Cuối cùng, để thực hiện vai trò quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng, trong đó có tổ chức thanh toán tác giả đã xây dựng và đề xuất một số kiến nghị nhằm khắc phục hạn chế và phát tri
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, dịch
vụ thẻ Ngân hàng – một trong những ngành dịch vụ phát triển trên cơ
sở ứng dụng công nghệ thông tin đã có những bước tiến dài nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về tiện ích, chất lượng dịch vụ cho khách hàng và gia tăng lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng Trong những năm gần đây, ở thị trường Việt Nam, các ngân hàng đã không ngừng cung cấp các sản phẩm thẻ với nhiều tính năng để thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ, đẩy mạnh thanh toán qua thẻ, mở rộng mạng lưới chấp nhận thẻ nhằm cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường bán
lẻ khá hấp dẫn này
Tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - BIDV, dịch vụ thẻ được hình thành từ cuối năm 1998 và đưa vào kinh doanh năm 2002 Phát triển dịch vụ thẻ nằm trong chiến lược đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng và tăng nguồn thu từ hoạt động bán lẻ của BIDV Thời gian qua, hoạt động này đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, bước đầu chiếm lĩnh được thị trường, tạo dựng hình ảnh, thương hiệu sản phẩm thẻ
Chi nhánh Sơn La là chi nhánh cấp 2 của BIDV,trong quá trình hoạt động còn gặp rất nhiều khó khăn nhưng được đánh giá là có những bước đi khá chắc chắn Việc gia nhập thị trường thẻ tuy muộn hơn so với các ngân hàng khác và hoạt động khó khăn do đối mặt với
Trang 2thị trường cạnh tranh khốc liệt nhưng BIDV Sơn La cũng đã tận dụng được lợi thế là một chi nhánh cấp 2 của một hệ thống ngân hàng lớn, đã và đang nỗ lực phát triển dịch vụ thẻ như một kênh bán
lẻ trọng tâm Cho đến nay, dịch vụ thẻ tại chi nhánh đã đi vào nề nếp
và đạt được một số kết quả đáng ghi nhận, tuy nhiên nhìn chung vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa trở thành dịch vụ thế mạnh trong cạnh tranh, đem lại lợi nhuận cao cho Chi nhánh Vấn đề đặt ra cho chi nhánh BIDV Sơn La là làm thế nào phát triển dịch vụ thẻ trong
đó có phát triển phát hành thẻ, thúc đẩy thanh toán thẻ và nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm thu hút khách hàng cá nhân sử dụng thẻ của Chi nhánh, tăng cường nguồn thu phí dịch vụ và đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ
Từ ý nghĩa thực tiễn như vậy, đề tài “Phát triển dịch vụ thẻ
thanh toán tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Sơn La” đã được tác giả lựa chọn nghiên cứu với mong
muốn đưa ra một số giải pháp phù hợp để phát triển dịch vụ thẻ tại Chi nhánh nói riêng và BIDV nói chung
2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Dịch vụ thẻ ngân hàng, bao gồm hoạt động phát hành thẻ và thanh toán thẻ
Phạm vi nghiên cứu: Dịch vụ thẻ của Ngân hàng TMCP Đầu tư
và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Sơn La trong 5 năm gần đây 2011,2012,2013, 2014, 6 tháng đầu năm 2015
3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 3- Phương pháp luận nghiên cứu: Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Phương pháp nghiên cứu chung: sử dụng phương pháp thống
kê, phân tích, tổng hợp so sánh trong quá trình thực hiện luận văn
- Phương pháp thu thập dữ liệu
+ Thu thập dữ liệu thứ cấp: thu thập dữ liệu từ các báo cáo đã được công bố của NH TMCP ĐT&PT Sơn La, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hiệp hội thẻ ngân hàng Việt Nam, các cơ quan thống kê của Nhà nước, các công trình khoa học đã được công bố… + Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: sử dụng phương pháp điều tra qua bảng hỏi và phỏng vấn
- Phương pháp xử lý dữ liệu: sử dụng phần mềm Excel trong xử
lý dữ liệu, xây dựng các biểu
4 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận về dịch vụ thẻ và phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại, đánh gíá thực trạng phát triển dịch vụ thẻ thanh toán tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Sơn La, luận văn nhằm tới mục đích
đề xuất các giải pháp hợp lý phát triển dịch vụ thẻ phù hợp với chiến lược phát triển của Ngân hàng
5 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tính đến nay, đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến nội dung phát triển dịch vụ thẻ của NHTM, cụ thể như:
- Luận án tiến sỹ:“Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại các ngân hàng Thương mại Nhà nước Việt Nam” của tác giả Hoàng Tuấn
Trang 4Linh đã bảo vệ thành công tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2008 Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại, phân tích và đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tại các ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Tác giả đã đề xuất giải pháp và một số kiến nghị nhằm phát triển dịch vụ thẻ tại các ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam Kết luận và các giải pháp của luận án đã dự báo được sự phát triển đa dạng của các sản phẩm thẻ cũng như tốc độ phát triển nhanh của thị trường thẻ hiện nay Luận án đã tìm ra được các giải pháp chung để thúc đẩy hình thức thanh toán thẻ, phù hợp với chiến lược phát triển của Hiệp hội các ngân hàng thanh toán thẻ Việt Nam.
- Luận văn thạc sĩ: “Phát triển thị trường thẻ ngân hàng tại Việt Nam” của tác giả Đặng Thị Phương Uyên thực hiện năm 2013
– Trường đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Luận văn đã khái quát tình hình thực tế phát hành và thanh toán thẻ ở Việt Nam, hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến sự ra đời và phát triển của hình thức thanh toán thẻ trong hệ thống các dịch vụ thanh toán
mà hệ thống ngân hàng cung cấp Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng và tìm ra nguyên nhân tồn tại trong hoạt động thanh toán thẻ ngân hàng ở Việt Nam Bên cạnh đó, đã đề xuất các giải pháp nhằm phát triển hình thức thanh toán thẻ ngân hàng ở Việt Nam trong thời gian tới
- Bài viết:“Thanh toán bằng thẻ ngân hàng: Xu hướng trên thế giới và thực tiễn tại Việt Nam” của ThS Đỗ Thị Lan Phương đăng
trên Tạp chí tài chính số 7/2014 Bài viết đã khái quát phương thức
Trang 5TTKDTM ở trên thế giới hiện nay, trong đó thanh toán bằng thẻ ngân hàng là một phương thức quan trọng, chủ yếu Từ đó, tác giả đưa ra giải pháp đẩy mạnh phương thức TTKDTM nói chung và thanh toán bằng thẻ ngân hàng nói riêng thông qua việc đưa ra một chính sách phí hợp lý liên quan đến việc sử dụng thẻ nhằm khuyến khích nhiều cá nhân tham gia vào sử dụng thẻ thanh toán; tiếp tục đẩy mạnh số lượng POS phục vụ cho nhu cầu thanh toán hàng ngày của người dân.
- Bài viết: “Phương hướng và giải pháp thanh toán bằng thẻ ngân hàng trong khu vực dân cư ở Việt Nam đến năm 2020” của
PGS.TS Lê Đình Hợp tại Kỷ yếu các công trình khoa học ngành Ngân hàng, thực hiện năm 2010 Bài viết đã phân tích thực trạng thanh toán bằng thẻ ngân hàng của Việt Nam từ năm 2005 đến năm
2010, từ đó đưa ra một số hạn chế của hoạt động này và đi sâu tìm hiểu các nguyên nhân của hạn chế Cuối cùng, để thực hiện vai trò quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng, trong đó có tổ chức thanh toán tác giả đã xây dựng và đề xuất một số kiến nghị nhằm khắc phục hạn chế và phát triển dịch vụ thanh toán bằng thẻ ngân hàng tại các NHTM của Việt Nam
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả đề cập
ở trên chủ yếu tập trung vào nghiên cứu về lý luận về thẻ thanh toán
và kinh doanh dịch vụ thẻ, chưa công trình nào đề cập một cách hệ
thống về dịch vụ thẻ tại Ngân hàng … Do đó, đề tài “Phát triển dịch vụ thẻ thanh toán tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Sơn La” sẽ nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn
trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ thanh toán của đơn vị
Trang 6Hơn nữa, mặc dù đã có những công trình nghiên cứu liên quan nhưng do thực tế chính sách phát triển các sản phẩm thẻ phải phù hợp với với điều kiện và mục tiêu của từng NHTM; đồng thời môi trường kinh doanh của ngành ngân hàng cũng luôn có những thay đổi Vì vậy, đề tài này vẫn mang tính cần thiết
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục các chữ viết tắt và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về dịch vụ thẻ và phát triển dịch vụ
thẻ thanh toán của Ngân hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ thanh toán tại
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Sơn
La
Chương III: Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ thanh toán tại
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Sơn La.
Trang 7CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ THẺ VÀ PHÁT TRIỂN
DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 Dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm thẻ ngân hàng
Tùy thuộc vào từng góc độ nghiên cứu, có rất nhiều quan điểm khác nhau về thẻ ngân hàng
Trên phương diện tổng quát, thẻ là danh từ chỉ một vật nhỏ gọn,
chứa đựng các thông tin nhằm sử dụng vào một hoặc một số mục đích nào đó Do vậy, thẻ sẽ được gắn với những tính chất, đặc điểm, nội dung riêng biệt để trở thành một loại thẻ cụ thể như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ
Trên góc độ của tổ chức phát hành, thẻ ngân hàng là phương
tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành và cấp cho chủ thẻ để thực hiện giao dịch thanh toán, rút tiền mặt, thực hiện các dịch vụ khác theo các điều kiện và điều khoản thanh toán được hai bên thỏa thuận
Trên góc độ của tổ chức thanh toán, thẻ ngân hàng là một
phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán chi phí mua hàng hóa, dịch vụ
tại các điểm chấp nhận thẻ
Theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt nam tại Quy chế Phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ
Trang 8hoạt động thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số
20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2007 của Thống đốc NHNN “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận”
Tóm lại, thẻ là một trong những phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán mà người
sở hữu có thể dùng để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hay rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động thông qua máy đọc thẻ được lắp đặt ở các cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ (cửa hàng, khách sạn, sân bay ) hay ở các máy rút tiền tự động lắp đặt nơi công cộng
Thẻ dù do bất cứ tổ chức nào phát hành đều được làm bằng Plastic theo kích cỡ chuẩn quốc tế là 8,5cm x 5,5cm x 0,07cm và ít nhất phải có đủ các yếu tố sau:
- Mặt trước thẻ gồm:
+ Nhãn hiệu thương mại của thẻ;
+ Tên và logo của đơn vị phát hành thẻ;
+ Số thẻ và tên chủ thẻ
- Mặt sau thẻ gồm:
+ Dải băng từ chứa các thông tin được mã hóa theo một tiêu chuẩn thống nhất như: số thẻ, ngày hết hạn, các yếu tố kiểm tra an toàn khác
+ Ô chữ ký dành cho chủ thẻ
Trang 9Ngoài ra thẻ còn có thêm một số yếu tố khác tùy theo quy định của Tổ chức thẻ quốc tế hoặc các hiệp hội phát hành thẻ
1.1.2 Phân loại thẻ ngân hàng
Theo từng tiêu thức khác nhau thẻ được chia thành nhiều loại Tuy nhiên, việc phân loại chỉ mang tính tương đối, chủ yếu để thuận tiện cho công tác phân tích Có thể phân loại thẻ dựa trên một số tiêu thức sau:
▪ Căn cứ vào bản chất thanh toán: có bốn loại:
- Thẻ ghi nợ (Debit Card): là loại thẻ mà chủ thẻ được chi tiêu
trong phạm vi số dư TKTG thanh toán của mình tại tổ chức phát hành thẻ Để sử dụng thẻ này, chủ thẻ phải có một TKTG ngân hàng Khi rút tiền tại ATM hay thanh toán tại các ĐVCNT, giá trị của những giao dịch này lập tức được trừ vào số dư TKTG của chủ thẻ Do đó, chủ thẻ không phải mở tài khoản đảm bảo thanh toán thẻ
mà sử dụng dựa trên số dư TKTG hoặc hạn mức thấu chi mà ngân hàng cho phép
Thẻ ghi nợ gồm 2 loại sau:
+ Thẻ online: là loại thẻ ghi nợ mà giá trị của những giao dịch
lập tức được khấu trừ và TKTG của chủ thẻ
+ Thẻ offline: là loại thẻ ghi nợ mà giá trị của những giao dịch
sau nhiều ngày mới được khấu trừ vào TKTG của chủ thẻ
- Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ được sử dụng phổ biến
nhất hiện nay Khi sử dụng thẻ này, chủ thẻ được cấp một hạn mức tín dụng nhất định để chi tiêu tại những ĐVCNT Hạn mức tín dụng
do ngân hàng đưa ra căn cứ vào uy tín và khả năng đảm bảo chi trả
Trang 10của khách hàng Khả năng đảm bảo được xác định dựa trên tình hình thu nhập, tình hình chi tiêu, tài khoản bảo đảm, địa vị xã hội… của khách hàng Đây là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt giúp người sử dụng có thể chi tiêu trước, trả tiền sau Định
kỳ, chủ thẻ sẽ nhận được sao kê từ ngân hàng Chủ thẻ phải thanh toán số tiền đã chi tiêu mà không phải trả lãi Tuy nhiên nếu thanh toán không đúng hạn, chủ thẻ sẽ phải chịu phí suất chậm trả và các loại phí khác Sau khi thanh toán đủ số tiền phải trả, ngân hàng sẽ khôi phục HMTD cho chủ thẻ Điều này tạo nên tính tuần hoàn, là đặc tính ưu việt của thẻ tín dụng
- Thẻ trả trước (Prepaid card, Cash Card, e-purse): là loại thẻ
mới được phát triển trên thế giới, khách hàng không cần làm các thủ tục phát hành thẻ mà chỉ cần trả cho ngân hàng một số tiền sẽ được ngân hàng cấp cho một tấm thẻ mệnh giá tương đương Đặc tính của thẻ này giống như các loại thẻ bình thường khác, tuy nhiên thẻ chỉ được tiêu trong giới hạn số tiền có trong thẻ và một khoảng thời gian nhất định tùy theo ngân hàng phát hành, tức là hạn mức của thẻ này không có tính tuần hoàn
- Thẻ thanh toán trả sau (Charge Card): là loại thẻ du lịch và
giải trí (Travel and Entertainment Card) của các công ty như American Express, Diners Club… các tổ chức phi ngân hàng phát hành; đơn vị phát hành thẻ sẽ tham gia giải quyết trực tiếp mọi giao dịch giữa chủ thẻ và ĐVCNT; là loại thẻ không quy định trước hạn mức chi tiêu, cuối tháng khách hàng sẽ phải thanh toán theo bảng kê thông báo tài khoản
Trang 11Việc xác định loại thẻ theo tính chất nguồn thanh toán cũng là một yếu tố giúp ngân hàng lựa chọn đối tượng khách hàng phù hợp với chiến lược kinh doanh của mình Căn cứ vào phân đoạn thị trường và thị hiếu khách hàng, ngân hàng sẽ lựa chọn những loại thẻ phù hợp để phát triển.
▪ Căn cứ vào đặc tính kỹ thuật
- Thẻ từ (Magnetic Stripe): là loại thẻ mặt sau có một dải băng từ
chia các rãnh (track) để ghi các thông tin về chủ thẻ và các thông tin cần thiết khác Hiện nay thẻ ghi nợ nội địa của các ngân hàng Việt nam chủ yếu là thẻ từ Ưu điểm của thẻ từ là giá thành rẻ, công nghệ sản xuất và cá thể hoá thẻ không quá phức tạp, phù hợp thị trường Việt nam Tuy nhiên, thẻ từ có độ bảo mật không cao, kẻ gian có thể lợi dụng đặt các thiết bị ăn cắp thông tin trên thẻ, trên rãnh từ tạo ra thẻ giả và các giao dịch giả mạo
- Thẻ thông minh (Smart card, Chip card): là loại thẻ được sản
xuất dựa trên công nghệ vi xử lý Mặt trước của thẻ có gắn một Chip điện tử như một máy tính thu nhỏ Các giao dịch thẻ được xử
lý ngay trên Chip Đây là công nghệ sản xuất thẻ tiên tiến và hiện đại, an toàn, giúp giảm lượng thẻ giả mạo do đặc tính công nghệ cao, khó làm giả và đặc biệt có thể tích hợp nhiều chức năng khác lên chip, từ đó làm nên một loại thẻ đa năng như chức năng của chứng minh thư, vé giao thông, các chương trình khách hàng thân thiết Tuy nhiên, hiện nay giá thành sản xuất thẻ chip khá cao và công nghệ sản xuất thẻ phức tạp, các thiết bị chấp nhận thẻ phải nâng cấp để chấp nhận được thẻ chip vì vậy hiện mới chỉ có một số
Trang 12ít các ngân hàng Việt nam đang trong quá trình nghiên cứu và phát hành thử nghiệm thẻ Chip.
- Thẻ Chip theo chuẩn EMV (Europay, Master card, Visa card):
đây là loại thẻ chip tuân theo tiêu chuẩn do các tổ chức thẻ quốc tế lớn đưa ra Hiện nay, các tổ chức thẻ lớn như Visa card, Master card đều có khuyến nghị các ngân hàng phải chuyển sang phát hành thẻ Chip để đảm bảo an toàn, rủi ro sẽ chuyển từ tổ chức phát hành sang
tổ chức thanh toán nếu NHTT không hỗ trợ giao dịch bằng thẻ chip Trong giai đoạn chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chip các ngân hàng có thể phát hành thẻ vừa có dải từ mặt sau vừa có Chip ở mặt trước để tạo điều kiện thanh toán cho các chủ thẻ
- Thẻ không tiếp xúc (Contact less): là loại thẻ phát triển dựa trên
công nghệ thẻ Chip, việc thanh toán thẻ thực hiện thông qua việc đưa thẻ tới gần các thiết bị thu phát và không cần quẹt thẻ (đối với thẻ từ) hoặc đưa thẻ vào thiết bị đọc (thẻ chip) Trên thẻ không tiếp xúc có gắn ăngten để thu phát sóng từ thiết bị chấp nhận thẻ, thẻ không tiếp xúc sẽ giúp tiết kiệm đáng kể thời gian thực hiện giao dịch thanh toán
▪ Căn cứ theo phạm vi sử dụng thẻ
- Thẻ nội địa (Local Card) có hai loại:
Local use only card: là loại thẻ do Tổ chức tài chính hoặc ngân
hàng trong nước phát hành, chỉ được sử dụng trong nội bộ hệ thống Tổ chức đó
Domestic use only card: là thẻ thanh toán mang thương hiệu của
Tổ chức thẻ quốc tế được phát hành để sử dụng trong nước
Trang 13- Thẻ quốc tế (International Card): là loại thẻ không chỉ dùng tại
quốc gia thẻ được phát hành mà còn được sử dụng trên phạm vi quốc tế Thẻ quốc tế sử dụng các ngoại tệ mạnh để thanh toán do đó được hỗ trợ và quản lý trong một hệ thống thống nhất, đồng bộ trên toàn thế giới bởi những tổ chức tài chính, công ty điều hành lớn như MasterCard, Visa Card, Amex, JCB, …
▪ Căn cứ theo chủ thể phát hành thẻ:
- Thẻ do ngân hàng phát hành: là loại thẻ giúp cho khách hàng
sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng, hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng, loại thẻ này hiện nay được
sử dụng khá phổ biến, nó không chỉ lưu hành trong một quốc gia mà còn có thẻ lưu hành trên toàn cầu (ví dụ như: thẻ Visa, Mastercard,
…)
- Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch
và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành như Diners Club, Amex… và cũng lưu hành trên toàn cầu
- Thẻ liên kết (Co-brand name): là sản phẩm thẻ ngân hàng được
phát hành thông qua sự liên kết giữa một ngân hàng hay công ty tài chính với một chủ thể thương mại Thẻ liên kết mang lại lợi thế cho
cả NHPH, đối tác liên kết và chủ thẻ Sử dụng sản phẩm thẻ liên kết khách hàng sẽ vừa nhận được ưu đãi từ NHPH, vừa từ phía đối tác liên kết Các ngân hàng có thể đưa ra các ưu đãi về phí, lãi suất, thời gian ân hạn… Các đối tác có thể đưa ra các ưu đãi về giảm giá, khuyến mại, chương trình điểm thưởng
▪ Căn cứ theo góc độ chủ thể sử dụng thẻ:
Trang 14- Thẻ cá nhân: thẻ phát hành theo đề nghị của cá nhân đủ điều
kiện năng lực hành vi dân sự, tài khoản liên kết thẻ là tài khoản của
cá nhân đề nghị phát hành thẻ
- Thẻ Công ty: thẻ phát hành cho nhân viên của một công ty sử
dụng nhằm mục đích giúp công ty quản lý chặt chẽ việc chi tiêu của các công ty, phục vụ cho công ty trong kinh doanh Thẻ công ty liên kết đến tài khoản mang tên công ty đề nghị phát hành
1.1.3 Dịch vụ thẻ và các chủ thể tham gia dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại
Dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại là việc ngân hàng thương mại cung cấp các sản phẩm thẻ do tổ chức phát hành hoặc thực hiện các dịch vụ thanh toán thẻ theo quy định của pháp luật Ngân hàng thương mại đóng vai trò là tổ chức phát hành thẻ hoặc/và tổ chức thanh toán thẻ trong quá trình cung ứng dịch vụ
Các chủ thể tham gia trong dịch vụ thẻ ngân hàng thương mại bao gồm: tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ, chủ thẻ và các đơn vị chấp nhận thẻ Đối với thẻ quốc tế còn thêm một thành phần nữa là các tổ chức thẻ quốc tế Mỗi chủ thể đóng vai trò quan trọng khác nhau trong việc phát huy tối đa tính năng phương tiện thanh toán hiện đại không dùng tiền mặt của thẻ ngân hàng
Tổ chức thẻ quốc tế là đơn vị đứng đầu quản lý mọi hoạt động
và thanh toán thẻ trong mạng lưới của mình Đây là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng lớn có mạng lưới hoạt động rộng khắp và đạt được sự nổi tiếng với thương hiệu và sản phẩm đa dạng như: tổ chức thẻ Visa, tổ chức thẻ MasterCard, công ty thẻ American
Trang 15Express, công ty thẻ JCB, công ty thẻ Diners Club, công ty Mondex… Tổ chức thẻ quốc tế đưa ra những quy định cơ bản về hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ, đóng vai trò trung gian giữa các tổ chức và các công ty thành viên trong việc điều chỉnh và cân đối các lượng tiền thanh toán giữa các công ty thành viên
Tổ chức phát hành thẻ (TCPHT) là ngân hàng, tổ chức tín
dụng phi ngân hàng, tổ chức tín dụng hợp tác, tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Trung ương (NHTW) cho phép thực hiện nghiệp vụ phát hành thẻ mang thương hiệu riêng hoặc được tổ chức thẻ quốc tế, công ty thẻ trao quyền phát hành thẻ mang thương hiệu của những tổ chức và công ty này Tổ chức phát hành thẻ phải có năng lực tài chính, không vi phạm pháp luật, đảm bảo hệ thống trang thiết bị phù hợp tiêu chuẩn an toàn cho hoạt động phát hành và thanh toán thẻ, có đội ngũ cán bộ đủ năng lực chuyên môn để vận hành và quản lý Tổ chức phát hành là tổ chức
có tên in trên thẻ thể hiện đó là sản phẩm của mình
Tổ chức phát hành thẻ quy định các điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ đối với khách hàng Ngân hàng có quyền ký kết hợp đồng đại lý với bên thứ ba là một ngân hàng hoặc một tổ chức tài chính tín dụng khác trong việc thanh toán và phát hành thẻ tín dụng Trong trường hợp này, tổ chức phát hành tận dụng được ưu thế của bên thứ ba về kinh nghiệm, khả năng thâm nhập thị trường và những ưu thế về vị trí địa lý Tuy nhiên cũng phải chịu chấp nhận rủi ro về tài chính bởi ngân hàng đứng ra bảo lãnh cho bên thứ ba
Trang 16làm ngân hàng đại lý của mình trong việc phát hành thẻ Bên thứ ba khi ký kết hợp đồng đại lý với tổ chức phát hành được gọi là ngân hàng đại lý phát hành Nếu tên của ngân hàng đại lý xuất hiện trên tấm thẻ của khách hàng thì nhất thiết ngân hàng đại lý đó phải là thành viên chính thức của tổ chức thẻ hoặc công ty thẻ quốc tế.
Tổ chức thanh toán thẻ (TCTTT) là ngân hàng, tổ chức được
phép thực hiện dịch vụ thanh toán thẻ ngân hàng, làm chức năng trung gian thanh toán giữa tổ chức phát hành thẻ và chủ thẻ Tổ chức thanh toán thẻ qua mạng lưới các đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT) đã ký kết hợp đồng thanh toán thẻ Tổ chức thanh toán sẽ cung cấp cho các ĐVCNT thiết bị phục vụ cho việc thanh toán thẻ, hướng dẫn đơn vị cách thức vận hành, chấp nhận thanh toán thẻ cũng như quản lý và xử lý những giao dịch thẻ tại các đơn vị này Thông thường, tổ chức thanh toán sẽ thu từ các ĐVCNT một mức phí chiết khấu cho việc chấp nhận thanh toán thẻ của đơn vị, có thể tính phần trăm trên giá trị mỗi giao dịch hoặc tính theo tổng giá trị giao dịch thẻ Mức chiết khấu cao hay thấp phụ thuộc vào từng ngân hàng và vào mối quan hệ chiến lược của ngân hàng với ĐVCNT.Trên thực tế, rất nhiều ngân hàng vừa là tổ chức phát hành vừa là
tổ chức thanh toán thẻ Với tư cách là ngân hàng phát hành, khách hàng của họ là chủ thẻ còn với tư cách là tổ chức thanh toán, khách hàng là các đơn vị cung ứng hàng hoá dịch vụ có ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ
Chủ thẻ: Chủ thẻ là những cá nhân hoặc người được uỷ quyền
(nếu là thẻ do công ty uỷ quyền sử dụng) được tổ chức phát hành
Trang 17thẻ, có tên in nổi trên thẻ và sử dụng thẻ theo những điều khoản,
điều kiện ngân hàng quy định Chủ thẻ chính là cá nhân hoặc tổ
chức đứng tên thỏa thuận về việc sử dụng thẻ với tổ chức phát hành
thẻ và có nghĩa vụ thực hiện thỏa thuận đó Chủ thẻ phụ là cá nhân
được chủ thẻ chính cho phép sử dụng thẻ theo thỏa thuận về việc sử dụng thẻ giữa chủ thẻ chính và tổ chức phát hành thẻ Chủ thẻ phụ chịu trách nhiệm về việc sử dụng thẻ với chủ thẻ chính Theo quy định, mỗi chủ thẻ chính có thể phát hành thêm thẻ phụ, cả thẻ chính
và thẻ phụ cùng chi tiêu chung một tài khoản Chủ thẻ phụ cũng có trách nhiệm thanh toán các khoản phát sinh trong kỳ nhưng chủ thẻ chính là người có trách nhiệm thanh toán cuối cùng đối với ngân hàng Chủ thẻ sử dụng thẻ của mình để thanh toán hàng hoá, dịch vụ tại các đơn vị cung ứng hàng hoá, dịch vụ có chấp nhận thẻ, các điểm ứng tiền mặt thuộc hệ thống ngân hàng hoặc sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch tại máy rút tiền tự động Đối với thẻ tín dụng, sau một khoảng thời gian nhất định tuỳ theo quy định của từng ngân hàng phát hành, chủ thẻ sẽ nhận được sao kê Sao kê là bảng thông báo chi tiết các giao dịch chi tiêu sử dụng thẻ của chủ thẻ trong kỳ sao kê, số dư nợ cuối kỳ, ngày đến hạn thanh toán cũng như số tiền thanh toán tối thiểu mà khách hàng phải thanh toán trong kỳ cho ngân hàng và các thông báo liên quan đến việc sử dụng thẻ Căn cứ vào các thông tin trên sao kê, nếu không có gì thắc mắc, chủ thẻ sẽ thực hiện việc thanh toán sao kê cho tổ chức phát hành thẻ, ngược lại chủ thẻ có quyền khiếu nại đối với các thông tin, các giao dịch không chính xác hoặc không thực hiện gửi
Trang 18tới ngân hàng yêu cầu được giải đáp.
Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT): Là tổ chức, cá nhân chấp
nhận thanh toán hàng hoá và dịch vụ, cung cấp dịch vụ nạp, rút tiền mặt bằng thẻ Các ngành kinh doanh của các ĐVCNT trải rộng từ những cửa hiệu bán lẻ đến các nhà hàng ăn uống, khách sạn, sân bay…Tại nhiều nước trên thế giới, khi thẻ ngân hàng đã trở thành một phương thức thanh toán thông dụng, chúng ta có thể nhìn thấy những biểu trưng của thẻ xuất hiện rộng rãi tại các cửa hàng Ở Việt Nam, các ĐVCNT tập trung chủ yếu tại các ngành hàng, dịch vụ phục vụ cho người nước ngoài như hàng thủ công
mỹ nghệ, nhà hàng, khách sạn, du lịch, các đại lý bán vé máy bay Mặc dù phải trả cho tổ chức thanh toán một tỷ lệ phí chiết khấu nhất định nhưng thông qua đó các ĐVCNT thu hút được một khối lượng khách hàng lớn, bán được nhiều hàng hơn, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như lợi nhuận của đơn vị
Để trở thành ĐVCNT của một ngân hàng nhất thiết đơn vị đó phải có tình hình tài chính tốt và có năng lực kinh doanh Cũng như các tổ chức phát hành thẩm định khách hàng trước khi phát hành thẻ, tổ chức thanh toán cũng tiến hành đánh giá lựa chọn ĐVCNT Chỉ có những đơn vị có hiệu quả kinh doanh cao, có khả năng thu hút được nhiều giao dịch thanh toán thẻ thì ngân hàng mới có thể thu hồi được vốn đầu tư cho các đơn vị đó và có lãi
Ngoài ra, tham gia dịch vụ thẻ còn có một số chủ thể khác đó
là Ngân hàng Trung ương (NHTW) - cơ quan quản lý nhà nước về
lĩnh vực tài chính ngân hàng nói chung Nhiệm vụ chủ yếu của
Trang 19NHTW là đưa ra các văn bản pháp quy có liên quan, tiếp nhận hồ
sơ, xem xét và cho phép các NHTM phát hành thẻ, kiểm tra và giám sát hoạt động của các ngân hàng đảm bảo không trái pháp luật, tạo
sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường thẻ thanh toán Bên cạnh
đó, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán bù trừ giao dịch thẻ là
tổ chức trung gian thực hiện việc trao đổi dữ liệu bằng điện tử hoặc bằng chứng từ và bù trừ các nghĩa vụ tài chính phát sinh từ các giao dịch thẻ cho các TCPHT, TCTTT và ĐVCNT theo thoả thuận bằng văn bản giữa các bên liên quan
1.2 Phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm phát triển dịch vụ thẻ
Ngân hàng là một dạng doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tiền tệ, bản thân hoạt động ngân hàng không trực tiếp tạo ra sản phẩm cụ thể nhưng với việc đáp ứng nhu cầu của dịch vụ về tiền tệ, về vốn,
về thanh toán… cho khách hàng, ngân hàng đã gián tiếp tạo ra các sản phẩm dịch vụ trong nền kinh tế Phát triển dịch vụ là một khái niệm khá đa dạng, khái niệm về phát triển một sản phẩm dịch vụ ngân hàng lại càng phức tạp hơn vì tính tổng hợp, đa dạng và nhạy cảm của hoạt động kinh doanh ngân hàng
Phát triển dịch vụ thẻ là một trong những mảng dịch vụ được quan tâm hàng đầu hướng tới đối tượng khách hàng cá nhân trong chiến lược phát triển hoạt động ngân hàng bán lẻ của các ngân hàng thương mại Đứng trên góc độ thỏa mãn nhu cầu khách hàng, có thể
hiểu “Phát triển dịch vụ thẻ là việc gia tăng các tính năng, công dụng của thẻ, đa dạng hóa các sản phẩm thẻ, củng cố hệ thống
Trang 20thanh toán thẻ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng như tăng khả năng cạnh tranh cho ngân hàng trên thị trường.”
1.2.2 Sự cần thiết của phát triển dịch vụ thẻ trong phát triển kinh
tế xã hội
1.2.2.1 Đối với nền kinh tế xã hội
Giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông: Là một phương tiện
thanh toán không dùng tiền mặt, vai trò đầu tiên của thẻ là làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông
Tăng nhanh khối lượng chu chuyển, thanh toán trong nền kinh tế: Hầu hết mọi giao dịch thẻ trong phạm vi quốc gia hay toàn cầu
đều được thực hiện qua hệ thống máy móc điện tử và thanh toán trực tuyến, vì vậy tốc độ chu chuyển, thanh toán nhanh hơn nhiều so với những giao dịch qua các phương tiện thanh toán khác như: séc,
uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi…
Góp phần thực hiện chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước: Sử
dụng thanh toán qua thẻ Ngân hàng có thể dễ dàng kiểm soát được mọi giao dịch, tạo nền tảng cho công tác quản lý thuế của nhà nước, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Ngoài ra, thẻ còn góp phần cải thiện môi trường văn minh thương mại, thu hút khách
du lịch và đầu tư nước ngoài.
1.2.2.2 Đối với ngân hàng
Lợi nhuận ngân hàng: Lợi ích lớn nhất mà thẻ đem lại cho ngân
hàng phát hành và thanh toán thẻ là lợi nhuận Dịch vụ thẻ mang lại cho Ngân hàng nhiều nguồn thu khác nhau bao gồm: Phí phát hành
- khoản phí mà chủ thẻ phải trả cho ngân hàng để sử dụng thẻ, phí
Trang 21rút tiền mặt, chuyển khoản tại các thiết bị chấp nhận thẻ, phí thường niên thẻ, phí trong sử dụng thẻ như phí kích hoạt thẻ, phí liên kết thẻ… Đối với thẻ tín dụng, ngân hàng còn thu được lãi tín dụng tính trên số tiền quá hạn thanh toán của khách hàng, các khoản phí liên quan đến thẻ tín dụng như phí cấp hạn mức tín dụng tạm thời, phí tra soát, phí cấp lại thẻ…
Ngân hàng thanh toán thẻ còn thu được khoản thu chiết khấu thương mại phát sinh trên doanh số thanh toán tại các ĐVCNT
Tăng nguồn vốn cho ngân hàng: Khi phát triển dịch vụ thẻ đồng
nghĩa với việc số lượng tài khoản thanh toán của cá nhân và ĐVCNT tăng lên, nguồn tiền gửi thanh toán duy trì trên các tài khoản này sẽ tạo cho Ngân hàng một lượng vốn đáng kể có chi phí thấp
Tăng kênh phân phối sản phẩm dịch vụ ngân hàng: Việc phát
triển hệ thống máy ATM/POS là phát triển kênh phân phối cho ngân hàng Kênh phân phối này không bị hạn chế giờ làm việc và có thể cung cấp dịch vụ ngân hàng 24/24h, giúp khách hàng giao dịch nhanh chóng, giảm bớt giao dịch tại quầy ngân hàng
Đa dạng hoá các loại hình dịch vụ ngân hàng: Dịch vụ thẻ phát
triển giúp ngân hàng phát huy thêm một mảng dịch vụ để cạnh tranh, càng nhiều khách hàng sử dụng thẻ ngân hàng càng có cơ hội gia tăng uy tín, thương hiệu đồng thời tạo cơ sở để củng cố các sản phẩm dịch vụ khác
Hiện đại hoá công nghệ Ngân hàng: Phát triển dịch vụ thẻ dựa
trên nền tảng công nghệ đòi hỏi ngân hàng không ngừng nâng cao
Trang 22trình độ công nghệ, tính hiện đại của trang thiết bị kỹ thuật nhằm cũng cấp cho khách hàng điều kiện tốt nhất trong thanh toán, đảm bảo uy tín, an toàn, hiệu quả trong hoạt động của Ngân hàng.
Mở rộng và quản lý quan hệ khách hàng: Hoạt động dịch vụ thẻ
góp phần tạo ra cho Ngân hàng những đối tác lâu dài và mang tính
ổn định cao vì khi hợp đồng thẻ được ký kết sẽ gắn Ngân hàng với khách hàng sử dụng thẻ cũng như cơ sở chấp nhận thẻ Bên cạnh đó, bằng việc mở rộng quan hệ liên minh kinh doanh với các nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ khác thông qua phát hành thẻ liên kết, Ngân hàng có thể thu hút thêm một lượng khách hàng lớn
- Dịch vụ toàn cầu và đạt hiệu quả cao trong thanh toán: Là
thành viên của một TCTQT như Visa hay MasterCard, một Ngân hàng dù là nhỏ nhất trên thế giới cũng có thể cung cấp cho khách hàng một phương tiện thanh toán quốc tế có chất lượng như bất cứ đối thủ cạnh tranh lớn nào Khả năng cung cấp dịch vụ toàn cầu tạo điều kiện cho Ngân hàng tham gia vào quá trình toàn cầu hoá, hội nhập với cộng đồng quốc tế
Trang 23Tiết kiệm thời gian mua: Sử dụng thanh toán bằng thẻ, tài khoản
của thẻ chỉ bị ghi nợ khi nào chủ thẻ thực sự chi tiêu và thanh toán bằng thẻ Điều này không những giúp người sử dụng thẻ tận dụng chi phí cơ hội của tiền mà còn giúp họ tiết tiệm thời gian mua hàng cũng như thời gian chờ làm các thủ tục với séc du lịch hay tiền mặt, hạn chế được rủi ro
Khoản tín dụng tự động, tức thời (đối với Thẻ tín dụng hoặc Thẻ
ghi nợ được thấu chi): Khả năng mua hàng không bị gò bó là một
tiện ích của thẻ Do mọi người có tâm lý ngại đến ngân hàng làm thủ tục vay và họ sẽ đánh giá cao thẻ như là một khoản tín dụng ngắn hạn, thủ tục phát hành đơn giản Hơn thế nữa, chủ thẻ chỉ phải thanh toán một phần khi đến hạn thanh toán, số còn lại chủ thẻ có thể trả sau và chịu lãi suất tín dụng tiêu dùng hiện hành
Kiểm soát được chi tiêu: Chủ thẻ có thể rút tiền mặt một cách
nhanh chóng ở bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào tại ngân hàng hoặc qua các máy ATM và sử dụng một số dịch vụ khác do ngân hàng cung cấp như: trả nợ vay, chuyển khoản, xem số dư …trên ATM Với sao kê tài khoản hàng tháng do ngân hàng gửi đến, chủ thẻ hoàn toàn có thể kiểm soát được chi tiêu của mình trong tháng, đồng thời tính toán được phí và lãi phải trả cho mỗi khoản giao dịch
Ngoài ra, thẻ được chế tạo dựa trên kỹ thuật mã hóa từ tính và hiện đại nhất là công nghệ sử dụng các vi mạch điện tử nên khó làm giả, độ
an toàn cao Thẻ có kích thước nhỏ gọn do đó chủ thẻ có thể dễ dàng mang theo người để sử dụng Khi thanh toán tại các ĐVCNT, chủ thẻ chỉ cần xuất trình thẻ và ký vào hóa đơn thì coi như việc mua bán đã
Trang 24hoàn tất Cách thức này vừa nhanh chóng, thuận tiện lại có độ an toàn cao.
Thêm nữa, chủ thẻ ngày càng được hưởng các chế độ ưu đãi, thỏa dụng cao như các dịch vụ bảo hiểm, đặt vé máy bay, thanh toán hóa đơn điện, nước, điện thoại hoặc các dịch vụ chăm sóc sức khỏe…
1.2.2.4 Đối với đơn vị chấp nhận thẻ
Đảm bảo chi trả, tăng doanh số bán hàng hoá, dịch vụ và thu hút thêm khách hàng: Tài khoản của ĐVCNT được ghi có ngay khi
dữ liệu thanh toán được truyền qua hệ thống máy móc điện tử đến NHTT, đồng thời tạo ra môi trường văn minh, hiện đại trong giao dịch, mua bán thu hút khách hàng Từ đó doanh số cung ứng hàng hoá dịch vụ của ĐVCNT cũng tăng lên và khả năng cạnh tranh lớn hơn so với các đối thủ khác
Nhanh chóng thu hồi vốn, an toàn và tiết kiệm chi phí: Khi dữ
liệu về giao dịch thẻ được truyền đến ngân hàng hoặc ĐVCNT nộp hoá đơn thanh toán thẻ cho ngân hàng thì tài khoản của ĐVCNT được ghi có ngay Số tiền này họ có thể sử dụng ngay vào mục đích quay vòng vốn hoặc các mục đích khác Thêm vào đó thanh toán bằng thẻ cũng ít có nguy cơ bị mất cắp hơn là séc hay tiền mặt và giúp ĐVCNT giảm đáng kể các chi phí cho việc kiểm đếm, bảo quản tiền, quản lý tài chính, nhờ vậy giảm được chi phí bán hàng
Nhanh chóng giao dịch với khách hàng: Khi giao dịch bằng tiền
mặt hay séc, việc kiểm đếm, ghi chép rất phức tạp, mất thời gian
Trang 25Còn giao dịch bằng thẻ, đơn giản chỉ việc đưa băng từ của thẻ qua thiết bị đọc thẻ, mọi thông tin trên thẻ được nhận dạng, giao dịch được thực hiện Hệ thống này giúp đẩy nhanh quá trình xử lý khi bán hàng, giúp ĐVCNT cung cấp cho TCPHT những thông tin về việc bán hàng mà không phải xử lý thủ công trên giấy tờ.
Tăng doanh số bán hàng: ĐVCNT có thể tăng doanh số bán
hàng do thu hút được nhiều khách hàng và hầu hết có mức chi tiêu cao Tổng doanh số bán hàng sẽ cao hơn do trị giá mỗi giao dịch cao hơn và khách hàng có xu hướng mua sắm nhiều hơn do không
bị giới hạn bởi số tiền mặt mang theo người
Nâng cao hình ảnh, vị thế của ĐVCNT và tăng khả năng phục
vụ khách hàng: Chấp nhận thanh toán bằng thẻ là cung cấp cho
khách hàng một phương thức thanh toán hiện đại, nhanh chóng, tiện lợi và khách hàng thấy rõ được tính chuyên nghiệp trong thanh toán của cơ sở kinh doanh Do đó khả năng quảng bá hình ảnh, thương hiệu cũng như khả năng thu hút khách hàng tăng lên
1.2.2.5 Đối với nền kinh tế
Thanh toán bằng thẻ sẽ làm thay đổi thói quen tiêu dùng tiền mặt trong dân cư, thông qua đó giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, hạn chế nguy cơ lạm phát nền kinh tế Bên cạnh đó, Ngân hàng Trung ương sẽ dễ dàng kiểm soát được lượng tiền cung ứng, tạo hiệu quả trong hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô
Phát triển dịch vụ thẻ còn góp phần thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các ngân hàng nhằm hỗ trợ hiệu quả cho phát triển và tăng trưởng kinh tế Cạnh tranh giúp hệ thống ngân hàng vững mạnh, hiệu quả
Trang 26và lành mạnh hơn.
Xét trên nhiều góc độ, khi hoạt động thanh toán trong xã hội còn thực hiện phổ biến bằng tiền mặt có thể dẫn đến một số bất lợi và rủi ro như: Chi phí của xã hội để tổ chức hoạt động thanh toán (như chi phí của Chính phủ cho việc in tiền; chi phí vận chuyển, bảo quản, kiểm, đếm tiền của hệ thống ngân hàng, của các chủ thể tham gia giao dịch thanh toán) là rất tốn kém; việc thực hiện giao dịch thanh toán bằng tiền mặt dễ bị các đối tượng phạm pháp lợi dụng để gian lận, trốn thuế, trì hoãn hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng hoặc các chủ nợ; vấn đề an ninh trong thanh toán, bảo quản, vận chuyển tiền mặt luôn tiềm ẩn nhiều nguy hiểm; sử dụng tiền mặt trong giao dịch thanh toán của xã hội sẽ là môi trường thuận lợi cho tội phạm lưu hành tiền giả, đe dọa trực tiếp đến lợi ích của các tổ chức, cá nhân và tình hình an ninh quốc gia Phát triển dịch vụ thẻ - công cụ thanh toán không dùng tiền mặt giúp xã hội tiết kiệm khoản chi phí in ấn tiền, mang tính an toàn cho người sử dụng, góp phần cung cấp sản phẩm tiện ích cho toàn xã hội, nâng cao trình độ nhận thức của người dân, gia tăng lợi ích xã hội
1.2.3 Nội dung phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại
1.2.3.1 Phát triển phát hành thẻ
Phát triển quy mô thị phần
Phát hành thẻ là khâu quan trọng trong dịch vụ thẻ quyết định đến lợi nhuận kinh doanh Các ngân hàng, tổ chức thẻ quốc tế thường thống kê số lượng thẻ phát hành qua các năm để đánh giá khả năng chiếm lĩnh thị phần phát hành thẻ nói chung và theo từng
Trang 27loại thẻ nói riêng
Đối với các ngân hàng Việt Nam cũng như các ngân hàng trên thế giới, thị phần thẻ thường được đánh giá theo số lượng thẻ ghi nợ nội địa, quốc tế, thẻ tín dụng nội địa/quốc tế Thông qua số lượng thẻ phát hành, ngân hàng có thể thu được các loại phí và các nguồn thu khác như phí phát hành thẻ, phí thường niên, phí xử lý hồ sơ phát hành Bên cạnh đó, nguồn thu thông qua việc khách hàng sử dụng thẻ như huy động được số dư trên tài khoản tiền gửi đối với thẻ ghi nợ, lãi chậm trả đối với thẻ tín dụng và các dịch vụ bán chéo của ngân hàng cũng sẽ gia tăng nếu phát hành thêm được nhiều thẻ Mặt khác, nền tảng khách hàng của ngân hàng sẽ gia tăng và họ là những khách hàng tiềm năng sẽ sử dụng những dịch vụ gia tăng của ngân hàng
Phát triển các loại sản phẩm thẻ
Đa dạng hóa các sản phẩm thẻ phù hợp với nhu cầu khách hàng
là một tiêu chí mà các ngân hàng phải quan tâm khi phát triển dịch
vụ thẻ Trên cơ sở phân đoạn thị trường, ngân hàng đưa ra nhiều loại thẻ phù hợp với từng đối tượng khách hàng và gia tăng thêm các dịch vụ, tiện ích cho thẻ để duy trì tính hấp dẫn của sản phẩm
Thẻ nội địa: Thị trường khách hàng nội địa là thị trường được
các ngân hàng quan tâm vì đây là thị trường nhiều tiềm năng và có khả năng mở rộng Một khách hàng có thể có thẻ ghi nợ nội địa ở nhiều ngân hàng Để ra được một sản phẩm thẻ ghi nợ nội địa, các ngân hàng phải nghiên cứu thị trường và thiết kế các tính năng thẻ phù hợp, sau đó phát triển sản phẩm trên chương trình quản lý thẻ
Trang 28và cuối cùng là đưa sản phẩm ra thị trường sau khi hoàn thiện chương trình và hướng dẫn tác nghiệp cho cán bộ ngân hàng
Thẻ quốc tế: Tổ chức phát hành thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng mang
thương hiệu các tổ chức thẻ quốc tế Visa, Master, American Expess, JCB Đây là các loại thẻ có thể thanh toán trên toàn cầu tại những điểm chấp nhận thẻ có dán logo của các tổ chức thẻ Mạng lưới ĐVCNT rộng lớn nên thuận tiện cho các đối tượng khách hàng phải
di chuyển nhiều như thương gia, khách du lịch, du học sinh Với các hạng thẻ cao cấp của mỗi tổ chức thẻ quốc tế như Infinite, Platium của Visa card, hoặc Platium và Titanium của Master card hay thương hiệu thẻ American Express chủ thẻ được hưởng thêm những giá trị gia tăng như bảo hiểm thân thể, ưu tiên đặt chỗ trên máy bay, tham gia những câu lạc bộ nổi tiếng Những tấm thẻ này cũng thể hiện đẳng cấp của người sử dụng Để phát hành được các loại thẻ mang thương hiệu của các tổ chức thẻ quốc tế, thường các ngân hàng phải là thành viên của các tổ chức này, tức là đáp ứng những yêu cầu, qui định của các tổ chức về các mặt chủ yếu như năng lực của tổ chức, khả năng phát triển chủ thẻ, khối lượng thanh toán và cuối cùng là đáp ứng về mặt hệ thống
1.2.3.2 Phát triển thanh toán thẻ
Phát triển thanh toán thẻ là một hoạt động quan trọng trong dịch
vụ thẻ đáp ứng yêu cầu thanh toán của khách hàng và phục vụ mục tiêu giảm lượng tiền mặt trong lưu thông Các ngân hàng khuyến khích khách hàng sử dụng thẻ bằng cách kéo dài thời hạn thanh toán không tính lãi hoặc gia tăng các tiện ích trên thẻ cho khách hàng
Trang 29như các chương trình khách hàng thân thiết, thưởng điểm, nâng hạng thẻ cho khách hàng sử dụng thẻ thanh toán nhiều, khối lượng lớn ; phát hành thẻ liên kết với các cửa hàng, các nhà cung cấp dịch
vụ để giảm giá mua hàng hóa, dịch vụ, ưu đãi mua vé máy bay, đặt phòng khách sạn cho khách hàng sử dụng thẻ
Hiện nay, ngày càng nhiều các ngân hàng có chiến lược kết nối hệ thống thẻ của mình với các ngân hàng, TCTTT trong nước, quốc tế
để gia tăng tiện ích cho chủ thẻ của tổ chức phát hành và thu phí thanh toán thẻ của các ngân hàng hệ thống khác đồng thời giảm bớt các chi phí đầu tư ĐVCNT Các loại phí thanh toán gồm phí giao dịch liên ngân hàng, phí chuyển đổi ngoại tệ, phí thu từ ĐVCNT…
Phát triển mạng lưới đơn vị chấp nhận thẻ
Phát triển hệ thống máy giao dịch tự động (ATM) và mạng lưới ĐVCNT luôn được các ngân hàng quan tâm đầu tư để đáp ứng yêu cầu của chủ thẻ là mong muốn được sử dụng thẻ thuận tiện, an toàn Việc phát triển mạng lưới máy ATM, POS đi kèm theo đó là mạng lưới truyền thông để kết nối các thiết bị với hệ thống máy chủ thường cần số vốn đầu tư lớn của ngân hàng Vì vậy, các ngân hàng muốn đạt hiệu quả cao trong thanh toán thẻ cần có những tiêu chí lắp đặt thiết bị sao cho công suất sử dụng lớn nhất Đối với máy ATM, ngân hàng cần lựa chọn được những vị trí khách hàng dễ nhận biết, an toàn, tiện lợi Đối với thiết bị POS/EDC, ngân hàng cần đặt tại các ĐVCNT có số lượng khách hàng lớn và khối lượng giao dịch nhiều mặt hàng được khách hàng ưa chuộng Ngoài ra sự
ổn định của hệ thống, của thiết bị cũng là yếu tố tạo ra chất lượng
Trang 30dịch vụ thẻ.
Bên cạnh đó, thiết bị ATM/ POS có khả năng chấp nhận nhiều loại thẻ, có nhiều dịch vụ phù hợp với khách hàng cũng tạo điều kiện gia tăng thanh toán thẻ
Phát triển thanh toán thẻ qua Internet, mobile
Dịch vụ thanh toán thẻ qua internet/mobile là dịch vụ tương đối phổ biến trên thế giới nhưng cũng khá mới mẻ đối với Việt nam Dịch vụ này cho phép chủ thẻ có thể đặt mua hàng hoá, dịch vụ trên mạng hoặc qua mobile Việc thanh toán cũng thực hiện thông qua internet hoặc mobile bằng cách cung cấp các thông tin về thẻ ghi nợ/tín dụng như số thẻ, mật khẩu, mã số ngân hàng phát hành…Dịch vụ này sẽ phát triển phù hợp với việc gia tăng mua bán hàng trên mạng của người dân Tuy nhiên, việc thực hiện giao dịch thẻ trên mạng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro do việc đánh cắp các thông tin thẻ để tiếp tục sử dụng trên mạng hoặc tạo ra thẻ mới để sử dụng, một số tội phạm thẻ cũng tạo ra những trang web bán hàng hoá giả
để đánh cắp thông tin thẻ của khách hàng Do vậy, nhiều ngân hàng
đã có khuyến cáo các chủ thẻ sau khi sử dụng thẻ thanh toán trên mạng phải khoá thẻ hoặc phát hành thẻ khác thay thế để tránh rủi ro
Phát triển công nghệ thẻ
Các ngân hàng muốn phát triển dịch vụ thẻ luôn luôn cần hoàn thiện và nâng cấp hệ thống thanh toán và hệ thống thẻ Điều này tạo điều kiện đa dạng hoá sản phẩm thẻ, hỗ trợ kết nối với nhiều tổ chức phát hành thẻ và trung tâm chuyển mạch có khả năng mở rộng mạng lưới ĐVCNT
Trang 31Áp dụng các công nghệ phát hành thẻ tiên tiến nhằm gia tăng tiện ích cho chủ thẻ, tính an toàn bảo mật cao hơn
Nâng cấp thiết bị chấp nhận các loại thẻ hiện đại, hạn chế rủi ro trong thanh toán thẻ và nâng cao chất lượng dịch vụ giảm thiểu tỷ lệ giao dịch không thành công
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại
1.2.4.1 Nhóm chỉ tiêu định lượng
Số lượng sản phẩm thẻ do ngân hàng cung cấp: Mỗi sản phẩm
thẻ ngân hàng cung cấp có những đặc tính khác nhau và hướng đến đối tượng khách hàng khác nhau Số lượng sản phẩm thẻ ngân hàng cung cấp và đặc tính riêng của các sản phẩm phản ánh tiêu chí phân đoạn khách hàng và xu hướng chiến lược phát triển dịch vụ của ngân hàng
Số lượng thẻ phát hành mới trong năm: Chỉ tiêu này cho biết
số lượng thẻ một năm ngân hàng phát hành và tốc độ tăng trưởng của phát triển phát hành thẻ tại ngân hàng Nếu số lượng thẻ mới phát hành hàng năm của ngân hàng tăng thêm cho thấy khách hàng ngày càng tin tưởng và có nhu cầu sử dụng thẻ của ngân hàng Số người sử dụng dịch vụ của ngân hàng tăng lên phần nào thể hiện sự phát triển dịch vụ của ngân hàng đó trên thị trường
Số lượng thiết bị chấp nhận thẻ/ĐVCNT: Chỉ tiêu này phản ánh
mức độ phát triển của hoạt động thanh toán thẻ Số lượng các thiết bị chấp nhận thẻ như ATM/POS/EDS đang hoạt động của ngân hàng
Trang 32nhiều cũng như số lượng các ĐVCNT lớn cho thấy khả năng cung cấp dịch vụ thẻ tới khách hàng của ngân hàng.
Tần suất hoạt động của thiết bị chấp nhận thẻ/ĐVCNT: Đây là
chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động của các thiết bị cũng như đơn
vị chấp nhận thẻ Tần suất hoạt động cao thể hiện mức độ hoạt động của thiết bị/ĐVCNT lớn
Các dịch vụ giá trị gia tăng đi kèm trong dịch vụ thẻ: càng nhiều
dịch vụ ngân hàng cung cấp càng thể hiện mức độ đáp ứng nhu cầu của chủ thẻ, thể hiện lợi thế so sánh khi sử dụng thẻ của ngân hàng này so với ngân hàng khác
Tỷ lệ nợ quá hạn đối với thẻ tín dụng: cho thấy chất lượng tín
dụng của các khoản cho vay tín chấp thông qua phát hành thẻ tín dụng Tỷ lệ nợ quá hạn càng nhiều cho thấy chất lượng tín dụng càng thấp và ngược lại
Doanh số sử dụng thẻ: phản ánh mức độ sử dụng thẻ vào các
mục đích của chủ thẻ, doanh số sử dụng thẻ lớn là dấu hiệu của dịch
vụ thẻ phát triển, từ đó các chỉ tiêu về phí và thu nhập được cải thiện
Doanh số thanh toán thẻ: phản ánh giá trị các giao dịch thanh
toán được thực hiện tại các thiết bị chấp nhận thẻ trong một khoảng thời gian nhất định Nếu số lượng mạng lưới thiết bị chấp nhận thẻ của ngân hàng rộng khắp nhưng doanh số giao dịch không nhiều thì mức độ phát triển dịch vụ cũng chưa cao, hoạt động thanh toán vẫn chủ yếu sử dụng tiền mặt Đây là một trong những chỉ tiêu cần quan tâm trong phát triển hoạt động thanh toán thẻ
Trang 33Phí dịch vụ thẻ: bao gồm các khoản thu phí trong cung cấp
dịch vụ thẻ đó là phí phát hành thẻ, phí thường niên thẻ, phí dịch vụ thẻ như phí kích hoạt thẻ, phí liên kết thẻ… Phí dịch vụ thẻ là nguồn thu chủ yếu trong cung cấp dịch vụ thẻ ngân hàng Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả hoạt động dịch vụ thẻ của ngân hàng
Phí thanh toán thẻ: là khoản phí ngân hàng thu được từ việc
cung cấp dịch vụ thanh toán Phí dịch vụ thẻ được tính dựa trên doanh số thanh toán thẻ và tỷ lệ phân bổ phí giữa ngân hàng thanh toán thẻ và đơn vị cung cấp hàng hóa dịch vụ
Tỷ trọng phí dịch vụ thẻ/phí thanh toán thẻ trong tổng thu phí dịch vụ của ngân hàng cho thấy mức độ đóng góp của dịch vụ
thẻ đối với hoạt động cung cấp dịch vụ của ngân hàng, xem xét thực trạng phát triển hiện tại của ngân hàng là phát triển thanh toán thẻ hay phát hành thẻ từ đó phản ánh mức độ phát triển của dịch vụ thẻ tại ngân hàng
Thị phần dịch vụ thẻ của ngân hàng bao gồm thị phần về số
lượng ATM/POS/EDS, thị phần về số lượng từng loại thẻ, thị phần
về doanh số phát hành, doanh số thanh toán thẻ…: đo lường tương
quan giữa các ngân hàng trên thị trường thẻ Thị phần của NHTM càng cao thì mức độ phát triển dịch vụ càng tốt, khả năng cạnh tranh
và cơ hội phát triển càng lớn và ngược lại
Trang 34của chủ thẻ Sản phẩm thẻ của ngân hàng tích hợp nhiều tiện ích, đa dạng đáp ứng nhiều đối tượng khách hàng thể hiện dịch vụ phát triển tốt.
Tính an toàn, bảo mật của công nghệ sản xuất thẻ, thiết bị chấp nhận thẻ: Mỗi ngân hàng có quy trình quản lý thẻ và công
nghệ phát hành thẻ riêng Thẻ có tính an toàn và bảo mật, khó làm giả, ít xảy ra lỗi trong giao dịch phản ánh mức độ phát triển dịch vụ cao, giảm thiểu được các rủi ro trong giao dịch thẻ
Mức độ hài lòng của khách hàng về dịch vụ thẻ của ngân hàng: dịch vụ thẻ chỉ có thể được coi là phát triển nếu ngân hàng
làm hài lòng khách hàng sử dụng dịch vụ Mức độ hài lòng được đo lường bằng cách thu thập những góp ý, nhận xét của khách hàng về
từ khâu tư vấn về sản phẩm dịch vụ, đến khâu hỗ trợ khách hàng trong quá trình sử dụng sản phẩm dịch vụ, giải đáp các vướng mắc,
xử lý khiếu nại, trong sử dụng thẻ và thanh toán thẻ Khách hàng cảm thấy hài lòng khi sử dụng sản phẩm dịch vụ thẻ của ngân hàng
sẽ có những thông tin lan truyền tốt, góp phần nâng cao uy tín, củng
cố thương hiệu ngân hàng
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại
1.2.5.1 Nhân tố chủ quan
+ Định hướng phát triển của ngân hàng
Định hướng của ngân hàng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển dịch vụ thẻ Với những hoạt động cơ bản giống nhau nhưng mỗi ngân hàng có một hướng phát triển khác nhau dựa
Trang 35trên những thế mạnh riêng có của mình Và bản thân mỗi ngân hàng trong những thời kỳ khác nhau sẽ có những mục tiêu khác nhau Hoạt động phát hành thẻ và thanh toán thẻ sẽ được mở rộng khi ngân hàng chú trọng đến phát triển dịch vụ thẻ
Hoạch định chiến lược phát triển dịch vụ thẻ đúng đắn, phù hợp với tình hình trong nước, thế giới và xu thế phát triển của lĩnh vực thẻ thanh toán là yếu tố tạo nên thành công trong kinh doanh dịch
vụ thẻ Ngân hàng phải đặt ra những kế hoạch, chiến lược phát triển theo lộ trình phát triển ngắn hạn, dài hạn trên cơ sở điều tra, khảo sát các đối tượng khách hàng mục tiêu, môi trường cạnh tranh và dựa vào nội lực của chính mình
+ Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của ngân hàng
Dịch vụ thẻ là một dịch vụ ngân hàng hiện đại gắn liền với sự phát triển của kỹ thuật công nghệ Mọi khâu trong quy trình đều cần
có những công nghệ hiện đại, từ sản xuất thẻ đến lắp đặt những thiết
bị thanh toán thẻ Để có được những công nghệ hiện đại ấy đòi hỏi ngân hàng phải có nguồn tài chính lớn nhằm duy trì sự hoạt động thông suốt
Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của ngân hàng bao gồm hệ thống ngân hàng cốt lõi (core banking), hệ thống quản lý phát hành thanh toán thẻ (Card Managemet System), chuyển mạch (Switching), máy giao dịch tự động (Automated Teller Machine – viết tắt là ATM) - thiết bị mà chủ thẻ có thể sử dụng để gửi, nạp, rút tiền mặt, chuyển khoản, tra cứu thông tin giao dịch thẻ hoặc sử dụng các dịch vụ khác, hệ thống thiết bị chấp nhận thẻ POS/EDC… là cơ
Trang 36sở nền tảng để phát triển dịch vụ thẻ và yếu tố quyết định thành công trong kinh doanh dịch vụ thẻ
Việc lựa chọn giao dịch và phát hành thẻ tại ngân hàng nào của khách hàng cũng phụ thuộc rất lớn vào kỹ thuật mà ngân hàng sử dụng để thoả mãn nhu cầu và mong muốn
Ngoài ra, tốc độ phát triển nhanh chóng của ngành công nghệ thông tin và viễn thông đã hỗ trợ đắc lực cho việc hoàn thiện hệ thống quản lý thẻ và thiết bị chấp nhận thẻ cũng như kết nối hệ thống thẻ của ngân hàng với các tổ chức thẻ quốc tế và các mạng thanh toán nội địa
+ Trình độ của cán bộ nghiệp vụ thẻ tại ngân hàng
Dịch vụ ngân hàng cung cấp có tính chất đặc biệt, đó là tính vô hình không thể nhận biết được bằng các giác quan thông thường, chất lượng của dịch vụ phụ thuộc chủ yếu vào thái độ, tính chuyên nghiệp của đội ngũ nhân viên làm dịch vụ mang đến sự hài lòng cho khách hàng Chính thái độ phục vụ tạo nên sự khác biệt và là yếu tố cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ giữa các ngân hàng thương mại
Là phương tiện thanh toán hiện đại, thẻ thanh toán mang tính tiêu chuẩn hóa cao độ và có quy trình quản lý vận hành thống nhất,
do đó đòi hỏi ngân hàng phải có một đội ngũ nhân lực có năng lực, trình độ, và khả năng tiếp cận công nghệ
Thêm nữa, thẻ là một lĩnh vực chứa đựng nhiều rủi ro, cán bộ nghiệp vụ thẻ đòi hỏi có phẩm chất đạo đức, cẩn trọng trong công việc Dịch vụ thẻ ngân hàng chỉ có thể phát triển khi có một đội ngũ cán bộ vững về chuyên môn nghiệp vụ cũng như kỹ năng bán hàng
Trang 37để mang sản phẩm dịch vụ đến với khách hàng.
+ Mức độ kết nối giữa các ngân hàng
Mức độ kết nối giữa các ngân hàng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển dịch vụ thẻ vì đây là hệ thống thanh toán xương sống của nền kinh tế Đối tượng cung cấp dịch vụ của ngân hàng chính là các cá nhân, tổ chức, nếu không tạo ra một hệ thống thanh toán thống nhất giữa các ngân hàng sẽ gây khó khăn và bất tiện cho người sử dụng dịch vụ khi phải mở nhiều tài khoản tại nhiều ngân hàng khác nhau Như vậy, các ngân hàng thương mại nên kết nối với nhau, tạo ra thị trường lớn hơn để cùng khai thác thay vì cạnh tranh nhau trên thị phần còn nhỏ bé Đây cũng là lý do
để các liên minh thẻ ra đời nhằm phát triển dịch vụ thẻ Các ngân hàng lớn được lợi từ hệ thống khách hàng sẵn có và tiềm năng của ngân hàng đối tác, ngược lại các ngân hàng nhỏ sẽ tân dụng được hệ thống ATM/POS sẵn có để mở rộng dịch vụ, gia tăng tiện ích thanh toán cho chủ thẻ Việc mở rộng kết nối giữa các ngân hàng phải phù hợp với chuẩn quốc tế, giải pháp phần mềm hệ thống đảm bảo độc lập trong xử lý số liệu và truyền dữ liệu, đảm bảo tính bảo mật hệ thống, tích hợp dữ liệu và tính liên tục trong hoạt động
1.2.5.2 Nhân tố khách quan
+ Môi trường kinh tế
Sự phát triển của nền kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của thẻ ngân hàng Khi nền kinh tế phát triển, các biến số về kinh tế như thu nhập bình quân đầu người tăng cao, tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế tốt, tỷ lệ lạm phát phù hợp, chính sách đầu
Trang 38tư của chính phủ thông thoáng sẽ kích thích nhu cầu tiêu dùng, tạo điều kiện cho dịch vụ thẻ phát triển Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, người dân có nhiều cơ hội hiểu biết, tiếp xúc và sử dụng các dịch vụ về thẻ Bên cạnh đó, nền kinh tế phát triển sẽ thu hút các doanh nghiệp nước ngoài cũng như các tổ chức thẻ quốc tế đầu tư không chỉ bằng tiền mà còn đầu tư công nghệ, nhân lực, tạo điều kiện cho thị trường thẻ của nước đó phát triển nhanh chóng Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào trạng thái suy thoái, thu nhập giảm sút, thất nghiệp tăng cao, hoạt động của các doanh nghiệp sụt giảm thì nhu cầu sử dụng, thanh toán thẻ giảm và ảnh hưởng tới việc kinh doanh dịch vụ thẻ của ngân hàng.
Những yếu tố kinh tế này ảnh hưởng trực tiếp đến mức thu nhập, nhu cầu thanh toán và chi tiêu của khách hàng cũng như nhu cầu về vốn và tiết kiệm của dân cư
+ Môi trường pháp lý
Dịch vụ thẻ cũng như hoạt động phát hành và thanh toán thẻ của các ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào môi trường pháp lý của mỗi quốc gia Môi trường pháp lý là hàng rào nghiêm ngặt bảo vệ lợi ích của các bên tham gia dịch vụ thẻ, nhưng cũng là yếu tố ngăn cản dịch vụ thẻ phát triển nếu không có sự thống nhất giữa các văn bản điều chỉnh Một hành lang pháp lý thống nhất sẽ tạo cho các ngân hàng sự chủ động tham gia vào thị trường thẻ cũng như việc đề ra các chiến lược kinh doanh của mình, qua đó củng
cố nền tảng vững chắc cho phát triển dịch vụ thẻ trong tương lai
+ Trình độ khoa học công nghệ
Trang 39Các ứng dụng của công nghệ thông tin đã tạo ra những tiện ích kỳ diệu của thẻ Thẻ ngân hàng sẽ chỉ là một tấm nhựa bình thường nếu
nó không được gắn với các băng từ hay các chíp điện tử mang những thông tin cần thiết, không có khả năng thanh toán tự động tại các thiết
bị, hệ thống máy tính kết nối và không có tính bảo mật cao Như vậy khi môi trường công nghệ càng phát triển thì thẻ càng được gia tăng tiện ích, tăng tính bảo mật do đó sẽ thu hút đông đảo khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ
+ Môi trường xã hội
Dân số là yếu tố quyết định đến việc phân đoạn khách hàng của các ngân hàng trong việc cung cấp dịch vụ, sản phẩm thẻ Thông thường các ngân hàng tính toán mạng lưới thiết bị chấp nhận thẻ (ATM/POS) theo số dân sử dụng thiết bị Mặt khác, việc nghiên cứu những cấu trúc về dân số như tổng dân số, tỷ lệ tăng dân số, giới tính, nghề nghiệp, lứa tuổi là căn cứ trong việc quyết định đưa ra sản phẩm thẻ của ngân hàng Tổng dân số càng lớn, trình độ dân trí cao sẽ tạo điều kiện cho thanh toán thẻ của ngân hàng phát triển.Các vùng địa lý khác nhau có những đặc điểm rất khác nhau như phong tục tập quán, cách thức giao tiếp, nhu cầu về hàng hóa, dịch
vụ cũng khác nhau Thông thường các khu trung tâm kinh tế, thương mại có nhu cầu về phát hành, thanh toán thẻ lớn hơn nhiều
so với các khu vực khác trong một quốc gia
Bên cạnh đó, thói quen tiêu dùng của dân cư cũng ảnh hưởng lớn tới sự phát triển dịch vụ thẻ Thị trường thẻ chỉ thực sự phát triển nếu người dân thấy tính ưu việt khi tiêu dùng bằng thẻ so với tiêu dùng bằng tiền mặt Bên cạnh đó, trình độ dân trí cũng đóng một vai
Trang 40trò quan trọng Thẻ là sản phẩm của công nghệ hiện đại, sự phát triển của thẻ phụ thuộc vào mức độ am hiểu của công chúng đối với
nó Chỉ khi trình độ dân trí cao thì khả năng áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ phục vụ con người mới có điều kiện phát triển Trình độ dân trí ở đây là các kiến thức về ngân hàng, khả năng tiếp cận và sử dụng thẻ cũng như nhận thức những tiện ích mà thẻ mang lại
1.3 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ thẻ của một số tổ chức trong và ngoài nước
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ thẻ của một số tổ chức trong và ngoài nước
○ Tổ chức thẻ quốc tế Visa: VISA là một trong những tổ chức
thẻ lớn nhất trên thế giới với các thương hiệu thẻ nổi tiếng như VISA Gold, VISA Platinum, VISA Infinite, VISA Electron, VISA Business, VISA Corporate, VISA Purchasing… Phạm vi hoạt động của tổ chức này ngày càng được mở rộng Hiện nay VISA là một tổ chức có hơn 21.000 thành viên là các ngân hàng trên toàn thế giới
và đến nay đó phát hành trên 150 tỷ thẻ các loại Thẻ VISA được chấp nhận thanh toán tại khắp nơi trên thế giới Kể từ khi ra đời, thẻ VISA luôn được thực tế chứng minh là loại thẻ quốc tế thông dụng nhất trên toàn cầu với số lượng người sử dụng đông đảo
Tổ chức thẻ Visa đánh giá cao thị trường tiềm năng Việt nam và
là tổ chức thẻ quốc tế đầu tiên mở Văn phòng đại diện từ cuối năm
2004 Trong thời gian hoạt động tại Việt Nam, năm 2005, 2006 Visa Việt nam đã thực hiện được rất nhiều hoạt động Marketing nhằm