1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố đà nẵng

109 538 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ năm 2004 đến 2013, hoạt động thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã đạt được những kết quả nh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VÕ NGUYÊN CHƯƠNG

THI HÀNH PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,

TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VÕ NGUYÊN CHƯƠNG

THI HÀNH PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,

TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Luật Kinh tế

Mã số : 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS DOÃN HỒNG NHUNG

Hà Nội – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Võ Nguyên Chương

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 3

MỤC LỤC 4

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI 14

1.1 Quan niệm về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 14

1.1.1 Khái niệm khiếu nại, khiếu nại về đất đai 14

1.1.2 Khái niệm tố cáo và tố cáo về đất đai 18

1.1.3 Khái niệm về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 19

1.2 Thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 23

1.2.1 Khái niệm về thi hành pháp luật 23

1.2.2.Thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 24

1.2.3 Các nhân tố trong thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 26

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến thi hành pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 31

2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành 31

2.1.1 Các quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại về đất đai từ năm 2004 tới nay 31

2.1.2 Pháp luật về giải quyết tố cáo về đất đai từ năm 2004 tới nay 37

2.1.3 Đánh giá các quy định pháp luật hiện hành 38

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai tại thành phố Đà Nẵng 43

Trang 5

2.2.1 Tình hình các vụ khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai nổi cộm

trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 45

2.2.2 Những kết quả đạt được và những hạn chế của hoạt động thi hành pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 50

2.3 Nguyên nhân của các bất cập trong thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai tại thành phố Đà Nẵng 54

2.3.1.Về sự bất cập trongcác quy định pháp luật 54

2.3.2 Năng lực, trình độ, ý thức trách nhiệm của người có thẩm quyền trong giải quyết khiếu nại về đất đai 56

2.3.3 Sự hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của cá nhân, tổ chức thực hiện khiếu nại tố cáo về đất đai 58

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI QUA THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 61

3.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, về đất đai và các quy định khác có liên quan 61

3.1.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo 61

3.1.2 Hoàn thiện quy định pháp luật về đất đai 66

3.1.3 Hoàn thiện các quy định pháp luật khác có liên quan 67

3.2 Nâng cao năng lực, trình độ, ý thức trách nhiệm của người có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai 70

3.2.1 Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức giải quyết khiếu nại, tố cáo 70

3.2.2 Nâng cao ý thức trách nhiệm của người có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai 74

KẾT LUẬN 80

Trang 6

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC

Trang 7

1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

GQKN : giải quyết khiếu nại

GQKNTC : giải quyết khiếu nại tố cáo

GQTC : Giải quyết tố cáo

XHCN : xã hội chủ nghĩa

UBND : ủy ban nhân dân

Trang 8

2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi bị xâm phạm, là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Khiếu nại, tố cáo là hiện tượng xã hội xuất hiện trong quản lý hành chính nhà nước, là một kênh thông tin khách quan phản ánh việc thực thi quyền lực của bộ máy nhà nước, phản ánh tình hình thực hiện công vụ của cán bộ, công chức Do đó, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo không những có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Thông qua giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đảng và Nhà nước kiểm tra tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật do mình ban hành, từ đó có cơ sở thực tiễn để hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước Vì vậy, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân là một vấn đề được Đảng, Nhà nước và nhân dân đặc biệt quan tâm

Trong lĩnh vực quản lý đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai là một hiện tượng xảy ra phổ biến trong xã hội; đặc biệt khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện cơ chế đất có giá, việc giao đất, cho thuê đất phi nông nghiệp, thuê đất sản xuất kinh doanh phải trả tiền thì khiếu nại, tố cáo về đất đai phát sinh có xu hướng ngày càng tăng cả về số lượng cũng như tính chất phức tạp về mặt nội dung

Hiện nay, tình hình khiếu nại, tố cáo trong cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng diễn biến rất phức tạp, số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo năm sau tăng hơn năm trước và tập trung chủ yếu vàolĩnh vực đất đai, giải phóng mặt bằng, chiếm hơn 91% số lượng đơn thư Tính chất các vụ khiếu nại, tố cáo về đất đai thường gay gắt, kéo dài, đặc biệt trong

Trang 9

3

những năm gần đây xuất hiện những vụ việc khiếu nại đông người, khiếu nại vượt cấp ở các cơ quan cấp Trung ương, cấp tỉnh và nhà riêng của các đồng chí lãnh đạo; một số trường hợp vượt ra khỏi phạm vi khiếu nại dẫn đến vi phạm pháp luật hình sự, có những công dân thường xuyên khiếu nại, tố cáo không đúng sự thật, lôi kéo xúi giục người khác khiếu nại, tố cáo kéo dài từ những năm chưa chia tách tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng cho đến nay Tình hình trên đã và đang ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị, xã hội, làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

Thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý nhà nước về đất đai Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo góp phần ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật trong quản lý nhà nước và là phương thức để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức

Từ năm 2004 đến 2013, hoạt động thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã đạt được những kết quả nhất định, tạo cơ sở cho việc bảo đảm và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số yếu kém, hạn chế như thủ trưởng một số cơ quan, ban, ngành, một số Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các quận, huyện và những người có thẩm quyền còn thiếu trách nhiệm, chưa nhận thức đầy đủ về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai; chất lượng thi hành pháp luật còn thấp, số lượng vụ việc giải quyết sai còn nhiều; trong khi giải quyết còn vi phạm quy định về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo; nhiều Quyết định giải quyết khiếu nại, Kết luận giải quyết tố cáo

đã có hiệu lực pháp luật nhưng chậm thi hành hoặc không thi hành; công tác thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa

Trang 10

4

được quan tâm đúng mức; kỷ luật hành chính trong giải quyết khiếu nại, tố cáo bị buông lỏng; những vi phạm pháp luật khiếu nại, tố cáo chưa được xử lý nghiêm minh, trình độ cán bộ làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáovề đất đai còn bất cập

Để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai không thể thiếu cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai hoàn thiện và hiệu quả Việc nghiên cứu, tìm hiểu các khiếu kiện về đất đai và phân tích, đánh giá đúng công tác thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai là rất cần thiết, không những giúp Nhà nước trong nỗ lực xác lập cơ chế giải quyết về đất đai một cách có hiệu quả mà còn góp phần vào việc bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay

Trên cơ sở các quy định của pháp luật đất đai, pháp luật khiếu nại, pháp luật tố cáo và xuất phát từ thực tiễn công tác thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, để góp phần đổi mới, nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa

bàn thành phố Đà Nẵng, tôi chọn đề tài: “Thi hành pháp luật giải quyết

khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” làm đề tài

nghiên cứu cho Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thi hành pháp luật nói chung và thi hành pháp luật trong GQKNTC là

đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học pháp lý Nhất trong giai đoạn hiện nay, số lượng các bài viết, công trình nghiên cứu về thi hành pháp luật trong GQKN, GQKNTC về đất đai được tăng lên rõ rệt, trong đó phải kể đến những công trình tiêu biểu sau:

- Một số công trình nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp liên quan đến thẩm quyền, trình tự và thủ tục GQKNTC hành chính và đề cập đến công tác

Trang 11

5

GQKNTC hành chính trong một số lĩnh vực cụ thể như: Xây dựng quy trình

giải quyết khiếu nại hành chính (Ngô Mạnh Toan, đề tài khoa học cấp Cơ sở

của Thanh tra Chính phủ năm 2005); Vấn đề đối thoại trong giải quyết khiếu

nại hành chính (Nguyễn Tiến Bình, đề tài khoa học cấp Cơ sở của Thanh tra

Chính phủ năm 2005); Việc thụ lý để giải quyết khiếu nại hành chính - từ lý

luận đến thực tiễn (Nguyễn Quốc Tuấn, Tạp chí Thanh tra, số 6/2005); Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan hành chính nhà nước (Nguyễn

Thị Minh Hà, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội); Việc

thực hiện thẩm quyền giải quyết của thủ trưởng cơ quan nhà nước và trách nhiệm của các cơ quan thanh tra nhà nước trong giải quyết khiếu nại hành chính (Phạm

Văn Long, đề tài khoa học cấp Bộ của Thanh tra Chính phủ năm 2005); Tiền tố

tụng hành chính - Thủ tục bắt buộc trước khi khởi kiện hành chính (ThS Nguyễn

Thị Thủy, Tạp chí Luật học, số 10/2007); Thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại

hành chính về đất đai, nhà ở hiện nay - Những vấn đề đặt ra và giải pháp (Ngô

Đăng Huynh, đề tài cấp Bộ của Thanh tra Chính phủ năm 2003); Hoàn thiện

những qui định của Luật Khiếu nại, tố cáo về giải quyết khiếu nại, tố cáo đông người (ThS Trần Văn Sơn,Tạp chí Thanh tra, số 7/2005); Việc áp dụng pháp luật

để giải quyết khiếu nại về đất đai (ThS Nguyễn Tuấn Khanh, Tạp chí Thanh tra,

Số 5/2008); Tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai và giải quyết tranh chấp,

khiếu nại, tố cáo về đất đai (Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp

luật của Chính phủ, Đặc san tuyên truyền pháp luật số 09/2009); Giải quyết khiếu

nại trong lĩnh vực đất đai qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế (Bùi Thị Thuận

Ánh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội),

- Một số bài viết, công trình khoa học đề cập đến công tác kiểm tra, giám sát hoạt động GQKNTC hành chính ở những góc độ khác nhau như:

Trách nhiệm của đại biểu dân cử trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân (ThS Đào Xuân Tiến, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 02/2005);

Trang 12

6

Tăng cường giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan hành chính nhà nước - giải pháp tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (TS Trần Văn

Sơn, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8/2005); Nâng cao hiệu lực, hiệu quả

thanh tra trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo (Bùi Nguyên Súy, đề tài khoa học cấp Bộ của Thanh

tra Chính phủ năm 2007);

- Trước những vấn đề mà thực tiễn đặt ra, đã có một số công trình nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp đổi mới cơ chếgiải quyết khiếu nại, tố cáo (GQKNTC) hành chính (thậm chí có những công trình, bài viết khai thác những khía cạnh liên quan đến mô hình GQKNTC hành chính còn đang có những ý

kiến khác nhau về vị trí, vai trò, thẩm quyền) như: Hoàn thiện cơ chế giải quyết

khiếu kiện hành chính (Nguyễn Văn Thanh, đề tài khoa học cấp Bộ của Thanh

tra Chính phủ năm 2004); Cơ quan tài phán hành chính - nhận thức mới, giải

pháp mới cho một vấn đề không mới (Đinh Văn Minh, Tạp chí Thanh tra, 2005); Đổi mới cơ chế giải quyết khiếu nại, khiếu kiện hành chính ở nước ta hiện nay

(PGS.TS.Bùi Xuân Đức, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Số 5/2008); Trao đổi

thêm về việc áp dụng Điều 136 Luật đất đai năm 2003 (Phạm Thanh Hải, Tòa án

nhân dân huyện Đan Phượng, Hà Tây, Tạp chí Tòa án, tháng 5/2005); Những

vấn đề cần trao đổi khi áp dụng Điều 136 Luật đất đai năm 2003 (TS Nguyễn

Văn Cường, Tạp chí Tòa án tháng 8/2005); Một số khía cạnh của việc nâng cao

hiệu suất hoạt động của Tòa hành chính trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính (Vũ Thư, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8/2003);

Ngoài ra, trên các tạp chí khác như: Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Luật học, Tạp chí Pháp lý cũng có những bài viết nghiên cứu về việc thi hành pháp luật trong giải quyết khiếu nại , tố cáo về đất đai;

Trang 13

7

Nội dung nghiên cứu trong các công trình nói trên có khá nhiều nội dung chuyên sâu, gợi mở những vấn đề trong việc thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo nhưng chỉ mới dừng lại ở mức độ chung nhất về GQKNTC hành chính và công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc GQKNTC hành chính hiện nay, đặc biệt là trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế và đẩy mạnh cải cách hành chính

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung để đánh giá đúng thực trạng thi hành pháp luật trong GQKNTC về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, xác định những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân cụ thể Từ đó, đề xuất một số giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của địa phương và có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật GQKNTC về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích trên, luận văn có 04 nhiệm vụ sau đây:

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận, cơ sở pháp lý của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai hiện nay;

- Tìm hiểu về đặc điểm tình hình kinh tế xã hội, an ninh, chính trị của thành phố Đà Nẵng và ảnh hưởng của nó đến tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố;

- Đánh giá tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố

Đà Nẵng trong thời gian từ khi có Luật Đất đai năm 2003 và 2013 đến nay;

dự báo tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trong thời gian tới;

- Thực trạng công tác thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trong công tác quản lý nhà nước về đất đai tại thành phố Đà Nẵng từ khi có Luật Đất đai năm 2013

Trang 14

8

- Đề xuất những giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong những năm tiếp theo

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học:

Thông qua việc nghiên cứu, phân tích các quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai cũng như việc áp dụng các quy định pháp luật vào thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để thấy được những vướng mắc, bất cập trong hệ thống pháp luật hiện hành, đề xuất sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hệ thống pháp luật khiếu nại, tố cáo về đất đai, góp phần hỗ trợ chính quyền các cấp trong việc ra các văn bản, chính sách liên quan đến giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai cũng như các văn bản, chính sách để đảm bảo hiệu quả thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố

Ý nghĩa thực tiễn:

Phân tích tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai và thực trạng công tác thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố, vận dụng những quy định của pháp luật, đánh giá những tồn tại, vướng mắc, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai để từ đó đề xuất các giải pháp cho chính quyền địa phương trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo trong công tác nghiên cứu và thực tiễn công tác giải quyết các khiếu nại hành chính và giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước

Những đóng góp mới của luận văn

Trang 15

9

Luận văn là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và tương đối toàn diện thi hành pháp luật GQKNTC về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nên có những đóng góp mới như sau:

- Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thi hành pháp luật GQKNTCvề đất đai

- Làm rõ thực trạng, xác định nhữnh ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong việc thi hành pháp luật GQKNTCvề đất đai trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng Từ đó, đề xuất những quan điểm và kiến nghị các giải pháp có tính khả thi, phù hợp với đặc điểm tình hình thực tế của địa phương nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật GQKNTC về đất đai trên địa bàn thành phố, góp phần ổn định và đáp ứng yêu cầu phát triển Thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới

5 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

- Cơ sở pháp lý, các chính sách pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

- Tình hình khiếu nại, tố cáovề đất đai và thực trạng công tác thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

- Phạm vi về thời gian

Đề tài được tiến hành từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 06 năm 2014

Số liệu và thông tin thu thập từ thời điểm năm 2004 (thời điểm Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực) đến cuối năm 2013

- Phạm vi về không gian

Đề tài nghiên cứu tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai và thực trạng công tác thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, tập trung vào các cơ quan như: Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Tiếp công dân thành phố, Thanh tra thành phố, UBND các quận, huyện trên địa bàn thành phố

Trang 16

10

6 Nội dung nghiên cứu:

- Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu: cơ sở pháp lý của khiếu nại, tố

cáo về đất đai; tình hình kinh tế - xã hội, an ninh - chính trị của thành phố Đà Nẵng và ảnh hưởng của nó đến khiếu nại tố cáo và công tác thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai; vai trò của giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai

- Phân tích, đánh giá tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian từ khi có Luật Đất đai năm 2003 đến nay;

dự báo tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trong thời gian tới

- Nghiên cứu thực trạng công tác thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trong công tác quản lý nhà nước về đất đai tại thành phố

Đà Nẵng từ khi có Luật Đất đai năm 2003, bước đầu triển khai Luật đất đai năm 2013, rút ra những tồn tại, vướng mắc và bài học kinh nghiệm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

- Đề xuất những giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng, hiệu quả việc thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong những năm tiếp theo

7 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và GQKNTC của công dân; chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về GQKNTC trong lĩnh vực đất đai, về yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam

Cơ sở lý luận nêu trên là nền tảng tư tưởng, lý luận để nghiên cứu vấn đề thi hành pháp luật GQKNTC về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Phương pháp nghiên cứu :

Trang 17

11

Về cơ bản, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp thống kê, so sách đối chiếu số liệu giữa các năm; phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh, chúng minh, để đánh giá thực trạng thi hành pháp luật GQKNTV về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp thu thập thập số liệu thứ cấp

- Thu thập các văn bản liên quan đến đất đai và khiếu nại, tố cáo như: Luật Đất đai năm 1993 (có sửa đổi bổ sung vào các năm 2000, 2001) và

2003, Luật đất đại sửa đổi bổ sung năm 2009 và Luật đất đai năm 2013, Luật Khiếu nại, Luật tố cáo, Luật Tố tụng hành chính và các văn bản hướng dẫn

- Các báo cáo, tài liệu liên quan đến tình hình và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Tiếp công dân thành phố, Thanh tra thành phố, UBND các quận, huyện trên địa bàn thành phố giai đoạn 2004 - 2013

- Tham khảo các công trình đã nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của các tác giả

- Tài liệu giáo trình hoặc các xuất bản khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

a Xây dựng bảng hỏi điều tra phỏng vấn các đối tượng liên quan đến

đề tài

- Lập bảng hỏi điều tra phỏng vấn: Bảng hỏi được thiết kế gồm bảng hỏi mở và bảng hỏi phỏng vấn sâu

+ Bảng hỏi mở: để phỏng vấn các đối tượng có đơn khiếu nại, tố cáo

và yêu cầu giải quyết về đất đai Thông tin cấu trúc nội dung bảng hỏi mở sẽ gồm các nội dung: hỏi về các giấy tờ về quyền sử dụng đất, sở hữu tài sản

Trang 18

c Thời gian phỏng vấn:trong 4 tháng, từ 05/01 -30/5/2014

d Số lượng mẫu phỏng vấn, điều tra: khoảng 50 mẫu

Phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia và các cơ quan liên quan:

Trang 19

13

- Tham vấn ý kiến các chuyên gia và các cơ quan liên quan, cụ thể là các cán bộ lãnh đạo của Cục II Thanh tra Chính phủ, Vụ Tiếp dân và xử lý đơn thư Thanh tra Chính phủ (Thường trực Trụ sở Tiếp Công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước, Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND thành phố, Sở Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra thành phố, UBND cấp quận, huyện và các Chánh Thanh tra, Trưởng đoàn Thanh tra trực tiếp tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai tại các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn thành phố

Phương pháp phân tích, thống kê và xử lý số liệu:

- Mã hóa bảng hỏi trên phần mềm Excel

- Soạn thảo các tập tin bảng hỏi và nhập số liệu vào máy tính

- Kiểm tra độ chính xác của dữ liệu nhập

- Phân tích thống kê mô tả

- Phân tích tần số xuất hiện của mỗi chỉ tiêu trên bảng hỏi

- Sử dụng phần mềm Excel để thống kê, so sánh

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

Chương 2: Thực trạng thi hành pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai qua thực tiễn trên địa bàn thành phố Đà

Nẵng

Trang 20

14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI

1.1 Quan niệm về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

1.1.1 Khái niệm khiếu nại, khiếu nại về đất đai

Trong khoa học pháp lý tại Việt Nam, kể từ khi Hiến pháp 1959 ra đời, bản Hiến pháp này đã công nhận rằng “Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân” và là một trong những cách thức để công dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội Nếu giải quyết tốt các khiếu nại sẽ góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế, xây dựng

và phát triển đất nước

- Quan điểm về khái niệm khiếu nại

Khiếu nại là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội, khiếu nại theo gốc tiếng Latinh: "Complant", nghĩa là sự phàn nàn, phản ứng, bất bình của người nào đó về vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình

[33, tr 205]

Theo sách “3450 thuật ngữ pháp lý phổ thông”: “khiếu nại là việc yêu

cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc người có chức vụ giải quyết việc

vi phạm các quyền hoặc lợi ích hợp pháp của bản thân người khiếu nại hay người khác [7, tr.29]

Theo Từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý làm chủ biên: "Khiếu nại

là thắc mắc, đề nghị xem xét lại những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm, đã chuẩn y [37, tr.904]

Như vậy, cách hiểu của các tác giả cuốn Từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý chủ biên có sự khác biệt so với Nguyễn Ngọc Điệp khi cho rằng Phạm vi của các vấn đề cần khiếu nại không chỉ là những hành vi xâm

Trang 21

15

phạm tới quyền lợi hợp pháp của các chủ thể Nguyễn Như Ý coi Khiếu nại còn có thể tiến hành với các hành vi chưa xác định được sự xâm phạm, hoặc các hành vi bất hợp lý hay các hành vi không có căn cứ để cho rằng nó sẽ đạt được hiệu quả cao của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, người có chức vụ công Theo tôi, tôi đồng tình với cách hiểu của nhóm tác giả Nguyễn Như Ý bởi một hành vi khi chưa có phán quyết của Tòa án thì đôi lúc khó có thể xác định liệu nó có vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác không Mặc dù ở trong hệ thống pháp luật của nước ta, nguyên tắc “suy đoán” vẫn còn được sử dụng phổ biến, mặc nhiên coi các hành vi là vi phạm dựa trên cảm quan của các chủ thể ngoài Tòa án

Có một cách hiểu khác cho rằng : “Khiếu nại là hiện tượng phát sinh

trong đời sống xã hội; đó là sự phản ứng có tính tự nhiên của một người đối với hành vi của người khác khi họ cho rằng hành vi đó không phù hợp với các quy tắc, chuẩn mực trong đời sống cộng đồng, xâm phạm đến các quyền và lợi ích của mình.” Tuy nhiên cách hiểu này theo tôi không thực sự xác đáng,

bởi khiếu nại là việc đề đạt ý nguyện của mình tới chủ thể đã đưa ra các quyết định, và các chủ thể đó thường là chủ thể có quyền lực chi phối một số lĩnh vực liên quan tới những điều mà chúng ta cảm thấy bất cập

Dưới góc độ chính trị - pháp lý, có một cách hiểu rằng “khiếu nại là

một quyền tự do, dân chủ quan trọng của công dân được pháp luật quy định

và đảm bảo thực hiện bởi bộ máy nhà nước Quyền khiếu nại được coi là

“quyền để bảo vệ quyền”, là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi bị hành vi của người khác xâm phạm.”.Cách định nghĩa này

không đưa ra một nội hàm mô tả về khiếu nại mà chỉ đưa ra các vai trò của khiếu nại mà thôi

Nhìn lại lịch sử lập pháp của Việt Nam, thuật ngữ "khiếu nại" được

sử dụng lần đầu tiên trong văn bản chính thức của Nhà nước Việt Nam là kể

từ khi có Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra đặc

Trang 22

16

biệt Điều II Sắc lệnh qui định: "Ban Thanh tra đặc biệt có toàn quyền: Nhận

các đơn khiếu nại của nhân dân " Tinh thần và nội dung của bản Sắc lệnh

cho thấy khiếu nại ở đây là chỉ sự khiếu nại của nhân dân đối với chính quyền

mà hiện nay chúng ta quan niệm đó chính là khiếu nại đối với hoạt động của

bộ máy nhà nước và công chức nhà nước mà trước hết là các CQHCNN Tại

Điều I, Chính phủ (1945), Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11 về thành lập Ban

Thanh tra đặc biệt, Hà Nội, sắc lệnh cũng đã xác định: "Chính phủ sẽ lập

ngay một Ban Thanh tra đặc biệt, có ủy nhiệm làđi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ"

Năm 2000, Thanh tra Nhà nước nhận định về khiếu nại, tố cáo, khái niệm "khiếu nại" được hiểu rộng hơn, theo đó,khiếu nại theo nghĩa chung nhất

là việc cá nhân hay tổ chức đề nghị cá nhân, tổ chức hay cơ quan nào đó xem xét, sửa chữa lại một việc làm mà họ cho là không đúng đắn, gây thiệt hại hoặc sẽ gây thiệt hại đến quyền, lợi ích chính đáng của họ và đòi bồi thường thiệt hại do việc làm không đúng gây ra

Theo quy định tại Điều 2, Khoản 1 của Luật khiếu nại năm 2011:“Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” Định nghĩa này cho rằng Khiếu nại chỉ có thể nhắm đối các chủ thể ra quyết định là người , cơ quan thuộc Nhà nước Tuy nhiên trên thực tế, bất cứ cá nhân tổ chức nào có quyền lực tác động đến các quyền lợi của chủ thể khác đều có thể nhận được sự phản hồi thông qua hình thức khiếu nại Do đó về mặt khoa học pháp lý, việc gói gọn nghĩa của thuật ngữ

Trang 23

17

Khiếu nại như định nghĩa này là không thực sự xác đáng Nên đặt lại thành thuật ngữ “Khiếu nại hành chính” sẽ hợp lý hơn

- Thuật ngữ “Khiếu nại về đất đai”

Trong giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội- Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2009, ThS Nguyễn Thị Dung đã kế thừa hai cách hiểu của nhóm Nguyễn Như Ý và Nguyễn Ngọc Điệp, cùng với định nghĩa về Khiếu nại trong Luật Khiếu nại,tố cáo năm 1998 để cho ra khái niệm

về “Khiếu nại về đất đai” như sau : “Khiếu nại về đất đai là việc các cơ quan,

tổ chức, công dân đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét lại các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính trong quản lý đất đai khi có căn cứ cho rằng các quyết định, hành vi đó là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình” Định nghĩa này về cơ bản là chấp nhận được, tuy nhiên

vẫn chưa đi đúng tinh thần của thuật ngữ Khiếu nại.Bản chất của việc khiếu nại là đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét lại các quyết định không hợp

lý, không hợp pháp tránh ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của người dân

Do đó khiếu nại không chỉ giải quyết mỗi vấn đề của chủ thể khiếu nại, mà có thể của các chủ thể khác Một người công dân thì hoàn toàn có thể đề nghị các

cơ quan quản lý xem xét lại một hành vi ảnh hưởng tới quyền lợi của nhà nước hoặc công dân, tổ chức khác Như vậy mới là cái đích hướng tới của một

xã hội tốt, và luật pháp cũng phải quy định mở hơn như vậy

Qua các nghiên cứu bên trên, học viên một phần đồng ý với cách định nghĩa của các nhà khoa học đi trước,đồng thời học viên cũng xin đưa ra định

nghĩa về “Khiếu nại về đất đai” như sau “Khiếu nại về đất đai là một hình

thức của khiếu nại hành chính, là việc các chủ thể đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân xem xét lại các quyết định, hành vi đã làm, đã chuẩn y trong quản lý đất đai khi có căn cứ cho rằng các quyết định, hành vi đó xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của mình và chủ thể khác.”

Trang 24

18

1.1.2 Khái niệm tố cáo và tố cáo về đất đai

Tố cáo là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội Tố cáo được quan niệm khác nhau tùy theo mức đô, phạm vi, đối tượng tố cáo

Theo nghĩa chung nhất, tố cáo là “vạch rõ tội lỗi của kẻ khác trước cơ quan

pháp luật hoặc trước dư luận” [37, tr.1663] Theo học viên, định nghĩa như

trên là quá hẹp bởi quá khó để thực hiện việc tố cáo nếu hiểu như trên.Trong thực tế đời sống, không phải ai cũng có thể “vạch rõ tội lỗi của kẻ khác” được.Muốn vạch rõ tội lỗi của người khác thì phải có trình độ và hiểu biết về chứng minh, chứng cứ cùng với các nghiệp vụ điều tra Và thường thì nhiệm

vụ “vạch rõ tội lỗi” này ta có thể thấy ở Viện kiểm sát hoặc Cơ quan Công an, những cơ quan chuyên trách

Có một cách hiểu khác về tố cáo như sau “Tố cáo là quyền của công

dân phát hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các quyết định, hành vi trái pháp luật của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích của công dân nói chung, kể cả không gây thiệt hại trực tiếp cho công dân thực hiện việc tố cáo.” Theo học viên, định nghĩa này cũng sát với định nghĩa về

“Tố cáo” trong Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998.Tương tư với cách hiểu trên, các nhà làm luật đã định nghĩa Tố cáo theo quy định tại Điều 2, khoản 1 Luật

Tố cáo năm 2011 như sau : “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này

quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc

đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.” Như vậy, cách hiểu như này về cơ bản sẽ dễ cho các

chủ thể thực hiện quyền tố cáo của mình, tuy nhiên về mặt học thuật thì hơi

“thừa chữ”.Nên chăng bỏ đi cụm từ “theo thủ tục do Luật này quy định” và lập ra một điều khoản khác thì sẽ đảm bảo về nghĩa Tiếng Việt của từ “Tố

Trang 25

19

cáo”.Học viên có ý kiến như vậy bởi lẽ“Tố cáo” là hiện tượng có tuần suất rất thường ngày và đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử, không phụ thuộc vào sự tồn tại củacác thủ tục trong Luật nên việc định nghĩa Tố cáo không nhất thiết phải cho thêm cụm từ như vậy

Mặt khác, về bản chất củaTố cáo là việc các chủ thể báo cho cơ quan chức năng biết về một hành vi có thể gây thiệt hại tới các quyền lợi hợp pháp của mình và các chủ thể khác Do đó, tố cáo có thể góp phần ngăn chặn các hậu quả

có thể xảy ra, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ Phạm vi của tố cáo nên được khuyến khích và mở rộng, bởi việc đưa các hành vi xấu ra trước pháp luật trước tiên sẽ giúp các chủ thể bị xâm hại quyền lợi lấy lại được những gì mình đã bị mất, đồng thời trừng trị những chủ thể gây ra những hậu quả đó, là nền tảng để xây dựng một xã hội tốt đẹp và công bằng

Dựa vào những phân tích trên, học viên xin đưa ra định nghĩa “Tố

cáo về đất đai” như sau: “Tố cáo về đất đai là việc công dân báo cho cơ

quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp

của công dân, cơ quan, tổ chức”

1.1.3 Khái niệm về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

- Giải quyết khiếu nại

Theo quy định của Luật khiếu nại năm 2011, tại Điều 2, Khoản 11 thì

GQKNTC là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định GQKN

Như vậy, Giải quyết khiếu nại đơn giản được hiểu là quá trình xem xét, đánh giá đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật có đúng pháp luật hay không, từ đó đưa ra các giải pháp xử lý phù hợp

- Các điểm chung về GQKN

Trang 26

20

Một là: GQKNTC phải đúng thẩm quyền Khiếu nại cấp dưới do cơ

quan cấp trên giải quyết và đến một cấp nhất định thì chấm dứt việc giải quyết, nếu người khiếu nại không đồng ý thì vụ việc được đưa ra tòa án để giải quyết GQKN, bao gồm GQKNTC lần đầu và GQKNTC lần hai Đây là điểm khác biệt

so với giải quyết tố cáo Giải quyết tố cáođược phân theo luồng, đồng thời không

có điểm dừng, trường hợp giải quyết không đúng, người dân tố cáo tiếp thì cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm xem xét, giải quyết tiếp

Hai là: Thủ tục giải quyết khiếu nại phải tuân thủ quy trình chặt chẽ

Kết thúc GQKNTC được thực hiện bởi quyết định hành chính Trong khi kết thúc giải quyết tố cáo lại được thực hiện bằng quyết định xử lý tố cáo, với việc giải quyết từng vấn đề cụ thể liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan

Ba là: Về lộ trình giải quyết một khiếu nại có khi được giải quyết

bằng cơ quan hành chính và cơ quan tài phán, trong khi đó với một tố cáo, nếu sau khi xác định thuộc thẩm quyền của loại cơ quan nào đó thì chỉ do cơ quan đó xem xét giải quyết

- Giải quyết tố cáo

Theo quy định của Luật Tố cáo năm 2011, tại Điều 2, Khoản 7 thì

GQTC là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc xử lý tố

cáo của người giải quyết tố cáo

Giải quyết tố cáo được hiểu là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo; xác minh, kết luận nội dung tố cáo; xử

lý tố cáo của người giải quyết tố cáo và công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo

- Các điểm chung về GQTC

+ Thứ nhất, giải quyết tố cáo là hoạt động mang tính quyền lực nhà

nước Giải quyết tố cáo là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việc giải quyết tố cáo được thực hiện theo những thủ tục nhất định tùy vào tính chất,

Trang 27

21

mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm Những hành vi vi phạm ở mức độ nhẹ thì bị xử lý bằng biện pháp hành chính và sẽ do cơ quan hành chính nhà nước tiến hành, còn những hành vi vi phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự do các cơ quan tố tụng tiến

hành theo trình tự, thủ tục được pháp luật về tố tụng quy định

+ Thứ hai, giải quyết tố cáo là hoạt động phải tuân theo những hình

thức và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định Trình tự, thủ tục về giải quyết

tố cáo của công dân là nhân tố đảm bảo cho sự hoạt động chặt chẽ, chính xác thẩm quyền giải quyết tố cáo của cơ quan hành chính nhà nước

+ Thứ ba, giải quyết tố cáo là hoạt động mang tính phối hợp giữa cơ

quan hành chính với cơ quan, tổ chức khác Đố là mối quan hệ giữa cơ quan hành chính với cơ quan tư pháp (cơ quan thanh tra với cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án); giữa cơ quan hành chính với cơ quan tổ chức khác (ủy ban kiểm tra Đảng, các tổ chức đoàn thể) nhất là việc giải quyết tố cáo đối với cán

bộ, công chức nói chung, nhất là cán bộ, công chức là Đảng viên hoặc thành viên các tổ chức chính trị - xã hội khác

- Giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai

+ Giải quyết khiếu nại về đất đai là một dạng giải quyết khiếu nại hành chính và cũng giống với giải quyết khiếu nại, nó được hiểu là quá trình

cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, đánh giá đối với quyết định hành chính, hành vi hành chínhtrong lĩnh vực quản lý đất đai có đúng pháp luật hay không, từ đó đưa ra các giải pháp xử lý phù hợp

Như vậy, GQKNTC về đất đai bao gồm các công việc: Xác minh để làm rõ các tình tiết sự việc; kết luận về nội dung khiếu nại, trong đó xác định

rõ khiếu nại của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ; căn cứ vào quy định của pháp luật xử lý từng vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại từ đó quyết định giữ nguyên, sửa đổi hoặc hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính bị khiếu nại, chấm dứt quyết định hành

Trang 28

22

chính bị khiếu nại; quyết định việc bồi thường thiệt hại cho người khiếu nại (nếu có) hoặc giải quyết các vấn đề cụ thể khác trong nội dung khiếu nại liên quan đến đất đai

Yêu cầu của việc GQKNTC về đất đai là phải tuân theo đúng quy định của pháp luật; tức là phải đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết; trong

đó việc xác định đúng cơ quan có thẩm quyền là vấn đề rất quan trọng

+ Giải quyết tố cáo về đất đai là một dạng giải quyết tố cáo, nó được hiểu là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận, xử lý thông tin

tố cáo về đất đai; xác minh, kết luận nội dung tố cáo; xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo và công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành

vi vi phạm bị tố cáo trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai

- Đặc điểm của GQKNTC về đất đai

Thứ nhất, GQKNTC về đất đai phải bảo đảm nguyên tắc đất đai thuộc

sở hữu toàn dân cho Nhà nước thống nhất quản lý Kiên quyết bảo vệ những thành quả cách mạng về ruộng đất, đồng thời khắc phục kịp thời đúng pháp luật những trường hợp đã xử lý sai trái hoặc xử lý không đúng

Thứ hai, cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo phải nắm

vững quan điểm lấy dân làm gốc, phải dựa vào dân, bàn bạc dân chủ công khai quỹ đất với dân để giải quyết và phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ trong nội

bộ nhân dân để giúp nhân dân tìm ra giải pháp, không gò ép mệnh lệnh Đề cao vai trò của các tổ chức, đoàn thể để hòa giải các vụ khiếu nại có hiệu quả

Thứ ba, GQKNTC về đất đai nhằm mục đích phát triển sản xuất, ổn

định và từng bước cải thiện đời sống, nhân dân

Thứ tư, GQKNTC về đất đai một mặt phải tuân thủ quy định của Luật

khiếu nại, Luật tố cáo mặt khác phải tuân thủ quy định của Luật đất đai Đây là điểm đặc biệt trong GQKNTC đất đai so với GQKNTC hành chính nói chung Theo quy định của pháp luật và qua thực tiễn GQKNTC về đất đai cho thấy, các

Trang 29

23

cơ quan có thẩm quyền thường phải GQKNTC về: Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất và các hành vi có liên quan đến việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai

Thứ năm, GQKNTC về đất đai được quy định theo phân cấp quản lý,

bao gồm từ cấp huyện lên cấp tỉnh; bên cạnh đó người dân còn có thể khởi kiện ra tòa án mà không cần phải chờ GQKNTC lần hai (đối với khiếu nại) hoặc tố cáo tiếp (đối với tố cáo)

1.2 Thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

1.2.1 Khái niệm về thi hành pháp luật

Theo Lê Việt Tuấn “Thi hành pháp luật là một trong những hình thức

thực hiện pháp luật, là việc các chủ thể thực hiện nghĩa vụ của mình bằng những hành động tích cực Nói cách khác, thi hành pháp luật là việc chủ thể bằng hành vi tích cực của mình thực hiện điều pháp luật yêu cầu; hành vi thi hành pháp luật được thực hiện dưới dạng hành động.” [38]

Đây là hình thức thực hiện nghĩa vụ pháp lý bao gồm nghĩa vụ cơ bản của công dân, các nghĩa vụ của chủ thể hợp đồng, trách nhiệm của các công chức vàcác cơ quan công quyền trước công dân hoặc đối với các cơ quan cấp trên Như vậy, nếu như sử dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật gắn với quyền của chủ thể thì hình thức thực hiện pháp luật này gắn với nghĩa vụ của chủ thể Do vậy, tính bắt buộc và tính đầy đủ là những yếu tố đặc trưng của thi hành pháp luật Đồng thời, việc không thực hiện các quy định của pháp luật trong những trường hợp này dẫn đến hậu quả pháp lý nhất định đối với chủ thể Chẳng hạn, không thực hiện nghĩa vụ quân sự quy định có thể là cơ sở của trách nhiệm hình sự quy định tại Bộ luật Hình sự Không thực hiện nghĩa vụ giao hàng đúng hạn sẽ dẫn đến trách nhiệm của bên bán phải bồi thường thiệt hại cho bên mua

Trang 30

24

Thi hành pháp luật còn bao hàm cả trách nhiệm không làm những gì luật đã cấm Các quy định về cấm thực hiện những hành vi nhất định có mục đích ngăn ngừa những hành vi có khả năng gây nguy hại cho lợi ích của con người và đối với trật tự xã hội hiện hành Ở nghĩa đó, pháp luật được chấp hành, được tuân thủ đồng nghĩa với pháp luật được thực hiện vì các quy định của nó không có sự vi phạm

Trong thực tiễn thực hiện pháp luật, hình thức thi hành, chấp hành, tuân theo pháp luật như vậy ít được coi là một hình thức thực hiện pháp luật vì không gắn cụ thể với các chủ thể nào cả, còn pháp luật, trong trường hợp này, nghiễm nhiên được chấp hành, được tuân thủ vì không có vi phạm Tuy nhiên, để có được những hành vi tuân theo pháp luật trên những địa bàn và trong những thời gian nhất định lại là điều không đơn giản Đó phải là kết quả của một loạt các yếu tố thuộc về nỗ lực của Nhà nước, xã hội và công dân nhằm tăng các hành vi tôn trọng, tuân thủ pháp luật và làm giảm các hành vi tiêu cực, vi phạm và tội phạm Không vi phạm pháp luật, một loại bất hành vi, phải được coi là hành vi pháp luật quan trọng và chủ đạo trong đời sống xã hội, trong việc hình thành và củng cố lối sống tuân theo pháp luật và văn hóa pháp lý ở nước ta

1.2.2.Thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

Dựa trên khái niệm về thi hành pháp luật, ta có thể đưa ra định nghĩa như sau:

Thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai là việc các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc xem xét, đánh giá, xử lý đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai của mình hoặc các chủ thể khác

Bản chất của thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

là việc các cơ quan thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc GQKNTC về đất đai Nó bao gồm các bước sau :

Trang 31

25

- Tiếp nhận khiếu nại, tố cáo

Đây là bước đầu tiên để đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo của công dân.Các cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo có nghĩa vụ phải nhận đơn KNTC từ các chủ thể rồi sau đó tiến hành các thủ tục giải quyết

- Áp dụng pháp luật hoặc các biện pháp nghiệp vụ để giải quyết khiếu nại, tố cáo

Sau khi nhận đơn khiếu nại, tố cáo Các cơ quan có thẩm quyền xử lý

sẽ phải xem xét, đánh giá tính hợp lý, hợp pháp về nội dung của đơn; xác minh các tình tiết sự việc; áp dụng pháp luật để cho ra quyết định hành chính

về kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo

Ta có thể thấy trong quá trình thi hành pháp luật, nghĩa vụ của chủ thể giải quyết khiếu nại có thể bao gồm việc áp dụng pháp luật Điều này không làm mất tính logic giữa hai khái niệm “Thi hành pháp luật” và “Áp dụng pháp luật” trong lĩnh vực Lý luận chung Một ví dụ khác sau đây sẽ làm rõ hơn luận điểm của học viên:

- Để giải quyết khiếu nại của ông An về quyết định thu hồi quyền sử dụng đất của UBND đối với mảnh đất ông đang sinh sống, UBND sẽ xem xét lại toàn bộ trình tự áp dụng pháp luật của mình Nếu phát hiện thấy sai sót, UBND sẽ phải thực hiện quy trình áp dụng pháp luật lại để ra quyết định khác chính xác hơn

- Ra quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo

Sau khi đã tìm ra phương hướng, cách thức hợp lý, hợp pháp để xử lý các khiếu nại, tố cáo , các cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo sẽ phải công bố cách giải quyết khiếu nại, tố cáo bằng một quyết định hành chính

Ngoài các bước trên, cơ quan giải quyết khiếu nại, tố cáo còn phải thực hiện một số thủ tục phụ khác Do không muốn lan man sang vấn đề khác nên học viên xin phép không bàn tiếp

Trang 32

Chủ thể thi hành pháp luật là những chủ thể phải thực hiện các nghĩa

vụ theo pháp luật Nghĩa vụ theo pháp luật có thể là những nghĩa vụ được quy định trực tiếp trong các văn bản quy phạm pháp luật, hoặc trong phán quyết của Tòa án, hoặc trong những quyết định có hiệu lực … mà chủ thể đó có nhiệm vụ phải thi hành

Đối tượng của thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai chính là các quyết định, hành vi bị các chủ thể khác khiếu nại, tố cáo Thông thường là các quyết định, hành vi hành chính liên quan tới quản lý và

sử dụng đất đai

Ví dụ : Ông A vi phạm luật giao thông, ông A bị cảnh sát giao thông

xử phạt tiền Tuy nhiên ông A cho rằng quyết định xử phạt đó là không đúng nên ông A khiếu nại Đối tượng thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại lúc này là hành vi xử phạt

Thứ nhất, Chủ thể thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

Đó là những cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận khiếu nại, tố cáo về đất đai Tùy theo mỗi nhà nước, sự phân công về các cơ quan giải quyết khiếu nại, tố cáo sẽ khác nhau Ở Việt Nam, theo luật hiện hành thì chủ thể thi hành pháp luật gồm:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp; Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương; Giám đốc sở và cấp tương đương; Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ, thuộc cơ quan ngang bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ; Bộ trưởng; Tổng thanh tra Chính phủ; Chánh thanh tra các cấp; Thủ tướng Chính phủ

Trang 33

27

Thứ hai, Đối tượng của thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo

về đất đai

Đối với giải quyết khiếu nại về đất đai, đối tượng thi hành pháp luật là

các quyết định, hành vi đã làm, đã chuẩn y trong quản lý đất đai Nó có thể là

Ba là, Các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Bốn là, Các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Năm là, Các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất

Sáu là, Các quyết định hành chính, hành vi hành chính về đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Bảy là, Các quyết định hành chính, hành vi hành chính về thống kê, kiểm

kê đất đai

Tám là, Quy trình xây dựng hệ thống thông tin đất đai

Chín là, Các quyết định hành chính, hành vi hành chính về tài chính về đất đai và giá đất

Mười là, Các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Trang 34

28

Mười một là, Các quyết định hành chính, hành vi hành chính về thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

Mười hai là, Các quyết định hành chính, hành vi hành chính về giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai

Mười ba là, Các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.”

Đối với giải quyết tố cáo về đất đai, đối tượng thi hành pháp luật có

phạm vi thậm chí còn rộng hơn rất nhiều Trong Luật tố cáo năm 2011, đối tượng của tố cáo chỉ là các hành vi công vụ của người được giao bởi các cơ quan đơn vị công lập, hoặc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội Như vậy, tuy rộng nhưng theo học viên là vẫn còn hạn hẹp Bởi nếu chỉ quy định như trong luật, vậy hành vi của các chủ thể khác đối với đất đai như dưới đây sẽ không thể bị tố cáo ?

Một là, Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính

về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;

Hai là, Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

Ba là, Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

Bốn là, Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;

Năm là, Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm; Sáu là, Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

Bảy là, Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước

và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;

Trang 35

29

Tám là, Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn

12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn

18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục;

Giải quyết để mọi khiếu nại, tố cáo của người dân không bị kéo dài là việc làm cần thiết và có ý nghĩa

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến thi hành pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

Về cơ bản, những yếu tố ảnh hưởng tới thi hành pháp luật trong giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai phần nhiều giống với các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện pháp luật nói chung Cụ thể ở các yếu tố sau :

- Thứ nhất,các quy định của pháp luật

Nếu pháp luật quy định đầy đủ, thống nhất và gắn với thực tiễn thì việc thi hành pháp luật trong GQKNTC sẽ được hiệu quả Ngược lại, nếu pháp luật

về GQKNTC không chứa đựng đủ các quy phạm về nội dung, thủ tục, thậm chí mâu thuẫn, chồng chéo thì việc áp dụng pháp luật để GQKNTC sẽ khó khăn, đồng thời việc thi hành pháp luật cũng sẽ bị đình trệ, thiếu chính xác

-Thứ hai, trình độ của chủ thể thi hành pháp luật

Để thực hiện pháp luật một cách đúng đắn, đòi hỏi các chủ thể tham gia phải có trình độ hiểu biết và ý thức tốt Yếu tố con người trong triết học luôn là yếu tố mấu chốt cho mọi hoạt động của xã hội Gắn liền với với nó, sự hiểu biết và trình độ của con người là thứ không thể tách rời Thi hành pháp luật là việc thực hiện nghĩa vụ của các chủ thể một cách tích cực, do đó yếu tố đầu tiên để các chủ thể thực hiện đúng là việc hiểu rõ những nghĩa vụ đó là gì, cách thức thực hiện ra sao, ý thức thực hiện phải như thế nào Do đó, trình độ của chủ thể thi hành phải đủ điều kiện cần thiết thì việc thi hành pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai mới được đảm bảo công bằng, đúng luật

Trang 36

30

- Ý thức của chủ thể thi hành pháp luật

Bên cạnh những yếu tố về trình độ, nhận thức, yếu tố ý thức cũng là vấn đề then chốt để đảm bảo việc thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai Con người bản chất luôn dễ bị cám dỗ nếu như không có ý thức tốt Trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai Việc các chủ thể bị tố cáo, khiếu nại tác động bằng tiền và các loại tài sản tới các chủ thể giải quyết là chuyện không hiếm Do đó kết quả giải quyết tố cáo, khiếu nại sẽ không đảm bảo sự thật khách quan, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác không được bảo vệ Chính vì vậy, yếu tố ý thức trong các chủ thể thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai rất cần sự quy định chặt chẽ hơn của Luật

Tóm lại, giải quyết khiếu nại tố cáo trong lĩnh vực đất đai có ý nghĩa quan trọng để ổn định tình hình trật tự ở địa phương Giải quyết tốt khiếu nại,

tố cáo trong lĩnh vực đất đai sẽ làm ổn định tình hình địa bàn nơi có xung đột, mâu thuẫn Giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo về đất đai sẽ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với đất đai

Trang 37

31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT TRONG GIẢI

QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành

2.1.1 Các quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại về đất đai từ năm

2004 tới nay

Khi đánh giá trực trạng pháp luật về giải quyết khiếu nại, khiếu nại về đất đai, chúng ta cần phải căn cứ vào các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong các văn bản hiện hành Cụ thể là tại điều 204 Luật Đất đai năm

2013 có quy định về giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai như sau:

Thứ nhất, người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai

Thứ hai, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính

Khi đánh giá trực trạng pháp luật về giải quyết tố cáo về đất đai, chúng

ta cần phải căn cứ vào các quy phạm pháp luật diều chỉnh các quan hệ pháp

luật trong các văn bản hiện hành Cụ thể là tại điều 205 Luật đất đai năm 2013

giải quyết tố cáo về đất đai về đất đai như sau:

Thứ nhất, cá nhân có quyền tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai

Thứ hai, việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo

- Quy định về đối tượng của Khiếu nại về đất đai

Trang 38

32

Theo quy định của pháp luậttrước đây, công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai khi có căn cứ cho rằng các quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm trực tiếp đến quyền

và lợi ích hợp pháp của mình Các quyết định hành chính, hành vi hành chính

bị khiếu nại (Điều 162 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm

2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai), bao gồm:

“* Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;

* Quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư ́

* Cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất;

* Quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất;

* Hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại là hành vi của cán bộ, công chức nhà nước khi giải quyết công việc thuộc phạm vi quy định như đã nêu ở trên.”

Theo học viên, quy định như vậy là quá hạn hẹp, không đủ để công dân và các chủ thể khác có thể thực hiện đầy đủ quyền khiếu nại của mình Vốn dĩ trong quản lý nhà nước về đất đai, có rất nhiều các quyết định hành chính, hành vi hành chính có khả năng tác động rất lớn tới quyền lợi của các chủ thể bởi các quyết định làm thay đổi các vật quyền liên quan tới đất- tài sản có giá trị lớn Ví dụ: Trong quy trình khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất Việc đo đạc nhầm lẫn sẽ dẫn tới sai lệch

về tổng diện tích của toàn bộ vùng, do đó khi thực hiện giải tỏa, đền bù cho tổng diện tích đất của toàn bộ hộ dân thực tế tại vùng đó sẽ dẫn tới chênh lệch, ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của Nhà nước và các hộ dân Vì vậy,

Trang 39

“Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức

theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.”

Theo tinh thần của điều luật trên, dựa vào quy định về quyền và nghĩa

vụ của Nhà nước đối với đất đai, ta có thể thấy rằng đối tượng của khiếu nại

về đất đai sẽ bao gồm mọi quyết định, hành vi hành chính của các chủ thể thuộc nhà nước trong lĩnh vực liên quan tới đất đai khi có căn cứ cho rằng các quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích của mình theo liệt kê sau đây :

- Quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất

- Quyết định mục đích sử dụng đất

- Quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất

- Quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất

- Quyết định giá đất

- Quyết định trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất

- Quyết định chính sách tài chính về đất đai

- Quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.”

Cụ thể, trong các quy trình thực hiện nghiệp vụ hành chính về đất đai, đối tượng của khiếu nại về đất đai còn có thể là :

Trang 40

34

- Quy trình xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa

giới hành chính, lập bản đồ hành chính

- Quy trình khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng

sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất

- Các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý quy

hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý việc giao

đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất

- Các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý việc bồi

thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất

- Các quyết định hành chính, hành vi hành chính về đăng ký đất đai, lập

và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

- Các quyết định hành chính, hành vi hành chính về thống kê, kiểm kê

đất đai

- Quy trình xây dựng hệ thống thông tin đất đai

- Các quyết định hành chính, hành vi hành chính về tài chính về đất

đai và giá đất

- Các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý, giám sát

việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

- Các quyết định hành chính, hành vi hành chính về thanh tra, kiểm

tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

- Các quyết định hành chính, hành vi hành chính về giải quyết tranh

chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai

Ngày đăng: 09/05/2016, 17:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w