1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và kiến thức thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện lao và bệnh phổi hải phòng năm 2014

87 446 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đánh giá thực trạng công tác bảo vệ môi trường của Bệnh viện Lao và Phổi Hải Phòng trong thời gian qua, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và kiến thức thực hành tron

Trang 1

1.1 Các khái niệm 3

1.2 Thực trạng quản lý chất thải y tế trên thế giới 3

1.3 Thực trạng quản lý chất thải y tế tại Việt Nam 6

1.4 Tác hại và nguy cơ của chất thải y tế đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng trên thế giới 13

1.5 Thực trạng tình hình vệ sinh môi trường ngành y tế TP Hải Phòng 17

1.6 Kiến thức, thực hành về quản lý chất thải y tế 18

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 22

2.2 Phương pháp nghiên cứu 22

2.3 Kỹ thuật thu thập số liệu 26

2.4 Vật liệu nghiên cứu 29

2.5 Thu thập và xử lý số liệu 29

2.6 Đạo đức trong nghiên cứu 30

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

3.1 Thực trạng quản lý chất thải y tế 32

3.2 Thực trạng kiến thức, thực hành về quản lý chất thải y tế 49

Chương 4 BÀN LUẬN 58

4.1 Thực trạng quản lý chất thải y tế 58

4.2 Kiến thức, thực hành về quản lý chất thải y tế 68

KẾT LUẬN 73

1 Thực trạng quản lý chất thải y tế ở Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Hải Phòng 73

2 Kiến thức, thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Hải Phòng……… 74

KIẾN NGHỊ 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 2

Bảng Tên bảng Trang

Bảng 1.1 Chất thải y tế theo giường bệnh trên thế giới 4

Bảng 1.2 Chất thải y tế phát sinh theo giường bệnh tại Việt Nam 6

Bảng 1.3 Các thông số ô nhiễm trong nước thải 11

Bảng 1.4 Các loại nhiễm khuẩn, tác nhân gây bệnh và đường lây nhiễm 15

Bảng 2.1 Giá trị giới hạn các thông số và nồng độ chất ô nhiễm. 28

Bảng 3.1 Kết quả công tác quản lý hành chính về quản lý CTYT 32

Bảng 3.2 Lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại bệnh viện 34

Bảng 3.3 Kết quả về tiêu chuẩn, số lượng dụng cụ bao bì đựng và xe vận chuyển chất thải rắn trong bệnh viện 35

Bảng 3.4 Kết quả công tác phân loại chất thải rắn y tế 38

Bảng 3.5 Kết quả công tác thu gom chất thải rắn y tế tại các khoa phòng 40

Bảng 3.6 Kết quả về vận chuyển chất thải rắn y tế từ các khoa phòng đến nơi lưu giữ 41

Bảng 3.7 Kết quả về nơi lưu giữ chất thải rắn y tế 42

Bảng 3.8 Kết quả công tác vận chuyển chất thải rắn ra ngoài bệnh viện 44

Bảng 3.9 Kết quả về xử lý/tiêu hủy chất thải rắn y tế 44

Bảng 3.10 Kết quả công tác thu gom, xử lý nước thải y tế 46

Bảng 3.11 Kết quả công tác thu gom, xử lý chất thải khí 47

Bảng 3.12 Kết quả phân tích nước thải bệnh viện 48

Bảng 3.13 Nhân lực trực tiếp quản lý chất thải y tế tại bệnh viện 49

Bảng 3.14 Tỉ lệ nhân viên y tế và vệ sinh viên được tập huấn quy chế quản lý chất thải y tế 50

Bảng 3.15 Tình hình thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế 51

Trang 3

Bảng 3.17 Kiến thức của nhân viên y tế và vệ sinh viên về mã màu dụng cụ đựng chất thải y tế 53

Bảng 3.18 Kiến thức về phân loại chất thải y tế của nhân viên y tế và vệ sinh viên theo nhóm chất thải và mã màu 54

Bảng 3.19.Liên quan giữa học tập với kiến thức về phân loại chất thải y tế của nhân viên y tế và vệ sinh 55 Bảng 3.20 Kiến thức của nhân viên y tế và vệ sinh viên về tác hại của chất thải y tế đối với sức khỏe con người 56

Bảng 3.21 Kiến thức của bệnh nhân với thực hành bỏ rác đúng quy định 57

Trang 4

Hình 3.1 Nhân lực trực tiếp quản lý chất thải y tế tại bệnh viện 48

Hình 3.2 Tỉ lệ nhân viên y tế và vệ sinh viên được tập huấnquy chế quản lý chất thải y tế 49 Hình 3.3 Kiến thức của nhân viên y tế và vệ sinh viên về phân loại chất thải y

tế theo nhóm chất thải 51 Hình 3.4 Kiến thức của nhân viên y tế và vệ sinh viên về mã màu dụng cụ đựng chất thải y tế 52 Hình 3.5 Kiến thức về phân loại chất thải y tế của nhân viên y tế và vệ sinh viên theo nhóm chất thải và mã màu 54

Hình 3.6 Kiến thức của bệnh nhân vớithực hành bỏ rác đúng quy định 56

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe của nhân dân là nhiệm vụ quan trọng của ngành Y tế Nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân, các cơ sở y tế đã từng bước nâng cao, đổi mới và hoàn thiện chất lượng khám chữa bệnh Tuy nhiên trong quá trình hoạt động các cơ sở y tế đặc biệt là các bệnh viện đã thải ra môi trường một lượng chất thải đáng kể

Theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường Bộ Y tế, tính đến năm

2012, cả nước có 13.511 cơ sở y tế các loại Tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế khoảng 450 tấn/ngày, trong đó có 47 tấn/ngày là

2015, CTR y tế là 600 tấn/ngày và năm 2020 khoảng trên 800 tấn/ngày; lượng nước thải y tế phải xử lý lên tới mức 300.000m3/ngày.đêm Tỉ lệ bệnh viện có

hệ thống xử lí nước thải là 54.4% Hiện nay chỉ có 1/3 lượng rác thải y tế ở Việt Nam được đốt bằng lò đốt chưa có hệ thống xử lí khí thải, công suất lò đốt không hợp lí, gây ô nhiễm môi trường và hiệu quả sử dụng chưa cao [9], [10]

Thành phố Hải Phòng là một trong những thành phố có tốc độ phát triển kinh tế và mật độ dân số cao, là trung tâm văn hóa giáo dục, y tế lớn của

cả nước Ngành y tế Hải Phòng phát triển mạnh mẽ, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người dân trên địa bàn Thành phố và dân cư các vùng lân cận Hàng ngày lượng rác thải từ các hoạt động y tế là khá lớn

Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Hải Phòng là bệnh viện có quy mô 250 giường bệnh, mỗi năm bệnh viện tiếp nhận điều trị trên 2.500 lượt bệnh nhân khám và điều trị Trong quá trình hoạt động Bệnh viện đã phát sinh ra một

Trang 6

lượng lớn chất thải rắn y tế, tuy nhiên công việc thu gom, quản lý và xử lý chất thải y tế tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Hải Phòng còn nhiều hạn chế

Để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do CTYT, ngày 01/10/2013, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1788/QĐ-TTg về việc phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020; bao gồm 10 bệnh viện gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, chưa hoàn thành xử lí triệt để theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg, trong đó

có bệnh viện Lao và bệnh phổi Hải Phòng

Để đánh giá thực trạng công tác bảo vệ môi trường của Bệnh viện Lao

và Phổi Hải Phòng trong thời gian qua, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu đề

tài: “Thực trạng và kiến thức thực hành trongcông tác quản lý chất thải y

tế tại bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Hải Phòng năm 2014” với mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải y tế tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Hải Phòng năm 2014

2 Mô tả kiến thức, thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Hải Phòng năm 2014

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Các khái niệm

Chất thải y tế là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường

và tác động xấu lên sức khỏe con người Khi nhu cầu khám chữa bệnh của con người càng tăng thì rác thải y tế cũng không ngừng phát triển Theo Quy chế Quản lý CTYT của Bộ Y tế ban hành tại Quyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007, quy định [6]:

Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở

y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường

Chất thải y tế nguy hại là CTYT chứa yếu tố nguy hại cho sức khoẻ con

người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ

nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu huỷ an toàn

Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu,

thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy

CTYT và kiểm tra, giám sát việc thực hiện

1.2 Thực trạng quản lý chất thải y tế trên thế giới

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về quản lý và xử lý chất thải y tế Nghiên cứu tại thành phố Irbid, Jordan tại 3 bệnh viện đã sử dụng mô hình thống kê toán học để tính lượng chất thải rắn phát sinh tại 3 bệnh viện Lượng chất thải phát sinh được bằng kg/bệnh nhân /ngày /giường bệnh cho các khoa như khoa phẫu thuật, khoa nội, khoa sản [19]

Nghiên cứu tại Mỹ cho thấy mỗi ngày các bệnh viện thải ra 6600 tấn chất thải và xấp xỉ 85% chất thải là lượng chất thải rắn không độc hại như thức ăn, bìa cứng và chất dẻo Việc xử lý các chất thải này có thể dẫn tới các

Trang 8

vấn đề môi trường đối với cộng đồng Do vậy, để giảm thiểu lượng chất thải phải xử lý cần có chương trình giảm lượng chất thải ở các bệnh viện [53]

Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại CTYT; quản lý CTYT (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái

sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ); tác hại của CTYT đối với môi trường, sức khoẻ; biện pháp làm giảm tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền dịch bệnh; những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT; tổn thương nhiễm khuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng; người phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên

y tế [43], [45], [49], [58]

1.2.1 Thực trạng phát sinh chất thải y tế

Khối lượng CTYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của NVYT trong việc khám, chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các khoa phòng [25]

Bảng 1.1 Chất thải y tế theo giường bệnh trên thế giới [7]

Trang 9

1.2.2 Phân loại chất thải y tế

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (1992), ở các nước đang phát triển có thể phân CTYT thành các loại sau: Chất thải không độc hại (chất thải sinh hoạt gồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại); chất thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm); chất thải nhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn); chất thải hoá học và dược phẩm (không kể các loại thuốc gây độc tế bào); chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao) [5], [66]

Ở Mỹ phân loại chất thải y tế thành 8 loại: Chất thải cách ly (chất thải

có khả năng truyền nhiễm mạnh); Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và chế phẩm sinh học liên quan; Những vật sắc nhọn được dùng trong điều trị, nghiên cứu ; Máu và các sản phẩm của máu; Chất thải động vật (xác động vật, các phần của cơ thể ); Các vật sắc nhọn không sử dụng; Các chất thải gây độc tế bào; Chất thải phóng xạ [66]

Tuy nhiên theo kết quả nghiên cứu tại các bệnh viện nhỏ ở Ấn Độ cho thấy phần lớn các chất thải y tế không được phân loại thành chất thải lây nhiễm hay không lây nhiễm, mà chứa chung trong các container hở [48]

1.2.3 Quản lý chất thải y tế

Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 18 - 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp

xử lý chất thải đúng cách Tại các cơ sở y tế, 12,5% công nhân xử lý chất thải

bị tổn thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT Tổn thương này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất, chủ yếu

là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu huỷ vật sắc nhọn Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển CTYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy [68]

Việc xử lý chất thải y tế hầu như đã được giải quyết ở các nước phát triển với công nghệ đáng tin cậy như đốt rác bằng lò vi sóng Dựa trên việc

Trang 10

đánh giá vòng đời cho thấy lò vi ba có hiệu suất sinh thái đạt hiệu quả tốt nhất, tiếp theo là công nghệ hấp khử trùng [57] Các nhà khoa học ở các nước Châu Á đã tìm ra một số phương pháp xử lý chất thải để thay thế: như Philipin đã áp dụng phương pháp xử lý khí, mùi của rác bằng các thùng rác có nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn đề khí thải độc hại thoát ra từ các thùng đựng rác có nắp kín bằng việc gắn vào các thùng có những thiết bị cọ rửa; Indonexia chủ trương nâng cao nhận thức trước hết cho các bệnh viện về mối nguy hại của CTYT gây ra để bệnh viện có biện pháp lựa chọn phù hợp [43]

1.3 Thực trạng quản lý chất thải y tế tại Việt Nam

1.3.1 Thực trạng phát sinh chất thải y tế

Theo kết quả khảo sát của Vụ Điều trị - Bộ Y tế tại 24 bệnh viện năm

1998, cho thấy tỉ lệ phát sinh chất thải y tế theo từng tuyến, loại bệnh viện, cơ

sở y tế rất khác nhau

Bảng 1.2 Chất thải y tế phát sinh theo giường bệnh tại Việt Nam

Tuyến bệnh viện Tổng lượng CTYT

Tính riêng cho 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế quản lý, theo khảo sát năm

2009, tổng lượng CTR y tế phát sinh trong 1 ngày là 31,68 tấn, trung bình là 1,53 kg/giường/ngày Lượng chất thải phát sinh tính theo giường bệnh cao nhất là bệnh viện Chợ Rẫy 3,72 kg/giường/ngày, thấp nhất là bệnh viện Điều

Trang 11

dưỡng - Phục hồi chức năng Trung Ương và bệnh viện Tâm thần Trung Ương

2 phát sinh 0,01 kg/giường/ngày Lượng CTR y tế phát sinh trong ngày khác nhau giữa các bệnh viện tùy thuộc số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật tư tiêu hao được sử dụng [26]

1.3.2 Thành phần và phân loại chất thải y tế

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, trong thành phần CTYT có khoảng 10% chất thải nhiễm khuẩn và khoảng 5% chất thải độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào và các hóa chất độc hại khác phát sinh trong quá trình chẩn đoán, điều trị [68]

Căn cứ vào các đặc điểm lý, hoá, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm dựa theo Quyết định số 43/2007/QĐ- BYT ngày 30/11/ 2007 của Bộ Y tế về quản lý CTYT [6]:

* Chất thải lây nhiễm: Nhóm này gồm các loại chất thải:

- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thuỷ tinh vỡ

và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế

- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly

- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm

- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người, rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm

* Chất thải hoá học nguy hại: Nhóm này gồm các loại chất thải sau:

Trang 12

- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng

- Chất hoá học nguy hại sử dụng trong y tế

- Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hoá trị liệu

- Chất thải chứa kim loại nặng: thuỷ ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thuỷ ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (từ pin, ắc quy), chì (từ pin tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)

* Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát

sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế

* Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng ôxy, CO2, bình ga, bình khí dung Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt

* Chất thải thông thường: là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm,

hoá học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:

- Chất thải sinh hoạt từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)

- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá học nguy hại

- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim

- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh

Trang 13

1.3.3 Quản lý chất thải y tế

Ở nước ta CTYT đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật, nhưng việc thực hiện chưa nghiêm túc theo quy định, hầu hết CTYT ở các bệnh viện chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường Nhiều bệnh viện không có hệ thống thu gom, xử lý nước thải, hoặc có thì nhiều hệ thống cống rãnh đã bị hư hỏng, xử lý xuống cấp; rác thải không được phân loại, chôn lấp thủ công hoặc đốt thủ công tại chỗ Thực trạng như sau [16], [8], [ 27], [2]:

Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở Y tế quản

lý, công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc biệt là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn (chất thải y tế thông thường, chất thải y tế nguy hại ) Trong vận chuyển CTR y tế, chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy để vận chuyển chất thải y tế nguy hại; 53,4% bệnh viện có mái che để lưu giữ CTR đây là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người bệnh và môi trường Thống kê mức độ phân loại, thu gom chất thải trong các bệnh viện; có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải trong đó 91,1% đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh và nhận xét của đoàn kiểm tra liên Bộ, còn có hiện

Trang 14

tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường được đưa vào chất thải y tế nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý [16]

Theo báo cáo của Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường năm

(2006), Kết quả khảo sát 834 bệnh viện [35]: có 63,6% bệnh viện sử dụng túi

nhựa làm bằng nhựa PE, PP Chỉ có 29,3% sử dụng túi có thành dày theo đúng quy chế Chất thải y tế đã được chứa trong các thùng đựng chất thải Tuy nhiên, các bệnh viện có các mức độ đáp ứng yêu cầu khác nhau, chỉ có một số ít bệnh viện có thùng đựng chất thải theo đúng quy chế (bệnh viện trung ương và bệnh viện tỉnh)

Hầu hết ở các bệnh viện (90,9%) CTR được thu gom hàng ngày, một số bệnh viện có diện tích chật hẹp nên gặp khó khăn trong việc thiết kế lối đi riêng để vận chuyển chất thải Chỉ có 53% số bệnh viện chất thải được vận chuyển trong xe có nắp đậy Có 53,4% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải có mái che, trong đó có 45,3% đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế [35]

* Về nước thải

Mỗi bệnh viện có thể thải ra khoảng 0.4 – 0.95 m3 nước thải trên một giường bệnh trong ngày, tùy thuộc vào khả năng cấp nước, dịch vụ bệnh viện,

số lượng bệnh nhân và người nhà… Tuy nhiên, nồng độ chất thải rắn lơ lửng

trong nước thải bệnh viện có thể không cao như nước thải đô thị Nồng độ BOD5 thay đổi từ 80-180 mg/l [11]

Kết quả kiểm tra của Bộ Y tế (2004) tại 175 bệnh viện ở 14 tỉnh, thành phố thì có đến 31,5% bệnh viện không có hệ thống thoát nước thải, chủ yếu ở các bệnh viện tuyến huyện Trong số bệnh viện có hệ thống thoát nước thì có tới 47,4% bệnh viện sử dụng hệ thống thoát nước chung gồm cả nước mưa, nước thải sinh hoạt, nước thải y tế; chỉ có 21,1% bệnh viện có hệ thống thoát

Trang 15

nước thải riêng biệt; 26,3% bệnh viện có hệ thống thoát nước thải kín; 31,4%

l

H 2 S mg/

l

BOD 5

mg/l

COD mg/l

P tổng mg/l

N tổng mg/l

SS mg/l

* Về xử lý khí thải bệnh viện: Chỉ có một số bệnh viện lớn có hệ thống xử lý

khí thải hoặc có hốt hút hơi khí độc tại các khoa/phòng Xét nghiệm, X quang, còn đa phần các bệnh viện chưa có hệ thống xử lý khí thải

1.3.4 Biện pháp xử lý chất thải y tế

*Về xử lý chất thải rắn y tế:

Theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam (2004) [1], Việt Nam đã xây dựng được 43 lò đốt CTYT hiện đại, nâng công suất xử lý lên 28.840 kg/ngày Công suất thiết kế của một lò đốt khoảng 40kg/h - 50 kg/h Tuy nhiên đại đa số các lò đốt chưa sử dụng hết công suất, khi so sánh tổng công suất của các lò đốt với lượng CTYT phát sinh, đã cho thấy, các lò đốt được

Trang 16

lắp đặt đã đáp ứng đủ khối lượng phát sinh tại thời điểm Qua đó đã chứng tỏ rằng vẫn còn một khối lượng lớn CTYT phát sinh chưa được thu gom và xử

lý đúng cách Thực trạng như sau:

- Thiêu đốt chất thải rắn y tế:

+ Thiêu đốt CTYT bằng lò đốt rác hiện đại: Tại Hà Nội và Thành phố

Hồ Chí Minh đã xử lý CTYT tập trung với công nghệ nhập của nước ngoài Một số bệnh viện đã lắp đặt lò đốt chất thải y tế Hoval MZ2 của Thuỵ Sĩ đảm bảo an toàn về môi trường Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), cả nước đã có gần 200 lò đốt CTYT (chiếm 73,3%) Trong số các bệnh viện có lò đốt, ở tuyến trung ương có 5/5 hoạt động thường xuyên và có bảo dưỡng định kỳ theo đúng quy định; tuyến tỉnh là 79/106 lò Thiết kế cơ bản của các lò đốt hiện có đều thiếu hệ thống xử lý khí thải, gây ô nhiễm môi trường, công suất

lò đốt sử dụng chưa hợp lý [16]

+ Thiêu đốt CTYT bằng lò thủ công hoặc đốt ngoài trời: Hiện nay, phần lớn các bệnh viện trong cả nước, nhất là bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện thiêu đốt CTYT bằng các lò đốt thủ công không có hệ thống xử lý khí thải hoặc đốt ngoài trời Nghiên cứu 6 bệnh viện tuyến tỉnh năm 2003 cho thấy: chỉ có 2/6 bệnh viện xử lý rác bằng lò đốt chuyên dụng, còn 4/6 bệnh viện chôn lấp hoặc sử dụng lò đốt thủ công và tuyến huyện là 97/201 lò đốt [50]

- Chôn lấp chất thải rắn y tế:

Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), đến năm 2006, cả nước vẫn còn 26,7% bệnh viện đang thực hiện chôn lấp CTYT hoặc đốt thủ công ngoài trời, chủ yếu tập trung ở các bệnh viện tuyến huyện và một số bệnh viện tuyến tỉnh [16]

* Về xử lý nước thải bệnh viện:

Hiện có khoảng 100-150 trong số 1100 bệnh viện (hay khoảng 10-15%

số bệnh viện) có trạm XLNT bệnh viện đưa vào hoạt động Tại các bệnh viện

Trang 17

như BV Quân đội 108, BV Bạch Mai, BV Hai Bà Trưng, Hà Nội (Xây dựng mới), BV Việt Tiệp, BV Nhi TP Hải Phòng, BV Đa khoa TP Huế, BV Nhi Thuỵ Điển Hà Nội và BV Uông Bí, BV Nhi Thành phố Hồ Chí Minh có trạm XLNT với công nghệ xử lý sinh học hiếu khí bằng bùn hoạt tính hoặc kết hợp xử lý bằng phương pháp hóa học, Viện Khoa học Việt Nam nay là Viện Khoa học và Công nghệ Quốc Gia đã xây dựng và vận hành trạm XLNT bằng hóa học và sinh học [11]

1.4 Tác hại và nguy cơ của chất thải y tế đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng trên thế giới

Chất thải bệnh viện tồn tại ở ba dạng rắn, lỏng, khí và chúng có khả năng chuyển từ pha này sang pha khác hoặc được cố định vào một pha nào đó

do quá trình biến đổi vật lý, hoá học và sinh học [29] Mặc dù lượng chất thải bệnh viện so với tổng lượng thải sản sinh từ sản xuất công nghiệp và sinh hoạt,… không lớn, nhưng xét về mặt độc hại và nguy hiểm (đặc biệt là rác thải y tế và nước thải từ khâu điều trị bệnh, phóng xạ…) thì chúng gây ô nhiễm môi trường đáng kể, ảnh hưởng đến sức khoẻ và quá trình phát triển lâu dài của con người [37]

CTYT là môi trường có khả năng chứa đựng các loại vi sinh vật gây bệnh, các chất độc hại như hóa chất, chất gây độc tế bào, chất phóng xạ Các tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua các đường: Qua các vết da bị xây xước hoặc bị thương, qua đường hô hấp (do hít phải), qua đường tiêu hóa, tác động gián tiếp do ô nhiễm môi trường, hoặc tiếp xúc với các tác nhân trung gian như ruồi, muỗi, chuột Tất cả những người tiếp xúc với CTYTNH đều là đối tượng có nguy cơ bị tác động bởi CTYT, bao gồm: Cán bộ y tế và nhân viên vệ sinh bệnh viện; Những người thu gom phế liệu; Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân; Người dân sống xung quanh bệnh viện

Trang 18

Ước tính cứ 04 kg rác thải y tế lại có 01 kg rác đã bị nhiễm vi khuẩn nguy hiểm [41]

1.4.1 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường

Một số nghiên cứu đã cho thấy ô nhiễm môi trường chủ yếu là môi trường nước và không khí [28], [14]

Theo tài liệu thu thập của Trần Thị Minh Tâm (2007): kết quả điều tra quản lý CTYT tại một số bệnh viện huyện ngoại thành Hà Nội của Bùi Văn Trường, Nguyễn Tất Hà (1998) cho thấy: các chỉ tiêu trong nước thải như COD, BOD5, NH4+, Coliform và Fecal coliform ở mức độ ô nhiễm nặng so với tiêu chuẩn cho phép [28]

Đào Ngọc Phong và cộng sự (1996) nghiên cứu về ô nhiễm môi trường

và khả năng lây truyền bệnh do nước thải bệnh viện gây ra ở Hà Nội, cho thấy

có hiện tượng tăng trội nhiều bệnh ở các khu dân cư tiếp xúc với nước thải bệnh viện nhất là các bệnh đường tiêu hoá [24]

Rác không được thu dọn kịp thời sẽ trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, chuột, gián, ô nhiễm môi trường không khí do phát sinh mùi hôi thối khó chịu Các trung gian truyền bệnh này sẽ tạo ra một nguy cơ lan tràn bệnh dịch nhanh chóng từ các bệnh viện, từ CTYT không được xử lý đúng cách Cũng như vậy, nước thải bệnh viện không được xử lý đảm bảo yêu cầu vệ sinh cũng

sẽ là nguồn phát tán các mầm bệnh vào các nguồn nước (nước mặt, nước ngầm) [5]

1.4.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khoẻ cộng đồng

1.4.2.1 Nguy cơ và tác động của vật sắc nhọn

Các vật sắc nhọn không chỉ gây ra vết xước và thường xuyên đâm thủng da mà còn làm nhiễm khuẩn tại các vị trí gây xước và chọc thủng Người ta đặc biệt quan tâm tới bơm kim tiêm vì nó tạo ra phần chất thải chính

là các vật sắc nhọn và thường bị nhiễm khuẩn bởi máu của người bệnh Ước tính mỗi năm trên thế giới sử dụng 12.000 bơm tiêm Hàng năm có khoảng 8 -

Trang 19

16 triệu người viêm gan B; 2,3 - 4,7 triệu người viêm gan C và 8.000 - 16.000 người nhiễm HIV do tái sử dụng bơm kim tiêm không tiệt trùng [13]

1.4.2.2 Nguy cơ và tác động của chất thải nhiễm khuẩn

Bảng 1.4 Các loại nhiễm khuẩn, tác nhân gây bệnh và đường lây nhiễm [13] STT Dạng nhiễm khuẩn Tác nhân gây bệnh Chất truyền

tiêu hoá

Vi khuẩn tiêu hoá: Vibrio,

cầu khuẩn

Chất tiết đường hô hấp, nước bọt

sinh dục

Chất thải nhiễm khuẩn có thể chứa hàng loạt những vi sinh vật gây bệnh Hiện nay có tới trên 1.000 loại vi khuẩn, 200 loại vi rút, nấm đã được biết đến gây nguy hại cho sức khoẻ con người qua các đường dưới đây: xâm nhập vào cơ thể qua các vết xước trên da, qua niêm mạc, do ăn uống, hít thở

Trang 20

1.4.2.3 Nguy cơ và tác động của chất thải hoá học và dược phẩm

Rất nhiều hoá chất và dược phẩm dùng trong các cơ sở y tế là chất nguy hại (gây độc, dễ cháy, gây sốc phản vệ, độc tính di truyền) Chúng có thể gây độc cho những người tiếp xúc lần đầu hoặc thường xuyên tiếp xúc như tổn thương da hoặc bỏng…

Các dược sĩ, bác sĩ gây mê, điều dưỡng, kỹ thuật viên, cán bộ hành chính tiếp xúc với các loại hoá chất lỏng bay hơi, dạng phun sương và các dạng dung dịch khác

1.4.2.4 Nguy cơ và tác động của chất thải là thuốc gây độc tế bào

Những nghiên cứu trên động vật đã chứng tỏ rằng ở liều lượng cao nhiều loại thuốc gây ung thư và đột biến tế bào, một số gây quái thai, nhiều thuốc gây khó chịu và kích thích tại chỗ sau khi tiếp xúc với da và niêm mạc

Bất kỳ chất thải gây độc tế bào nào, nếu đào thải bừa bãi vào môi trường có thể gây ra các biến đổi về sinh thái học, vì vậy cần có biện pháp trong việc vận chuyển và tiêu huỷ các chất gây độc tính di truyền [3]

1.4.2.5 Nguy cơ và tác động của chất thải phóng xạ

Những bệnh do các chất phóng xạ gây nên được xác định bởi liều lượng và cường độ lây nhiễm Nó có thể gây ra hàng loạt các dấu hiệu như đau đầu, buồn nôn, ngủ gà Những người làm công tác xử lý các nguồn phóng

xạ có hoạt tính cao cũng có thể bị nhiều tổn thương nghiêm trọng như cắt cụt một phần của cơ thể, vì vậy những chất thải này cần phải được xử lý nghiêm ngặt đúng quy định [3]

Những tai nạn nghiêm trọng bởi các chất thải bệnh viện bị nhiễm phóng xạ đã được ghi nhận bởi các cơ quan truyền thông quốc tế ở thành phố Brasilia năm 1998, có 4 người chết vì hội chứng phóng xạ cấp tính và 28 người bị bỏng phóng xạ nặng [5]

Trang 21

1.5 Thực trạng tình hình vệ sinh môi trường ngành y tế TP Hải Phòng

* Về rác thải

Theo khảo sát của Sở Y tế Hải Phòng năm 2012 [27]: Tổng số giường bệnh trên địa bàn thành phố Hải Phòng có hơn 7.600 giường bệnh, mỗi ngày các cơ sở y tế trong Thành Phố phát sinh khoảng hơn 7 tấn chất thải y tế, trong đó có khoảng 1,05 tấn chất thải y tế nguy hại (chiếm 15%) Lượng chất thải y tế phát sinh trung bình là 1,0 kg/giường bệnh/ngày, trong đó chất thải nguy hại khoảng 0,18 kg/giường bệnh/ngày Lượng chất thải y tế nguy hại của các bệnh viện trong Thành Phố thay đổi từ 0,06 – 0,23 kg/giường bệnh/ngày

* Về nước thải:

Theo khảo sát của Sở Y tế Hải Phòng năm 2012 [27]:

- Hiện trạng các công trình xử lý nước thải tại địa bàn Thành Phố:

+ Trạm xử lý nước thải của bệnh viện của BV đa khoa Hữu Nghị Việt

theo công nghệ V69 hiện nay vẫn đang hoạt động đáp ứng yêu cầu nhưng cũng đã xuống cấp

+ Hệ thống xử lý nước thải của BV Đa khoa Kiến An, BV Ngô Quyền được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước năm 2004 sử dụng công

động, định kỳ đã được các cơ quan chức năng đánh giá chất lượng nước sau

xử lý đạt tiêu chuẩn

+ Trạm xử lý nước thải của BV Trẻ em thành phố Hải Phòng được Cộng hòa liên bang Đức đầu tư từ những năm 80, đến năm 2002 được cải tạo,

cấp chất lượng xử lý không đạt yêu cầu nên Bệnh viện đã không còn vận hành, chỉ bơm tiêu nước chống úng Tuyến ống thu gom đã hỏng hóc một số chỗ tự thấm ra môi trường xung quanh

Trang 22

+ Trạm xử lý nước thải của bệnh viện của BV Lao và Bệnh Phổi Thành phố Hải Phòng được đầu tư năm 2004 công suất 100m3/ngđ theo công nghệ hóa sinh học hiện nay đã xuống cấp, chất lượng nước thải đầu ra không đạt tiêu chuẩn, cở sở vẫn còn đang nằm trong danh sách cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 1788/QĐ-TTg về việc phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020; bao gồm 10 bệnh viện gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, chưa hoàn thành xử lí triệt để theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg, trong đó có bệnh viện Lao và bệnh phổi Hải Phòng

1.6 Kiến thức, thực hành về quản lý chất thải y tế

Các chuyên gia môi trường cho rằng nguyên nhân chính gây trở ngại cho công tác quản lý môi trường ở các cơ sở y tế là nhận thức của NVYT và cộng đồng về quản lý CTYT còn hạn chế; kiến thức về quản lý chất thải còn yếu; định hướng công nghệ chưa rõ ràng; chưa có sự đầu tư đúng mức cũng như các cơ chế về tài chính chưa hợp lý để tạo điều kiện làm tốt công việc xử

lý CTYT và công tác kiểm tra, giám sát chưa được chú trọng [25]

1.6.1 Kiến thức, thực hành của cán bộ, nhân viên y tế về quản lý chất thải

y tế

Trong quản lý CTYT, yếu tố con người là rất quan trọng Cho dù có hệ thống xử lý chất thải có hiện đại nhưng nếu các cán bộ y tế, những người liên quan trực tiếp đến công tác quản lý, xử lý chất thải và cộng đồng không nhận thức rõ tác hại và tầm quan trọng của CTYT đối với công tác bảo vệ môi trường và sức khoẻ thì hệ thống đó hoạt động cũng không hiệu quả

Qua kết quả nghiên cứu tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh của Đinh Hữu Dung (2003) cho thấy: phần lớn những người được phỏng vấn biết được sự nguy hại của chất thải lâm sàng, còn những chất thải khác số người biết chỉ

<50%, đặc biệt còn tới 8,8 - 8,9% không biết loại CTNH Có tới 79,8 - 92,1% cho rằng đối tượng dễ bị ảnh hưởng của CTYT là NVYT, còn bệnh nhân là

Trang 23

đối tượng rất cần quan tâm để tránh các nguy cơ của chất thải thì chỉ có 26,6% [14]

Kết quả nghiên cứu của Trần Thị Minh Tâm (2007) tại 11 bệnh viện tuyến huyện tỉnh Hải Dương cho thấy, có từ 43,5% đến 55,8% số cán bộ, NVYT trả lời không đúng hoặc không biết về quy định mã màu sắc của dụng

cụ đựng CTYT Phần lớn cán bộ, NVYT đều biết được những tác hại của CTYT, được biết đến nhiều nhất là khả năng lan truyền bệnh (96,8%), đối tượng bị ảnh hưởng bởi CTYT đươc biết đến nhiều nhất là bác sỹ, điều dưỡng, hộ lý [28]

1.6.2 Nguồn lực cho công tác quản lý chất thải

1.6.2.1 Cơ sở pháp lý

Ở nước ta CTYT đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật

do Quốc hội, Chính phủ ban hành và hàng loạt các văn bản quản lý, hướng dẫn thực hiện của ngành Y tế Gồm một số văn bản sau:

- Luật Bảo vệ môi trường và các Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Điều 39, Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã đưa ra các quy định về bảo vệ môi trường trong bệnh viện và các cơ sở y tế

- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về Quản lý chất thải nguy hại

- Quyết định số 1788/QĐ-TTg về việc phê duyệt kế hoạch xử lý triệt

để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020; bao gồm

10 bệnh viện gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, chưa hoàn thành xử lí triệt để theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg, trong đó có bệnh viện Lao và bệnh phổi Hải Phòng

- Bộ Y tế đã ban hành các văn bản quy định về quản lý, xử lý CTYT

và thường xuyên điều chỉnh quy chế cho phù hợp với xu thế phát triển Từ năm 1999, đã ban hành riêng quy chế quản lý CTYT, đến 2007, quy chế này

Trang 24

đã được điều chỉnh để phù hợp với tình hình cấp bách hiện nay về quản lý CTYT (Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế)

Ngoài ra còn nhiều các văn bản quy định, hướng dẫn khác đối với công tác quản lý CTYT như: tiêu chuẩn khí thải lò đốt CTYT, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải …

1.6.2.2 Về nhân lực

Tại các bệnh viện quy mô lớn, Bệnh viện tuyến trung ương như Bạch Mai, Việt Đức, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi trung ương và một số bệnh viện tuyến tỉnh đều có khoa chống nhiễm khuẩn, có đội ngũ cán bộ được đào tạo chính quy về quản lý chất thải Còn hầu hết các bệnh viện, nhất là bệnh viện tuyến huyện việc thực hiện Quy chế quản lý chất thải đều chưa đầy đủ và không thường xuyên Hoạt động giám sát nhà nước về công tác quản lý CTYT còn chưa đầy đủ, năng lực giám sát và điều tiết còn hạn chế, đội ngũ thanh tra còn hạn chế, chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe [5]

1.6.2.3 Về kinh phí và trang thiết bị xử lý chất thải

Việc đầu tư kinh phí cho xử lý chất thải tại các cơ sở y tế còn gặp rất nhiều khó khăn Các cơ sơ y tế phần lớn là các đơn vị sự nghiệp, không có khả năng tự cân đối kinh phí đầu tư các công trình xử lý chất thải Kinh phí cho xử lý chất thải chưa được tính vào chi phí đầu giường bệnh nên khó khăn trong việc duy trì hoạt động xử lý chất thải

Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi là bệnh viện chuyên khoa, năm 2014 có quy mô công suất là 250 giường bệnh Kết quả khám chữa bệnh: tổng số lần khám bệnh 116.208 lượt, số BN điều trị nội trú 2.853 lượt, số BN điều trị ngoại trú 2.000 lượt, số lượng xét nghiệm 323.186 lượt Do đó lượng chất thải phát sinh bao gồm chất thải sinh hoạt và CTYTNH sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường là rất lớn

Trang 25

Với những lý do như vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Hải Phòng để đánh giá công tác bảo vệ môi trường tại đây sau khi có quyết định Quyết định số 1788/QĐ-TTg về việc phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020.

Trang 26

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

* Chất thải y tế:

- Chất thải rắn y tế: chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất thải thông thường

- Nước thải bệnh viện: nước thải ra từ các hoạt động của bệnh viện

- Hồ sơ, sổ sách quản lý CTYT của bệnh viện

* Nhân viên y tế, vệ sinh viên và người bệnh là những người phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại Chia làm 3 nhóm:

- Nhóm 1: bác sĩ, dược sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, nhân viên khối hành chính văn phòng gọi chung là nhân viên y tế (NVYT)

- Nhóm 2: hộ lý, nhân viên công ty môi trường xanh, gọi chung là vệ sinh viên (VSV)

- Nhóm 3: người bệnh.Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Người bệnh không đồng ý tham gia phỏng vấn

+ Người bệnh không đủ năng lực trả lời phỏng vấn

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

- Từ 01/2014 đến 12/2014

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu

- Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Hải Phòng

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

2.2.2 Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu

Trang 27

- Nước thải bệnh viện:

o Làm 10 chỉ số xét nghiệm: BOD5, COD, TSS, PO4, NO3, H2S, Amoni, Coliform, Salmonella và Shigella

* Cỡ mẫu cho nghiên cứu kiến thức, thực hành quản lý CTYT:

- Chúng tôi áp dụng cách tính mẫu chung nhất (tỉ lệ 50%) theo công

1

1

d

p p

Z

 

Trang 28

- Nước thải bệnh viện:

o Lấy nước thải tại hố ga sau khi đã qua hệ thống xử lý trong 12 tháng (3 tháng/lần x 12 tháng = 4 lần, tần suất lấy theo Đề án bảo

vệ môi trường của Bệnh viện), làm xét nghiệm chất lượng nước thải 10 chỉ số

* Kỹ thuật chọn mẫu cho nghiên cứu kiến thức, thực hành quản lý CTYT:

- Nhóm 1 (NVYT): Chọn chủ đích toàn bộ nhân viên y tế (gồm bác sỹ, dược sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, nhân viên khối hành chính văn phòng):

Nhân viên làm nhiệm vụ vệ sinh ngoại cảnh và

vận chuyển

- Nhóm 2 (VSV): Chọn chủ đích toàn bộ hộ lý bệnh viện, nhân viên vệ sinh ngoại cảnh, nhân viên vận hành hệ thống xử lý nước thải và nhân viên vệ sinh thuê của Công ty môi trường xanh: 48 người

Trang 29

- Nhóm 3 (Bệnh nhân): Lập danh sách bệnh nhân đã nhập viện 2 ngày trở lên từ 1 tháng 5 năm 2014 tại mỗi khoa, sử dụng phương pháp chọn mẫu

thuận tiện hệ thống để chọn đến khi đủ 400 bệnh nhân

2.2.3 Các chỉ sốvà biến số nghiên cứu

2.2.3.1 Các chỉ số và biến số nghiên cứu thực trạng quản lý chất thải y tế

* Thực trạng chất thải rắn:

- Tổng lượng chất thải rắn y tế/ngày

- Khối lượng chất thải y tế (kg)/giường bệnh/ngày

- Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại (kg)/giường bệnh/ngày

- Tỉ lệ chất thải rắn y tế nguy hại/chất thải rắn y tế

- Công tác thu gom, phân loại, vận chuyển, lưu giữ, xử lý chất thải rắn

* Thực trạng chất lượng nước thải:

- Lượng nước thải/ngày

- Kết quả phân tích chất lượng nước thải

2.2.3.2 Các chỉ số và biến số nghiên cứu kiến thức, thực hành quản lý CTYT

- Nhân viên trực tiếp quản lý CTYT là những người hàng ngày thực hiện công việc thu gom, phân loại, vận chuyển, xử lý chất thải y tế tại bệnh viện

- Kiến thức, thái độ, thực hành của NVYT, VSV về Quy chế quản lý CTYT theo Quyết định số 43/2007/QĐ- BYT ngày 30/11/ 2007 của Bộ

Y tế, gồm:

o Kiến thức về phân loại CTYT theo nhóm, mã màu quy định dụng cụ chứa CTYT

o Hiểu biết về tác hại của CTYT đối với môi trường, sức khoẻ và các đối tượng có nguy cơ dễ bị ảnh hưởng bởi CTYT

Trang 30

- Nhận thức, thái độ, thực hành của bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân

về vệ sinh bệnh viện

2.3 Phương pháp thu thập thông tin

2.3.1 Công cụ thu thập thông tin

- Phiếu điều tra

- Bảng kiểm

- Thang điểm

- Cân đồng hồ

- Dụng cụ lấy nước thải xét nghiệm

2.3.2 Kỹ thuật thu thập số liệu

2.3.2.1 Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu

- Điền thông tin vào mẫu phiếu in sẵn thống nhất

- Nhóm nghiên cứu phát phiếu đánh giá kiến thức về quản lý CTYT cho từng đối tượng trong nghiên cứu, hướng dẫn ghi đầy đủ các thông tin trong phiếu Mỗi người đọc kỹ câu hỏi, lựa chọn câu trả lời đúng vào ô thích hợp Thời gian đánh giá là 15 phút

2.3.2.2 Quan sát trực tiếp quá trình phân loại, thu gom và xử lý CTYT

Trong thời gian nghiên cứu, quan sát trực tiếp quá trình thực hành phân loại, thu gom CTYT của đối tượng nghiên cứu tại nguồn phát sinh, và quá trình xử lý CTYT ban đầu tại mỗi khoa

- Chất thải lây nhiễm: gồm chất thải sắc nhọn, chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (chất thải thấm máu và các dịch sinh học của cơ thể từ các buồng bệnh cách ly), chất thải lây nhiễm nguy cơ cao (phát sinh từ các phòng xét nghiệm)

- Chất thải hóa học nguy hại: gồm dược phẩm quá hạn, các hóa chất trong y tế, chất gây độc tế bào, chất thải chứa kim loại nặng (từ nhiệt kế, huyết áp kế )

Trang 31

- Chất thải thông thường: gồm chất thải sinh hoạt, các chất thải từ hoạt động khám chữa bệnh không dính máu và dịch sinh học và hóa chất độc hại, chất thải sinh hoạt từ khu vực hành chính, lá cây

2.3.2.3 Mô tả thực trạng quản lý chất thải y tế:

* Dùng bảng kiểm “Kiểm tra, giám sát quản lý chất thải y tế tại các cơ

sở khám bệnh, chữa bệnh” Bảng kiểm này đã được Tổ chức Y tế Thế giới

WHO kết hợp Cục Quản lý môi trường Y tế – Bộ Y tế Việt Nam xây dựng để đánh giá thực trạng quản lý chất thải y tế (thu gom, phân loại, vận chuyển, lưu giữ, xử lý chất thải) Hiện bảng kiểm này đã và đang được áp dụng tại 15 tỉnh thành phía Bắc, trong đó có thành phố Hải Phòng Phương pháp đánh giá: Tổng số điểm tối đa là 100 điểm Bệnh viện được đánh giá là đạt khi đạt tổng

số điểm từ 80 điểm trở lên

* Xây dựng thang điểm để đánh giá mức độ hiểu biết về phân loại CTYT:căn cứ quy định về phân loại CTYT và mã màu quy định đối với dụng

cụ chứa CTYT theo Quyết định số 43/2007/QĐ- BYT ngày 30/11/ 2007 của

Bộ Y tế

- Cụ thể cách cho điểm như sau: 1 điểm cho mỗi một tiêu chí được xác định đúng Tất cả có 9 tiêu chí tương ứng với tổng điểm tối đa là 9 điểm cho cả 9 tiêu chí đúng, gồm: Mỗi nhóm CTYT là một tiêu chí, theo quy định

có 5 nhóm chất thải sẽ có 5 tiêu chí; mỗi một mã màu là một tiêu chí, có 4 mã màu quy định, sẽ có 4 tiêu chí

- Mức cho điểm:

+ Kiến thức trung bình : Chấm đạt điểm 5 – 7

Trang 32

2.3.2.4 Cân định lượng toàn bộ chất thải y tế theo kế hoạch

* Chất thải rắn:

- Cân toàn bộ rác thải hàng ngày của bệnh viện gồm rác sinh hoạt, rác

y tế, một tuần 2 lần trong 12 tháng (theo lịch vận chuyển rác của Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hải Phòng)

- Sau đó lấy trung bình theo ngày đối với mỗi loại rác

- Phân tích mẫu nước thải: Phân tích 10 thông số đã chọn theo Tiêu chuẩn môi trường Việt Nam, Quy chuẩn so sánh: QCVN 28:2010/BTNMT tại Phòng thí nghiệm Viện Khoa Học và Công nghệ Quân sự - Viện Công nghệ mới, số 08 Láng Hạ, Hà Nội với tần suất 02 lần/năm

Bảng 2.1 Giá trị giới hạn các thông số và nồng độ chất ô nhiễm

Trang 33

Trong đó:

- Giá trị C là giá trị của các thông số và các chất gây ô nhiễm

- Cột A quy định giá trị C của các thông số và các chất gây ô nhiễm cho phép trong nước thải y tế khi thải vào các nguồn nước được dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt

- Cột B quy định giá trị C của các thông số và các chất gây ô nhiễm cho phép trong nước thải y tế khi thải vào các nguồn nước không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt

2.4 Vật liệu nghiên cứu

- Phiếu điều tra

- Cân đồng hồ và các phương tiện bảo hộ lao động

- Dụng cụ lấy mẫu nước thải y tế

2.5 Thu thập và xử lý số liệu

2.5.1 Thu thập số liệu

Tiến hành điều tra trên thực tế để thu thập các thông tin về tình hình thu gom, phân loại, vận chuyển, lưu giữ, xử lý và thành phần CTRYT tại bệnh viện Từ đó đưa ra hiện trạng cụ thể và phân tích các yếu tố ảnh hưởng làm cơ

sở cho việc đánh giá hiệu quả xử lý CTRYT

Điều tra đã được tiến hành theo các bước:

 Hồi cứu các tài liệu liên quan đến chính sách quản lý chất thải y tế, các thông tin về hệ thống quản lý chất y tế trong bệnh viện

tác thu gom phân loại, xử lý và tiêu chất thải

tác thu gom phân loại, xử lý và tiêu hủy chất thải

 Phỏng vấn các nhân viên y tế từ các khoa phòng khác nhau

Trang 34

 Quan sát trực tiếp quá trình thu gom, phân loại, vận chuyển tại các bệnh viện

- Thông tin được ghi nhận vào các phiếu điều tra và quan sát (tương ứng các mẫu phiếu từ số 1 đến số 3, xem phụ lục)

- Số liệu từ các phiếu được nhập vào bảng Excel dựng sẵn

2.5.2 Xử lý số liệu

- Số liệu được làm sạch và xử lý bằng phần mềm Stata 10.0 (Stata Corp, College Station, TX, USA)

- Phân tích số liệu sử dụng phần mềm SPSS 13.0

- So sánh tỉ lệ đạt kiến thức và tuân thủ quy chế quản lý CTYT giữa

nghĩa thống kê khi p<0.05

- Kiểm định ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến tuân thủ quy chế quản lý CTYT của NVYT, của người bệnh hoặc người nhà người bệnh bằng phân tích đơn biến sử dụng test χ2 (khoảng tin cậy 95%)

2.5.3 Khống chế sai số

- Áp dụng các biện pháp bảo mật về thời điểm phát động quan sát và đối tượng quan sát, kết hợp tập huấn các giám sát viên, tuân thủ triệt để quy tắc chọn mẫu nhằm giảm thiểu sai số ngẫu nhiên

- Nội dung của các mẫu phiếu điều tra được đánh giá về tính hợp lý và

độ tin cậy qua điều tra thử và chỉnh sửa

- Tập huấn kỹ các giám sát viên và điều tra viên tránh các sai số quan sát, sai số thông tin và sai số xếp lẫn đối tượng trong điều tra

2.6 Đạo đức trong nghiên cứu

- Thực hiện theo Đề cương được Hội đồng Nghiên cứu khoa học

trường ĐH Y Dược Hải Phòng thông qua

Trang 35

- Nghiên cứu được lãnh đạo bệnh viện, Hội đồng KSNK bệnh viện Lao và bệnh phổi Hải Phòng phê duyệt

- Các đối tượng điều tra được thông báo trước về nội dung, mục đích nghiên cứu và đồng ý tham gia nghiên cứu

- Nhóm tham gia nghiên cứu phối hợp thực hiện cùng khoa KSNK, phòng Điều dưỡng Bệnh viện Lao và bệnh phổi Hải Phòng thực hiện đúng theo các hướng dẫn của Quy chế quản lý CTYT tại Quyết định số

43/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 30/11/2007

- Mọi thông tin của đối tượng nghiên cứu đều được bảo mật, không sử dụng vào mục đích nào khác ngoài mục đích nghiên cứu

Trang 36

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thực trạng quản lý chất thải y tế

Bảng 3.1 Kết quả công tác quản lý hành chính về quản lý CTYT

STT Nội dung kiểm tra

Phương pháp đánh giá

Thang điểm

Điểm đạt được

Ghi chú

1 Báo cáo ĐTM/Bản đăng

Trang 37

10 Kế hoạch quản lý CTYT

Trang 38

Bảng 3.2 Lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại bệnh viện

Loại chất thải Lượng chất thải/ngày Khối lượng chất

thải (kg)/GB/ngày Lượng (kg) Tỉ lệ (%)

Trang 39

Bảng 3.3 Kết quả về tiêu chuẩn, số lượng dụng cụ bao bì đựng và xe vận chuyển chất thải rắn trong bệnh viện

STT Nội dung

Phương pháp đánh giá

Thang điểm

Điểm đạt được

nhiễm, có biểu tượng

nguy hại sinh học

Đủ Thiếu Không có

1 0,5

1 0,5

1 0,5

0,5

0

1 Không có

biểu tượng

Trang 40

2 Tiêu chuẩn túi đựng chất thải y tế

2

Thành túi đựng CTYT

dày tối thiểu 0,1mm, thể

tích tối đa của túi là

0,1m3

Có Không 1

1 0,5

1

Ngày đăng: 10/05/2016, 01:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2004), Chất thải rắn - Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2004), "Chất thải rắn - Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2004
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên và Môi trường, Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên và Môi trường
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Niên
Năm: 2009
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011, Chương 5 Chất thải rắn y tế, tr 83-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2011
5. Bộ Y tế (2006), Sức khỏe môi trường, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. 29 6. Bộ Y tế (2008), "Quy chế quản lý chất thải y tế" Quyết định số 43/ 2007/QĐ- BYT/ BYT-KCB ngày 10/10/ 2008, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế quản lý chất thải y tế
Tác giả: Bộ Y tế (2006), Sức khỏe môi trường, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. 29 6. Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2008
7. Bộ Y tế (2009), Vệ sinh môi trường Dịch tễ (tập I), Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh môi trường Dịch tễ
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2009
8. Bộ y tế (2011), “Đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng đến năm 2020”, Ban hành kèm theo Quyết định số 2038/QĐ-TTg, ngày 15/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 2011
9. Bộ Y tế, (2012), ”Báo cáo chuyên đề về công tác quản lý chất thải y tế năm 2012 ”, PGS.TS.Nguyễn Huy Nga – Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế, Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyên đề về công tác quản lý chất thải y tế năm 2012 ”
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2012
10. Bộ Y tế, (2009), Kế hoạch bảo vệ môi trường ngành y tế giai đoạn 2009 - 2015 Quyết định số 1783/QĐ-BYT ngày 28/5/ 2009, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch bảo vệ môi trường ngành y tế giai đoạn 2009 - 2015
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2009
11. Bộ Y tế, (2010), Báo cáo Quản lý các nguy cơ môi trường của Dự án hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện nguồn vốn vay Ngân hàng thế giới. Quyết định số 4448/QĐ-BYT ngày 18/11/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: áo cáo Quản lý các nguy cơ môi trường của Dự án hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện nguồn vốn vay Ngân hàng thế giới
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2010
12. Cục quản lý môi trường y tế - Bộ y tế, (2012), “Báo cáo chuyên đề về công tác quản lý chất thải y tế và định hướng hoạt động trong giai đoạn tới”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2), “Báo cáo chuyên đề về công tác quản lý chất thải y tế và định hướng hoạt động trong giai đoạn tới”
Tác giả: Cục quản lý môi trường y tế - Bộ y tế
Năm: 2012
13. Cù Huy Đấu - Trường Đại học kiến trúc Hà Nội (2004), "Thực tiễn quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam", Tuyển tập các báo cáo khoa học hội nghị môi trường Việt Nam, Hà Nội, (tr 61 - 74) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam
Tác giả: Cù Huy Đấu - Trường Đại học kiến trúc Hà Nội
Năm: 2004
14. Đinh Hữu Dung, Nguyễn Thị Thu, Đào Ngọc Phong, Vũ Thị Vựng và CS (2003),"Nghiên cứu thực trạng, tình hình quản lý chất thải y tế ở 6 bệnh viện đa khoa tuyếntỉnh, đề xuất các giải pháp can thiệp”, Tuyển tập các báo cáo khoa học Hội nghị môi trường toàn quốc năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng, tình hình quản lý chất thải y tế ở 6 bệnh viện đa khoa tuyếntỉnh, đề xuất các giải pháp can thiệp
Tác giả: Đinh Hữu Dung, Nguyễn Thị Thu, Đào Ngọc Phong, Vũ Thị Vựng và CS
Năm: 2003
15. Dương Thị Hương, Đồng Trung Kiên và CS (2003), “Đánh giá tình hình vệ sinh môi trường tại 11 cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng”, Trung tâm Y tế dự phòng Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá tình hình vệ sinh môi trường tại 11 cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng”
Tác giả: Dương Thị Hương, Đồng Trung Kiên và CS
Năm: 2003
16. Nguyễn Thị Thu Hường, (2012), “Đánh giá hiện trạng thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh và đề xuất các biện pháp cải thiện”, Luận văn thạc sỹ kỹ thuật, ĐH Bách Khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Đánh giá hiện trạng thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh và đề xuất các biện pháp cải thiện”
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hường
Năm: 2012
18. Phạm Minh Khuê, Trần Thị Kiệm (2013), “Kiến thức, thực hành quản lý chất thải Y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng năm2012”, Tạp chí Y học dự phòng, tập XXIII Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kiến thức, thực hành quản lý chất thải Y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng năm "2012”
Tác giả: Phạm Minh Khuê, Trần Thị Kiệm
Năm: 2013
19. Trần Thị Kiệm, Phạm Minh Khuê (2014), “Thực trạng quản lý chất thải lỏng y tế tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp – Hải Phòng năm2012”, Tạp chí Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng quản lý chất thải lỏng y tế tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp – Hải Phòng năm "2012”
Tác giả: Trần Thị Kiệm, Phạm Minh Khuê
Năm: 2014
20. Hoàng Thị Liên, (2009), Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên, Luận văn thạc sỹ y học dự phòng, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên
Tác giả: Hoàng Thị Liên
Năm: 2009
21. Đặng Thị Kim Loan, (2010), Đánh giá tình hình quản lý chất thải y tế trên địa bàn huyện Long Thành năm 2010,http://ttytlongthanh.dongnai.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình quản lý chất thải y tế trên địa bàn huyện Long Thành năm 2010
Tác giả: Đặng Thị Kim Loan
Năm: 2010
23. Nguyễn Huy Nga (2004),"Tổng quan tình hình quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam", Bảo vệ môi trường trong các cơ sở y tế, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, (tr 67 – 85) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan tình hình quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Nga
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
24. Đào Ngọc Phong, Nguyễn Thị Thái, Đỗ Văn Hợi (1998), "Đánh giá ô nhiễm môi trường và khả năng lây truyền bệnh do nước thải bệnh viện gây ra ở Hà Nội" Kỷ yếuhội thảo Quản lý chất thải bệnh viện, Hà Nội, (tr 18 – 34) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá ô nhiễm môi trường và khả năng lây truyền bệnh do nước thải bệnh viện gây ra ở Hà Nội
Tác giả: Đào Ngọc Phong, Nguyễn Thị Thái, Đỗ Văn Hợi
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3. Các thông số ô nhiễm trong nước thải [11] - Thực trạng và kiến thức thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện lao và bệnh phổi hải phòng năm 2014
Bảng 1.3. Các thông số ô nhiễm trong nước thải [11] (Trang 15)
Bảng 3.3. Kết quả về tiêu chuẩn, số lượng dụng cụ bao bì đựng và xe vận  chuyển chất thải rắn trong bệnh viện - Thực trạng và kiến thức thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện lao và bệnh phổi hải phòng năm 2014
Bảng 3.3. Kết quả về tiêu chuẩn, số lượng dụng cụ bao bì đựng và xe vận chuyển chất thải rắn trong bệnh viện (Trang 39)
Bảng 3.6. Kết quả về vận chuyển chất thải rắn y tế từ các khoa phòng đến  nơi lưu giữ - Thực trạng và kiến thức thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện lao và bệnh phổi hải phòng năm 2014
Bảng 3.6. Kết quả về vận chuyển chất thải rắn y tế từ các khoa phòng đến nơi lưu giữ (Trang 45)
Bảng 3.8. Kết quả công tác vận chuyển chất thải rắn ra ngoài bệnh viện - Thực trạng và kiến thức thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện lao và bệnh phổi hải phòng năm 2014
Bảng 3.8. Kết quả công tác vận chuyển chất thải rắn ra ngoài bệnh viện (Trang 48)
Bảng 3.9. Kết quả về xử lý/tiêu hủy chất thải rắn y tế - Thực trạng và kiến thức thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện lao và bệnh phổi hải phòng năm 2014
Bảng 3.9. Kết quả về xử lý/tiêu hủy chất thải rắn y tế (Trang 48)
Bảng 3.10. Kết quả công tác thu gom, xử lý nước thải y tế - Thực trạng và kiến thức thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện lao và bệnh phổi hải phòng năm 2014
Bảng 3.10. Kết quả công tác thu gom, xử lý nước thải y tế (Trang 50)
Bảng 3.11. Kết quả công tác thu gom, xử lý chất thải khí - Thực trạng và kiến thức thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện lao và bệnh phổi hải phòng năm 2014
Bảng 3.11. Kết quả công tác thu gom, xử lý chất thải khí (Trang 51)
Bảng 3.13. Tỷ lệ  VSV được tập huấn quy chế quản lý chất thải y tế tại  bệnh viện - Thực trạng và kiến thức thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện lao và bệnh phổi hải phòng năm 2014
Bảng 3.13. Tỷ lệ VSV được tập huấn quy chế quản lý chất thải y tế tại bệnh viện (Trang 53)
Bảng 3.14. Tỉ lệ nhân viên y tế và vệ sinh viênđược tập huấn quy chế  quản lý chất thải y tế - Thực trạng và kiến thức thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện lao và bệnh phổi hải phòng năm 2014
Bảng 3.14. Tỉ lệ nhân viên y tế và vệ sinh viênđược tập huấn quy chế quản lý chất thải y tế (Trang 54)
Bảng 3.15. Tình hình thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế - Thực trạng và kiến thức thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện lao và bệnh phổi hải phòng năm 2014
Bảng 3.15. Tình hình thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế (Trang 55)
Bảng 3.16. Tỷ lệ NVYT và VSV có kiến thức về phân loại chất thải y tế  theo nhóm chất thải - Thực trạng và kiến thức thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện lao và bệnh phổi hải phòng năm 2014
Bảng 3.16. Tỷ lệ NVYT và VSV có kiến thức về phân loại chất thải y tế theo nhóm chất thải (Trang 56)
Bảng 3.17. Tỷ lệ NVYT và VSV có kiến thức về mã màu dụng cụ đựng  chất thải y tế. - Thực trạng và kiến thức thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện lao và bệnh phổi hải phòng năm 2014
Bảng 3.17. Tỷ lệ NVYT và VSV có kiến thức về mã màu dụng cụ đựng chất thải y tế (Trang 57)
Bảng 3.18. Tỷ lệ NVYT và VSV có kiến thức về phân loại chất thải y tế  theo nhóm chất thải và mã màu - Thực trạng và kiến thức thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện lao và bệnh phổi hải phòng năm 2014
Bảng 3.18. Tỷ lệ NVYT và VSV có kiến thức về phân loại chất thải y tế theo nhóm chất thải và mã màu (Trang 58)
Bảng 3.19. Liên quan giữa học tập với kiến thức về phân loại chất thải y - Thực trạng và kiến thức thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện lao và bệnh phổi hải phòng năm 2014
Bảng 3.19. Liên quan giữa học tập với kiến thức về phân loại chất thải y (Trang 59)
Bảng 3.21. Tỷ lệ bệnh nhân thực hành bỏ rác đúng quy định - Thực trạng và kiến thức thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện lao và bệnh phổi hải phòng năm 2014
Bảng 3.21. Tỷ lệ bệnh nhân thực hành bỏ rác đúng quy định (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w