Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng lớn về biển với biển dài trên3.260 km, có vùng biển rộng trên 1 triệu km2 gấp hơn 3 lần diện tích đất liền, có vị trí địa
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng lớn về biển với biển dài trên3.260 km, có vùng biển rộng trên 1 triệu km2 (gấp hơn 3 lần diện tích đất liền),
có vị trí địa kinh tế và địa chiến lược đặc biệt, ven biển có nhiều tiềm năng cũngnhư có lịch sử lâu đời trong phát triển kinh tế biển Biển chứa đựng nhiều tiềmnăng to lớn để phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đáng chú ý là những lợithế về vị trí địa lý, tài nguyên khoáng sản và nguồn lực con người Tuy nhiên, donhiều nguyên nhân khác nhau, cho đến nay phát triển kinh tế biển của Việt Namđược đánh giá là kém hiệu quả Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ khai thác lợi thế tĩnhtheo hình thức khai thác tài nguyên thô, trình độ công nghệ thấp, chưa tạo đượcgiá trị gia tăng lớn cho những ngành kinh tế từ biển Khai thác hàng hải, cảng biển
và du lịch nhìn chung vẫn ở trình độ thấp, sức cạnh tranh còn kém Để trở thànhmột quốc gia biển thì cần hội đủ ba thế mạnh là: (1) Mạnh về kinh tế biển; (2)Mạnh về khoa học biển; (3) Mạnh về thực lực quản lý tổng hợp biển Thế kỷ XXIđược thế giới xem như là “Thế kỷ kinh tế biển và đại dương” Trong quá trình tìm
kiếm các con đường đưa Việt Nam trở thành nước “mạnh về biển”, việc nghiên
cứu kinh nghiệm thế giới về quản lý kinh tế biển để học hỏi vận dụng vào Việt Nam là hết sức cần thiết.
2 Tính hình nghiên cứu
Có rất nhiều công trình nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước
về quản lý kinh tế biển Tuy nhiên, nghiên cứu về quản lý kinh tế biển vẫn cònnhiều vấn đề còn tranh luận và nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ cần phải tiếp tụcnghiên cứu giải quyết
3 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực tiễn của quản lý kinh tếbiển của một số nước trên thế giới, trường hợp Trung Quốc, Malaysia vàSingapore
4 Phạm vi nghiên cứu
Quản lý kinh tế biển là một lĩnh vực rộng, nó bao gồm cả quản lý doanhnghiệp, quản lý nhà nước về kinh tế biển Chính vì vậy, phạm vi nghiên cứucủa đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu ở tầm vĩ mô, tức là nghiên cứu quản lý
của nhà nước đối với kinh tế biển, trong đó tập trung vào các chính sách quản
Trang 2lý kinh tế biển và các cơ quan quản lý kinh tế biển, với trọng tâm là quản lý nhà
nước đối với vào năm lĩnh vực là kinh tế hàng hải, khai thác khoáng sản biển,khai hải sản, du lịch biển và các khu kinh tế biển
Đề tài cũng đặt trọng tâm vào nghiên cứu kinh nghiệm quản lý kinh tếbiển của 3 nước Trung Quốc, Malaysia và Singapore
Về thời gian, đề tài nghiên cứu kinh nghiệm quản lý kinh tế biển của cácnước trong giai đoạn từ những năm 1980 tới nay (2011), bởi vì giai đoạn nhữngnăm 1980 đến nay là thời kỳ kinh tế biển của các nước này phát triển mạnh và
có nhiều nét đặc trưng nổi bật
5 Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý kinh tếbiển của Trung Quốc, Malaysia và Singapore nhằm rút ra kinh nghiệm có ích choViệt Nam, từ đó có một số gợi ý chính sách cho Việt Nam trong thời gian tới
6 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp cơ bản được sử dụng trong việc nghiên cứu khoahọc xã hội nói chung cũng như trong kinh tế học nói riêng như phương phápduy vật biện chứng, phương pháp logic lịch sử, phương pháp trừu tượng hoákhoa học, đề tài còn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích - tổng hợp, so sánh,
dự báo để làm rõ hơn nội dung nghiên cứu
Về số liệu, đề tài sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp là các nghiên cứu đángtin cậy của các học giả và các tổ chức uy tín trong và ngoài nước
Đề tài còn sử dụng phương pháp hội thảo khoa học, phương pháp traođổi, khảo sát thực tế,…
tế biển nói chung
- Từ các vấn đề có tính quy luật trong quản lý kinh tế biển được rút ra từthực tiễn phát triển kinh tế biển của Trung Quốc, Malaysia và Singapore, kếthợp với nghiên cứu thực tiễn Việt Nam, đề tài đưa ra một số đề xuất, mang tínhgợi ý chính sách về quản lý kinh tế biển Việt Nam trong thời gian tới
Trang 3Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ KINH TẾ BIỂN 1.1 Các khái niệm cơ bản về quản lý kinh tế biển
1.1.1 Khái niệm kinh tế biển
KINH TẾ BIỂN là toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và cáchoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển (tuy không phải diễn ratrên biển nhưng hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục
vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển)
1.1.2 Quản lý kinh tế biển
“QUẢN LÝ KINH TẾ BIỂN là một phần của hoạt động quản lý xã hội nói
chung và là một phần của hoạt động quản lý kinh tế nói riêng mà đối tượng quản lý của nó chính là các hoạt động kinh tế biển với mục tiêu là để thúc đẩy phát triển kinh tế nói chung và thúc đẩy kinh tế biển nói riêng”.
Quản lý kinh tế biển có thể được nhìn trên hai giác độ: (1) Quản lý kinh tếbiển ở tầm vĩ mô, nó thể hiện ở chiến lược phát triển kinh tế biển của quốc gia, cácquy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế biển, các chính sách vĩ mô của nhà nướcnhằm phát triển kinh tế biển (như chính sách đầu tư, chính sách khoa học-côngnghệ, chính sách đào tạo nguồn nhân lực…), một số luật về phát triển kinh tếbiển…; (2) Quản lý kinh tế biển ở tầm vi mô, là quản lý của các doanh nghiệp đốivới hoạt động kinh tế biển
Quản lý nhà nước về kinh tế biển bao gồm hai phần chính là chính sáchquản lý và các tổ chức quản lý Chính sách quản lý là hệ thống các quan điển,đường lối, các kế hoạch, các hệ thống văn bản pháp luật,…để thực hiện mụctiêu phát triển kinh tế biển Luận án này nghiên cứu quản lý kinh tế biển chủ yếu
ở tầm vĩ mô
1.2 Vai trò của quản lý kinh tế biển
Vai trò to lớn của quản lý kinh tế biển được thể hiện ở một số điểm sau:
- Đề ra chiến lược phát triển kinh tế biển nhằm thúc đẩy nền kinh tế biểnphát triển
- Tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động phát triển kinh tế biển
- Tạo lập thể chế cho hoạt động kinh tế biển
Cụ thể là:
+ Bảo tồn và phát triển nguồn lợi thực phẩm giàu dinh dưỡng cho thế giới.+ Quản lý để khai thác bền vững kho khoáng sản biển không lồ của thế giới
Trang 4+ Bảo vệ môi trường biển.
+ Thúc đẩy khai thác nguồn năng lượng lớn từ biển
1.3 Một số quan điểm và cách tiếp cận về quản lý kinh tế biển
1.3.1 Quản lý tổng hợp kinh tế biển
Do quản lý kinh tế biển là hoạt động quản lý rất nhiều ngành nghề đan xenvới nhau, với nhiều lợi ích khác nhau Vì thế, tiếp cận quản lý tổng hợp biển là mộttrong những hướng để sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.Đây là một trong nhưng phương thức quản lý mà có thể khắc phục được những vấn
đề còn tồn tại do các phương thức quản lý đơn ngành, riêng lẻ đã tồn tại
1.3.2 Lý thuyết phát triển không cân đối (unbalanced growth) hay các “cực
tăng trưởng” (A Hirschman và F Perrons)
Lý thuyết phát triển không cân đối (unbalanced growth) hay các “cựctăng trưởng” với đại diện tiêu biểu của lý thuyết này là A Hirschman và F.Perrons Theo lý thuyết này, các quốc gia ven biển cũng có thể phát triển mộtcách không đồng đều, dồn nguồn lực vào phát triển kinh tế biển và các khu kinh
tế biển, cái vốn là lợi thế của họ
1.3.3 Quản lý để phát triển kinh tế theo “Vòng quay quốc tế có lợi” trong chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ngành của vùng duyên hải (Wang Jian)
Khái niệm về “vòng quay quốc tế có lợi” (BIC) được Wang Jian, nhànghiên cứu thuộc Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Trung Quốc đưa ra nhằm đưa racác chính sách quản lý để phát triển kinh tế vùng ven biển Trung Quốc theohướng chuyển dịch ngành của vùng ven biển
Theo BIC thì lộ trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành vùng duyên hảicủa Trung Quốc được thực hiện trong khoảng thời gian từ 20 tới 30 năm, đượcchia thành ba giai đoạn: (1) Ưu tiên phát triển công nghiệp, sử dụng nhiều laođộng và định hướng xuất khẩu ở các vùng ven biển; (2) Đưa các sản phẩm sảnxuất nội địa xuất khẩu tới các thị trường quốc tế; (3) Tập trung đầu tư pháttriển công nghiệp nặng và công nghiệp cơ khí có giá trị gia tăng cao
1.3.4 Chính sách quản lý thúc đẩy phát triển các trung tâm kinh tế biển trong
cạnh tranh quốc tế
Một trong các biển pháp để thúc đẩy phát triển kinh tế biển là phát triểncác trung tâm kinh tế ven biển bằng các chính sách quản lý đơn giản, thôngthoáng, thuận lợi,…để thu hút vốn đầu và phát triển công nghệ Các trung tâmnày phát triển với vai trò làm tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Năng
Trang 5lực cạnh tranh thể hiện ở: Trình độ công nghệ, năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp, cộng đồng doanh nghiệp ở cả cấp độ địa phương và cấp độ quốc gia.
1.3.5 Biến đổi khí hậu, môi trường và phát triển bền vững
Trong quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt là quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước thường dẫn tới hậu quả xấu là ô nhiễm môi trường Bêncạnh đó, biến đối khí hậu và nước biển dâng có tác động mạnh đến môi trườngbiển, cả vùng ven bờ và vùng nước biển Điều này đã và đang đặt ra nhiều tháchthức đối với quản lý để phát triển bền vững kinh tế biển
1.3.6 Chủ nghĩa cực đoan
Chủ nghĩa cựu đoan là một trong những quan điểm và cách tiếp cận đối vớiquản lý và phát triển kinh tế biển hiện nay Chủ nghĩa cực đoan được tiếp cận nhưsau: (1) Chủ nghĩa dân tộc cực đoan; (2) Cực đoan chính trị tư tưởng; (3) Cực đoantrong quan niệm về chủ quyển; (4) Cực đoan trong tiếp cận “một nhân tố”; (5) Cựcđoan đối ngoại
1.3.7 Chủ nghĩa lý tưởng
Chủ nghĩa lý tưởng là một học thuyết triết học cho rằng hiện thực hoàn toàngiới hạn bởi đầu óc của chúng ta Chủ nghĩa lý tưởng bắt đầu chính thức bởi GeorgeBerkeley Chủ nghĩa lý tưởng khá phổ biến trong triết học từ thế kỉ 18 đến nhữngnăm đầu của thế kỉ 20 Chủ nghĩa lý tưởng có khá nhiều dạng Tuy nhiên, nếu đứngtrên giác độ về kinh tế thì phát triển kinh tế biển phải dựa vào công lý, dựa vào pháp
lý và chính nghĩa Do đó, để quản lý và phát triển kinh tế biển chúng ta cần phải dựavào các công ước quốc tế, các tập quán quốc tế và các quy định có tính pháp lý cao,tin tưởng vào sự ủng hộ công tâm của thế giới
1.3.8 Chủ nghĩa hiện thực
Chủ nghĩa hiện thực dùng đôi khi được nói đến như một quan điểm trái ngượcvới Chủ nghĩa lý tưởng Chủ nghĩa hiện thực phát triển vào thế kỷ 18, nó cho rằngmột số sự vật thực sự tồn tại bên ngoài đầu óc con người Theo chủ nghĩa hiện thựcthì để phát triển kinh tế biển chúng ta cần phải căn cứ vào thực tế phát triển Phải thấyđược những điểm mạnh, điểm yếu, những cơ hội, những nguy cơ và thách thức trongphát triển kinh tế biển của mình
Trang 61.4 Những vấn đề pháp lý liên quan tới quản lý kinh tế biển
1.5.1 Công pháp quốc tế về biển
Để xây dựng căn cứ cho hoạt động quản lý kinh tế biển của các quốc giatrên thế giới, tại Hội nghị Liên hợp quốc về luật biển lần thứ III đã chính thứcthông qua Công ước Liên hợp quốc về luật biển ngày 30/4/1982, gọi tắt làUNCLOS 1982 Công ước đã được 119 đoàn đại diện của các nước chính thức
ký kết vào ngày 10/12/1982 Công ước này đã chính thức có hiệu lực kể từ ngày16/2/1994 sau khi được 60 quốc gia phê chuẩn Việt Nam là quốc gia thứ 61phê chuẩn công ước này vào ngày 23/6/1994
1.5.2 Luật pháp quốc gia về biển
Luật biển là văn bản pháp luật cao nhất của mỗi quốc gia ven biển để điềuchỉnh các hoạt động kinh tế diễn ra trên vùng biển của quốc gia đó, dưới luật làcác quy định và các văn bản pháp quy khác Khi ban hành luật biển cũng cầnphải chú ý tới các công pháp quốc tế như các hiệp ước hay hiệp định giữa cácquốc gia ven biển liền kề
Chương 2 QUẢN LÝ KINH TẾ BIỂN CỦA THẾ GIỚI: TRƯỜNG HỢP TRUNG
QUỐC, MALAYSIA VÀ SINGAPORE 2.1 Quản lý kinh tế biển của Trung Quốc
2.1.1 Quan điểm, Chiến lược kinh tế biển của Trung Quốc
Chiến lược kinh tế biển của Trung Quốc
Kể từ sau khi cải cách và mở cửa, bắt đầu từ Hội nghị Trung ương IIIkhóa XI của Đảng cộng sản Trung Quốc tháng 12/1978, kinh tế biển phát triểnmạnh và nhanh chóng trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tếTrung Quốc Các kỳ Đại hội sau đó, Đại hội 12 đến Đại hội 18 Đảng cộng sảnTrung Quốc luôn nhấn mạnh: Mục tiêu quan trọng là xây dựng Trung Quốc thànhmột cường quốc biển
Chiến lược phát triển kinh tế biển của Trung Quốc được chia theo bahướng Hướng thứ nhất là hướng vào trong nước, hướng thứ hai hướng vào khuvực và hướng thứ ba hướng vào quốc tế
Quan điểm về kinh tế biển của Trung Quốc
- Tiếp tục khẳng định chủ quyền trên biển
- Để ngỏ khả năng sử dụng vũ lực để quản lý các vùng Biển có tranh chấp
Trang 7- Chống quốc tế hóa vấn đề về biển.
- Gác tranh chấp cùng khai thác
2.1.2 Thực trạng quản lý kinh tế biển của Trung Quốc
2.1.2.1 Quản lý kinh tế hàng hải của Trung Quốc
a) Quản lý cảng biển của Trung Quốc
Cảng của Trung Quốc được phân làm hai loại là cảng vịnh biển và cảngcửa sông Cảng vịnh biển tập trung chủ yếu ở Bột Hải, Hoàng Hải, Đông Hải,Nam Hải và Đài Loan Cảng cửa sông phân bổ chủ yếu ở cửa sông Áp Lục,Hải Hà, Tiểu Thanh, Trường Giang, Hoàng Phố, Tiền Đường, Nam Giang,Thục Giang, Mân Giang, Tân Giang,… của 42 con sông chảy ra biển
Từ những năm 1990, cùng với việc đẩy mạnh cải cách mở cửa nền kinh
tế, Trung Quốc cũng đã chủ trương phát triển mạnh hệ thống cảng biển TrungQuốc đã định hướng phát triển một cách rất rõ ràng để phát huy đầy đủ ưu thếcủa vận tải biển, thay đổi bộ mặt lạc hậu của các cảng ven biển, đẩy nhanh tốc độxây dựng cảng ven biển và lấy việc nâng cao lượng bốc dỡ làm trọng điểm, xâydựng nhanh các cảng nước sâu và cảng chuyên dụng Không những thế, TrungQuốc còn đẩy mạnh việc cải tiến kỹ thuật các cảng của mình, sử dụng công nghệbốc dỡ hiện đại, nâng cao hiệu quả làm việc và khả năng bốc dỡ của cảng
Cơ quan quản lý cảng biển Trung Quốc là chính quyền cảng theo kiểuchủ cảng Mô hình hoạt động của Chính quyền cảng theo kiểu chủ cảng(Landlord Ports) là mô hình mà trong đó Nhà nước sở hữu, đầu tư xây dựngcảng và các công trình hạ tầng phục vụ cảng (luồng hàng hải và hệ thốngVTS, đường vào cảng,…) Còn các công ty tư nhân đấu thầu khai thác quản lýcảng và đầu tư các công trình trên cảng Đây là mô hình đã hoạt động thànhcông tại nhiều nước trên thế giới và nó đã giúp chính quyền địa phương điềuphối một cách hiệu quả hoạt động cảng biển
Nhờ có chính sách phát triển hợp lý mà hệ thống cảng của Trung Quốcđược phát triển một cách mạnh mẽ Trung Quốc được coi là một trong nhữngquốc gia có hệ thống cảng biển tiên tiến và hiện đại trên thế giới
b) Quản lý vận tải bằng tàu biển Trung Quốc
Để phát triển ngành vận tải bằng tàu biển thì trước tiên phải có đội tàuhùng hậu để có thể chuyên trở hàng hóa đi khắp nơi trên thế giới Để làm đượcđiều này Trung Quốc đã có nhiều chính sách khuyến khích ngành tàu biển pháttriển Cho tới nay (2012), Trung Quốc đã trở thành một trong những cườngquốc đóng tàu lớn nhất trên thế giới
Trang 8Để đẩy mạnh phát triển ngành đóng tàu, từ năm 1950, Trung Quốc đã chothành lập Cục Phát triển Công nghiệp Đóng tàu trực thuộc Bộ Công nghiệpnặng Đến năm 1953, Cục Phát triển Công nghiệp Đóng tàu được đổi tên thành
Cơ quan Công nghiệp tàu thủy
Bên cạnh đó Trung Quốc còn cho thành lập một số viện nghiên cứu vềquản lý và công nghiệp đóng tàu
Để quản lý lượng hàng hóa lưu thông khổng lồ như vậy, Trung Quốc đãxây dựng cho mình một ngân hàng dữ liệu và hệ thống kiểm tra tiêu chuẩn hóalưu thông phân phối hàng hoá qua cảng biển
2.1.2.2 Quản lý Các khu kinh tế ven biển của Trung Quốc
Các khu kinh tế ven biển của Trung Quốc, đặc biệt là các đặc khu kinh tế,
là thực sự ra đời kể từ khi thực hiện quá trình cải cách mở cửa, bắt đầu từ Hộinghị Trung ương III khóa XI của Đảng cộng sản Trung Quốc tháng 12/1978.Trung Quốc thực hiện cải cách mở cửa nhằm thu hút nguồn vốn, kỹ thuật vànhân tài cũng như kinh nghiệm quản lý hiện đại từ bên ngoài,…đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Với cơ chế quản lý thông thoáng, chính sách đầu tư linh hoạt của các đặckhu kinh tế cộng với nguồn lao động dồi dào, các đặc khu kinh tế của Trung Quốc
đã thu hút được một số lượng rất lớn các nhà đầu tư nước ngoài và thực hiện xuất
khẩu lớn Các đặc khu kinh tế đã trở thành các cực tăng trưởng của đất nước, có tác dụng lan tỏa và lôi kéo các vùng khác của đất nước phát triển theo Có thể nói,
các đặc khu kinh tế của Trung Quốc, nhất là ở vùng biển đã góp phần quan trọngvào thành tích tăng trưởng của Trung Quốc, từ năm 1990 đến nay
2.1.3 Đánh giá thực trạng quản lý kinh tế biển của Trung Quốc
2.1.3.1 Những thành công trong quản lý kinh tế biển của Trung Quốc
Thứ nhất, quản lý kinh tế biển góp phần quan trọng trong phát triển cáckhu kinh tế ven biển Mô hình quản lý các khu kinh tế ven biển khá đặc sắc với
các đặc điểm như: Thể chế kinh tế tốt, thể chế hành chính hợp lý, ngân sách độc
lập, chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt
Thứ hai, quản lý kinh tế biển góp phần đưa kinh tế hàng hải phát triểnvượt bậc
2.1.3.2 Các vấn đề tồn tại trong quản lý kinh tế biển của Trung Quốc
Thứ nhất, do buông lỏng quản lý trong một thời gian dài nên Trung Quốc
đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên hải sản do khai thác quá mức
Trang 9Thứ hai, hoạt động khai thác dầu khí của Trung Quốc chưa tương xứng
với khả năng cũng như nhu cầu của Trung Quốc
Thứ ba, vận tải hàng hóa bằng tàu biển của Trung Quốc còn phụ thuộc
quá lớn vào bên ngoài và tình hình kinh tế thế giới
Thứ tư, hệ thống các đặc khu kinh tế của Trung Quốc đã có nhiều thành
công trong phát triển kinh tế nhưng các đặc khu kinh tế này cũng đang phải đốimặt với những vấn đề không dễ gì khắc phục được, cụ thể là: Ô nhiễm môitrường, cơ sở hạ tầng luôn phải chịu áp lực lớn từ tăng trưởng kinh tế, phát triểnkhông đồng đều, du nhập văn hóa sống phương Tây…
2.1.4 Một số bài học về quản lý kinh tế biển của Trung Quốc
Thứ nhất, điều đầu tiên quan trọng là nhà nước phải có đường lối thống
nhất, xuyên suốt trong phát triển kinh tế biển
Thứ hai, Nhà nước cần tích cực xây dựng hệ thống luật pháp tương đối đồng
bộ về kinh tế biển, tạo môi trường pháp lý cho hoạt động kinh tế biển thuận lợi
Thứ ba, Trung Quốc đã coi việc phát triển các khu kinh tế ven biển là chủ
chốt, là trọng tâm bởi các khu kinh tế biển chính là những trung tâm, là hạtnhân của kinh tế biển
Thứ ba, để phát triển kinh tế biển, ưu tiên đầu tiên là phải xây dựng cơ sở
hạ tầng hiện đại
Thứ tư, để phát triển kinh tế biển, ưu tiên đầu tiên là phải xây dựng cơ sở
hạ tầng hiện đại
Thứ năm, kinh tế biển cần phát triển một cách toàn diện: Kinh tế hàng
hải, khai thác khoáng sản biển, du lịch biển, đánh bắt hải sản,…
Thứ sáu, khai thác hải sản phải đi đôi với bảo tồn, duy trì và phát triển,
bảo vệ môi trường biển
2.2 Quản lý kinh tế biển của Malaysia
2.2.1 Quan điểm, chiến lược quản lý kinh tế biển của Malaysia
Chiến lược quản lý kinh tế biển của Malaysia đã chú trọng đến việc xâydựng một hệ thống chính sách phát triển kinh tế biển phát huy tối đa lợi thế kinh
tế biển của mình với trọng tâm chính là: (1) Hoàn thiện hệ thống pháp luật liênquan tới biển và phát triển kinh tế biển; (2) Xây dựng cơ sở hạ tầng phải hướngtới biển và phát triển kinh tế biển; (3) Hoàn thiện công tác quản lý và điều hành
hệ thống kinh tế biển; (4) Thực hiện các chính sách ưu đãi khuyến khích pháttriển kinh tế biển một cách trọng điểm và có hiệu quả để tạo ra được những mũi
Trang 10nhọn có sức cạnh tranh tầm quốc tế trong phát triển kinh tế biển; (5) Phát triểnnguồn nhân lực; (6) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về biển
2.2.2 Thực trạng quản lý kinh tế biển của Malaysia
2.2.2.1 Quản lý hệ thống cảng biển của Malaysia
Hệ thống cảng biển ở Malaysia chịu sự giám sát của Chính phủ Liên banghoặc chính quyền địa phương Chính phủ Liên bang quản lý hành chính hệthống các cảng biển thông qua Bộ Giao thông vận tải, và được chia thành hailoại là các cảng chính và các cảng phụ Những cảng liên bang là Cảng Klang,Cảng Penang, Cảng Bintulu, Cảng Kuantan, Cảng Kemaman, Cảng Johor vàCảng của Tanjung Pelepas được quản lý bởi các cơ quan quản lý cảng Bêncạnh đó còn có 80 cảng phụ hay các cầu tàu chịu sự quản lý của Cục Hàng Hải(Marine Department) Các cảng biển thuộc bang Sabah thì chịu sự quản lý của
Cơ quan Quản lý Cảng Sabah, trong khi đó cạnh Sarawak có 3 cơ quan quản lýcảng khác nhau để điều phối các cảng ở Kuching, Ranjang và Miri, đây là cáccảng hoạt động chủ yếu phục vụ cho các cảng trong nội địa nằm xa bờ biển Để
hệ thống cảng biển phát huy vai trò thuận tiện trong thương mại quốc tế và trongkinh tế thì các chính sách về cảng biển của Malaysia đóng vai trò rất quan trọng
2.2.2.2 Quản lý vận tải bằng tàu biển của Malaysia
Chính phủ Malaysia đã thúc đẩy phát triển hàng hải bằng việc tăng cườngkhả năng tài chính cho lĩnh vực này, cải cách cơ chế quản lý và hệ thống phápluật Trong đó có quảng bá, đầu tư, đưa ra các khung pháp lý và các điều kiệncần thiết cho phát triển hàng hải Và đặc biệt, chính phủ Malaysia còn thiết kếcác chiến lược phát triển hệ thống hàng hải
2.2.2.3 Phát triển nguồn nhân lực, an toàn và an ninh hàng hải, hợp tác
quốc tế về hàng hải của Malaysia
Phát triển nguồn nhân lực: Để phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế hàng
hải, Chính phủ Malaysia cũng khuyến khích trong nước cung cấp các hoạt độngđào tạo cho nhân viên hàng hải Các bộ môn giảng dạy Công nghệ Hàng hải vàKhoa học biển đã được thiết lập tại các trường đại học công cộng Chính phủcũng cho vay hỗ trợ cho nhiều chương trình đào tạo địa phương và quốc tế, hộithảo và hội nghị được tổ chức trong nước
An toàn hàng hải: Cục Hàng hải Malaysia cung cấp dịch vụ chuyển
hướng an toàn, đăng ký tàu, điều khiển công nghiệp hàng hải và thủy thủ Cơquan Thi hành Hàng hải Malaysia - MMEA (The Malaysian MaritimeEnforcement Agency) cung cấp chuyển hướng an toàn cho vận chuyển trong
Trang 11vùng lãnh hải của Malaysia MMEA là cơ quan chính phủ được giao nhiệm vụchủ yếu là duy trì luật pháp biển và thực hiện các hoạt động tìm kiếm cứu hộ,cứu nạn trên biển.
An ninh hàng hải: Eo biển Malacca là một trong những điểm nóng nhất
trên thế giới về cướp biển Năm 2005, đơn vị Cảnh sát đặc nhiệm biển (Unit Selam Tempur - UST) trực thuộc Lực lượng Cảnh sát Hoàng gia Malaysia (RMP) được thành lập để đối phó với các vụ hải tặc ở không chỉ tại eo biển Malacca mà cả bên trong lãnh hải của Malaysia tại các bang Kampung Aceh, Sitiawan, Perak, Sabah và Sarawak
Hợp tác quốc tế về hàng hải: Malaysia luôn tích cực và chủ động trong
hợp tác quốc tế về hàng hải với các nước láng giềng Malaysia theo đuổi tíchcực với vai trò là một thành viên của ASEAN Malaysia cũng tham gia vào một sốsáng kiến liên quan đến hàng hải như liên quan đến cảng và vận chuyển hàng hải,
…
2.2.3 Đánh giá thực trạng quản lý kinh tế biển của Malaysia
2.2.3.1 Những thành công trong quản lý kinh tế biển của Malaysia
- Thứ nhất, đã tạo được cơ chế thuận lợi cho hệ thống cảng biển phát triểnnhanh, hiện đại và đồng bộ
- Thứ hai, vận tải bằng tàu biển đứng thứ hai Đông Nam Á
- Thứ ba, đảm bảo an ninh và an toàn hàng hải
2.2.3.2 Các vấn đề tồn tại trong quản lý kinh tế biển của Malaysia
- Các chính sách phát triển kinh tế biển chủ yếu hướng tới thu hút đầu tưnước ngoài để tận dụng nguồn lực bên ngoài mà chưa phát huy được nội lựcquốc gia
- Chính sách phát triển kinh tế biển tạo ra sự mất cân đối trong phát triển kinh tế
2.2.4 Một số kinh nghiệm trong quản lý kinh tế biển của Malaysia
Thứ nhất, phát huy vai trò của chính phủ trong việc tạo môi trường thuận
lợi cho phát triển kinh tế biển, đặc biệt là tạo môi trường về luật pháp, thể chế,chính sách
Thứ hai, để trở thành một quốc gia biển thì quốc gia đó phải khống chế
được mặt biển và các trục hàng hải chính trên các đại dương để bảo vệ và pháttriển quyền lợi kinh tế, đảm bảo an ninh quốc gia biển của mình, đồng thời đảm
Trang 12bảo an ninh thế giới trên biển vì lợi ích của mình
Thứ ba, quốc gia kinh tế biển phải: Chính sách kinh tế biển của Malaysia
làm cho Malaysia phụ thộc nhiều hơn vào biển
2.3 Quản lý kinh tế biển của Singapore
2.3.1 Quan điểm, chiến lược quản lý kinh tế biển của Singapore
Là một quốc đảo nằm trên tuyến đường biển huyết mạch của thế giới nênngay từ khi giành độc lập (1965), Chính phủ Singapore đã xác định trọng tâmphát triển kinh tế biển là một ngành mũi nhọn, trọng tâm trong nền kinh tế.Quan điểm chiến lược trong phát triển kinh tế biển của Singapore là phát triểnkhông mang tính dàn trải mà chỉ trọng tâm vào những ngành vốn là lợi thế lớnnhất của mình Phát triển kinh tế biển của Singapore tập trung chủ yếu vào cảngbiển, vận tải biển, thăm dò và khai thác dầu khí, du lịch biển và du lịch tàu biển
2.3.2 Thực trạng quản lý kinh tế biển của Singapore
2.3.2.1 Quản lý kinh tế hàng hải của Singapore:
Phát triển cảng biển và vận tải biển là một ngành kinh tế mũi nhọn ởSingapore
Hệ thống cảng biển của Singapore đã phát triển trong nhiều năm và cótruyền thống về dịch vụ, chất lượng phục vụ, điều hành và quản lý hệ thốngcảng Singapore được xem là thương cảng sầm uất nhất thế giới với 130.000 tàu
ra vào mỗi năm1 Hiện có hơn 250 luồng tàu của hơn 370 hải cảng và có hơn
150 công ty hàng hải của hơn 80 nước đặt trạm hàng hải tại đây
Vận tải hàng hóa bằng tàu biển thực sự chiếm một vị trí quan trọng đốivới nền kinh tế của Singapore Theo số liệu của UNTAD, từ những năm 1980,lượng hàng hóa vận tải bằng tàu biển của Singapore đã lên tới con số 12,9 triệuDWT, vượt xa so với nhiều nước trong khu vực, gấp 14 lần của Malaysia, gấpgần 6 lần Hồng Kông và gấp 44 lần Việt Nam
Sự việc biến Singapore trở thành một quốc gia biển được cho là có sự chỉđạo rất lớn từ phía Chính phủ Singapore theo hướng phát triển khu vực kinh tếbiển Ưu thế lớn của Singapore là có một vị trí trung tâm về đường hàng hảitrong khu vực Nắm được lợi thế này Chính phủ Singapore đã đẩy mạnh pháttriển theo hướng phát triển kinh tế dựa chủ yếu vào biển và đẩy mạnh hơn nữa
để phát huy lợi thế của mình trong khu vực kinh tế biển
1 Mỹ Hạnh – Theo Thesaigontimes Theo BBC http://60s.com.vn/index/2236650/22072009
Trang 132.3.2.2 Quản lý khai thác dầu mỏ và khoáng sản của Singapore
Khai thác khoáng sản biển của Singapore chủ yếu là hóa dầu và biếnnước biển thành nước ngọt để dần thay thế nhập khẩu nước
Singapore không có trữ lượng dầu mỏ nhưng nước này lại khuyến khíchcác công ty dầu tận dụng vị trí chiến lược của mình để sản xuất và xuất khẩusang các nước khác Singapore trở thành một trung tâm lọc dầu quan trọng vàmột trung tâm phân phối sản phẩm dầu tinh chế hàng đầu trong khu vực Khôngnhững mạnh về lọc dầu, Singapore còn là trung tâm chế tạo giàn khoan đế bằngthăm dò dầu khí chiếm 1/3 trên thế giới
Ngành dầu khí nói riêng và ngành năng lượng nói chung của Singapore
chịu sự quản lý chủ yếu của: Bộ Môi trường và Tài nguyên nước, Bộ Thương
mại và Công nghiệp, Bộ Ngoại giao (chịu trách nhiệm về an ninh năng lượng).
Chính sách khuyến khích nghiên cứu và phát triển (R&D) là một trongnhững trụ cột chính trong kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế của Singapore.Chính sách này cũng tạo ra được sự đột phá về khoa học công nghệ trong lĩnhvực chế biến dầu khí và là động lực chính để phát triển ngành này
2.3.2.3 Du lịch biển của Singapore
Để quản lý phát triển ngành du lịch của mình, năm 1964, Singapore đãcho ra đời Tổng cục Du lịch Singapore - STB (Singapore Tourism Board).Tổng cục Du lịch Singapore có trách nhiệm xúc tiến, quảng bá đất nướcSingapore thành một điểm đến du lịch Du lịch là ngành kinh tế phát triển thịnhvượng ở Singapore Thu nhập của ngành này là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu.Singapore trở thành trạm trung chuyển du lịch ở Đông Nam Á và là trung tâmhội nghị và triển lãm quốc tế Mỗi năm Singapore đón hơn 4 triệu khách du lịch.Singapore thu hút khách vì công trình nhân tạo, thành phố xanh, sạch, đẹp
2.3.3 Đánh giá thực trạng quản lý kinh tế biển của Singapore
2.3.3.1 Những thành công trong quản lý kinh tế biển của Singapore
- Singapore đặc biệt thành công trong quản lý cảng biển và vận tải bằngtàu biển
- Tổng cục Du lịch Singapore đã có đóng góp lớn lao trong việc đưaSingapore trở thành điểm du lịch nổi tiếng thế giới
- Singapore rất thành công trong quản lý ngành chế biến dầu khí