− Thống nhất: Thống nhất ở đây là thống nhất về tổ chức chính quyền nhân dân từ trung ương đến địa phương, về hệ thống pháp luật, về lãnh thổ,… − Toàn vẹn lãnh thổ: một nhà nước có chủ q
Trang 1Những gì phải đánh đổi bằng mồ hôi, xương máu mới có được thì sẽ luôn được trân trọng, giữ gìn và bảo vệ Đây hẳn là một chân lý mà không ai có thể phủ nhận được Trong tiến trình lịch sử loài người, có không ít dân tộc hoặc vì bé nhỏ, hoặc vì yếu kém chậm phát triển mà mà bị những dân tộc lớn mạnh hơn áp bức, nô dịch Để giành được độc lập, chủ quyền, họ đã phải trải qua cuộc đấu tranh bền bỉ và gian khổ, bởi vậy, đối với họ, Hiến pháp được xem như là một thứ
vũ khí công hiệu nhất hỗ trợ họ trong việc khẳng định với thế giới các quyền dân tộc cơ bản mà họ xứng đáng được hưởng Lịch sử là một minh chứng hùng hồn cho luận điểm trên
Lịch sử lập hiến Việt Nam trải qua bốn bản Hiến pháp: Hiến pháp năm
1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp 1992(sửa đổi, bổ sung năm 2001) Từ Hiến pháp năm 1946, vấn đề quyền dân tộc cơ bản đã được thể chế hóa thành một điều luật và được kế thừa và phát triển qua qua các bản Hiến pháp (HP) 1959, 1980 và đặc biệt đến HP 1992, vấn đề quyền dân tộc cơ bản đã được hoàn thiện tới mức tối ưu
1 Quyền dân tộc cơ bản là gì? Gồm những yếu tố nào?
− Quyền dân tộc cơ bản là những quyền cơ bản nhất, đồng thời cũng là cơ sở tối thiểu để bảo đảm cho một dân tộc tồn tại và phát triển bình thường, là cơ sở để dân tộc đó thực hiện các quyền khác của mình
− Quyền dân tộc cơ bản thông thường bao gồm bốn yếu tố: độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
− Độc lập: Tức là nhà nước đó phải tự định đoạt vận mệnh dân tộc mình mà không bị lệ thuộc vào sự can thiệp của nước ngoài nào; không có quân đội nước ngoài đóng trên lãnh thổ; đó phải là một nhà nước có chủ quyền, có nhân dân
và có lãnh thổ riêng
− Có chủ quyền: Nhà nước có chủ quyền là nhà nước có quyền tự quyết riêng về đối nội, đối ngoại, chiến tranh – hòa bình của quốc gia mình
− Thống nhất: Thống nhất ở đây là thống nhất về tổ chức chính quyền nhân dân
từ trung ương đến địa phương, về hệ thống pháp luật, về lãnh thổ,…
− Toàn vẹn lãnh thổ: một nhà nước có chủ quyền, thống nhất không bị chia cắt
về lãnh thổ: đất liền, các hải đảo, vùng biển, vùng trời.(nếu quốc gia đó có tất
cả 4 thành phần này)
Các yếu tố của quyền dân tộc cơ bản luôn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Trong đó, độc lập là yếu tố quan trọng nhất vì nó là cơ sở, nền tảng, quyết định các yếu tố còn lại: có độc lập thì mới có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
Trang 22 Quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam
− Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ là quyền dân tộc cơ bản của mỗi quốc gia dân tộc Trong Tuyên ngôn Độc lập (2-9-1945), Hồ Chí Minh khẳng định Việt Nam đã trở thành một quốc gia tự do, độc lập và toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy
− Trước những khó khăn của Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám, nhất là âm mưu thôn tính của thực dân Pháp; để đẩy nhanh quân đội Trung Hoa quốc dân đảng về nước, ngăn chặn một cuộc chiến tranh quá sớm và tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng cho một cuộc kháng chiến lâu dài, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với đại diện Chính phủ Pháp Hiệp định sơ bộ (6-3- 1946) Theo đó, Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng, nằm trong khối Liên hiệp Pháp
Như vậy, Hiệp định này mới chỉ công nhận tính thống nhất (là một quốc gia), nhưng chưa công nhận nền độc lập Việt Nam còn bị ràng buộc vào nước Pháp
− Hiệp định trên không được thực dân Pháp tôn trọng Họ lập ra chính phủ Nam
Kỳ tự trị, âm mưu tách Nam Kỳ khỏi Việt Nam (phá vỡ sự thống nhất nước Việt Nam mà họ đã công nhận) Mặt khác, họ tiếp tục bám giữ lập trường thực dân, nuôi hi vọng giành thắng lợi bằng quân sự, xóa bỏ nền độc lập mà nhân dân ta mới giành được
− Nhân dân Việt Nam phải tiến hành kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ
và tự lực cánh sinh, giành thắng lợi trong các chiến dịch Việt Bắc 1947, Biên giới 1950…, kết thúc bằng cuộc tiến công chiến lược đông-xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương
− Với Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954), thực dân Pháp buộc phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
− Nếu như trong Hiệp định sơ bộ (6-3-1946), Pháp mới chỉ thừa nhận Việt Nam
là một quốc gia tự do, thì đến Hiệp định Giơnevơ, lần đầu tiên một hiệp định quốc tế với sự tham gia của các nước lớn, phải công nhận đầy đủ các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam
− Sau hai năm thi hành Hiệp định Giơnevơ, nước Việt Nam không được thống nhất bằng một cuộc tổng tuyển cử, mà bị chia cắt thành hai miền Miền Bắc hoàn toàn giải phóng và bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Nhưng ở miền Nam, Mĩ thay thế Pháp, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta
Trang 3− Nhân dân Việt Nam phải tiến hành một cuộc chiến tranh cách mạng, từ phong trào “Đồng khởi”, tiến lên làm thất bại các chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”,
“Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa” chiến tranh ở miền Nam và chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, buộc Mĩ phải ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam
− Hiệp định Pari (27-1-1973) ghi rõ: Hoa kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; Hoa Kì rút hết quân viễn chinh ra khỏi miền Nam Việt Nam
Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta Ta đã “đánh cho Mĩ cút”, làm so sánh lực lượng trên chiến trường thay đổi có lợi để tiếp tục tiến lên
“đánh cho Nguỵ nhào”, giải phóng miền Nam
− Mặc dù cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam và rút quân viễn chinh về nước, nhưng Mĩ chưa từ bỏ chính sách thực dân mới ở miền Nam, cùng chính quyền Sài Gòn phá hoại Hiệp định Pari, tiếp tục chia cắt đất nước ta
− Nhân dân Việt Nam phải đấu tranh chống địch phá hoại Hiệp định Pari, tạo thế, tạo lực, mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc
Qua 30 năm chiến tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới (1945- 1975), giành thắng lợi từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, nhân dân ta đã giành được độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
Quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam được thực hiện trọn vẹn
3 Vấn đề quyền dân tộc cơ bản qua bốn bản HP Việt Nam – Những điểm
kế thừa và phát triển.
− HP 1946 gồm “Lời nói đầu”, 7 chương với 70 điều Trong đó vấn đề quyền dân tộc cơ bản được quy định trong Điều 2 Chương I: “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia” Xuất phát từ hoàn cảnh chính quyền nhân dân mới thành lập còn non trẻ, lại gặp vô vàn khó khăn về nhiều mặt, đây không đơn thuần là một quy định mà còn là sự khẳng định, một lời cáo hùng hồn: Cả ba miền Trung Nam Bắc đều là máu, là thịt của Việt Nam, không thể phân chia Đồng thời cũng là sự cảnh cáo nghiêm khắc đối với những
kẻ thù đang có âm mưu, da tâm thực hiện ý đồ “chia để trị” hòng nuốt dần từng mảnh đất nước chủ quyền Việt Nam
− Đến HP 1959, vấn đề quyền dân tộc cơ bản đã được đưa lên Điều 1 Chương I:
“Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất không thể chia cắt” Hơn nữa, ngay dòng đầu tiên “Lời nói đầu” của HP đã trịnh trọng tuyên bố “Nước Việt Nam ta là
Trang 4một nước thống nhất từ Lạng Sơn đến Cà Mau”.Điều này không hề ngẫu nhiên,
vì đối với nước ta vào thời điểm HP 1959 ra đời, tình trạng đất nước bị chia cắt không còn là âm mưu mà đã trở thành thực tế, bởi kẻ thù đang nuôi tham vọng hợp thức hóa sự chia cắt đó một cách vĩnh viễn bằng cách biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới Nhiệm vụ hàng đầu của Cách mạng Việt Nam bấy giờ được Đảng xác định là xây dựng chủ nghĩa xã hôi ở MB và đấu tranh giải phóng MN thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối
− Ở HP 1980 và HP 1992 vẫn tại Điều 1 của chương I, có sự kế thừa quy định của hai HP trước nhưng hoàn thiện hơn và trong điều kiện lịch sử mới đã có cách thể hiện mới Điều 1 HP 1980 quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
Tổ quốc bao gồm đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo.” Ở Điều 1 Hp
1992 có sự thay đổi vị trí giữa các từ ngữ: “ Nước Cộng hòa XHCNVN là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đát liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời” Đây không chỉ là một quy định dù là ở tầm đạo luật cơ bản của một nhà nước mà đã trở thành một thực tế hiển nhiên, điều
mà 26 năm trước đó, năm 1954 bằng Hiệp định Giơnevơ chỉ mới được thừa nhận trên văn bản của một điều ước quốc tế; mà còn là sự tổng kết lịch sử thành quả vĩ đại của cuộc đấu tranh lâu dài, bất khuất của nhiều thế hệ người Việt Nam kéo dài gần trọn 100 năm vì các quyền dân tộc cơ bản Đồng thời, Điều 1 của 2 bản HP này vẫn là tuyên ngôn của nhân dân và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam về sự thật không thể phủ nhận về sự tồn tại của các quyền dân tộc cơ bản mà nhân dân Việt Nam đã giành lại được Đó cũng là biểu thị của của ý chí, sự quyết tâm của nhân dân Việt Nam luôn sẵn sàng bảo vệ thành quả thiêng liêng không cho phép bất kì ai xâm phạm
a.Sự kế thừa:
Ta có thể thấy rõ một điều là thống nhất về lãnh thổ là yếu tố được kế thừa qua 4 bản HP Ở HP 1946: “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia”, ở HP 1959: “Đất nước VN là một khối thống nhất, không thể chia cắt”, ở HP 1980 và HP 1992 là “Nước CHXHCNVN là….” Mỗi bản
HP ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử khác nhau nên mang một sứ mệnh lịch sử khác nhau Hai bản HP 1946 và 1959 ra đời trong khi đất nước bị chia cắt, nhiệm
vụ hàng ddaauf của dân tộc VN lúc bấy giờ là hoàn thành Cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân đánh đuổi thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước HP 1980 và HP 1992 ra đời trong bối cảnh đất nước hòa bình, nhiệm vụ đặt
ra là thúc đẩy xây dựng Xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc trên phạm vi cả nước, yếu tố thống nhất đước ấn định để khẳng định với thế giới rằng: Việt Nam
đã và mãi mãi là một khối thống nhất vững mạnh
Trang 5b.Sự phát triển:
Sự phát triển của các quyền dân tộc cơ bản được thể biện ở cả nội dung và hình thức
− Về hình thức: Vấn đề quyền dân tộc cơ bản đều được đề cập ở nhưng điều đầu tiên của chương I trong các bản HP Tuy nhiên, ở Hp 1946, nó mới chỉ được quy định ở Điều 2, đến các HP 1969, 1980, 1992 thì đã được dưa lên ở Điều 1.Việc này phản ánh tầm quan trọng của quy định, đồng thời thể hiện sự quan tâm của Nhà nước và Pháp luật tới vấn đề đó
− Về nội dung: Từ Hp 1946 đến HP 1980, nội dung quyền dân tộc cơ bản đã có
sự phát triển hoàn thiện dần Điều 1 HP 1980 đã đề cập đầy đủ 4 yếu tố của quyền dân tộc cơ bản, đó là độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; trong đó có nêu ra các bộ phận cấu thành lãnh thổ: đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo
Ở HP 1992, vấn đề quyền dân tộc cơ bản được kế thừa gần như trọn vẹn HP
1980, khẳng định quan điểm của VN về các quyền dân tộc cơ bản, về lãnh thổ và biên giới quốc gia Đặc biệt, ta nhận thấy có sự tráo đỏi vị trí của các bộ phận cấu thành lãnh thổ: “ Nước CHXHCNVN là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời.” Đây không đơn giản chỉ là sự thay đổi về mặt cơ học mà nó bao hàm một ý nghĩa sâu xa, đó là mối liên hệ, gắn kết bền chặt giữa các bộ phận Ta có thể lí giải điều này như sau: thứ nhất, về mặt tự nhiên khách quan, các hải đảo phải luôn gắn với đất liền; thứ 2, xuất phát từ tình hình thực tế của đất nước: bắt đầu
từ năm 1974 trở đi, Trung Quốc có sự tranh chấp với nước ta trong vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, cho nên bằng việc đưa “các hải đảo” đứng sau
“đất liền”, VN đã khẳng định chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa; thứ 3, sự thay đổi này cũng thể hiện kỹ thuật lập pháp của các nhà làm luật nước ta ngày càng tiến bộ, sử dụng ngôn từ hết sức chính xác, lôgic, chứa đựng ý nghĩa lớn lao
Tựu chung lại, xuất phát từ bài học giành độc lập đầy gian khổ và mất mát, trên cơ sở kế thừa và phát triển, các bản HP của Nhà nước ta đều khẳng định: Nhà nước Việt Nam là một nhà nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời Dân tộc Việt Nam quyết đem “tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải” để giữ vững các quyền dân tộc cơ bản ấy