấp kém, nhiều vấn đề bất cập; cần phải có những giải pháp đồng bộ để nâng cao YTPL ở khu vực này Luận án này đã cung cấptư liệu để chúng tôi làm rõ chức năng và vai trò của YTPL trong đời sống
xã hội Tuy nhiên, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án này bàn về giáo dục YTPL dưới giác độ luật học và hướng đến đối tượng là nhân dân ở đồng bằng sông Cửu Long, luận án cũng chưa đề cập đến công tác giáo dục YTPL cho sinh viên trong các trường đại học ở nước ta hiện nay
- “Về cấu trúc, vai trò và chức năng của văn hóa pháp luật” của Ngọ Văn
Nhân (Tạp chí Triết học, số 7, 2010) Tác giả đã đi sâu phân tích cấu trúc của văn hóa pháp luật, bao gồm YTPL, hệ thống pháp luật và các thiết chế pháp luật Bài viết cũng góp phần làm rõ vai trò của văn hóa pháp luật trong việc tạo dựng môi trường xã hội, môi trường pháp lý lành mạnh, cũng như định hướng hành vi của con người trong xã hội phù hợp với các nguyên tắc và quy định của pháp luật Ngoài ra, bài viết còn trình bày các chức năng của văn hóa pháp luật trong đời sống xã hội Chúng tôi thống nhất với những nhận định của tác giả về cấu trúc, vai trò và chức năng của văn hóa pháp luật Bài viết này là nguồn tài liệu tham khảo để chúng tôi giải quyết những vấn đề liên quan đến kết cấu, chức năng và vai trò của YTPL trong đời sống xã hội ở nước ta hiện nay
- “Bản chất đích thực của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức” của Hoàng
Thị Kim Quế (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1, 2010) Bài viết dưới góc độ luật học bàn về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, bản chất của mối quan hệ này được tác giả khẳng định, vấn đề mang tính nguyên tắc là đạo đức là cơ sở của pháp luật; đạo đức là gốc, pháp luật là chuẩn Dù ở bất cứ thời đại nào thì đạo đức và pháp luật cũng là một thể thống nhất biện chứng, tác động qua lại và tương trợ lẫn nhau Bài viết là cơ sở để chúng tôi làm rõ nội dung trong giáo dục YTPL cho sinh viên phải gắn với giáo dục đạo đức Tuy nhiên, những vấn đề về mối quan hệ giữa giáo dục YTPL và các hình thái YTXH khác ngoài ý thức đạo đức như mối quan hệ giữa YTPL với ý thức chính trị, YTPQ, ý thức thẩm mỹ chưa được tác giả đề cập
Trang 16đến trong bài viết Khắc phục điểm này, chúng tôi sẽ làm rõ mối quan hệ giữa giáo dục YTPL cho sinh viên phải gắn với giáo dục chính trị, giáo dục thẩm mỹ
- “Đổi mới căn bản, toàn diện về đào tạo ở các trường đại học đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Đặng Văn Mỹ (Kỷ yếu Hội thảo Phát triển
nguồn nhân lực cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, 2011) Tác giả tập trung phân tích thực trạng đổi mới giáo dục ở các trường đại học và đề xuất mô hình đổi mới giáo dục đại học tại các trường đại học trên phạm vi cả nước nói chung và khu vực kinh tế trọng điểm miền Trung nói riêng Chúng tôi khai thác tư liệu của bài viết này để phân tích làm rõ vai trò của giáo dục YTPL cho sinh viên trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học hiện nay
- “Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam” (Tác giả Trần Ngọc Đường, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2011) Tác phẩm trình bày hệ thống quan niệm về quyền con người, quyền công dân trong NNPQ XHCN ở Việt Nam; việc thể hiện các quyền con người, quyền công dân qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992 Tác giả còn nhấn mạnh các khía cạnh pháp lý để thực hiện các quyền con người, quyền công dân, định hướng xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam vì con người và coi con người là giá trị, mục tiêu cao nhất trong giai đoạn hiện nay Công trình này là tài liệu tham khảo để: “Có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý nghiên cứu học tập và tìm hiểu vấn
đề quyền con người và quyền công dân dưới ánh sáng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[45, tr.6], đồng thời chính là nguồn tư liệu để giúp chúng tôi đánh giá về yêu cầu cần đẩy mạnh giáo dục YTPL cho sinh viên trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta hiện nay
- “Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Tác giả Nguyễn
Quốc Sửu, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011) Tác giả đã phân tích tương đối toàn diện, có hệ thống về giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Tác giả đã làm rõ khái niệm, mục đích, mục tiêu của giáo dục pháp luật, phân biệt rõ phương pháp với hình thức giáo dục pháp luật Đặc biệt, tác
Trang 17giả đã đề xuất và luận chứng tính khả thi của các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính dựa trên kết quả khảo sát
và điều tra xã hội học có độ tin cậy cao, “cuốn sách đã phân tích, làm rõ cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn vấn đề giáo dục ý thức pháp luật, thực trạng và nguyên nhân của thực trạng, đề xuất những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục pháo luật”[94, tr.6] Mặc dù đối tượng nghiên cứu công trình này khác với đối tượng nghiên cứu của luận án, nhưng những kết quả nghiên cứu về cơ
sở lý luận của giáo dục pháp luật, quan điểm, giải pháp, phương pháp khảo sát và điều tra xã hội học của công trình này là những gợi ý cần thiết để chúng tôi tham khảo trong quá trình phân tích những vấn đề về chủ thể và đối tượng, đặc điểm, mục tiêu, hình thức, nội dung, phương pháp giáo dục YTPL cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB
- “Tư tưởng pháp luật Hồ Chí Minh với việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Nga (Tạp chí Triết học, số 1, 2012)
Bài viết trình bày và phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, vai trò tối thượng của pháp luật, tính chất dân chủ triệt để và tính nhân dân rộng rãi của pháp luật được xây dựng và thực thi với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, yêu cầu thực hiện nghiêm minh và có hiệu lực nhằm đảm bảo vai trò của pháp luật Tác giả cũng trình bày ý nghĩa của việc phát huy tư tưởng pháp luật Hồ Chí Minh trong việc tăng cường pháp chế XHCN ở nước ta hiện nay Công trình này đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để chúng tôi luận giải về tính cấp thiết tăng cường giáo dục YTPL cho sinh viên trước yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta hiện nay
- “Giáo dục pháp luật hay giáo dục ý thức pháp luật” của Ngọ Văn Nhân
(Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12, 2012) Xung quanh các tên gọi về khái niệm
giáo dục pháp luật và giáo dục YTPL còn nhiều cách tiếp cận khác nhau, đang đặt
ra nhiều vấn đề như: Chỉ có giáo dục pháp luật mà không có giáo dục YTPL? Chỉ
có giáo dục YTPL mà không có giáo dục pháp luật? Vừa có giáo dục pháp luật lại vừa có giáo dục YTPL? Dựa trên việc phân tích nội hàm của các khái niệm, tác giả
đã phân tích sự khác nhau về mục đích, mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nội dung,
Trang 18phương pháp và hình thức của hai khái niệm này Chúng tôi cho rằng giáo dục pháp luật và giáo dục YTPL có mối quan hệ mật thiết với nhau nhưng không hoàn toàn đồng nhất với nhau Điều này sẽ được làm rõ trong luận án khi chúng tôi kế thừa những kết luận khoa học của bài viết này để phân tích nội hàm khái niệm giáo dục YTPL và khái niệm giáo dục YTPL cho sinh viên
Liên quan đến vấn đề mối quan hệ giữa giáo dục YTPL và xây dựng NNPQ XHCN và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay, có nhiều công trình đã được các nhà khoa học, các học giả trong nước bàn tới như: cơ
sở lý luận và thực tiễn của xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay, vai trò của YTPL trong xây dựng NNPQ XHCN, thể chế hóa quyền lực của nhân dân trong xây dựng NNPQ XHCN, quyền và nghĩa vụ của công dân trong xây dựng NNPQ XHCN, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu hiện
nay.v.v Có thể kể đến các công trình lớn như: “Bàn về giáo dục pháp luật” của
Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1995); “Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân - Lý luận và thực tiễn” của
GS.VS Nguyễn Duy Quý và PGS.TS Nguyễn Tất Viễn đồng chủ biên (Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008); “Những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản
của việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn từ nay đến năm 2020” (Đề tài CT 09.16.03 của TS Bùi Nguyên
Khánh và PGS.TS Phạm Văn Tỉnh, 2010); “Khái niệm Nhà nước pháp quyền nhìn
từ góc độ triết học” của Trần Ngọc Liêu (Tạp chí Triết học, số 11, 2009); “Tiếp tục thể chế hóa quyền lực của nhân dân thành pháp luật trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của Trần Ngọc Liêu (Tạp chí Triết
học, số 11, 2010); “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đáp
ứng yêu cầu hội nhập quốc tế” của Hoàng Thị Hạnh (Tạp chí Triết học, số 9, 2010);
“Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thực hiện quyền lực nhà nước với việc xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của Mai Thị Thanh (Tạp
chí Triết học, số 10, 2010); “Định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền và cơ chế
quyền lực trong Văn kiện Đảng XI” của Hà Thị Mai Hiên và Nguyễn Thị Việt
Hương (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11, 2010); “Nâng cao tính pháp quyền
Trang 19của Nhà nước vì mục tiêu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” của Nguyễn Như Phát và Phạm
Hữu Nghị (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11, 2010); “Một số rào cản đối với
việc phát huy tính sáng tạo của con người Việt Nam trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” của Nguyễn Văn Hòa (Tạp chí Triết học, số 2, 2010); “Quyền con người trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay” của Tường Duy
Kiên (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6, 2010); “Một số điểm mới về xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam qua Văn kiện Đại hội XI của Đảng” của Ngọ Văn Nhân (Tạp chí Triết học, số 3, 2011); “Nhà nước pháp quyền
và vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” của Nguyễn Như Phát (Tạp
chí Triết học, số 8, 2011).v.v Đây là những cơ sở lý luận, là nguồn tài liệu quan trọng để chúng tôi lý giải về vai trò của giáo dục YTPL và ý nghĩa của giáo dục YTPL cho sinh viên trong giai đoạn đẩy mạnh xây dựng NNPQ XHCN và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
Tóm lại, các công trình trên đã đề cập tương đối đầy đủ về cơ sở lý luận của
YTPL; khái niệm, kết cấu, chức năng, vai trò của YTPL với tính cách là một hình thái YTXH trong xã hội có giai cấp; mối quan hệ giữa YTPL với các hình thái YTXH khác; cơ sở khoa học của việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật, đặc điểm của quá trình hình thành YTPL ở Việt Nam; mối quan hệ giữa YTPL với xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay; vai trò của YTPL, thể chế hóa quyền lực của nhân dân, quyền và nghĩa vụ của công dân trong xây dựng NNPQ XHCN.v.v Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề liên quan đến YTPL và giáo dục YTPL cần tiếp tục làm rõ trước yêu cầu hiện nay Trên cơ sở kế thừa các công trình trên, tác giả luận án sẽ tiếp tục làm rõ những vấn đề sau:
Thứ nhất, khái niệm, cấu trúc, chức năng và vai trò của YTPL; mối quan hệ
giữa YTPL và các hình thái YTXH, đặc biệt là làm rõ mối quan hệ giữa YTPL và YTPQ; mối quan hệ giữa tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật và các hành vi phù hợp với yêu cầu của hệ thống pháp luật hiện hành
Thứ hai, làm rõ khái niệm giáo dục YTPL và giáo dục YTPL cho sinh viên;
chủ thể, đối tượng, đặc điểm, mục tiêu, nội dung, hình thức và phương pháp giáo
Trang 20dục YTPL cho sinh viên trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay
Thứ ba, vai trò của giáo dục YTPL cho sinh viên trước yêu cầu xây dựng
NNPQ XHCN và đổi mới giáo dục đại học ở nước ta hiện nay
1.2 Các công trình liên quan đến thực trạng và những vấn đề đặt ra trong giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ
- “Pháp luật và sự quản lý nhà nước” của Minogue Martin (1993), tác phẩm
đã đề cập đến một số vấn đề của YTPL như khái niệm, cấu trúc, chức năng của YTPL; vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước.v.v Những lý giải của tác giả trong tác phẩm này mặc dù dựa trên điều kiện KT-XH ở phương Tây và bối cảnh thế giới giai đoạn trước khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới Tuy nhiên, những vấn đề mà Minogue Martin đề cập về mối quan hệ giữa pháp luật với vai trò quản lý của nhà nước vẫn còn tính thời sự trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam Kế thừa công trình này, chúng tôi phân tích làm rõ thêm về nội dung giáo dục YTPL cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB hiện nay phải bám sát vào cơ chế, chính sách, pháp luật của nhà nước
- “Chính sách pháp luật và ý thức pháp luật Việt Nam” của Nguyễn Như Phát
(Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4, 1993) Bài viết đề cập đến chiều sâu cơ sở cho chính sách pháp luật và YTPL ở Việt Nam phải xuất phát từ nhu cầu đời sống
xã hội, đời sống pháp luật và từ điều kiện KT-XH Vì vậy, không thể lấy quan điểm chủ quan duy ý chí để áp đặt cho những chính sách và hệ thống pháp luật XHCN Bài viết cũng phân tích chỉ rõ thực trạng và nguyên nhân của tình trạng bất cập, yếu kém của hệ thống pháp luật Việt Nam, đồng thời chỉ ra hệ thống giải pháp để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nhằm nâng cao YTPL cho mọi người dân Việt Nam trong giai đoạn mới Bài viết này mặc dù chưa chỉ ra những nét đặc thù về giáo dục YTPL đối với sinh viên, nhưng là cơ sở để chúng tôi phân tích chỉ ra những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong công tác giáo dục YTPL cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB thời gian qua
- “Xây dựng lối sống theo pháp luật nhìn từ góc độ lịch sử truyền thống, xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật” (Chương trình Khoa học công nghệ cấp
Trang 21Nhà nước KX.07.17 của tác giả Vũ Minh Giang chủ biên, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1995) Đề tài đã tập trung nghiên cứu quá trình hình thành nhu cầu đời sống pháp luật, sự cần thiết xây dựng lối sống theo pháp luật trong thời kỳ mới, những hạn chế của cơ chế kinh tế thị trường đang mâu thuẫn gay gắt với sự bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của lịch sử dân tộc Mặt khác, đề tài cũng đánh giá thực trạng YTPL và lối sống theo pháp luật của nhân dân ta bên cạnh những mặt tích cực, đáng ghi nhận thì vẫn còn những hạn chế, yếu kém, bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật Chúng tôi tiếp nhận những kết luận, đề xuất của công trình này để phân tích những tác động của điều kiện văn hóa - xã hội đối với giáo dục YTPL cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB trong giai đoạn hiện nay
- “Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính” (Tác
giả Lê Đình Khiên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002) Từ việc phân tích làm rõ nhu cầu phát triển KT-XH của đất nước đòi hỏi mọi người dân phải sống
và làm việc theo hiến pháp và pháp luật Tác giả khẳng định, nâng cao hiệu quả quản lý xã hội bằng pháp luật của nhà nước chỉ có thể thực hiện được khi đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý có trình độ hiểu biết nhất định về pháp luật Do vậy, nâng cao YTPL cho đội ngũ cán bộ quản lý hành chính nhà nước là khâu quan trọng, tạo điều kiện để thúc đẩy việc nâng cao YTPL trong xã hội, xây dựng và củng cố các quan hệ xã hội dựa trên cơ sở pháp luật Chúng tôi kế thừa công trình này để phân tích những yêu cầu đối với chủ thể và đối tượng của giáo dục YTPL, đặc biệt là yêu cầu nâng cao trình độ đối với đội ngũ giảng viên làm công tác giáo dục YTPL cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB hiện nay
- “Chế độ dân chủ: nhà nước và xã hội” của N.M Voskresenskaia và N.B
Davletshina (2009) do Phạm Nguyên Trường dịch, Nhà xuất bản Hệ thống giáo dục của Cộng hòa Liên bang Nga phát hành Tác giả đã nghiên cứu và có những quan niệm mới về dân chủ, các giá trị của dân chủ, quyền con người trong xã hội dân chủ, nhà nước và chính quyền, bầu cử - cơ chế thực thi dân chủ quan trọng, chế độ liên bang và các hình thức nhà nước khác, các đảng chính trị và tổ chức xã hội, văn hóa, pháp luật và dân chủ, nước Nga quá khứ và tương lai Cuốn sách được trình
Trang 22bày mạch lạc, dễ hiểu, kèm theo những minh họa hấp dẫn, được coi là tài liệu tham khảo dùng cho các trường phổ thông, thể hiện như là “thử nghiệm đầu tiên trong soạn thảo sách giáo khoa về dân chủ và pháp luật” Công trình này là tài liệu tham khảo để chúng tôi phân tích những tác động của điều kiện chính trị - xã hội trong giáo dục YTPL cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB
- “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới” (Đề tài khoa học cấp Bộ, Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp,
2009) Dựa trên kết quả khảo sát, phân tích hiện trạng giáo dục pháp luật ở một số địa phương, đề tài khẳng định công tác giáo dục pháp luật ở nước ta trong thời kỳ đổi mới còn nhiều hạn chế yếu kém, nội dung và phương thức giáo dục còn chậm đổi mới, nặng về hình thức nên hiệu quả giáo dục pháp luật không cao Chính vì vậy, các cơ quan xây dựng pháp luật và cơ quan pháp luật cần phải chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ pháp luật, đầu tư thỏa đáng cho công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật cho mọi đối tượng, chú trọng địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng
xa, vùng cư trú của đồng bào dân tộc ít người Công trình này là một trong những chỉ dẫn quan trọng trong việc phân tích, đánh giá thực trạng công tác giáo dục YTPL cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB hiện nay
- “Ý thức pháp luật với việc thực hiện dân chủ ở nông thôn Việt Nam hiện
nay” (Luận án tiến sỹ triết học của tác giả Lê Xuân Huy, 2010) Luận án phân tích
thực trạng và tầm quan trọng của việc nâng cao YTPL với việc thực hiện dân chủ ở nông thôn Việt Nam trong thời kỳ CNH,HĐH Đồng thời luận án đã đề ra hệ thống những giải pháp nâng cao YTPL nhằm thực hiện dân chủ ở nông thôn Việt Nam Những vấn đề mà luận án đề cập có ý nghĩa thời sự trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là trong giai đoạn Quốc hội Việt Nam đang tổ chức lấy ý kiến rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 Luận án này đã góp phần làm rõ tính cấp thiết của việc nâng cao YTPL trong mối quan hệ với thực hiện dân chủ ở nông thôn Việt Nam trong thời kỳ CNH,HĐH đất nước, “góp phần làm sáng
tỏ quan điểm mác-xít về YTPL và thực hiện dân chủ; nêu ra những luận cứ khoa học về sự cần thiết phát huy vai trò YTPL đối với việc thực hiện dân chủ ở nông thôn Việt Nam hiện nay”[55, tr.5] Những nội dung của luận án này bàn về thực
Trang 23trạng công tác giáo dục YTPL ở nông thôn hiện nay là tài liệu tham khảo để chúng tôi phân tích thực trạng công tác giáo dục YTPL cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB thời gian qua
- “Tình hình và giải pháp ngăn ngừa tình trạng vi phạm pháp luật của học sinh, sinh viên” của Đặng Trần Thanh Ngọc (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2,
2010) Tác giả đã phân tích thực trạng vi phạm pháp luật của tầng lớp học sinh, sinh viên từ năm 2009 đến nay như một bức tranh với sắc màu ảm đạm Nguyên nhân của tình trạng đó theo tác giả bắt nguồn từ: tâm lý tuổi mới lớn, nhân cách chưa hoàn chỉnh, môi trường sống, tác động của văn hóa phẩm độc hại.v.v Bài viết cũng nêu lên các kiến nghị nhằm ngăn ngừa tình trạng vi phạm pháp luật của học sinh, sinh viên: xây dựng đời sống lành mạnh trong gia đình và ngoài xã hội; đổi mới chương trình giáo dục đạo đức và pháp luật trong nhà trường; có chế tài xử lý vi phạm; sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của gia đình, nhà trường và xã hội Bài viết này là cơ sở để chúng tôi phân tích thực trạng, nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật của sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB thời gian qua
- “Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật” (Hoàng Chí Bảo và Tống Đức
Thảo đồng chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Hành chính, Hà Nội, 2011) Các tác giả tập trung phân tích khái niệm, bản chất, nội dung, mối quan hệ giữa dân chủ và văn hóa pháp luật, nhấn mạnh đặc điểm của văn hóa pháp luật Việt Nam trong tiến trình đổi mới dưới các khía cạnh bản chất, mục tiêu và định hướng xây dựng phát triển Đồng thời, các tác giả cũng nêu lên hệ thống các giải pháp để đảm bảo dân chủ và nâng cao văn hóa pháp luật ở Việt Nam hiện nay Những phân tích của các tác giả
về những vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa dân chủ và văn hóa pháp luật, các đặc điểm của văn hóa pháp luật là cơ sở để chúng tôi bàn về tác động của điều kiện văn hóa - xã hội trong giáo dục YTPL cho sinh viên các tỉnh TTB hiện nay
- “Tổng quan kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” của Đỗ
Thanh Phương, “Tổng quan kinh tế vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” của
Nguyên Chương và Trần Như Quỳnh (Kỷ yếu Hội thảo Phát triển nguồn nhân lực cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, 2011) Những bài viết này đã phân tích tổng thể về các đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục.v.v của các tỉnh thuộc
Trang 24khu vực kinh tế trọng điểm miền Trung Đây chính là nguồn tài liệu giúp tác giả luận án khái quát những yếu tố tác động của điều kiện tự nhiên, điều kiện KT-XH đối với công tác giáo dục YTPL cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB
- “Vai trò của pháp luật trong xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính trị ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Thu Hường (Tạp chí Triết học, số
6, 2012) Tác giả bài viết khẳng định pháp luật là yếu tố có vai trò quan trọng trong xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính trị ở Việt Nam hiện nay như: pháp luật củng cố những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, làm cho các giá trị đó thấm sâu và phát huy mạnh mẽ trong hệ giá trị đạo đức của người cán bộ lãnh đạo chính trị; pháp luật xây dựng, củng cố và bảo vệ các giá trị đạo đức của người cán bộ lãnh đạo chính trị, góp phần hình thành và hoàn thiện những giá trị đạo đức mới, tiến bộ hơn cho đội ngũ này; pháp luật giúp cán bộ lãnh đạo chính trị loại trừ quan niệm, tư tưởng đạo đức lạc hậu, lỗi thời; pháp luật góp phần ngăn chặn sự thoái hóa, xuống cấp đạo đức ở cán bộ lãnh đạo chính trị Bài viết là tư liệu để chúng tôi phân tích những vấn đề đặt ra trong công tác giáo dục YTPL cho sinh viên, đặc biệt là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục YTPL cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB trong thời gian tới
Ngoài ra, còn có các công trình khác liên quan đến chương 3 của luận án được chúng tôi tham khảo khi phân tích từng nội dung cụ thể về những yếu tố tác động, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong giáo dục YTPL cho sinh viên các trường đại
học ở các tỉnh TTB, cụ thể như: “Xã hội và pháp luật” của Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994); “Đại hội VIII -
Đảng Cộng sản Việt Nam và những vấn đề cấp bách của khoa học về Nhà nước và pháp luật của Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật” (Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1997); “Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật của
đội ngũ cán bộ cấp cơ sở” của Trần Thị Hồng Thúy chủ biên (Nhà xuất bản Tư
pháp, Hà Nội, 2004); “Văn hóa pháp lý Việt Nam” của Lê Đức Tiết chủ biên (Nhà
xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2005).v.v Trong các công trình này, các tác giả đã đề cập đến những vấn đề cơ bản như: ý thức và lối sống theo pháp luật, thực trạng hiểu
Trang 25biết YTPL và thái độ đối với pháp luật của các tầng lớp nhân dân trong đó có tầng lớp sinh viên, giáo dục YTPL và những vấn đề mới đặt ra trong giai đoạn hiện nay
Tóm lại, những công trình trên đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận về
phản ánh về công tác giáo dục YTPL ở nước ta, là nguồn tài liệu có giá trị để chúng tôi làm rõ thêm những khía cạnh sau:
Thứ nhất, phân tích làm rõ những điều kiện của các tỉnh TTB tác động đến
công tác giáo dục YTPL cho sinh viên các trường đại học ở khu vực này
Thứ hai, phân tích và đánh giá làm rõ thực trạng công tác giáo dục YTPL
trong các trường đại học ở các tỉnh TTB thời gian qua
Thứ ba, phân tích làm rõ những vấn đề đặt ra trong công tác giáo dục YTPL
cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB trong giai đoạn hiện nay
1.3 Các công trình liên quan đến phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh Trung Trung Bộ
- “Giáo dục ý thức pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay” (Luận án Phó tiến sỹ
khoa học của Đinh Xuân Thảo, 1996) Trên cơ sở phân tích đặc điểm của nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN ở Việt Nam giai đoạn đầu của quá trình đổi mới đất nước, đời sống pháp luật của xã hội có những biến động mạnh, bộc lộ nhiều mâu thuẫn giữa tốc độ, sự đầu tư xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật với sự hạn chế trong tổ chức thực hiện pháp luật và trình độ văn hóa pháp lý, YTPL của các tầng lớp nhân dân lao động còn nhiều thấp kém Tác giả luận án khẳng định, để giải quyết mâu thuẫn ấy thì việc đổi mới và tăng cường công tác giáo dục pháp luật trong các nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng để “góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn giáo dục pháp luật nó chung, giáo dục pháp luật trong nhà trường nói riêng, đề xuất nhằm góp phần tăng cường giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề ở nước ta” Chúng tôi kế thừa những phương hướng và giải pháp mà tác giả đưa ra trong luận án này để đề xuất nhóm giải pháp đối với đối tượng của giáo dục YTPL - sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB
Trang 26- “Những đặc điểm của quá trình hình thành ý thức pháp luật ở Việt Nam hiện nay” (Luận án Tiến sỹ triết học của Đào Duy Tấn, 2000) Trên cơ sở phân tích làm
rõ bản chất và con đường hình thành YTPL, tác giả khẳng định, YTPL là một hình thái YTXH ra đời và tồn tại trong xã hội có giai cấp, nhà nước và pháp luật Quá trình hình thành YTPL luôn tuân thủ những quy luật phổ biến, YTPL vừa phản ánh điều kiện KT-XH vừa có tính độc lập tương đối so với TTXH trong sự tương tác với các hình thái YTXH khác Luận án còn khẳng định, qua 15 năm đổi mới, những bất cập và hạn chế trong quản lý nhà nước dẫn đến thiếu những nhân tố then chốt cho điều tiết nền kinh tế thị trường, nhất là yếu tố pháp luật Trình độ hiểu biết pháp luật, thái độ tôn trọng, chấp hành pháp luật còn thấp dẫn đến việc thực thi pháp luật còn nhiều hạn chế Vì vậy, việc nâng cao YTPL cho cán bộ và nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH của đất nước là vấn đề cấp thiết hiện nay Muốn vậy, cần phải có những giải pháp đồng bộ, thiết thực để nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật cho nhân dân Từ việc làm sáng tỏ luận cứ khoa học về tính quy luật của sự hình thành YTPL và đặc điểm YTPL ở Việt Nam, luận
án đã phân tích làm rõ: “Những yêu cầu và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân Việt Nam hiện nay”[95, tr.8] Chúng tôi vận dụng những phương hướng, quan điểm đề ra trong luận án này để đề xuất những phương hướng nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục YTPL cho sinh viên ở các tỉnh TTB
-“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung” của Hồ Tấn Sáng (Kỷ yếu Hội thảo Phát triển nguồn nhân lực cho vùng
kinh tế trọng điểm miền Trung, 2011) Bài viết tập trung phân tích những yêu cầu bức thiết của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và đề xuất hệ thống các giải pháp góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong giai đoạn 2011 - 2020 như: tiến hành dự báo nhu cầu nguồn nhân lực, phục vụ cho công tác quy hoạch phát triển các ngành và tạo dựng cơ cấu lao động tương thích; xây dựng hệ thống chính sách để cải thiện và nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài và kỹ năng ngành nghề cho lực lượng lao động; ưu tiên cải cách nội dung chương trình và đổi mới phương pháp dạy và học cho các cấp, các ngành học trong hệ thống giáo
Trang 27dục quốc dân phục vụ yêu cầu của quá trình hội nhập; xây dựng chiến lược phát triển khoa học công nghệ, khoa học xã hội theo yêu cầu của sự nghiệp CNH,HĐH kết hợp với đào tạo và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao Bài viết này là cơ sở để chúng tôi đề xuất các giải pháp về đảm bảo các điều kiện cần thiết
về kinh tế, chính trị, văn hóa cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục YTPL cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB trong thời gian tới
-“Đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” của Bùi Quang Bình (Kỷ yếu Hội
thảo Phát triển nguồn nhân lực cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, 2011) Trên cơ sở phân tích nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho khu vực kinh tế trọng điểm miền Trung trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay và tình hình thực hiện đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của các trường đại học ở khu vực này, tác giả nêu lên những vấn đề còn tồn tại và đề xuất các kiến nghị để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở khu vực nền kinh tế trọng điểm miền Trung trong thời gian tới Những dự báo về nhu cầu nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế khu vực miền Trung là
cơ sở để chúng tôi đề xuất những khuyến nghị đến các bên liên quan trong công tác giáo dục YTPL cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB thời gian tới
- “Đoàn Thanh niên trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật” (Ban Tuyên
giáo, Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, 2012), cuốn sách là cẩm nang cho cán bộ đoàn, hội trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho cán bộ, đoàn viên thanh niên, sinh viên trong các trường đại học hiện nay Nội dung của cuốn sách ngoài các văn bản chỉ đạo của các bộ, ngành, đoàn thể còn giới thiệu các mô hình kiểu mẫu có hiệu quả trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và vận động chấp hành pháp luật của đoàn viên thanh niên trong thực tiễn Những mô hình kiểu mẫu này chính là cơ sở
để chúng tôi tham khảo khi đề xuất các giải pháp lồng ghép giáo dục YTPL với hoạt động của tổ chức đoàn, hội trong các trường đại học ở TTB hiện nay
- “Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách” (Tác giả
Nguyễn Đình Đăng Lục, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013) Tác giả
Trang 28đã phân tích và nêu bật được “vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong quá trình và phát triển nhân cách của người chưa thành niên Trên cơ sở những đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên liên quan đến YTPL của nhóm đối tượng này, tác giả cuốn sách đã rút ra những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác giáo dục pháp luật đối với thế hệ trẻ Sự hình thành và phát triển nhân cách gắn với tác động của nhiều yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa là sản phẩm trực tiếp của cả quá trình giáo dục và rèn luyện nhân cách của mỗi cá nhân, trong đó có giáo dục pháp luật”[58, tr.5] Tác giả nhấn mạnh, trong thời gian dài qua, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật chưa được chú trọng đúng mức dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật của giới trẻ Cuốn sách này giúp chúng tôi tham khảo khi bàn về các nhóm giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục YTPL cho sinh viên hiện nay
- “Phát triển đội ngũ giảng viên ở đại học Huế” (Luận án thạc sỹ khoa học
kinh tế của Nguyễn Minh Hưng, 2013) Công trình khoa học này đã làm bật cơ sở lý luận để phát triển đội ngũ giảng viên ở đại học Huế, khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên ở đại học Huế trong giai đoạn từ 2010 đến 2012 Trên cơ sở phân tích thực trạng, công trình đã đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm phát triển đội ngũ giảng viên ở đại học Huế nhằm mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển của đại học Huế trong thời gian tới Đây là công trình khoa học có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Những kết quả phân tích về thực trạng, định hướng phát triển và giải pháp của công trình này là nguồn tài liệu tham khảo để chúng tôi phân tích, đánh giá về thực trạng
và đặc biệt là đề xuất các nhóm giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên làm công tác giáo dục YTPL trong các trường đại học ở các tỉnh TTB trong thời gian tới
Tóm lại, những công trình trên đã đề cập tương đối đầy đủ về phương hướng,
giải pháp và căn cứ đề xuất khuyến nghị nhằm nâng cao công tác giáo dục YTPL cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB Đây là nguồn tư liệu để chúng tôi
tham khảo khi đề xuất phương hướng, giải pháp và đề xuất những kiến nghị nhằm
nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục YTPL cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB trong thời gian tới
Trang 29Kết luận, tất cả các công trình trên đây là nguồn tài liệu quan trọng giúp cho
chúng tôi tham khảo trong quá trình triển khai làm rõ những nội dung sau:
Thứ nhất, làm rõ lý luận của YTPL, giáo dục YTPL và giáo dục YTPL cho
sinh viên; tính tất yếu cần phải tăng cường công tác giáo dục YTPL cho sinh viên trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay
Thứ hai, làm rõ những yếu tố tác động, thực trạng công tác giáo dục YTPL
cho sinh viên ở các trường đại học ở các tỉnh TTB thời gian qua; những vấn đề đặt
ra đối với giáo dục YTPL cho sinh viên ở khu vực này trong giai đoạn hiện nay
Thứ ba, đề xuất phương hướng, giải pháp và khuyến nghị tới các bên liên quan
để nâng cao chất lượng giáo dục YTPL cho sinh viên trong thời gian tới
Kết luận chương 1
Nhìn một cách tổng quát, những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước ở trên, đã đạt được những kết quả nhất định về việc phân tích và làm rõ YTPL và giáo dục YTPL Đó chính là những gợi ý, chỉ dẫn quan trọng và cần thiết cho tác giả triển khai các nội dung liên quan đến luận án Tuy nhiên, YTPL và công tác giáo dục YTPL cho sinh viên trong các trường đại học ở các tỉnh TTB được nghiên cứu trên bình diện triết học và được thực hiện dưới dạng luận án tiến sĩ triết học là một vấn đề khá mới mẻ, phức tạp, chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu với tư cách là một công trình khoa học độc lập
Những công trình trước đây chưa có điều kiện đi sâu phân tích khái niệm YTPL với YTPQ nên đã dẫn đến tình trạng đồng nhất YTPQ với YTPL, đồng nhất giáo dục YTPQ với giáo dục YTPL, hoặc đồng nhất giáo dục YTPL với giáo dục pháp luật; chưa có điều kiện để đi vào phân tích công tác giáo dục YTPL cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB Vì vậy, luận án sẽ tập trung đi vào phân tích và làm sáng tỏ những nội dung này Qua phân tích những nội dung đó, luận án còn góp phần làm rõ những yếu tố tác động, những vấn đề đặt ra trong công tác giáo dục YTPL cho sinh viên; đề xuất phương hướng, giải pháp và khuyến nghị đến các bên liên quan nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác giáo dục YTPL cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB trong thời gian tới
Trang 30Chương 2
Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT
CHO SINH VIÊN TRƯỚC YÊU CẦU HIỆN NAY Ở NƯỚC TA
2.1 Ý thức pháp luật
2.1.1 Cơ sở lý luận để nghiên cứu vấn đề ý thức pháp luật
Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin thì các quan điểm và học thuyết pháp luật khác nhau đều là sản phẩm của mỗi thời đại và hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhất định, chúng đều là sự phản ánh lợi ích mà xét cho cùng là lợi ích kinh tế của các giai cấp Do hạn chế lịch sử và thiếu cơ sở lý luận khoa học, các học thuyết và hệ tư tưởng pháp luật trước khi chủ nghĩa Mác ra đời chưa lý giải được một cách khoa học về YTPL Chỉ đến khi chủ nghĩa Mác ra đời, chúng ta mới có đủ cơ sở lý luận khoa học để lý giải một cách đúng đắn về vấn đề đó, cụ thể là:
2.1.1.1 Nguồn gốc và bản chất của ý thức
Ý thức pháp luật thuộc ý thức con người nên khi đề cập đến nó, không thể không bắt đầu bằng sự phân tích về nguồn gốc và bản chất của ý thức Triết học Mác - Lênin khẳng định, ý thức của con người chính là sản phẩm của quá trình phát triển của tự nhiên và của lịch sử xã hội Ý thức là thuộc tính - thuộc tính phản ánh của một dạng vật chất có tổ chức và kết cấu cao, đó là bộ não người
Phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất, “phản ánh là sự tái tạo
những đặc điểm của một hệ thống vật chất ở hệ thống vật chất khác trong quá trình
tác động qua lại của chúng”[54, tr.195] Phản ánh của ý thức là sáng tạo vì nó bao
giờ cũng do nhu cầu thực tiễn quy định, “ý thức là vật chất được đem chuyển vào
trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”[1, tr.257] Thuộc tính phản
ánh của vật chất có quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn; từ phản ánh của giới vô sinh đến
phản ánh của giới hữu sinh Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất, là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não con người
Bộ não con người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên não bộ chính là
nguồn gốc tự nhiên của ý thức Ngoài nguồn gốc tự nhiên, còn có nguồn gốc xã hội
Trang 31của ý thức Do đó, ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc con người dưới ảnh hưởng của lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội Ý thức là sản phẩm của
sự phát triển xã hội, nó phụ thuộc vào xã hội, ngay từ đầu ý thức đã mang tính xã hội như C.Mác đã khẳng định: “Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại”[65, tr.43]
Lao động là phương thức tồn tại cơ bản đầu tiên của con người, lao động là
hoạt động đặc thù của con người, là hoạt động làm cho con người khác với tất cả những loài động vật khác Ngay từ đầu, lao động đã gắn kết các thành viên trong xã hội với nhau, làm nảy sinh ở họ những nhu cầu trao đổi và giao tiếp Ý thức chỉ được nảy sinh trong quá trình lao động, trong các hoạt động cải tạo thế giới của con người Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội và mang tính xã hội, bắt nguồn từ chính thực tiễn lịch sử - xã hội Do đó, “nguồn gốc trực
tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động, là
thực tiễn xã hội”[54, tr.199]
Ngôn ngữ khi ra đời vừa là phương tiện giao tiếp trong xã hội, ngôn ngữ vừa
là công cụ của tư duy nhằm khái quát hóa, trừu tượng hóa hiện thực như Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Đem so sánh con người với con vật, người ta thấy rõ ràng rằng ngôn ngữ bắt nguồn từ trong lao động và cùng phát triển với lao động, đó
là cách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ”[69, tr.645] Nhờ có ngôn ngữ mà con người mới có thể tổng kết được toàn bộ lịch sử phát triển của mình, mới có thể tổng kết thực tiễn, trao đổi thông tin, tình cảm, truyền đạt tri thức
từ thế hệ này sang thế hệ khác: “Nhờ ngôn ngữ, kinh nghiệm, hiểu biết của người này được truyền cho người kia, thế hệ này cho thế hệ khác Ý thức không phải là hiện tượng thuần túy cá nhân mà là một hiện tượng có tính chất xã hội, do đó không
có phương tiện trao đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được”[54, tr.199]
Từ việc phân tích cơ sở lý luận về nguồn gốc và bản chất của ý thức trên đây, giúp chúng ta có cơ sở khoa học để khẳng định rằng: đời sống tinh thần của xã hội loài người nói chung và YTPL nói riêng được hình thành và phát triển trên cơ sở đời sống vật chất; YTPL là sự phản ánh các quan hệ xã hội, trước hết là các quan hệ
Trang 32kinh tế, chính trị, pháp luật của xã hội; YTPL ở những thời kỳ lịch sử khác nhau sẽ khác nhau, không có và không thể có YTPL chung cho mọi thời đại lịch sử; YTPL
là một hiện tượng xã hội, do đó để YTPL đi sâu vào trong đời sống pháp luật của cá
nhân, phát huy được vai trò của nó trong giai đoạn hiện nay thì cần phải đẩy mạnh công tác giáo dục YTPL cho mọi người nói chung và sinh viên nói riêng; giáo dục
YTPL cho sinh viên đòi hỏi phải luôn có sự gắn kết với thực tiễn, nội dung của giáo
dục YTPL phải phù hợp với điều kiện khách quan Vì vậy, giáo dục YTPL cho sinh viên trong các trường đại học ở các tỉnh TTB phải xuất phát từ tình hình thực tế, phù hợp đối tượng sinh viên và gắn với sự phát triển KT-XH của các tỉnh TTB
Ý thức pháp luật chẳng những phản ánh đời sống pháp luật của xã hội mà nó còn tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội tùy thuộc vào mức độ truyền bá, xâm nhập của YTPL vào trong quần chúng, mức độ truyền bá, xâm nhập đó càng sâu
rộng thì hiệu quả càng cao Vì vậy, đẩy mạnh việc giáo dục YTPL cho sinh viên để
ý thức đó biến thành nhận thức và hành động tích cực của mỗi người đối với sự phát triển của xã hội Chính vì thế, giáo dục YTPL cho sinh viên trong các trường đại
học là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết ở Việt Nam hiện nay
2.1.1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Ý thức pháp luật là bộ phận của KTTT chịu sự chi phối của CSHT Do đó, mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT sẽ là cơ sở chỉ dẫn hết sức quan trọng
để xem xét YTPL
“Cơ sở hạ tầng dùng để chỉ toàn bộ những quan hệ sản xuất của một xã hội trong sự vận động hiện thực của chúng hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội đó”[54, tr.448] CSHT phản ánh chức năng xã hội của các QHSX với tư cách là cơ sở kinh
tế của các hiện tượng xã hội CSHT của mỗi xã hội cụ thể bao gồm những QHSX thống trị, những QHSX tàn dư và những QHSX mầm mống của xã hội sau Đặc trưng cho bản chất của một CSHT là QHSX thống trị, tương ứng với các kiểu QHSX đó là các thành phần kinh tế đặc trưng cho nó
“Toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật cùng với những thiết chế xã hội tương ứng của chúng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội là cái được hình thành, được xây dựng
Trang 33trên nền tảng của những cơ sở hạ tầng nhất định, hợp thành kiến trúc thượng tầng xã hội”[54, tr.449] Mỗi yếu tố của KTTT có những đặc điểm riêng, có quy luật tồn tại
và phát triển riêng, nhưng tồn tại trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau và đều nảy sinh trên CSHT, phản ánh CSHT sinh ra chúng Trong xã hội có giai cấp, nhà nước là bộ phận có quyền lực nhất trong KTTT của xã hội, là công cụ của giai cấp thống trị về mặt chính trị - pháp lý Tính giai cấp của KTTT biểu hiện sự đối kháng về quan điểm, tư tưởng và cuộc đấu tranh về mặt tư tưởng, chính trị của các giai cấp đối kháng; mâu thuẫn đối kháng trong KTTT bắt nguồn từ mâu thuẫn đối kháng trong CSHT
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, giữa CSHT và KTTT có mối quan hệ biện chứng, trong đó CSHT đóng vai trò quyết định đối với KTTT Điều này cũng có nghĩa là, chính trị bắt nguồn từ kinh tế, sự xuất hiện nhà nước và phát sinh những quan điểm về tư tưởng, chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo cũng đều bắt nguồn
từ nguyên nhân kinh tế như C.Mác đã khẳng định: “Không thể lấy bản thân những quan hệ pháp quyền cũng như những hình thái nhà nước, hay lấy cái gọi là sự phát triển chung của tinh thần của con người, để giải thích những quan hệ và hình thái đó bắt nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất”[68, tr.14]
Vai trò quyết định của CSHT đối với KTTT thể hiện trước hết ở chỗ CSHT nào thì sinh ra KTTT đó, trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị trong đời sống chính trị và tinh thần Vai trò quyết định của CSHT còn thể hiện ở chỗ khi CSHT trong xã hội thay đổi thì sớm hay muộn KTTT cũng phải thay đổi theo: “Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng”[68, tr.15] Sự thay đổi
đó diễn ra không chỉ trong giai đoạn thay đổi từ hình thái KT-XH này sang hình thái KT-XH khác, mà còn diễn ra ngay trong bản thân mỗi hình thái KT-XH Nguyên nhân làm cho KTTT biến đổi theo CSHT xét đến cùng chính là do sự phát triển của LLSX làm cho CSHT biến đổi, đến lượt nó lại làm cho KTTT biến đổi theo
Toàn bộ KTTT cũng như các yếu tố cấu thành nó đều có tính độc lập tương đối trong quá trình vận động, phát triển và tác động một cách mạnh mẽ đối với CSHT Sự tác động của KTTT đối với CSHT diễn ra theo hai chiều: nếu KTTT tác
Trang 34động phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan thì nó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển; còn nếu tác động ngược lại nó sẽ kìm hãm sự phát triển kinh
tế, kìm hãm sự phát triển xã hội Nhưng sự kìm hãm đó chỉ là tạm thời, sớm hay muộn bằng cách này hay cách khác KTTT cũ sẽ được thay thế bằng KTTT mới cho phù hợp với yêu cầu của CSHT
Từ cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa CSHT và KTTT trên đây giúp cho
chúng ta có cơ sở khoa học để thấy rõ được nguồn gốc, nội dung, cấu trúc và chiều
hướng vận động, phát triển của YTPL; thấy được vai trò, vị trí, chức năng của
YTPL trong đời sống xã hội; thấy được mối quan hệ biện chứng giữa YTPL với các
yếu tố khác trong KTTT của xã hội
2.1.1.3 Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
Với tư cách là một hình thái YTXH, YTPL có liên quan mật thiết đến mối quan hệ giữa TTXH và YTXH
“Tồn tại xã hội là sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của
xã hội”[54, tr.567] TTXH bao gồm PTSX, điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh địa lý, dân
số và mật độ dân số.v.v Trong đó PTSX là yếu tố cơ bản nhất, quy định và chi phối các yếu tố còn lại trong TTXH
“Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, gồm những quan điểm, tư tưởng, cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định”[54, tr.568] YTXH là một hiện tượng phức tạp, tùy theo từng giác độ xem xét, người ta có thể phân chia YTXH ra thành nhiều yếu tố khác nhau
Giữa TTXH và YTXH có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, trong đó, TTXH đóng vai trò quyết định YTXH Điều này được biểu hiện ở những điểm như
sau: thứ nhất, TTXH sinh ra YTXH, YTXH là sự phản ánh TTXH, phụ thuộc vào
TTXH TTXH như thế nào thì YTXH như thế ấy Mỗi khi TTXH, nhất là PTSX biến đổi thì những tư tưởng và những lý luận xã hội, những quan điểm về chính trị
và pháp quyền, triết học, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật.v.v sớm muộn sẽ biến đổi
theo; thứ hai, TTXH quyết định nội dung, tính chất, đặc điểm, xu hướng vận động
và phát triển của YTXH
Trang 35Qua sự phân tích ở trên cho chúng ta thấy rằng: YTPL chỉ có thể được nảy sinh từ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất nhất định trong xã hội Nói cách khác, YTPL ra đời từ TTXH, xuất phát từ TTXH và chịu sự chi phối của TTXH Từ đây ta thấy rằng, giữa nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với việc xây dựng YTPL và NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sự ra đời của NNPQ XHCN chính là kết quả tất yếu của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN; công tác giáo dục YTPL cho sinh viên trong các
trường đại học hiện nay là quan trọng và cấp bách, giáo dục YTPL cho sinh viên
phải gắn với định hướng phát triển KT-XH của đất nước và gắn với đường lối, chủ trương phát triển KT-XH của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Ý thức xã hội là sự phản ánh và lệ thuộc vào TTXH, YTXH sau khi ra đời sẽ
có quy luật vận động và đời sống riêng nhưng nó vẫn chịu sự tác động, chịu sự chi phối của TTXH Hay nói cách khác, YTXH có tính độc lập tương đối của nó Tính độc lập tương đối của YTXH đối với TTXH được thể hiện ở chỗ: YTXH thường lạc hậu hơn so với TTXH; YTXH còn có tính kế thừa, tính vượt trước so với TTXH; giữa các hình thái YTXH có sự tác động qua lại lẫn nhau trong sự phát triển của chúng; YTXH có sự tác động ngược trở lại đối với TTXH
Ý thức xã hội tác động tích cực ngược trở lại TTXH đã sinh ra nó, điều này đã được Ph.Ăngghen khẳng định: “Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật.v.v đều dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế Nhưng tất cả cũng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế”[71, tr.271] Sự tác động của YTXH đối với TTXH có thể thúc đẩy TTXH nhưng cũng có thể kìm hãm
sự phát triển của TTXH
Qua sự phân tích ở trên cho thấy: trong công tác giáo dục YTPL cho sinh viên
trong các trường đại học ở các tỉnh TTB cần phát huy những ảnh hưởng tích cực và
hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của YTXH đối với sự phát triển của xã hội; giáo dục YTPL với giáo dục ý thức chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, khoa học.v.v có mối quan hệ mật thiết với nhau
Từ những sự phân tích trên đây giúp chúng ta hiểu rõ về nguồn gốc, bản chất,
chức năng và tính chất giai cấp của YTPL Để việc giáo dục YTPL cho sinh viên
Trang 36trong các trường đại học có hiệu quả, thì cùng với chiến lược phát triển kinh tế cần
phải có chiến lược giáo dục YTPL, không nên tuyệt đối hóa phát triển kinh tế mà quên đi nhiệm vụ giáo dục YTPL cho công dân, không nên cho rằng kinh tế phát triển thì tự khắc YTPL sẽ được nâng cao
Tóm lại, từ việc phân tích nguồn gốc và bản chất của ý thức, mối quan hệ giữa
CSHT và KTTT, mối quan hệ giữa TTXH và YTXH trên đây đã phần nào làm rõ
những nội dung chủ yếu hàm chứa trong khái niệm YTPL, đồng thời cũng chỉ ra những vấn đề có tính chất phương pháp luận, những nguyên tắc cần tuân thủ trong
công tác giáo dục YTPL cho sinh viên các trường đại học ở các tỉnh TTB hiện nay
2.1.2 Khái niệm, nội dung, kết cấu, chức năng, vai trò của ý thức pháp luật
2.1.2.1 Khái niệm ý thức pháp luật
Hiện nay, còn có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về YTPL, cụ thể:
Thứ nhất, theo cách hiểu thông thường hàng ngày, YTPL được hiểu là ý thức
chấp hành những quy định pháp luật của con người Quan điểm này thường được xem như sự đánh giá chủ quan của tập thể hoặc cá nhân về mức độ, hành vi chấp hành và tuân thủ pháp luật hiện hành của tập thể hoặc cá nhân Cách hiểu này còn tương đối đơn giản, mới chỉ phản ánh một khía cạnh nào đó của YTPL, chưa có tính
lý luận và tính khái quát, chưa phản ánh đầy đủ về nguồn gốc, nội dung, kết cấu và bản chất của YTPL Cách hiểu này thường dẫn đến đồng nhất pháp luật với YTPL Chúng ta biết rằng: pháp luật là tổng thể các quy phạm do nhà nước ban hành; còn YTPL là tổng thể các tư tưởng, quan niệm của công dân đối với pháp luật
Thứ hai, YTPL hiểu ở tầm lý luận, trong tác phẩm “Pháp luật, chính trị, đạo
đức và ý thức pháp luật xã hội”, tác giả Diu Righin đưa ra khái niệm: “Ý thức pháp
luật là một hình thái xã hội, biểu thị mối quan hệ giữa con người với pháp luật”[19, tr.130]
Khái niệm này mặc dù có tính khái quát nhưng lại quá chung chung và trừu tượng, khái niệm này cũng chưa vạch rõ những dấu hiệu cơ bản khác biệt của khái niệm YTPL với các khái niệm gần với nó như YTPQ và ý thức chính trị Hơn nữa, nói đến YTPL không chỉ đơn thuần là nói đến quan hệ việc chấp hành pháp luật mà còn nói đến vai trò của con người đối với pháp luật, còn phải đề cập đến sự hiểu
Trang 37biết, thái độ, tình cảm và sự đánh giá của con người đối với pháp luật
Thứ ba, trong tác phẩm “Lý luận chung về nhà nước và pháp luật”, các tác giả
của công trình này lại lấy dấu hiệu “thịnh hành trong xã hội” làm dấu hiệu cơ bản khác biệt để định nghĩa về YTPL: “Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết,
tư tưởng, quan điểm và quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện thông qua sự hiểu biết của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã có và pháp luật phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử
sự của con người cũng như trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội”[20, tr.229]
Quan điểm này cho thấy, nếu lấy dấu hiệu “thịnh hành trong xã hội” là dấu hiệu cơ bản khác biệt để định nghĩa về YTPL thì sẽ dẫn đến việc xóa nhòa ranh giới phân biệt giữa YTPL với các hình thái YTXH khác YTPL có tính chất xã hội nhưng không phải mọi quan điểm và tư tưởng thịnh hành trong xã hội cũng đều là YTPL Vì thế, có thể khẳng định rằng quan điểm này chưa thể hiện rõ nguồn gốc và tính giai cấp của YTPL; chưa làm rõ được ranh giới giữa khái niệm YTPL với các khái niệm gần với nó
Thứ tư, cũng có quan điểm định nghĩa YTPL bằng cách nhấn mạnh chủ thể
pháp luật: “Ý thức pháp luật là trình độ hiểu biết của các tầng lớp nhân dân về pháp luật Đó còn là thái độ đối với pháp luật như tôn trọng hay coi thường pháp luật, thái độ đối với những hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm”[93, tr.254]
Quan điểm thể hiện qua định nghĩa này vẫn chưa phản ánh được YTPL với tính cách là một hình thái YTXH ra đời cùng với xã hội có giai cấp và nhà nước; định nghĩa này cũng chưa bàn đến nguồn gốc và bản chất giai cấp của YTPL Định nghĩa mới chỉ nhấn mạnh đến trình độ hiểu biết và thái độ của nhân dân đối với pháp luật Còn tổng thể các quan điểm, tư tưởng và tâm lý pháp luật là những nội dung chủ yếu trong YTPL thì chưa được đề cập đến Vì vậy, xét về mặt lôgíc thì định nghĩa về YTPL theo quan điểm này là một định nghĩa hẹp và còn bỏ sót những dấu hiệu cơ bản trong nội hàm khái niệm YTPL
Thứ năm, trong tác phẩm “Những nguyên lý xây dựng Nhà nước Xô viết và
pháp quyền”, công trình này đã đưa ra định nghĩa về khái niệm YTPL XHCN như
Trang 38sau: “Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa là tổng hòa những quan điểm, quan niệm, tình cảm về pháp luật thể hiện thái độ của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động do giai cấp công nhân lãnh đạo đối với pháp luật, đối với các yêu cầu khách quan của pháp luật, đối với quyền và nghĩa vụ của công dân”[118, tr.196]
Định nghĩa này mới chỉ phản ánh nội dung của YTPL XHCN theo thể chế chính trị Xô viết với mô hình Nhà nước XHCN theo mô hình kinh tế tập trung, kế hoạch hóa Định nghĩa này có ưu điểm là đề cao tính giai cấp của YTPL, trong thực
tế nó đã được áp dụng trong mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu trước đây Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam hiện nay theo mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhiều giai cấp, nhiều tầng lớp xã hội khác nhau nên cần phải có cách nhìn nhận, đánh giá khái quát và toàn diện hơn về YTPL Hơn nữa, định nghĩa trên nhấn mạnh tính chỉnh thể của YTPL đó là sự tổng hòa những quan điểm, quan niệm, tình cảm về pháp luật
Thứ sáu, dưới giác độ nghiên cứu của khoa học pháp lý hiện nay còn có quan
điểm định nghĩa về YTPL bằng cách nhấn mạnh các yếu tố pháp lý và tính tổng hợp của YTPL Quan điểm này được thể hiện bằng định nghĩa sau: “Ý thức pháp luật là tổng hợp những tư tưởng quan điểm pháp luật và tâm lý pháp luật, là tổng hợp những nhận thức về pháp lý, những tình cảm pháp luật cùng với sự tôn trọng và thói quen chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật”[117, tr.233]
Định nghĩa này vì nhấn mạnh các yếu tố pháp lý nên chưa thấy được YTPL trước hết là một hình thái YTXH; mặt khác, vì nhấn mạnh sự “tổng hợp” nên dẫn đến việc nhấn mạnh tính nhận thức của YTPL, vì có nhận thức mới có thể tổng hợp được Mặt khác, định nghĩa này đưa cả hai thuật ngữ “pháp lý” và “pháp luật” nên không đảm bảo được tính nhất quán trong việc sử dụng các thuật ngữ để định nghĩa
Thứ bảy, ở giác độ nghiên cứu của triết học, hiện nay vẫn còn quan điểm đồng
nhất giữa YTPQ với YTPL, nên định nghĩa khái niệm YTPL giống với định nghĩa khái niệm YTPQ: “Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, là toàn bộ các tư tưởng, quan điểm của một giai cấp về bản chất và vai trò của pháp luật, về quyền và
Trang 39nghĩa vụ của Nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân, về tính hợp pháp hay không hợp pháp của hành vi con người trong xã hội”[104, tr.28]
Giáo trình Triết học Mác - Lênin của Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa về YTPQ như sau: “Ý thức pháp quyền là toàn bộ các tư tưởng, quan điểm của một giai cấp về bản chất và vai trò của pháp luật, về quyền và nghĩa vụ của nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân, về tính hợp pháp và không hợp pháp của hành vi con người trong xã hội”[54, tr.588]
Như vậy, qua hai định nghĩa trên, mặc dù một cái định nghĩa về YTPL, một cái định nghĩa về YTPQ nhưng lại có nội dung hoàn toàn giống nhau Theo quan điểm của chúng tôi, không thể đồng nhất hai khái niệm này
Để làm rõ nội dung của YTPL, cần có sự phân biệt sự khác nhau giữa YTPQ
và YTPL, sự khác nhau này được thể hiện ở những điểm sau:
Ý thức pháp quyền là một trong những hình thái chủ yếu của YTXH ra đời trong xã hội có giai cấp và nhà nước, bản chất của YTPQ là tính giai cấp, là mối quan hệ và mục tiêu của các giai cấp trong việc giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước và pháp luật trong việc bảo vệ lợi ích của giai cấp mình Giai cấp nắm chính quyền không những củng cố địa vị thống trị của mình về kinh tế bằng các luật lệ,
mà còn dựa trên hệ tư tưởng pháp quyền của mình để lập luận về sự cần thiết và tính hợp lý về luật pháp
Ý thức pháp quyền chính là nhận thức lý luận về YTPL như bản chất của pháp luật, bản chất của quyền lực nhà nước, vai trò của pháp luật.v.v dựa trên cơ sở của các tư tưởng, quan điểm, khái niệm được hình thành và phát triển bởi các nhà tư tưởng của những giai cấp nhất định Những tư tưởng, quan điểm và khái niệm đó được truyền bá trong xã hội, có tác dụng đối với hoạt động xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật trong xã hội
Ý thức pháp quyền còn là thái độ của giai cấp đối với quyền lực nhà nước và quyền lực chính trị Trong xã hội có giai cấp đối kháng về lợi ích, do lợi ích cơ bản của các giai cấp mâu thuẫn với nhau chính là nguồn gốc trực tiếp của đấu tranh giai cấp, dẫn đến hình thành nên những tư tưởng đối lập nhau trong xã hội Trong xã hội
Trang 40đó, nhà nước luôn là công cụ, phương tiện cơ bản duy nhất và tối thượng để bảo vệ
có hiệu quả lợi ích và quyền lực chính trị của giai cấp thống trị, là bộ máy của giai cấp thống trị dùng để đàn áp và bóc lột giai cấp khác: “Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy của một giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác”[70, tr.290]
Từ phân tích những đặc điểm của YTPQ trên, cho ta thấy những điểm sau:
Một là, ý thức pháp quyền là hình thức cao nhất của YTPL, có quan hệ trực
tiếp và là cầu nối trung gian giữa ý thức chính trị và YTPL Nói cách khác, ý thức chính trị chi phối YTPQ và đến lượt nó, YTPQ chi phối YTPL Việc thể chế hóa ý thức chính trị đến YTPL có hai cấp độ: cấp độ khái quát là từ ý thức chính trị đến YTPQ; cấp độ cụ thể là từ YTPQ đến YTPL Do đó, YTPQ rộng và sâu sắc hơn YTPL, còn YTPL thì hẹp hơn nhưng phong phú và cụ thể hơn so với YTPQ
Hai là, ý thức pháp quyền là tổng thể các tư tưởng, học thuyết, quan niệm, thái
độ của cá nhân, nhóm xã hội và xã hội nói chung về hiến pháp, về vai trò hiến pháp trong đời sống xã hội, về mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân; về quyền và nghĩa
vụ của công dân và các phương thức bảo vệ quyền và nghĩa vụ công dân; về thực tiễn áp dụng hiến pháp; sự đánh giá về tính hợp hiến, hợp pháp hoạt động của nhà nước; về những mong muốn bổ sung, thay đổi các nguyên tắc, chế định hiến pháp cho phù hợp với cuộc sống.v.v Chính ở những yếu tố này mà YTPQ được coi là là
cơ sở để hình thành và phát triển tất cả các dạng của YTPL
Ba là, xét trên phương diện lý luận, tính giai cấp và quyền lực nhà nước,
YTPQ chính là cơ sở lý luận của YTPL, YTPQ là nhân tố xã hội thể hiện quan điểm
về tính giai cấp, nhà nước, hiến pháp, về bản chất giai cấp của hệ thống pháp luật Còn YTPL, mà trực tiếp nhất là hệ tư tưởng pháp luật chính là sự phản ánh tập trung nhất cơ sở kinh tế, có vai trò to lớn đối với sự phát triển của xã hội YTPL cùng với bộ máy nhà nước có tác dụng bảo vệ chế độ kinh tế đang hiện tồn hoặc là hướng dẫn đấu tranh và xây dựng chế độ kinh tế khác theo yêu cầu lợi ích của một giai cấp nhất định
Trên phương diện tính giai cấp và quyền lực nhà nước, một điều hiển nhiên là giai cấp nào nắm được quyền lực nhà nước thì giai cấp đó có được công cụ cơ bản, quyết định việc thực thi quyền lực của giai cấp mình và thực hiện các lợi ích của