Đây là bài thuyết trình tìm hiểu về thuế tiêu thụ đặc biệt ở Châu Âu, trong này làm rõ được khung thuế, đối tượng điều chỉnh và những điều khác biệt cần lưu ý. Trong này cũng nêu rõ những gánh nặng và hệ lụy liên quan khi thực thi những điều luật này.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
- -Đề Tài: Thuế Tiêu Thụ Đặc Biệt Tại Liên Minh Châu Âu
GVHD:PGS –TS NGUYỄN HỒNG THẮNG Thành viên nhóm 3 – Lớp Đêm 2 -K20:
Tp HCM, Tháng 8 năm 2012
Trang 2- Hoàn thành phần việc được giao đúng thời hạn
- Tham gia tìm tài liệu, dịch bài, đóng góp ý kiến
LỜI MỞ ĐẦU
Trang 3CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT TẠI CHÂU ÂU
1.1.Khái niệm thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế gián thu, đánh vào một số hàng hóa dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế theo quy định của luật thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế được cấu thành trong hàng hóa dịch vụ
Thuế tiêu thụ đặc biệt được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới với những tên gọi khác nhau Ở Pháp gọi là thuế tiêu thụ đặc biệt, Thụy Điển cũng vậy
1.2.Đặc điểm của thuế tiêu thụ đặc biệt
Là thuế đánh vào hàng hóa tiêu dùng và có một số đặc điểm như:
Các loại hàng hóa đánh thuế tiêu thụ đặc biệt được pháp luật thuế của từng quốc gia quy định nhưng gần như giống nhau như rượu, bia, thuốc lá, xăng, dầu, kinh doanh vũ trường, cá cược, đua ngựa, sòng bạc …
Mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt được pháp luật thuế các nước quy định rất cao
vì nó đánh vào những mặt hàng mang tính chất xa xỉ, chưa cần thiết cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày của con người và ảnh hưởng đến sức khỏe của những người khác trong
xã hội
Cách thu thuế tiêu thụ đặc biệt ở các nước giống nhau, tức nhà nước chỉ thu một lần
ở khâu sản xuất, nhập khẩu hàng hóa hay kinh doanh các dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
Danh mục hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt có thể thay đổi tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh tế và điều kiện của từng nước
1.3.Vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt
Thông qua chế độ thu thuế tiêu thụ đặc biệt, nhà nước động viên một phần thu nhập đáng kể của người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước
Thuế tiêu thụ đặc biệt là công cụ rất quan trọng để nhà nước thực hiện chức năng hướng dẫn sản xuất và điều tiết tiêu dùng xã hội
Thuế tiêu thụ đặc biệt cũng là công cụ để nhà nước điều tiết thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước một cách công bằng hợp lý, ai tiêu dùng nhiều các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thì nộp thuế nhiều hơn người tiêu dùng ít hoặc không phải nộp thuế nếu không tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ đó
Trang 4Việc ban hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt để điều chỉnh việc sản xuất, kinh doanh, lưu thông và tiêu dùng một số hàng hóa, dịch vụ mang tính chất xa xỉ, chưa thật cần thiết cho nhu cầu xã hội thể hiện việc tăng cường quản lý, kiểm soát của nhà nước một cách tập trung, chặt chẽ đối với các loại hàng hóa, dịch vụ này
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT TẠI CHÂU ÂU
2.1.Giới thiệu
Thuế tiêu thụ đặc biệt tức là thuế đánh trên việc tiêu thụ một số sản phẩm, mang lại doanh thu đáng kể cho các nước và được duy trì cùng với thuế giá trị gia tăng Thuế tiêu thụ đặc biệt áp đặt một gánh nặng thuế lớn hơn trên số lượng nhỏ các loại sản phẩm Nếu thuế tiêu thụ đặc biệt ở các nước Châu Âu được bãi bỏ, tổn thất doanh thu thuế sẽ phải được bù đắp bằng cách tăng mức thuế suất thuế GTGT, điều này sẽ tạo một tác động lạm phát đến nền kinh tế của các nước thành viên Ví dụ, sản xuất sản phẩm thuốc
lá và các loại dầu khoáng sản, mà không có sự giảm thuế, các loại thuế đánh rất cao, trung bình hơn 10% doanh thu thuế của EU Hơn nữa, trong tổng thể các loại thuế, thuế
tiêu thụ đặc biệt là thành phần linh hoạt, có thể dễ dàng được thay đổi nếu doanh thu
thuế là cần thiết Thuế tiêu thụ đặc biệt có thể dễ dàng được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu kinh tế, xã hội và cơ cấu khác nhau Vì vậy, thuế được đánh trên đơn vị hàng hóa tiêu thụ, để giảm tiêu thụ các sản phẩm không khuyến khích như sản phẩm thuốc lá và
đồ uống có cồn, vì lý do y tế công cộng, và các sản phẩm xăng dầu vì lý do môi trường cùng với tiết kiệm năng lượng và giảm phụ thuộc năng lượng
Nhiệm vụ tiêu thụ đặc biệt phải được duy trì trong EC / EU hai điều kiện phải được
đáp ứng để không làm xáo trộn thị trường chung: cơ cấu thuế và tỷ lệ thuế của họ có
được sự hài hòa, để loại bỏ thuế gián tiếp bảo vệ sản xuất quốc gia, thương mại giữa các nước thành viên, hoàn lại tiền thuế và thuế cũng như kiểm soát biên giới, quấy rầy di chuyển tự do hàng hoá trong thị trường chung
Chỉ thị xác định các thỏa thuận chung về thuế tiêu thụ đặc biệt, chỉ thị 2008/118 Việc đánh thuế diễn ra ở giai đoạn sản xuất tại EU hoặc nhập khẩu vào EU từ một nước thứ ba Thuế phải nộp khi sản phẩm được tiêu thụ và được thu trong quốc gia tiêu thụ sản phẩm Các nước thành viên tùy vào điều kiện từng nước để đưa ra các sản phẩm và
Trang 5dịch vụ chịu thuế khác nhau và thuế này không làm phát sinh thủ tục qua biên giới trong thương mại giữa các nước thành viên
Thuế tiêu thụ đặc biệt tại Châu Âu hầu hết đánh trên các nhóm sản phẩm: nước uống
có cồn, các sản phẩm thuốc lá, các sản phẩm năng lượng (nhiên liệu động cơ và nhiên liệu làm nóng như xăng dầu, điện, khí thiên nhiên, than đá và than cốc…
Luật thuế tiêu thụ đặc biệt của liên minh Châu Âu dựa trên ba nhóm sản phẩm là chủ yếu, cơ cấu thuế được áp dụng cho các nhóm sản phẩm cụ thể Cơ cấu thuế có nghĩa
là việc xác định nhóm các loại sản phẩm và phương thức trong đó thuế tiêu thụ được tính (ví dụ: như mỗi hl, mỗi độ rượu; mỗi 1000 miếng, vv) và phạm vi của miễn trừ có thể có, …
Tỷ lệ thuế suất tối thiểu mà các nước thành viên phải tuân theo cho từng loại sản phẩm, dựa trên mức tỷ lệ tối thiểu các nước thành viên có thể tự do sửa chữa mức độ tỷ
lệ riêng cho họ
2.2.Đối tượng chịu thuế và nộp thuế tiêu thụ đặc biệt
2.2.1.Đối tượng chịu thuế: các hàng hóa được phép nhập khẩu, sản xuất và các
hoạt động dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh của luật thuế tiêu thụ đặc biệt là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
2.2.1.1.Những đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt:
Nước uống có cồn, các sản phẩm thuốc lá, các sản phẩm năng lượng (nhiên liệu động cơ và nhiên liệu làm nóng như xăng dầu, điện, khí thiên nhiên, than đá và than cốc…
2.2.2.Đối tượng nộp thuế tiêu thụ đặc biệt:
Là các tổ chức, công ty, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có nhập khẩu, sản xuất các sản phẩm chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
2.3.Căn cứ và phương pháp tính thuế:
Trang 6Căn cứ tính thuế đối với hàng hóa thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là: số lượng hàng hóa chịu thuế, giá tính thuế và thuế suất.
2.3.3.Thuế suất: tùy từng mặt hàng có tỷ lệ thuế khác nhau
2.4.Một số sản phẩm chịu thuế tiêu thụ đặc biệt tại Liên Minh Châu Âu
2.4.1.Với nhóm sản phẩm rượu và nước uống có cồn
Tỷ lệ và cơ cấu của hệ thống thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng đối với rượu và đồ uống
có cồn được thiết lập trong hệ thống pháp luật Cộng đồng Châu Âu
Theo chỉ thị 92/83/EEC cơ cấu thuế tiêu thụ đặc biệt trên rượu và nước uống có cồn, dựa vào để xác định các loại rượu và đồ uống có cồn để đánh thuế tiêu thụ đặc biệt
Các loại như: bia, rượu vang, đồ uống có men khác hơn so với bia và rượu vang (ví dụ: vang táo, vang lê), các sản phẩm trung gian (ví dụ: port và sherry) và rượu ethyl (đồ uống bổ dưỡng tinh thần)
Quy định đánh thuế cũng bao gồm đến việc giảm thuế, ví dụ, để giảm tỷ lệ cho nhà máy bia và chưng cất rượu nhỏ, một số sản phẩm và khu vực địa lý Bao gồm "rượu ethyl" là rượu mà không nhất thiết phải dùng như đồ uống, ví dụ, rượu dành cho các
Trang 7mục đích công nghiệp, trong sản xuất thực phẩm, thuốc men Nguyên tắc chung là thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ là đánh vào rượu dành cho tiêu thụ của con người như nước giải khát, và do đó, Chỉ thị cung cấp miễn thuế tiêu thụ đặc biệt, thuộc vào quy định, cho các mục đích cụ thể
2.4.1.2.Lý do để đánh thuế:
Sử dụng thuế tiêu thụ đặc biệt như là biện pháp kiểm soát số lượng thức uống có cồn tiêu thụ ngoài thị trường Thức uống có cồn đem lại khá nhiều tác hại, vì vậy, mục đích chính yếu là để đưa ra mức thuế, những quy định, sự trợ cấp, cung ứng dịch vụ và công
bố rộng rãi thông tin Vậy, việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt những loại sản phẩm này bên cạnh thuế VAT là để cho người sử dụng cộng chi phí xã hội vào giá và cân nhắc về việc
sử dụng sản phẩm này
2.4.1.3.Tỷ lệ, phương pháp tính thuế tiêu thụ đặc biệt và việc giảm thuế
Thuế tiêu thụ đặc biệt về rượu rất khác nhau giữa các thành viên trong khối Liên Minh Châu Âu, nhưng phải theo một tỷ lệ tối thiểu
Theo chỉ thị 92/84/EEC:
Tỷ lệ thuế tiêu thụ đặc biệt tối thiểu trên bia € 0.748/ trăm lit / độ Plato của thành phẩm hoặc €1.87/ trăm lít/ % thể tích cồn Ví dụ, gần 5cents phải trả cho nửa lít bia với thể tích cồn 5% (tương đương 12.5 độ plato) hoặc hơn
Tỷ lệ giảm áp dụng cho những nhà máy bia nhỏ độc lập và bia với nồng độ cồn thấp (không vượt qua 2.8%) Đối với rượu vang và rượu vang sủi thuế tiêu thụ đặc biệt là 0.Những sản phẩm trung gian, như rượu pha rượu mạnh và rượu mùi rượu vang (dưới 22% cồn và không phụ thuộc nhóm rượu hoặc bia), thuế là €45/trăm lít (34 cent mỗi chai 75cl), tỷ lệ giảm cho sản phẩm trung gian không vượt 15% thể tích cồn
Thuế tiêu thụ đặc biệt cho rượu mạnh (ethyl alcohol) là €550 hoặc €1000/ trăm lít rượu nguyên chất Tỷ lệ cao hơn áp dụng cho những thành viên mà tỷ lệ thuế vượt
€1000 vào năm 1992 Mặt khác, giá của chai rượu mạnh 70cl với thể tích cồn 40% bao gồm thuế tiêu thụ đặc biệt €1.54 hoặc €2.8 Tỷ lệ thấp hơn áp dụng cho những nhà máy rượu quy mô nhỏ
Trang 8Tất cả những loại nước uống có cồn đều đánh thuế VAT theo tỷ lệ chuẩn và không
ít hơn 15%
2.4.1.3.Cơ cấu thuế ở các nước thành viên
Nhìn chung, thuế có sự chênh lệch giữa các thành viên cho tất cả loại nước uống có cồn Thể hiện bảng 1, bia, rượu, rượu mạnh thì đặc biệt thuế nặng hơn ở Thụy Điển, Ireland, Vương quốc Anh, Phần Lan nhưng thấp hơn ở Luxembourg, Úc và những nước vùng Địa Trung Hải, tốt nhất là những nước thành viên mới
Chú giải: Dấu hoa thị trong bảng trên thể hiện: thuế tiêu thụ đặc biệt trên bia được thu cho trăm lít/ % thể tích cồn
Trang 9Đan Mạch thu thêm thuế tiêu thụ đặc biệt với những loại nước uống có rượu pha trộn €1.09 ( 10% thể tích cồn) hoặc €1.98 ( 10%) Thuế thu thêm với nước uống pha trộn với rượu mạnh là €3.09 cho 1 lít.
Pháp thu thêm thuế tiêu thụ đặc biệt với những loại nước uống có pha trộn rượu là
€110 cho lít rượu nguyên chất (tương đương €3.85 cho mỗi chai 70cl/ 5% rượu)
Đức thu thêm thuế tiêu thụ đặc biệt với những loại nước uống có pha trộn rượu là
€55.5 cho lít rượu nguyên chất (tương đương €1.97 cho mỗi chai 70cl/ 5% rượu)
Luxembourg thu thêm thuế tiêu thụ đặc biệt với những loại nước uống có pha trộn rượu là €6/ lít rượu nguyên chất
Thuế tiêu thụ đặc biệt thì cụ thể, mặt dù sự cụ thể của cơ sở tính thuế thì khác nhau giữa bia, rượu và rượu mạnh Hầu hết các nước thành viên, thuế tiêu thụ đặc biệt trên bia thì tương ứng với thể tích rượu trong nó, … Thuế trên rượu mạnh xác định thống nhất trong EU với điều khoản là một con số tuyệt đối cho trăm lít rượu nguyên chất Trái lại, rượu vang được đánh thuế trên mỗi đơn vị thể tích, mặc dù ở Đan Mạch và Luxembourg thuế tiêu thụ đặc biệt đánh theo nồng độ rượu trong sản phẩm
Đặc biệt, thuế tiêu thụ đặc biệt trên những loại bia từ 4cent cho một ½ lít ở Cộng hòa Séc, Đức, Luxembua, quốc đảo Malta đến hầu hết €1 ở Phần Lan, Ireland, và Anh Mười ba nước thành viên không đánh thuế tiêu thụ đặc biệt ở rượu vang, nhưng ở Ireland, Thụy Điển và Anh thuế tiêu thụ đặc biệt ở mức €2 cho chai 75cl Tiêu biểu, rượu sủi bọt bị đánh thuế tỷ lệ cao hơn rượu không sủi bọt (không có trong bảng trên) Thuế tiêu thụ đặc biệt trên rượu mạnh khác nhau về con số tuyệt đối, từ €1.71 ở đảo Sip đến €15.08 ở Thụy Điển cho mỗi chai 70cl
Nhìn chung vào bảng 1, thuế tiêu thụ đặc biệt trên bia, rượu vang và rượu mạnh được tính toán dựa vào cơ sở thể tích cồn có trong nó
2.4.1.4.Doanh thu thuế tiêu thụ đặc biệt mặt hàng rượu và nước uống có cồn
Trang 10Tỷ lệ phần trăm của tổng doanh thu thuế, doanh thu thuế tiêu thụ đặc biệt từ 0.2% ở
Ý đến 2.5% ở Ba La và Ireland Nhìn chung, thuế tiêu thụ đặc biệt trên rượu không phải
là nguồn thu chính ở các nước thành viên EU, ngoại trừ Phần Lan, Ireland, Ba Lan và Anh Doanh thu thuế tiêu thụ đặc biệt trên rượu…
Dựa vào bảng 2, doanh thu thuế trên rượu với mỗi người lớn từ thấp €19 ở Ý đến cao €318 ở Phần Lan và Ireland Năm nước thành viên thu hơn €100 mỗi người lớn Trong khi doanh thu thuế tiêu thụ đặc biệt trên rượu đáng kể ở các nước thành viên phía Bắc, những nước này thì tỷ lệ không đáng kể với các nước phía Nam Hình ảnh tương tự
Trang 11nói lên việc tính toán số thuế tuyệt đối mà được trả cho mỗi lít rượu nguyên chất tiêu thụ giữa các nước thành viên Trong khi, người Phần Lan phải trả €33 cho 1 lít rượu nguyên chất, người Bồ Đào Nha chỉ trả thuế chỉ trên €2 mỗi lít.
Tiêu biểu những thành viên với thuế cao, doanh thu thuế tiêu thụ đặc biệt trên rượu ảnh hưởng đến mức độ mua bán và buôn lậu qua biên giới, giá bia ở Đan Mạch chỉ bằng 40% giá ở Thụy Điển, giá rượu mạnh ở Estonia bằng ¼ giá ở Phần Lan
Nhìn chung, buôn lậu là vấn đề nghiêm trọng ở EU Với 15 nước thành viên, nhóm mức độ cao về gian lận trong khu vực thuốc lá, rượu (1998) ước tính là 1.5 tỷ doanh thu
bị mất từ gian lận vào năm 1996, tương đương 8% tổng doanh thu thuế tiêu thụ đặc biệt vào lúc đó Ở Anh, việc gian lận ước tính khoảng 4% tổng doanh thu thuế tiêu thụ đặc biệt vào năm 2001 (HM Customs and Excise 2004)
Đồ uống có cồn là rất quan trọng trong EU Thuế tiêu thụ đặc biệt về đồ uống có cồn tạo thành một nguồn quan trọng của thuế doanh thu trong EU27, là một đóng góp quan trọng về tài chính của các nước thành viên và doanh thu dao động từ 0,2% đến 3,5% tổng số thu thuế (không bao gồm An Sinh Xã Hội) Tổng biên lai thuế trong EU27 lên tới 30,6 € tỷ USD năm 2007 (cồn: 46% doanh thu, bia: 33% và rượu: 19%) Tiêu thụ
đồ uống có cồn là quan trọng trong Liên minh châu Âu: tổng số tiêu thụ đứng ở mức 56
tỷ lít trong năm 2007, khoảng 113 lít mỗi người Bia là thức uống có cồn tiêu thụ nhiều nhất, chiếm 66% tổng khối lượng Sản phẩm tiêu thụ thứ hai, rượu vang, chiếm 25% (14.100.000.000 lít)
2.4.1.5.Gánh nặng và chi phí tổn thất
Uống rượu, bia là một mặt văn hóa của người Châu Âu, nó được sử dụng trước, trong và sau bữa ăn, trong những dịp lễ, sinh nhật Đã là một văn hóa hay là một truyền thống nên số người sử dụng rượu, bia rất nhiều Trung bình người lớn ở EU uống đến 2
và hơn 2 lần trung bình phần còn lại của thế giới (theo WHO 2004) Ngoài những người
ăn kiêng, trung bình mỗi người uống khoảng 15 lít mỗi năm Tương đương 600 chai bia (50cl, 5 %), 167 chai rượu (75cl, 12%), 54 chai rượu mạnh (70cl, 40%) đó là bằng chứng cho những tác hại của xã hội như tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội, bệnh tật Theo WHO 2005 ước tính tác hại của việc uống nước uống có cồn có trách nhiệm đến 10.8% tổng gánh nặng bệnh tật ở EU Anderson và Baumberg (2006) ước tính tổng chi phí hữu hình (hệ thống quản lý tội phạm, chăm sóc sức khỏe, giảm sản lượng đầu ra) về tác hại
Trang 12của việc sử dụng nước uống có cồn ở EU vào năm 2003 là 125 triệu bảng, tương đương 1.3% GDP và 4 lần doanh thu thuế tiêu thụ đặc biệt từ rượu bia Những chi phí vô hình
từ hậu quả của sử dụng rượu bia như sự đau đớn, thất nghiệp, sự chịu đựng và sự mất mát cuộc sống được ước tính gấp hơn 2 lần chi phí hữu hình
Trong việc tính toán những chi phí này, Anderson và Baumberg cùng với phương pháp WHO, về cơ bản xem xét chi phí hữu hình và vô hình từ tác hại của việc sử dụng rượu bia được gọi là chi phí xã hội Đó là những chi phí đã có và sẽ không có nếu không uống rượu bia
Nhìn vào bảng dưới đây, Anderson và Baumberg (2006) ước tính tổng chi phí hữu hình của rượu ở EU vào năm 2003 là €125 tỷ đến €220 tỷ (dựa vào ước tính tối thiểu và tối đa từ €79 tỷ đến €220 tỷ) tương đương 1.3%GDP Việc chi tiêu thực tế cho vấn đề liên quan đến rượu (chăm sóc sức, chữa trị, ngăn ngừa, hệ thống quản lý tội phạm, tai nạn giao thông) tính khoản €66 tỷ về tổng chi phí hữu hình Con số này nhiều hơn gấp 2 lần doanh thu thuế tiêu thụ đặc biệt
Trang 13Chi phí vô hình (không có trong bảng 1) thể hiện giá trị con người thay thế sự đau đớn, chịu đựng và mất mát cuộc sống mà xuất hiện bởi vì tội phạm, tác hại đến sức khỏe và xã hội nguyên nhân do rượu, bia Anderson và Baumberg (2006) ước tính chi phí này là €270 tỷ (từ €150 tỷ – €760 tỷ) năm 2003
2.4.2.Với nhóm sản phẩm thuốc lá
Chỉ thị 2011/64 về cơ cấu và tỷ lệ thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng đối với thuốc lá được hệ thống hóa trong năm 2011 Nó đưa ra nguyên tắc chung cho việc hài hoà các cơ cấu và tỷ lệ thuế tiêu thụ đặc biệt thuốc lá sản xuất Nó nhằm mục đích để đảm bảo hoạt động đúng đắn của thị trường nội bộ, đồng thời một mức độ cao về bảo vệ sức khỏe, theo yêu cầu của Điều 168 của Hiệp ước về Chức năng của Liên minh châu Âu Liên quan đến thuốc lá sản xuất, chỉ thị đảm bảo rằng các ứng dụng trong các nước thành viên, thuế làm ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm trong lĩnh vực này không làm méo mó điều kiện cạnh tranh và không cản trở di chuyển tự do của họ trong Liên minh Liên quan đến thuốc lá - bởi đến nay các hạng mục quan trọng nhất của sản phẩm thuốc lá - Chỉ thị quy định rằng tổng số thuế tiêu thụ đặc biệt (cụ thể cộng với thuế theo tỷ lệ tính trên cơ sở giá bán lẻ tối đa, trước khi thuế GTGT) phải chiếm ít nhất 57% bán lẻ giá (bao gồm tất cả các loại thuế) và không được thấp hơn so với EUR 64 trên 1000 thuốc
lá cho thuốc lá Những sản phẩm thuốc lá (xì gà, thuốc lá cho thuốc lá và thuốc lá cuốn khác để hút thuốc lá), một tỷ lệ hài hoà của thuế nên được thành lập cho tất cả các sản phẩm thuộc cùng một nhóm sản xuất thuốc lá, thể hiện dưới dạng một tỷ lệ phần trăm, như là một số tiền mỗi kg hoặc cho một số lượng nhất định các mặt hàng
2.4.2.1.Tỷ lệ, phương pháp tính thuế và việc giảm thuế
Cơ Cấu thuế thuốc lá trong EU (Liên minh châu Âu) đã tiến triển hơn 35 năm trong một loạt thoả hiệp chính trị và sự khẩn cấp, với cải cách có được từ sự thăm dò của những thành viên quốc gia mới Quy định mới nhất của hội đồng ( Hội đồng của Liên minh Châu Âu, 2002) về mức thuế:
Các quốc gia thành viên áp đặt thuế tiêu thụ đặc biệt thuốc lá bao gồm thành phần đánh thuế cụ thể và đánh thuế theo giá trị Hiệu lực ngày 1 tháng bảy năm 2006, số tối thiểu của tổng thuế hàng hóa phải € 64 mỗi ngàn điếu thuốc ( € 1.28 mỗi gói hai mươi điếu ) Yêu cầu này áp dụng cho tất cả loại thuốc lá
Trang 14Hơn nữa, tổng định mức thuế tiêu thụ đặc biệt tối thiểu thuế theo bảng giá phổ biến nhất (MPPC) của thuốc lá trong mỗi nước thành viên nên là 57% giá bán lẻ bao gồm cả thuế ( thuế tiêu thụ đặc biệt cộng VAT ) Các quốc gia được miễn thuế này nếu tổng thuế tiêu thụ đặc biệt trên điếu thuốc theo MPPC là € 101 trở lên trên mỗi ngàn điếu thuốc ( € 2.02 mỗi gói hai mươi điếu thuốc)
Các nước thành viên có thể chọn thiết lập mức tối thiểu của thuế tiêu thụ đặc biệt trên tất cả các loại thuốc lá ở mức 100% của mức độ tiêu thụ theo MPPC
Phải có thành phần của cả hai, cụ thể và giá bao gồm cả thuế trong thuế thuế tiêu thụ đặc biệt tính thiết lập bởi thành viên quốc gia, với yếu tố cụ thể không dưới 5% và không hơn 55% của tổng các khoản thuế đánh vào MPPC, bao gồm VAT ( mà giống y như nhau về ảnh hưởng đến thuế tiêu thụ đặc biệt theo giá trị )
Tỉ lệ giảm mạnh - đo về mặt giá hoặc trọng lượng của thuốc lá - áp dụng cho ( a ) thuốc lá sợi hoặc điếu : 36% thuế - luôn cả giá bán lẻ hoặc € 32 mỗi kg ; ( b ) xì gà và điếu thuốc lá : 5% thuế - luôn cả giá bán lẻ hoặc € 11 mỗi 1000 dơn vị hoặc mỗi kg ; và ( c ) thuốc lá khác : 20% thuế - luôn cả giá bán lẻ hoặc € 20 mỗi kg Không có thành phần cụ thể quy định cho sản phẩm thuốc lá này
Tất cả sản phẩm thuốc lá chịu chi phối bởi tỉ lệ VAT chuẩn, không nhỏ hơn 15% Trong bộ phận Châu Âu dọc theo biên giới đã nộp thuế mua sắm các khoản cho phép dưới đây - điếu thuốc : 40 gói ; xì gà : 200 món hàng ; xì gà điếu: 400 món hàng ;
và các loại tương tự thuốc lá khác : 1 kg
Ngoài biện pháp thuế này, Uỷ ban Châu Âu đã đưa các quy định khuyến cáo tác hại cho sức khỏe trên gói hàng thuốc lá, như như hạn chế về quảng cáo, bảo trợ, và hút thuốc ở nơi công cộng