1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách và những khuyến nghị về quản lý hành chính đối với lao động nước ngoài trên cơ sở xây dựng năng lực cho lao động trong nước (TT)

14 217 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 157,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự hiện diện của người lao động nước ngoài tại Việt Nam đang tham gia vào lĩnh vực chuyên môn như công nghiệp, dịch vụ, thương mại, xây dựng, lắp ráp, công nghệ thông tin, giáo dục… Trên

Trang 1

TÓM TẮT LUẬN ÁN CỦA NCS NGUYỄN THỊ TUYẾT VÂN

LỜI NÓI ĐẦU

Quản lý hành chính đối với lao động nước ngoài tại Việt Nam không phải là chủ

đề mới nhưng nó vẫn tạo sự chú ý của nhiều người Quản lý hành chính đối với lao động nước ngoài như thế nào để có hiệu quả, đồng thời tăng cường năng lực của lao động trong nước là chủ đề mà tác giả luận án quan tâm Trong luận án này, tác giả phân tích tình trạng quản lý hành chính pháp lý lao động nước ngoài, thực tế sử dụng lao động nước ngoài, và tác giả cũng khảo sát để tìm hiểu thêm về những bất cập của chính sách, pháp luật để kiến nghị phù hợp Cụ thể, trong luận án, tác giả đã đưa ra dữ liệu của lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và phân tích của pháp luật hiện hành về hợp đồng lao động cho lao động nước ngoài, điều kiện làm việc sử dụng, quy trình tuyển dụng, an toàn lao động, bồi thường cho người lao động nước ngoài Vì vậy, các chính sách và quy định về quản lý lao động nước ngoài về cơ bản được nhìn nhận sâu hơn, rộng hơn Nếu các quy định quản lý lao động nước ngoài phù hợp, chặt chẽ sẽ nâng cao năng lực cho lao động trong nước

Vì vậy, “Chính sách và những khuyến nghị về quản lý hành chính đối với lao

động nước ngoài: Trên cơ sở xây dựng năng lực cho lao động trong nước” được lựa chọn làm đề tài luận án

Cơ cấu của luận án gồm 5 chương

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU

1.1 TỔNG QUAN CỦA NGHIÊN CỨU

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày nay, lao động từ nước này di chuyển sang nước khác để làm việc là điều tất yếu Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới, việc tiếp nhận lao động nước ngoài làm việc trong đất nước Việt Nam là không thể tránh khỏi Cùng với các chính sách mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và

sự phát triển kinh tế trong nước, người nước ngoài vào Việt Nam làm việc cho các doanh nghiệp và các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế ngày càng gia tăng Trong thực tế, nhiều người sử dụng lao động có nhu cầu tuyển dụng lao động nước ngoài, đó

là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và các nhà thầu là tổ chức kinh tế hoặc các nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam, các tổ chức và các dịch vụ kinh doanh thuộc các

cơ quan hành chính nhà nước, lực lượng vũ trang, văn phòng hội chi nhánh công ty nước ngoài và văn phòng đại diện của tổ chức kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao, giáo dục, y tế, các đơn vị kinh doanh của văn phòng dự án nhà nước của nước ngoài hoặc quốc tế tại Việt Nam, nước

Trang 2

ngoài công ty luật được phép hoạt động tại Việt Nam và hợp tác xã Sự hiện diện của người lao động nước ngoài tại Việt Nam đang tham gia vào lĩnh vực chuyên môn như công nghiệp, dịch vụ, thương mại, xây dựng, lắp ráp, công nghệ thông tin, giáo dục…

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng chính sách, quy định của luật pháp về quản lý hành chính đối với lao động nước ngoài, Luận án đưa ra một số khuyến nghị về chính sách, quy định về quản lý hành chính đối với lao động nước ngoài: trên cơ sở xây dựng năng lực cho lao động trong nước

Luận án đã xây dựng Dự thảo Luật người lao động nước ngoài Dự thảo này được xây dựng trên cơ sở những đánh giá đối với hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành về quản lý lao động nước ngoài, năng lực lao động trong nước và điều tra khảo sát của tác giả ở 13 tỉnh/thành phố trên lãnh thổ Việt Nam

1.2 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Để thực hiện nghiên cứu này, tác giả trả lời các câu hỏi sau:

1 Có những chính sách, quy định gì của Việt Nam về quản lý hành chính đối với lao động nước ngoài?

2 Những lý do gì khiến doanh nghiệp thuê lao động nước ngoài?

3 Những chính sách, quy định gì đã hợp lý để quản lý có hiệu quả lao động nước ngoài?

4 Những chính sách, quy định nào chưa hợp lý trong việc quản lý hành chính đối với lao động nước ngoài và những kiến nghị?

1.3 Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này có ý nghĩa đối với các chủ thể sau đây:

- Đối với nhà nước:

Các kết quả của đề tài là cơ sở để nhà nước (các nhà hoạch định chính sách, các

cơ quan quản lý nhà nước về lao động nước ngoài) để xem xét và xem xét việc ban hành chính sách, pháp luật trong tương lai Kể từ đó góp phần vào việc quản lý hành chính hiệu quả của lao động nước ngoài trong các doanh nghiệp và các tổ chức tại Việt Nam

- Đối với người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài:

Việc nghiên cứu của luận án sẽ góp phần hoàn thiện các quyền và nghĩa vụ của hai chủ thể trong quan hệ lao động Đặc biệt, các quyền và nghĩa vụ của người lao động nước ngoài sẽ được hoàn thiện theo hướng hài hòa với lao động trong nước nhằm sử dụng hợp lý nguồn lao động nước ngoài và xây dựng được năng lực cho lao động trong nước

- Đối với các nhà nghiên cứu:

Trang 3

Các kết quả của luận án được sử dụng như tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy quan tâm quản lý hành chính của lao động nước ngoài trong giáo dục đại học nói riêng, sau đại học và sử dụng như nghiên cứu tài liệu hướng dẫn cho nhân viên làm việc trong các cơ quan quản lý hành chính, nó cũng góp phần cung cấp luận cứ tham khảo cho công chức làm việc quản lý nhà nước về lao động nước ngoài

1.4 PHẠM VI VÀ GIỚI HẠN CỦA NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu lý thuyết: Các chính sách, quy định của Việt Nam về quản lý hành chính đối với lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam

- Nghiên cứu khảo sát: 13 tỉnh/thành phố trên lãnh thổ Việt Nam

- Đối tượng khảo sát: Cơ quan lao động; người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài

- Luận án không nghiên cứu: người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; Lao động nước ngoài làm việc bất hợp pháp ở Việt Nam

CHƯƠNG II: CÁC CÔNG TRÌNH VÀ TÀI LIỆU LIÊN QUAN

2.1 CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước có liên quan đến chủ đề của luận án, có thể rút ra một số kết luận vắn tắt như sau:

Lao động nước ngoài được nhận thức rõ ở một số nước, trong đó có Việt Nam Các quốc gia đều có những quy định để quản lý đối với đối tượng này

. Lao động nước ngoài được nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau:

- Lao động di trú trong pháp luật Quốc tế và Việt Nam

- Vấn đề di chuyển thể nhân trong hội nhập kinh tế quốc tế

- Bảo hiểm xã hội cho lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam

- Quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài ở Việt Nam

- Tăng cường quản lý lao động nước ngoài

- Chính sách cho lao động nhập cư

Có thể nhận thấy, vấn đề lao động nước ngoài được quan tâm nghiên cứu trong phạm vi quốc gia và quốc tế

Chưa có nghiên cứu nào chuyên về quản lý hành chính đối với lao động nước ngoài trên cơ sở xây dựng năng lực cho lao động trong nước

Việt Nam là quốc gia có nguồn nhân lực dồi dào, tuy nhiên, một số ngành nghề vẫn cần đến lao động nước ngoài có trình độ chuyên môn mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được Việc quản lý, sử dụng lao động nước ngoài như thế nào để đảm bảo xây dựng được năng lực cho lao động trong nước cần cân nhắc đến những chính sách cụ thể

Trang 4

2.2 KHUNG LÝ THUYẾT

Trong phần này, tác giả trình bày lý thuyết liên quan đến:

- Quản lý hành chính đối với lao động nước ngoài;

- Lao động nước ngoài;

- Người sử dụng lao động;

- Nội dung của quản lý hành chính đối với lao động nước ngoài;

- Những chính sách/ quy định về quản lý hành chính đối với lao động nước ngoài: Tuyển dụng, hợp đồng lao động, bồi thường, thời hạn làm việc, an toàn lao động – vệ sinh lao động

- Những lý do chính dẫn đến Việt Nam phải thuê lao động nước ngoài

- Những kết quả và hạn chế trong quản lý hành chính đối với lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam

2.3 KHUNG KHÁI NIỆM

Từ lý thuyết nêu trên, luận án đề xuất khung khái niệm như sau:

Trang 5

Chính sách/PL

13

tỉnh/thành

phố

Nhà nước:

Chính sách/PL

về LĐNN

NSDLĐ

Lý do thuê lao

động nước

ngoài

NLĐ

Lý do thuê lao

động nước

ngoài

Chính sách/PL

Chính sách/PL

đã hợp lý

Chính sách/PL chưa hợp lý

Tuyển dụng

HĐLĐ

Bồi thường

Thời hạn làm việc

ATLĐ-VSLĐ

Trang 6

CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN THỨ CẤP

Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp được thực hiện như sau:

1 Kiểm tra các bài báo, tạp chí, sách, luận án, đề tài, báo cáo

2 Xem xét mục lục, chọn nội dung

3 Chọn phần chứa đựng thông tin liên quan

4 Tổng hợp thông tin

Method of collecting secondary data is made as follows:

3.3 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN SƠ CẤP

Thông tin sơ cấp được thu thập từ cuộc khảo sát từ 13 tỉnh/thành phố trên lãnh thổ Việt Nam

Kế hoạch khảo sát gồm:

1) Mục đích khảo sát

2) Chủ thể khảo sát

3) Số lượng người cần khảo sát

4) Các chọn mẫu

5) Thiết kế Bảng hỏi

6) Thời gian tiến hành

7) Người tiến hành

8) Tổng hợp và xử lý kết quả

Bảng: Các tỉnh/thành phố thuộc phạm vi khảo sát của luận án

Có ba đối tượng trong nghiên cứu này

Đối tượng đầu tiên là các cán bộ thuộc ngành lao động Đối tượng này được điều tra về các chính sách, quy định hiện hành về quản lý hành chính đối với lao động nước

Trang 7

ngoài và những mong muốn của họ để có những chính sách, quy định hợp lý hơn trong thời gian tới, đặc biệt là mong muốn về việc ban hành Luật về quản lý lao động nước ngoài

Đối tượng thứ hai là các doanh nghiệp có sử dụng lao động nước ngoài Đối tượng này được điều tra về các chính sách, quy định hiện hành về quản lý hành chính đối với lao động nước ngoài thuộc thẩm quyền của họ và mong muốn của họ về những chính sách trong thời gian tới, đặc biệt là mong muốn về việc ban hành Luật về quản lý lao động nước ngoài

Đối tượng thứ ba là người lao động nước ngoài, đối tượng này được thu thập thông tin về những chính sách, quy định hiện hành đối với họ và các đề xuất của họ để cải thiện các thủ tục hành chính liên quan đến lao động nước ngoài, đặc biệt là mong muốn về việc ban hành Luật về quản lý lao động nước ngoài

Với phạm vi và loại nghiên cứu được áp dụng trong luận án này, tác giả chọn quy mô mẫu điều tra như sau

Người lao động nước ngoài

400

Cán bộ ngành lao động

90 Doanh nghiệp có sử dụng lao

Công cụ nghiên cứu

Công cụ nghiên cứu là bảng hỏi Bảng hỏi dành cho các đối tượng tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:

- Đặc điểm chung của lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam

- Những đối tượng lao động nước ngoài cần phải quản lý thông tin

- Những thông tin mà lao động nước ngoài phải đăng ký

- Các hình thức quản lý hành chính đối với lao động nước ngoài

- Những khó khăn đối với doanh nghiệp/tổ chức khi thực hiện các qui định về tuyển dụng lao động nước ngoài

- Hiểu biết của lao động nước ngoài về các chính sách, quy định của Việt Nam đối với họ

Trang 8

- Những kênh thông tin để chuyển tải đến với lao động nước ngoài

- Thời hạn của giấy phép lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc theo hợp đồng lao động

- Ý kiến về việc ban hành Luật về lao động nước ngoài

Quy trình thu thập số liệu

Sau khi hoàn thành tất cả các công việc chuẩn bị (nhận được chấp thuận cuối cùng của SLSU và TNU về đề cương nghiên cứu, sự đồng ý của người hướng dẫn về nội dung bảng hỏi), tác giả luận án gửi các bảng hỏi dành cho cán bộ ngành lao động, doanh nghiệp có sử dụng lao động nước ngoài, lao động nước ngoài

Trên cơ sở các tài liệu thu thập được, tác giả đã lựa chọn các tỉnh/thành phố để khảo sát đảm bảo các yếu tố: có lao động nước ngoài làm việc, vùng lãnh thổ được trải đều cả 3 miền trên lãnh thổ Việt Nam

Bảng hỏi gửi cho các đối tượng khảo sát được chuyển bằng đường bưu điện (chuyển phát nhanh), sau khi các đối tượng khảo sát hoàn thành việc trả lời bảng hỏi cũng gửi lại cho tác giả luận án theo cách thức nói trên

CHƯƠNG IV TRÌNH BÀY, PHÂN TÍCH VÀ GIẢI THÍCH SỐ LIỆU

Trên cơ sở kết quả khảo sát thu được, tác giả trình bày, phân tích và giải thích số liệu tập trung vào các nội dung sau đây:

1 Đối với đối tượng được khảo sát là lao động nước ngoài

- Đặc điểm chung của lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam:

Kết quả khảo sát chỉ ra rằng: đa số lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam là nam (chiếm 78,25%) và ở độ tuổi từ 30 đến 40 là nhiều nhất (45,75%), tiếp đó

là độ tuổi từ 20 đến 30 chiếm 24,25%, độ tuổi từ 50 trở lên chiếm chưa đầy 10% Người

ít tuổi nhất là 22 tuổi và nhiều nhất là 60 tuổi

Về trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động nước ngoài tại Việt Nam cho thấy: 51% người lao động có trình độ dưới đại học, trong đó có 11,25% lao động phổ thông và gần 8% có trình độ sơ cấp Thiết nghĩ rằng Việt Nam không cần thuê lực

Trang 9

lượng không có trình độ chuyên môn vì nguồn lao động Việt Nam không thiếu Việt Nam cần đẩy mạnh đào tạo trung cấp nghề và cao đẳng nghề có chất lượng để thay thế toàn bộ lao động nước ngoài có trình độ dưới đại học đến làm việc tại Việt Nam Lao động có trình độ đại học chiếm tỷ trọng lớn nhất (33,5%) và có trình độ sau đại học chỉ chiếm có 13,25% Trong thời gian tới cần có chính sách để giảm lao động nước ngoài

có trình độ thấp, tăng tỷ trọng lao động có chất lượng cao, tiến tới không cấp phép cho những lao động nước ngoài có trình độ phổ thông và sơ cấp làm việc tại Việt Nam, khuyến khích và tăng cường cường đào tạo lao động nghề chất lượng cao tại Việt Nam

và có chế độ thỏa đáng về thu nhập cho số lao động này

- Những văn bản chủ yếu qui định về lao động nước ngoài:

Kết quả khảo sát cho thấy: 82,5% trong số người được hỏi biết Bộ luật Lao động, trong khi đó các nghị định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt nam thì chỉ có khoảng 40% trong số đó biết Đặc biệt, số người quan tâm đến

dự thảo Nghị định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt nam rất ít, chỉ chiếm có 12,25% Điều này cho thấy không phải người lao động nước ngoài cũng biết đến các văn bản qui định về quyền và nghĩa vụ của

họ ở nước sở tại Thực tế cho thấy có sự khác nhau về sự quan tâm tới các văn bản này với trình độ của người lao động Trình độ của người lao động càng cao thì sự quan tâm

và hiểu biết các văn bản này càng tốt

- Các ý kiến về quản lý hành chính đối với lao động nước ngoài thông qua giấy phép lao động

Trên 51% số người lao động nước ngoài được hỏi cho rằng nên cấp giấy phép lao động đối với tất cả không tính đến thời hạn làm việc Chỉ còn chưa đến 1/2 số người cho rằng chỉ cần cấp giấy phép cho người làm việc từ 3 tháng hay 12 tháng trở lên Theo chúng tôi đây là nguyện vọng chính đáng của người lao động khi mong muốn được cấp giấy phép bất kể thời gian làm việc của họ dài hay ngắn Điều này cũng phù hợp với ý chí của các cơ quan quản lý lao động nước ngoài nhằm quản lý chặt chẽ lao động nước ngoài, hạn chế tới mức thấp nhất lao động nước ngoài làm việc bất hợp pháp

-Các ý kiến về việc có nên ban hành một đạo luật chuyên về lao động nước ngoài

Khi được hỏi về việc có nên ban hành Luật quản lý và sử dụng người lao động nước ngoài không, có tới 91,75% số người lao động nước ngoài được hỏi nói rằng “nên có” chỉ có chưa đầy 8% nói rằng không nên và 0,25% còn phân vân không trả lời Như vậy, kết quả cho thấy hầu hết người lao động nước ngoài mong muốn có luật riêng cho

họ, điều này đặt ra cho cơ quan quản lý lao động nước ngoài của Việt nam suy nghĩ

Trang 10

2 Đối với đối tượng được khảo sát là cán bộ ngành lao động và doanh nghiệp có sử dụng lao động nước ngoài

- 83,03% doanh nghiệp có sử dụng lao động nước ngoài và 86.81% cán bộ ngành lao động được hỏi cho rằng cần phải quản lý tất người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam Chưa đến 20% các ý kiến được hỏi cho rằng chỉ quản lý lao động có trình độ chuyên môn Kết quả như trên là tương đối phù hợp với thực tiễn của Việt Nam hiện nay về tình hình lao động nước ngoài Điều này được lý giải bởi vì chính sách của nhà nước Việt Nam là tuyển dụng lao động nước ngoài có trình độ chuyên môn, kỹ thuật mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được công việc, trên thực tế, lao động phổ thông vẫn vào Việt Nam để làm việc, trong khi đó người lao động Việt Nam vẫn thất nghiệp với con số đáng chú ý là: Thành thị: 3,30%; nông thôn: 1,42%1

- Những thông cần quản lý đối với lao động nước ngoài

Từ 72% đến 95% số người sử dụng lao động nước ngoài và 87.91% đến 97.80% cán bộ ngành lao động được hỏi nói rằng cần quản lý tất cả các thông tin về: Họ tên, ngày sinh, nơi cư trú, số hộ chiếu, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tình trạng việc làm, địa điểm làm việc Ngoài ra một số ý kiến cho rằng cần quản lý thêm một số thông tin như: tình trạng hôn nhân và gia đình, thời gian dự kiến làm việc ở Việt Nam

- Hình thức quản lý đối với lao động nước ngoài

Trong số 4 hình thức quản lý lao động nước ngoài mà tác giả nêu trong bảng hỏi, hình thức thẻ lao động đã có 81.32% ý kiến cán bộ ngành lao động và 70,77% ý kiến của doanh nghiệp đồng tình với việc quản lý lao động nước ngoài bằng hình thức này Như vậy, cùng với đa số ý kiến của người sử dụng nhất trí với quan điểm trên đây, trong thời gian tới, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội của Việt Nam nên xem xét

để đưa các nội dung cần quản lý lao động nước ngoài vào thẻ lao động, coi đây là

“chứng minh thư” của lao động nước ngoài khi làm việc tại Việt Nam

- Những khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải khi thực hiện các thủ tục hành chính để tuyển dụng lao động nước ngoài

Với tỷ lệ trên 50% ý kiến của doanh nghiệp và 63% theo ý kiến của cán bộ ngành lao động nói đến những khó khăn trong thủ tục rườm rà, lãng phí, thời gian dài quá khó khăn cho các doanh nghiệp, tổ chức của họ trong việc tuyển dụng lao động nước ngoài Chỉ có 21,54% trong ý kiến của doanh nghiệp và 28.57% của cán bộ ngành lao động nói rằng không có khó khăn Số còn lại không có ý kiến Cùng với cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực lao động, chẳng hạn như đăng ký thang lương, bảng lương, thỏa ước tập thể và thậm chí một số thủ tục quản lý lao động nước ngoài đã từng

1 Báo cáo lao động và việc làm 9 tháng đầu năm 2012 của Tổng cục Thống kê (http://www.gso.gov.vn)

Ngày đăng: 09/05/2016, 16:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w