1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Điện toán đám mây mô hình kiến trúc hướng dịch vụ

103 554 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 6,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điện toán đám mây mô hình kiến trúc hướng dịch vụ KIẾN TRÚC HƯỚNG DỊCH VỤ, ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY VÀ BÁO ĐIỆN TỬ Sự phát triển của công nghệ ngày nay đã dẫn đến một môi trường giao tiếp không đồng nhất giữa các hệ thống phần mềm với nhau. Một vấn đề đặt ra đối với các tổ chức CNTT là làm sao xây dựng được một kiến trúc phần mềm có khả năng tích hợp và sử dụng các thành phần mới nhằm giảm thiểu chi phí phát triển và bảo trì hệ thống phần mềm. Thiết kế hệ thống theo hướng dịch vụ, chia hệ thống thành nhiều khối chức năng cung cấp cho người sử dụng như một dịch vụ. Việc thiết kế này giúp cho người dùng sử dụng các dịch vụ theo nhu cầu, theo khả năng tài chính và theo thực tế công việc. Người sử dụng chỉ phải trả chi phí thuê bao cho những gì mình sử dụng. Việc thiết kế này cũng đảm bảo cho hệ thống dễ dàng mở rộng trong tương lai cũng như dễ ghép nối với các hệ thống khác Xây dựng hệ thống đăng ký tài khoản thuê bao sử dụng giúp người dùng sau khi đăng ký có thể sử dụng ngay trang báo điện tử của riêng mình mà không phải chờ đợi lâu. Hệ thống đăng ký tài khoản thuê bao có các chức năng tùy chỉnh module, theo dõi tình trạng thuê bao và kiểm soát chi phí sử dụng Xây dựng hệ thống hiển thị và quản trị nội dung cho phép người sử dụng dễ dàng tùy biến giao diện cũng như đăng tin lên web. Mỗi người dùng sẽ có một trang báo của riêng mình với giao diện, nội dung và phần quản trị hoàn toàn độc lập Thiết kế và triển khai các giải pháp phân tải giúp cho hệ thống chạy nhanh và ổn định khi có lượng truy cập lớn, nhất là trong cùng một thời điểm. Cụ thể là sử dụng Data Caching để giảm tải việc truy cập trực tiếp quá nhiều vào hệ thống. Sử dụng CDN giúp hệ thống load nhanh hơn

Trang 1

CHƯƠNG I – KIẾN TRÚC HƯỚNG DỊCH VỤ, ĐIỆN TOÁN

ĐÁM MÂY VÀ BÁO ĐIỆN TỬ 1.1 Kiến trúc hướng dịch vụ

1.1.1 Tổng quan về kiến trúc hướng dịch vụ

Sự phát triển của công nghệ ngày nay đã dẫn đến một môi trường giao tiếp không đồng nhất giữa các hệ thống phần mềm với nhau Một vấn đề đặt ra đối với các

tổ chức CNTT là làm sao xây dựng được một kiến trúc phần mềm có khả năng tích hợp và sử dụng các thành phần mới nhằm giảm thiểu chi phí phát triển và bảo trì hệ thống phần mềm

Thực tế hiện nay, chúng ta đã có các kiến trúc như OOP, COM/DCOM, CORBA, …cùng với nhiều phương thức tích hợp ứng dụng nhanh và tốt hơn Tuy nhiên, do đặc tính ràng buộc chặt chẽ giữa các thành phần với nhau khiến cho các kiến trúc này chưa thật sự hiệu quả Kiến trúc hướng dịch vụ (SOA) ra đời gần như giải quyết được những vấn đề khó khăn trong giao tiếp giữa các thành phần

Về cơ bản, kiến trúc hướng dịch vụ là một cách tiếp cận hay một phương pháp luận để thiết kế và tích hợp các thành phần khác nhau bao gồm các phần mềm và các chức năng riêng lẻ thành một hệ thống hoàn chỉnh Kiến trúc hướng dịch vụ rất giống với cấu trúc của các phần mềm hướng đối tượng gồm nhiều module Tuy nhiên, khái niệm module trong SOA không đơn thuần chỉ là một gói phần mềm hay một bộ thư viện nào đó Thay vào đó, mỗi module trong một ứng dụng SOA là một dịch vụ được cung cấp rải rác ở nhiều nơi khác nhau và có thể truy cập thông qua môi trường mạng Nói một cách ngắn gọn, một hệ thống kiến trúc hướng dịch vụ là một tập hợp nhiều dịch vụ được cung cấp trên mạng, được tích hợp lại với nhau để cùng cộng tác thực hiện các tác vụ nào đó theo yêu cầu của khách hàng

1.1.2 Các tính chất của kiến trúc hướng dịch vụ

Kết nối lỏng lẻo

Vấn đề kết nối nói tới một số ràng buộc giữa các module lại với nhau Có 2 loại kết nối là lỏng lẻo và chặt chẽ Các module có tính chất kết nối lỏng lẻo có một số ràng buộc được mô tả rõ ràng trong khi các module có tính kết nối chặt lại có nhiều ràng buộc không thể biết trước Hầu như mọi kiến trúc phần mềm đều hướng đến tính kết nối lỏng lẻo giữa các module Mức độ kết nối của hệ thống ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chỉnh sửa hệ thống Kết nối càng chặt bao nhiêu thì có nhiều thay đổi chỉnh sửa khi có sự thay đổi nào đó xảy ra Mức độ kết nối tăng dần khi bên sử dụng dịch vụ cần biết nhiều thông tin ngầm định của bên cung cấp dịch vụ để sử dụng dịch

vụ được cung cấp Nghĩa là nếu bên sử dụng dịch vụ biết vị trí và chi tiết định dạng dữ

Trang 2

liệu của bên cung cấp dịch vụ thì quan hệ sẽ càng trở nên chặt chẽ Ngược lại, nếu bên

sử dụng dịch vụ không cần biết mọi thông tin chi tiết của dịch vụ trước khi triệu gọi

nó thì quan hệ giữa 2 bên càng có tính lỏng lẻo

Kết nối lỏng lẻo làm cho sự phụ thuộc ở mức tối thiểu Khi đó, những sự thay đổi sẽ có ảnh hưởng ít nhất tới hệ thống và hệ thống vẫn có thể hoạt động khi có thành phần nào đó bị hư hỏng Tối thiểu hóa sự phụ thuộc giúp hệ thống linh hoạt, và ít xảy

Quản lý chính sách

Tập các chính sách là tập tất cả các qui tắc chung mà mọi thành phần trong hệ thống đều phải tuân thủ Khi sử dụng các dịch vụ chia sẻ trên mạng, tùy theo mỗi ứng dụng sẽ có một luật kết hợp riêng gọi là các chính sách Các chính sách cần được quản

lý và áp dụng cho mỗi dịch vụ cả trong quá trình thiết kế và trong thời gian triển khai

Việc đó làm tăng khả năng tạo ra các dịch vụ có đặc tính tái sử dụng Bởi vì các chính sách được thiết kế tách biệt, và tùy vào mỗi ứng dụng nên giảm tối đa các thay đổi phần mềm Nếu không sử dụng các chính sách, thì các nhân viên phát triển phần mềm, nhóm điều hành và nhóm hỗ trợ phải làm việc với nhau trong suốt thời gian phát triển để cài đặt và kiểm tra những chính sách Ngược lại, nếu sử dụng các chính sách, những nhân viên phát triển phần mềm chỉ cần tập trung vào quy trình nghiệp vụ trong khi nhóm điều hành và nhóm hỗ trợ tập trung vào các luật kết hợp

Tự động dò tìm và ràng buộc động

Trang 3

SOA hỗ trợ khái niệm khai thác dịch vụ (service discovery) Một người sử dụng cần đến một dịch vụ nào đó có thể tìm kiếm dịch vụ dựa trên một số tiêu chuẩn khi cần Người sử dụng chỉ cần hỏi một registry về một dịch vụ nào thỏa yêu cầu tìm kiếm Ví dụ, một hệ thống chuyển khoản, khách hàng yêu cầu một registry tìm tất cả các dịch vụ có khả năng kiểm tra thẻ tín dụng Registry trả về một tập các danh mục thỏa mãn yêu cầu Các mục đó chứa thông tin về dịch vụ, bao gồm cả chi phí giao dịch Bên sử dụng sẽ chọn một dịch vụ có phí giao dịch thấp nhất trong danh sách các dịch vụ trả về, kết nối đến nhà cung cấp dịch vụ dựa trên thông tin địa chỉ registry đã cung cấp để sử dụng dịch vụ kiểm tra thẻ tín dụng Trong phần mô tả dịch vụ kèm theo đã có tất cả các tham số cần thiết dùng để thực thi dịch vụ, bên sử dụng chỉ cần định dạng dữ liệu yêu cầu đúng theo mô tả và gửi đi Nhà cung cấp dịch vụ sẽ thực thi kiểm tra thẻ tín dụng và trả về một thông điếp có định dạng đúng như trong phần mô

tả dịch vụ Mối ràng buộc duy nhất giữa bên cung cấp và bên sử dụng là bản hợp đồng được cung cấp bởi registry trung gian Mối ràng buộc này là ràng buộc trong thời gian chạy Tất cả thông tin cần thiết về dịch vụ được lấy về và sử dụng trong khi chạy Vậy với SOA, bên sử dụng dịch vụ không cần biết định dạng của thông điệp yêu cầu và thông điệp trả về, cũng như địa chỉ dịch vụ cho đến khi cần

Ngoài ra, những hệ thống dựa trên dịch vụ yêu cầu tách biệt giữa giao diện và cài đặt, nên có thể có nhiều cài đặt khác nhau cho cùng một giao diện Nếu một thể hiện service nào đó không hoạt động thì một thể hiện khác vẫn có thể hoàn tất giao dịch cho khách hàng mà không bị ảnh hưởng gì Khả năng này chỉ có được khi client tương tác với giao diện của dịch vụ chứ không tương tác trực tiếp cài đặt của dịch vụ Đây là một trong những tính chất cơ bản của hệ thống hướng dịch vụ

Trang 4

1.1.3 Lợi ích của kiến trúc hướng dịch vụ

Sử dụng mô hình SOA trong việc thiết kế hệ thống mang lại rất nhiều lợi ích về

1.1.4 Ưu nhược điểm của kiến trúc hướng dịch vụ

SOA có thể được coi là một kiến trúc ưu việt trong thiết kế và xây dựng hệ thống phần mềm cho doanh nghiệp bởi:

- Hệ thống uyển chuyển và lâu dài thuận tiện cho việc chỉnh sửa, nâng cấp hoặc

mở rộng hệ thống

- Dễ dàng và nhanh chóng tạo ra các tiến trình nghiệp vụ từ các service đã có

- Khả năng tương tác của các service

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm SOA vẫn tồn tại một số yếu điểm như sau:

- Hệ thống phức tạp

- Khó miêu tả dữ liệu không cấu trúc trong header của message

- Đặc biệt, khi xây dựng ứng dụng tổng hợp từ nhiều dịch vụ với tính tái sử dụng cao thì vấn đề bảo mật như: xác thực, phân quyền, bí mật và toàn vẹn dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư, … trở thành một bài toán hết sức phức tạp và đòi hỏi giải quyết

Trang 5

bằng những hướng tiếp cận bảo mật hoàn toàn mới so với các phương pháp bảo mật truyền thống

1.1.5 Mô hình hoạt động và kiến trúc chi tiết của SOA

1.1.5.1 Mô hình tổng thể của SOA

Hình 1.1: Mô hình tổng quan của SOA

- Service Provider: Cung cấp các service phục vụ cho một nhu cầu nào đó User (service consumer) không cần quan tâm đến vị trí thực sự mà service họ cần sử dụng đang hoạt động Họ chỉ cần quan tâm dịch vụ đó là gì

- Serive Consumer: khách hàng dịch vụ hay những user sử dụng service được cung cấp bởi Service Provider

- Service Registry: Nơi lưu trữ thông tin về các service của các Service Provider khác nhau, Service Consumer dựa trên những thông tin này để tìm kiếm và lựa chọn Service Provider phù hợp

Service Provider sẽ đăng ký thông tin về service mà mình có thể cung cấp (các chức năng có thể cung cấp, khả năng của hệ thống (resource, performance, giá cả dịch vụ ) vào Service Registry Service Consumer khi có nhu cầu về một service nào đó

sẽ tìm kiếm thông tin trên Service Registry Ngoài chức năng hỗ trợ tìm kiếm, Service Registry còn có thể xếp hạng các Service Provider dựa trên các tiêu chí về chất lượng dịch vụ, bầu chọn từ các khách hàng đã sử dụng service Những thông tin này sẽ hỗ trợ thêm cho quá trình tìm kiếm của Service Consumer Khi đã xác định được Service Provider mong muốn, Service Consumer thiết lập kênh giao tiếp trực tiếp với Service Provider nhằm sử dụng service hoặc tiến hành thương lượng thêm (về mặt giá cả, resource sử dụng, )

1.1.5.2 Mô hình giao tiếp bằng thông điệp trong SOA

So với kiểu thiết kế Component-Based (hướng thành phần), điểm khác biệt chính của SOA là cung cấp khả năng giao tiếp giữa các thành phần trong hệ thống sử dụng thông điệp (message) dựa trên các giao thức đã được chuẩn hóa (HTTP, FTP,

Trang 6

SMTP ) Chính nhờ đặc điểm này, hệ thống SOA trở nên độc lập với nền (platform independent) Các service hoạt động trên các platform khác nhau vẫn có thể giao tiếp với nhau nhờ vào các interface giao tiếp đã được chuẩn hóa để cộng tác xử lý một tác

vụ nào đó

Hình 1.2: Message được truyền nhận giữa các dịch vụ

Sử dụng thông điệp (message) để giao tiếp có các lợi thế sau:

- Độc lập nền: thông điệp (message) trở thành ngôn ngữ chung của các platform và các ngôn ngữ lập trình khác nhau Điều này đảm bảo các service trên các platform khác nhau hoạt động với cấu trúc dữ liệu đặc thù của platform đó

- Giao tiếp bất đồng bộ: Người gửi và người nhận không cần phải chờ thông điệp trả lời sau khi đã gởi đi một thông điệp Điều này giúp cho người gửi và người nhận tiếp tục xử lý công việc sau khi gửi thông điệp mà không cần dừng thực thi để chờ thông điệp trả lời

- Giao tiếp tin cậy: các thông điệp từ bên gửi có thể được gửi đến một service trung gian có nhiệm vụ lưu trữ (store) các thông điệp Service trung gian sẽ chuyển tiếp (forward) thông điệp cho bên nhận khi bên nhận có thể xử lý yêu cầu tiếp theo

Cơ chế Store-and-Forward này đảm bảo các thông điệp sẽ không bị thất lạc trong trường hợp Receiver bị quá tải và không thể nhận thêm yêu cầu mới

- Quản lý luồng: Việc trao đổi thông điệp theo cơ chế bất đồng bộ giúp ứng dụng không cần ngừng thực thi để chờ một tác vụ kết thúc mà có thể tạo ra các luồng (thread) xử lý các công việc khác nhau

- Giao tiếp từ xa: Các thông điệp lưu trữ thông tin về các đối tượng dữ liệu dưới dạng đặc tả hình thức thay thế việc phải serialization and deserialization các đối tượng dữ liệu truyền qua mạng khi ứng dụng thực hiện gọi từ xa một ứng dụng khác

- Bảo mật end-to-end: Thông điệp có thể lưu trữ thông tin về hình thức bảo mật của kênh giao tiếp Điều này cung cấp khả năng điều khiển liên quan đến bảo mật như xác thực và phân quyền

Trang 7

1.1.5.3 Kiến trúc phân tầng chi tiết

Hiện nay chưa có một mô hình chính thức nào của SOA Thật sự SOA là một phương pháp luận giúp chúng ta tận dụng sức mạnh của các nguồn lực, nguồn tài nguyên khác nhau trong mạng máy tính để trở thành một hệ thống nhất Mỗi một công

ty có một mô hình SOA khác nhau Nhìn chung mô hình SOA có các đặc điểm sau:

Hình 1.3: Kiến trúc chi tiết của SOA

- Tầng Connectivity: đây là tầng thấp nhất của SOA, có nhiệm vụ giao tiếp trực tiếp với các thành phần khác như cơ sở dữ liệu, giao tiếp với các ứng dụng khác, các web service… Vì vậy có thể coi đây là tầng vật lý của SOA

- Tầng Orchestration: là các dịch vụ xử lý các quy trình nghiệp vụ và độc lập với tầng vật lý phía bên dưới Tầng orchestration chứa các thành phần đóng vai trò vừa là dịch vụ sử dụng vừa là những dịch vụ cung cấp Những dịch vụ này sử dụng những dịch vụ của tầng kết nối và các dịch vụ orchestration khác để kết hợp những chức năng cấp thấp hơn thành những dịch vụ hoạt động ở cấp cao hơn, có hành vi gần với những chức năng nghiệp vụ hơn

- Tầng Composite Application: là các ứng dụng tổng hợp nhằm mục đích trình diễn (presentation) và hiển thị thông tin cho người dùng cũng như cung cấp một giao diện cho người dùng tương tác với hệ thống như là một phần mềm duy nhất Tầng này

có thể là các website, portal, các ứng dụng client mở rộng (rich client), các thiết bị di động thông minh (smart device),…

- Các thành phần khác: gồm có quy trình phát triển (development), quản lý các dịch vụ (service management), và quản lý con người (governance) Như vậy có thể thấy SOA không chỉ đơn thuần là về mặt công nghệ mà nó là tổng hòa của rất nhiều yếu tố: công nghệ, cơ sở hạ tầng, con người và quy trình nghiệp vụ

Trang 8

Hình 1.4: Các thành phần tham gia triển khai hệ thống SOA

1.1.6 Qui trình xây dựng hệ thống SOA

1.1.6.1 Thách thức khi xây dựng hệ thống

Cũng như các phương pháp phát triển phần mềm khác, để xây dựng được một ứng dụng hướng dịch vụ cũng phải trải qua các giai đoạn tương tự Tuy vậy, dù những lợi ích đạt được từ hệ thống SOA là rất lớn nhưng việc triển khai một hệ thống SOA không phải là điều dễ dàng Từ mô hình tính toán tập trung (mainframe) sang mô hình phân tán client/server, rồi sau đó là kiến trúc dựa trên nền tảng Web Và ngày nay quá trình này vẫn tiếp tục Chúng ta đang ở thời kỳ quá độ sang mô hình tính toán dựa trên dịch vụ là kiến trúc hướng dịch vụ Kiến trúc này ngày nay cũng đã và đang áp dụng

và phát triển cho nhiều doanh nghiệp trên thế giới Nhưng để xây dựng và triển khai được hệ thống SOA thì vẫn phải gặp một số vấn đề trở ngại:

Xác định dịch vụ

- Dịch vụ là gì?chức năng nghiệp vụ nào cần được cung cấp bởi một dịch vụ?

Độ mịn(granularity) của một dịch vụ thế nào là tốt?

- Việc xác định dịch vụ và quyết định đối tượng cung cấp dịch vụ một cách thích hợp, hiệu quả là giai đoạn quan trọng và đầu tiên trong một giải pháp hướng dịch

vụ Trong thực tế nhiều chức năng nghiệp vụ tương tự nhau có thể được cung cấp bởi nhiều hệ thống trong một tổ chức

Phân bổ dịch vụ

- Ta nên đặt dịch vụ ở vị trí nào trong hệ thống?

- Các dịch vụ thường hoạt động dựa trên các thực thể nghiệp vụ.Các đối tượng này được lưu và quản lí trong hệ thống.Vị trí của các thực thể này cũng là vị trí tốt nhất để đặt dịch vụ.Tuy nhiên bởi đặc tính của hệ là phân tán nên các đối tượng này

Trang 9

phân bố rải rác ở nhiều vị trí và có thể một đối tượng được quản lí ở nhiều nơi.Vì vậy, đồng bộ dữ liệu giữa các hệ thống trở nên là một yêu cầu quan trọng.Trong môi trường như thế thì dịch vụ sẽ được đặt ở đâu

Xác định miền dịch vụ

- Làm sao gom nhóm các dịch vụ thành các miền luận lý(logic domain)

- Việc phân loại gom nhóm các dịch vụ thành các miền luận lý sẽ đơn giản hóa kiến trúc bởi sẽ giảm được số lượng các thành phần cần xây dựng.Việc định nghĩa các miền như thế cũng ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh khác của kiến trúc hệ thống như cân bằng tải(load balancing), điều khiển truy cập(access control), sự phân chia theo chiều sâu hay chiều rộng của xử lý nghiệp vụ

Đóng gói dịch vụ

- Làm sao có thể bao bọc các chức năng sẵn có của hệ thống cũ vào trong một dịch vụ

- Nếu hệ thống khi được thiết kế đã quan tâm và hỗ trợ vấn đề tích hợp với các

hệ thống mới thì vấn đề này sẽ dễ dàng hơn.Tuy nhiên các hệ thống cũ này trước đây được xây dựng theo mô hình kín, đóng gói trong đó chứa toàn bộ các thông tin về nguyên tắc và qui trình xử lý thì nay, khi được tích hợp, các thông tin này cần được chia sẻ và phân bố trong nhiều ứng dụng khác nhau

Kết hợp các dịch vụ

- Làm sao để có thể tạo ra các dịch vụ tổng hợp

- Nhu cầu kết hợp nhiều dịch vụ để đáp ứng được yêu cầu phức tạp từ đối tượng sử dụng là có thực Vấn đề là làm sao kết hợp các dịch vụ này một cách hiệu quả, theo những qui trình với những rằng buộc phức tạp

Trang 10

- Làm sao để lựa chọn một chuẩn định dạng thông điệp trao đổi giữa các chuẩn? Làm sao có thể xây dựng một chuẩn định dạng dữ liệu mà mọi hệ thống đều

có khả năng hiểu và xử lý?

Ngoài các khó khăn trên mỗi tổ chức với mỗi đặc thù riêng của mình có thể sẽ phải đối diện với các vấn đề khác trong quá trình triển khai hệ thống

1.1.6.2 Vòng đời của hệ thống

Hình vẽ dưới đây mô tả tổng quát các giai đoạn trong chu trình sống của một

hệ thống SOA Trong đó qui trình hệ thống đi qua 4 giai đoạn chính: Mô hình hóa, Lắp ghép, Triển khai và Quản lý Các giai đoạn này đều dựa trên nền tảng của việc Quản trị và các thực nghiệm

Hình 1.5: Vòng đời hệ thống SOA

Pha Model - mô hình hóa và thiết kế

Ở pha này, cần tập trung vào những mục tiêu chính như sau:

- Thu thập các yêu cầu sử dụng dịch vụ

- Mô hình hóa và mô phỏng hệ thống

Trang 11

Pha Deploy – Triển khai

- Tích hợp các nguồn nhân lực

- Tích hợp các tiến trình

- Quản lý và tích hợp thông tin

Pha Manage – Quản lí

- Quản trị các ứng dụng và các dịch vụ

- Quản lí sự đồng nhất và tính tuân thủ

- Giám sát các số liệu nghiệp vụ

Governance and best practice – Quản trị và các trải nghiệm thực tế

Đây là công việc xuyên suốt trong cả qui trình vòng đời hệ thống

- Tính toán về tài chính

- Sắp xếp nghiệp vụ/công nghệ thông tin

- Điều khiển các tiến trình

Các thông tin thu thập được trong pha Manage sẽ được cung cấp trở lại qui trình phát triển và giúp cải thiện quá trình xây dựng hệ thống, làm cho hệ thống hoàn chỉnh hơn Có nghĩa, qui trình là một vòng lặp cho tới khi hệ thống hoàn chỉnh theo nhu cầu thay đổi của doanh nghiệp và khách hàng

1.1.6.3 Các pha cơ bản xây dựng hệ thống SOA

Xây dựng hệ thống SOA trải qua 6 pha sau đây:

Hình 1.6: Các bước cơ bản trong xây dựng hệ thống SOA

Trang 12

Bước 1: Phân tích hướng dịch vụ (Service-oriented analysis)

Đây là giai đoạn đầu để quyết định phạm vi của hệ thống SOA Hệ thống gồm những dịch vụ nào? Tầng dịch vụ là được lược đồ hóa ra (mapped out), và chia dịch

vụ ra thành các mô hình, bao gồm hệ thống SOA sơ bộ

Bước 2: Thiết kế hướng dịch vụ (service-oriented design)

Đây là giai đoạn có sự kết hợp chặt chẽ về sự thỏa hiệp của doanh nghiệp và nguyên lý hướng dịch vụ thành quy trình thiết kế dịch vụ Trong pha này, làm cho người thiết kế dịch vụ phải đương đầu với giải quyết vấn đề then chốt đó là thiết lập nên những ranh giới thông qua các dịch vụ Các tầng dịch vụ là được thiết kế trong giai đoạn này có thể bao gồm tầng orchestrantion, các kết quả của nó là trong sự xác định quy trình nghiệp vụ hình thức

Bước 3: Phát triển dịch vụ (Service development)

Trong bước này là giai đoạn xây dựng thực tế Ở đây vấn đề về nền tảng phát triển đi vào hoạt động, không quan tâm tới nó là loại dịch vụ nào Một cách cụ thể, là

sự lựa chọn ngôn ngữ lập trình và môi trường phát triển sẽ quyết định những mẫu dịch

vụ và quy trình nghiệp vụ orchestrantion nào phù hợp với thiết kế

Bước 4: Kiểm thử dịch vụ (Service testing)

Để đưa ra những tiềm năng cho việc dùng lại và bao gồm cả những trạng thái không biết trước được, các dịch vụ là được yêu cầu trải qua được sự nghiêm ngặt của việc kiểm thử trước khi được triển khai thành các sản phẩm

Bước 5: Triển khai dịch vụ (Service deployment)

Giai đoạn thực thi này đưa đến việc cài đặt và cấu hình cho các thành phần phân tán, các giao diện dịch vụ, và nhiều sản phẩm trung gian (middleware products) kết hợp với nhau thành những server

Bước 6: Quản trị dịch vụ (Service administration)

Sau khi các dịch vụ được triển khai, vấn đề quản lý các ứng dụng trở thành hàng đầu, mối quan tâm cho hệ thống phân tán, và các ứng dụng dựa trên các thành phần (component-based applications), và việc xem xét chúng như các dịch vụ trong một tổng thể

1.1.6.4 Các chiến lược xây dựng hệ thống

Nhìn chung có hai phương pháp chính để xây dựng một hệ thống SOA Cách đầu tiên là tự tay xây dựng từ đầu hệ thống theo mô hình SOA Cách thứ hai là xây dựng SOA dựa vào một bộ thư viện hay một nền tảng có sẵn Mỗi cách đều có những

Trang 13

ưu nhược điểm riêng Nếu chúng ta tự tay xây dựng ngay từ đầu thì có thể dễ dàng kiểm soát và tối ưu nó, tuy nhiên chúng ta sẽ phải tốn rất nhiều thời gian, nhân lực và tiền bạc thì may ra mới có thể xây dựng được một hệ thống SOA hoàn chỉnh, bởi các

hệ thống SOA thoạt nhìn bên ngoài rất đơn giản nhưng lại rất phức tạp ở bên trong Ngược lại, nếu xây dựng SOA từ nền tảng có sẵn, chúng ta sẽ có được nhiều cái lợi như: thời gian phát triển và triển khai nhanh, được hỗ trợ tốt hơn Bù lại chúng ta sẽ không thể tự do chỉnh sửa và thay đổi theo ý muốn

Chiến lược top-down

Trong xây dựng một hệ thống SOA, top-down là chiến lược lấy xuất phát điểm

là các yêu cầu nghiệp vụ, sau đó xác định các yêu cầu chức năng, các tiến trình nghiệp

vụ và các tiến trình con, các ca sử dụng (use cases) và đi tới xác định các thành phần, các dịch vụ của hệ thống

Hình 1.7: Tiếp cận Top-down xây dựng hệ thống

Chiến lược top-down hỗ trợ tạo ra các bước để hình thành tầng dịch vụ (service layers) Chiến lược này phổ biến để tạo ra những kiến trúc dịch vụ có chất lượng cao, trong quá trình tạo ra nhiều những nghiệp vụ được sử dụng lại và các dịch vụ ứng dụng khác

Hình 1.8: Các bước xây dựng hệ thống theo chiến lược top-down

Trang 14

Bước 1: Define relevant ontology

Bước này là để xác định, phân loại các tập thông tin được xử lý bởi các cơ cấu

tổ chức của hệ thống Các kết quả này là các từ vựng phổ biến, như sự định nghĩa mối quan hệ giữa các tập thông tin này với tập thông tin khác là như thế nào Các tổ chức

có phạm vi rộng lớn hơn cùng với nhiều phạm vi nghiệp vụ có thể có vài ontology, theo mỗi cách quản lý thì các nghiệp vụ chia ra một cách rõ ràng Nếu có nhiều từ vựng nghiệp vụ không tồn tại cho bất cứ các tập thông tin nào mà một giải pháp được yêu cầu thực hiện, thì tại bước này nó sẽ được định nghĩa Một số lượng đáng kể các tập thông tin trước và kết quả phân tích nghiệp vụ ở mức cao có thể được yêu cầu

Bước 2: Align relevant business models (including entity models)

Sau khi ontology được thiết lập, sự tồn tại các mô hình nghiệp vụ có thể cần thay đổi (hay tạo ra) để thể hiện các từ vựng bằng cách cung cấp ontology trong các thuật ngữ mô hình nghiệp vụ Mô hình thực thể chi tiết rất quan trọng

Bước 3: Perform service-oriented analysis

Xác định các dịch vụ và hướng tiếp cận cho các dịch vụ, mô hình hóa các dịch

vụ

Bước 4: Perform service-oriented design

Thực hiện thiết kế hướng dịch vụ

Bước 5: Develop services

Phát triển các dịch vụ theo yêu cầu Các dịch vụ được phát triển theo những bản thiết kế kỹ thuật tương ứng với các đặc tả dịch vụ được tạo ra ở bước 4

Bước 6: Test service operations

Giai đoạn kiểm thử được yêu cầu cho tất cả quá trình hoạt động của dịch vụ và quá trình kiểm tra phải thực hiện đảm bảo chất lượng Các dịch vụ vượt qua được sự kiểm tra coi như đạt chất lượng và có thể tái sử dụng sau này

Bước 7: Deploy service

Quan tâm tới vấn đề thực thi, xác định tiềm năng tương lai sử dụng lại của dịch

vụ Để tạo điều kiện cho nhiều người yêu cầu dịch vụ, các dịch vụ sử dụng lại có thể

mở rộng năng lực xử lý và cần có sự bảo mật Đồng thời, cần phải cung cấp cả khả năng truy cập cho dịch vụ

Chiến lược bottom-up

Trang 15

Chiến lược này dựa trên việc phân tích tình trạng, các tài nguyên có sẵn của hệ thống hiện có và tái sử dụng lại những thành phần này trong việc xây dựng các dịch

vụ mới Sau khi có được các dịch vụ từ những thành phần đó, ta có thể cải tiến chất lượng dịch vụ hoặc tổ hợp các dịch vụ lại để tạo ra những dịch vụ cao cấp hơn hay còn gọi là các dịch vụ tổ hợp

Hình 1.9: Tiếp cận Bottom-up xây dựng hệ thống

Trong hướng tiếp cận này, ta thừa nhận các yêu cầu nghiệp vụ đã tồn tại

Hình 1.10: Các bước xây dựng hệ thống theo chiến lược bottom-up

Bước 1: Model application services

Kết quả của giai đoạn này là sự định nghĩa của các yêu cầu ứng dụng được thỏa mãn thông qua việc sử dụng Web service Các yêu cầu này bao gồm những thiết lập lên các kênh tích hợp point-to-point giữa hệ thống cũ (legacy system) hoặc giải pháp B2B (Business-to-Business) Các yêu cầu phổ biến khác sẽ dần xuất hiện để thay công nghệ truyền thông truyền thống bằng những framework truyền thông điệp SOAP

Các dịch vụ ứng dụng cũng sẽ được mô hình hóa bao gồm các logic và quy tắc cho nghiệp vụ cụ thể Trường hợp này, giống như hai tầng dịch vụ ứng dụng, bao gồm

có các dịch vụ tiện ích và nhân bản

Trang 16

Bước 2: Design applicaion services

Một vài các dịch vụ ứng dụng được mô hình hóa trong bước 1 có thể được trình bày thành bản thiết kế Các dich vụ có thể cung cấp thêm vào cho thiết kế Các dịch

vụ ứng dụng tùy chọn sẽ cần đưa qua quá trình thiết kế, ở một khía cạnh nào đó thì tồn tại những chuẩn thiết kế được áp dụng để đảm bảo mức độ bền vững

Bước 3: Deploy application service

Các dịch vụ ứng dụng được phát triển theo sự mô tả dịch vụ và bản thiết kế chi tiết ứng dụng

Bước 4: Test service

Các dịch vụ, môi trường kết hợp của chúng, và logic của những hệ thống cũ sẽ được kiểm tra để đảm bảo chắc chắn rằng xử lý các yêu cầu là phù hợp Sự thực thi và tiêu chuẩn kiểm thử được nhấn mạnh thường là thiết lập lên các tham số cho hệ thống

cũ thông qua các dịch vụ Kiểm tra bảo mật cũng là phần quan trọng của giai đoạn này

Bước 5: Deploy services

Những giải pháp và các dịch vụ ứng dụng của nó sẽ triển khai thành sản phẩm

Sự cân nhắc thực thi cho các dịch vụ ứng dụng thường bao gồm sự thực thi và các yêu cầu bảo mật

Hiện xu thế SOA đang phát triển rất mạnh Và cả hai chiến lược xây dựng hệ thống top-down và bottom-up đều được áp dụng rộng rãi Một số hệ thống cũ muốn nâng cấp hay tích hợp thêm một số dịch vụ hoặc tổ hợp lại với nhau thành một hệ thống lớn thường sử dụng chiến lược bottom-up để tận dụng cơ sở hạ tầng có sẵn và tiết kiệm chi phí Còn hầu hết những hệ thống lớn hiện nay đi vào xây dựng đều theo định hướng SOA và áp dụng chiến lược top-down, nhằm mục đích đảm bảo khả năng

mở rộng và thường xuyên thay đổi các yêu cầu với hệ thống Tùy vào từng hệ thống

mà việc xây dựng kiến trúc hướng dịch vụ có thể sử dụng chiến lược phù hợp

1.2 Điện toán đám mây

1.2.1 Tổng quan về điện toán đám mây

Điện toán đám mây (Cloud Computing) là biểu tượng tượng trưng cho Internet

và thường được sử dụng trong các mô hình, sơ đồ mạng máy tính Do đó, điện toán đám mây được hiểu như cách thức áp dụng các kỹ thuật điện toán dựa trên Internet

Cụ thể hơn, đó là một mô hình mà mọi thông tin đều được lưu trữ, tính toán, xử lý trong các máy chủ đặt trên Internet Người sử dụng có thể làm việc với các thông tin

đó mà không cần phải hiểu biết về công nghệ, kỹ thuật và hạ tầng cơ sở của đám mây

Trang 17

Hình 1.11: Mô hình tổng quan về Cloud computing

Với cách thức lưu trữ và xử lý thông tin như vậy, người sử dụng có thể dễ dàng truy cập vào đám mây chỉ với một ứng dụng có khả năng truy nhập Internet và từ bất

kỳ thiết bị nào, bao gồm máy tính, thiết bị cầm tay, di động, thiết bị giải trí Ví dụ rõ ràng nhất về ứng dụng thực tế đang được sử dụng rộng rãi, đại diện cho một ứng dụng trong mô hình điện toán đám mây, là dịch vụ thư điện tử trực tuyến được cung cấp bởi nhiều hãng lớn như Hotmail của Microsoft, Yahoo Mail của Yahoo, Gmail của Google Với dịch vụ này, người sử dụng chỉ cần trình duyệt web cùng tài khoản cá nhân đã được đăng ký là có thể thực hiện trao đổi, giao dịch thư điện tử mà không cần quan tâm đến vấn đề kỹ thuật, phần mềm, hạ tầng do điều đó được đảm bảo bởi các nhà cung cấp dịch vụ, mà cụ thể ở đây là Microsoft, Yahoo, Google

Tóm lại, điện toán đám mây là các phát triển dựa vào mạng Internet sử dụng các công nghệ máy tính Đây là một kiểu điện toán trong đó những tài nguyên tính toán và lưu trữ được cung cấp như những dịch vụ trên mạng Người dùng không cần biết hay có kinh nghiệm điều khiển và vận hành những công nghệ này

Điện toán đám mây bao gồm: Dịch vụ cơ sở hạ tầng (IaaS - Infrastructure as a Service), Nền tảng như một dịch vụ (Paas - Platform as a Service), Phần mềm hoạt động như dịch vụ (SaaS - Software as a service) Chúng đều dựa vào mạng Internet để đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dùng Những ví dụ tiêu biểu về điện toán đám mây là Salesforce.com và Google Apps Chúng cung cấp những ứng dụng thương mại trực tuyến, được truy cập thông qua trình duyệt web, trong khi dữ liệu và phần mềm được lưu trên đám mây

Trang 18

Đám mây là hình ảnh ẩn dụ cho mạng Internet và là sự trừu tượng cho những

cơ sở hạ tầng phức tạp mà nó che giấu

Điện toán đám mây thường bị nhầm lẫn với điện toán lưới (grid computing - một loại hình điện toán phân tán được tạo bởi các mạng máy tính nhỏ hoặc các cặp máy tính, hoạt động phối hợp với nhau để thực hiện các chức năng rất lớn), điện toán theo nhu cầu (utility computing - khối những tài nguyên máy tính, như các bộ xử lý và

bộ nhớ, trong vai trò một dịch vụ trắc lượng tương tự với các công trình hạ tầng kỹ thuật truyền thống) và điện toán tự trị (autonomic computing - các hệ thống máy tính

có khả năng tự quản lý)

Trên thực tế, việc triển khai các cơ sở hạ tầng cho điện toán đám mây dựa trên các đặc điểm của điện toán lưới, điện toán theo nhu cầu và điện toán tự trị Điện toán đám mây có thể được xem như là giai đoạn tự nhiên tiếp theo từ mô hình điện toán lưới

1.2.2 Đặc điểm và thành phần của điện toán đám mây

1.2.2.1 Đặc điểm của điện toán đám mây

Điện toán đám mây giúp cho khách hàng không cần phải sở hữu cơ sở hạ tầng

Họ sẽ chỉ phải trả cho những gì họ sử dụng Việc chia sẻ giữa nhiều người thuê giúp tận dụng nguồn tài nguyên máy tính và giảm phí tổn

Điện toán đám mây có những đặc điểm chính bao gồm:

Trang 19

1.2.2.2 Thành phần của điện toán đám mây

Về cơ bản, “điện toán đám mây” được chia ra thành 5 lớp riêng biệt, có tác động qua lại lẫn nhau:

Hình 1.12 : Thành phần của điện toán đám mây

Client (lớp khách hàng)

Lớp Client của điện toán đám mây bao gồm phần cứng và phần mềm, để dựa vào đó, khách hàng có thể truy cập và sử dụng các ứng dụng/dịch vụ được cung cấp từ điện toán đám mây Chẳng hạn máy tính và đường dây kết nối Internet (thiết bị phần cứng) và các trình duyệt web (phần mềm)…

Application (lớp ứng dụng)

Lớp ứng dụng của điện toán đám mây làm nhiệm vụ phân phối phần mềm như một dịch vụ thông quan Internet, người dùng không cần phải cài đặt và chạy các ứng dụng đó trên máy tính của mình, các ứng dụng dễ dàng được chỉnh sữa và người dùng

dễ dàng nhận được sự hỗ trợ

Các hoạt động được quản lý tại trung tâm của đám mây, chứ không nằm ở phía khách hàng (lớp Client), cho phép khách hàng truy cập các ứng dụng từ xa thông qua Website

Người dùng không còn cần thực hiện các tính năng như cập nhật phiên bản, bản vá lỗi, download phiên bản mới… bởi chúng sẽ được thực hiện từ các “đám mây”

Trang 20

Platform (lớp nền tảng)

Lớp này cung cấp nền tảng cho điện toán và các giải pháp của dịch vụ, chi phối đến cấu trúc hạ tầng của “đám mây” và là điểm tựa cho lớp ứng dụng, cho phép các ứng dụng hoạt động trên nền tảng đó Nó giảm nhẹ sự tốn kém khi triển khai các ứng dụng khi người dùng không phải trang bị cơ sở hạ tầng (phần cứng và phần mềm) của riêng mình

Infrastructure (lớp cơ sở hạ tầng)

Lớp cơ sở hạ tầng cung cấp hạ tầng máy tính, tiêu biểu là môi trường nền ảo hóa Thay vì khách hàng phải bỏ tiền ra mua các server, phần mềm, trung tâm dữ liệu hoặc thiết bị kết nối… giờ đây, họ vẫn có thể có đầy đủ tài nguyên để sử dụng mà chi phí được giảm thiểu, hoặc thậm chí là miễn phí Đây là một bước tiến hóa của mô hình máy chủ ảo (Virtual Private Server)

Server (lớp server - máy chủ)

Lớp máy chủ bao gồm các sản phẩm phần cứng và phần mềm máy tính, được thiết kế và xây dựng đặc biệt để cung cấp các dịch vụ của đám mây Các server phải được xây dựng và có cấu hình đủ mạnh để đám ứng nhu cầu sử dụng của số lượng động đảo các người dùng và các nhu cầu ngày càng cao của họ

1.2.3 Kiến trúc của điện toán đám mây

Điểm chủ yếu trong cơ sở hạ tầng của điện toán đám mây hiện nay bao gồm các dịch vụ tin cậy được phân phối qua trung tâm dữ liệu và được xây dựng trên các máy chủ với các công nghệ ảo hóa khác nhau Các dịch vụ này có thể truy cập được từ bất kỳ nơi nào trên thế giới, và “đám mây” là điểm truy cập duy nhất đáp ứng tất cả nhu cầu của người dùng máy tính Việc cung cấp đám mây phải phù hợp với yêu cầu của khách hàng về chất lượng dịch vụ và mức độ chấp nhận của dịch vụ Các tiêu chuẩn mở và phần mềm nguồn mở cũng quyết định đến sự lớn mạnh của điện toán đám mây

Hình 1.13: Kiến trúc của điện toán đám mây

Trang 21

Kiến trúc đám mây gồm: nền tảng đám mây (Cloud Platform), các dịch vụ đám mây (Cloud Service), cơ sở hạ tầng đám mây (Cloud Infrastructure) và lưu trữ đám mây (Cloud Storage)

1.2.4 Cấu hình cơ bản của ứng dụng đám mây

Các dịch vụ điện toán đám mây thông thường bao gồm 3 cấu hình: Dịch vụ phần mềm (SaaS), cho phép người dùng truy cập các ứng dụng được cung cấp bởi các nhà cung cấp dịch vụ đám mây ngoại và nội bộ; Dịch vụ nền tảng (PaaS), các phần mềm và dịch vụ thiết yếu chạy trên máy chủ hệ điều hành như các công cụ phát triển,

cơ sở dữ liệu, trung gian, phần mềm bảo mật và xác thực; Dịch vụ Cơ sở hạ tầng (IaaS), cho phép các tổ chức tự cung cấp các hệ điều hành nền như Windows hay Linux bằng phương thức trả trước Sử dụng IaaS sẽ giúp giảm thiểu thời gian chờ đợi cho việc mua và lắp đặt máy chủ cũng như tạo ra một nền tảng kinh doanh mạnh mẽ cho nhiều tổ chức Một đặc điểm thiết yếu của điện toán đám mây là “tính đàn hồi” Tính đàn hồi này giúp cung cấp hàng trăm dịch vụ cũng như đóng lại khi đã hoàn thành một cách dễ dàng và nhanh chóng Khi sử dụng IaaS, các tổ chức gần như không cần lo lắng về chi phí sau khi đã đóng dịch vụ, cũng giống như việc tiền điện sẽ không còn được tính sau khi bóng đèn đã tắt Tính đàn hồi đám mây này được cho là một yếu tố quan trọng giúp giảm chi phí, từ chuyên môn còn gọi là “bùng nổ đám mây”

Mô hình kết nối điện toán đám mây gồm 4 loại: nội bộ, công cộng, lai ghép, và cộng đồng Đám mây nội bộ như đã nói ở phần trước được lắp đặt trên mạng lưới nội

bộ của công ty, sử dụng phương thức đa người dùng, và độc quyền cho tổ chức nội bộ Trong khi đó, dịch vụ đám mây công cộng có thể được truy cập từ các kết nối internet toàn cầu, qua đó cơ sở hạ tầng và các dịch vụ cũng được chia sẻ bởi hàng nghìn người dùng trả trước Đám mây ghép lai là sự pha trộn có chọn lọc của đám mây cá nhân và công cộng, còn được gọi là “bùng nổ đám mây” Bùng nổ đám mây được tạo ra khi sức chứa của mạng nội bộ bị quá tải và phần công việc chưa thực hiện sẽ được chuyển sang cho các nhà cung cấp ngoài Vỡ đám mấy giúp tránh suy thoái dịch vụ trong bối cảnh các nhu cầu IT dễ biến đổi, cũng như tại các thời điểm nhu cầu tăng cao Bùng

nổ đám mây được cho là một giải pháp tiềm năng giúp giảm chi phí cho điện toán đám mây; vì suy cho cùng, không bao giờ nên chi trả cho những gì mà bạn không sử dụng Cuối cùng, khái niệm ít phổ biến hơn đó là đám mây cộng đồng – tập hợp các đám mây của các tổ chức có sự tin cậy và khả năng hợp tác với nhau Thông thường, các tổ chức chính phủ và cộng đồng khoa học sử dụng đám mây cộng đồng để chia sẻ nguồn dữ liệu, trong khi vẫn giữ được tính độc lập nhất định

1.2.5 Cách thức hoạt động của Điện toán đám mây

Để hiểu cách thức hoạt động của “đám mây”, tưởng tượng rằng “đám mây” bao gồm hai lớp: Lớp Back-end và lớp Front-end

Trang 22

Hình 1.14: Các lớp Back-end và Front-end của điện toán đám mây

Hạ tầng thiết bị được chứa ở lớp Back-End, và giao diện người dùng của các ứng dụng được chứa tại lớp Front-End

Lớp Front-end là lớp người dùng, cho phép người dùng sử dụng và thực hiện thông qua giao diện người dùng Khi người dùng truy cập các dịch vụ trực tuyến, họ

sẽ phải sử dụng thông qua giao diện từ lớp Front-end, và các phần mềm sẽ được chạy trên lớp Back-end nằm ở “đám mây” Lớp Back-end bao gồm các cấu trức phần cứng

và phần mềm để cung cấp giao diện cho lớp Front-end và được người dùng tác động thông qua giao diện đó

Bởi vì các máy tính trên “đám mây” được thiết lập để hoạt động cùng nhau, do vậy các ứng dụng có thể sử dụng toàn bộ sức mạnh của các máy tính để có thể đạt được hiệu suất cao nhất Điện toán đám mây cũng đáp ứng đầy đủ tính linh hoạt cho người dùng Tuy thuộc vào nhu cầu, người dùng có thể tăng thêm tài nguyên mà các đám mây cần sử dụng để đáp ứng, mà không cần phải nâng cấp thêm tài nguyên phần cứng như sử dụng máy tính cá nhân Ngoài ra, với điện toán đám mây, vấn đề hạn chế của hệ điều hành khi sử dụng các ứng dụng không còn bị ràng buộc, như cách sử dụng máy tính thông thường

1.2.6 Sự khác biệt giữa điện toán đám mây và điện toán truyền thống

Trong mô hình điện toán truyền thống, các cá nhân, doanh nghiệp sẽ xây dựng riêng cơ sở hạ tầng kỹ thuật để tự cung cấp các dịch vụ cho các hoạt động thông tin đặc thù của mình Với mô hình này, mọi thông tin sẽ được lưu trữ, xử lý nội bộ và họ

sẽ trả tiền để triển khai, duy trì cơ sở hạ tầng đó (mua thiết bị phần cứng, phần mềm

Trang 23

chuyên dụng, trả lương cho bộ phận điều hành ).Khác với mô hình điện toán truyền thống, điện toán đám mây lưu trữ và xử lý toàn bộ thông tin trong đám mây Internet Mọi công nghệ, kỹ thuật, cơ sở hạ tầng cũng như chi phí triển khai trong đám mây sẽ

do nhà cung cấp đảm bảo xây dựng và duy trì Do đó, thay vì phải đầu tư từ đầu rất nhiều tiền cho chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng riêng, các cá nhân, doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sẽ chỉ phải trả số tiền vừa đủ theo nhu cầu sử dụng của mình Như vậy, mô hình này có rất nhiều lợi ích như sử dụng hợp lý nguồn vốn, điều hòa chi tiêu tính toán theo thực tế sử dụng, luôn hưởng năng suất tính toán theo cam kết của nhà cung cấp dịch vụ, tận dụng được sức mạnh của Internet và các siêu máy tính, giảm cơ bản trách nhiệm quản lý hệ thống CNTT nội bộ

1.2.7 Mô hình cung cấp dịch vụ điện toán đám mây

Điện toán đám mây không phải là một công nghệ mà là mô hình cung cấp dịch vụ điện toán đám mây và tiếp thị dịch vụ CNTT đáp ứng các đặc trưng nào đó Dịch vụ CNTT được cung cấp qua đám mây được nhóm lại thành ba dạng: Các dịch vụ cơ sở

hạ tầng (Infrastructure as a Service – IaaS); các dịch vụ nền tảng (Platform as a Service – PaaS) và các dịch vụ ứng dụng (Software as a Service – SaaS)

Hình 1.15: Mô hình dịch vụ điện toán đám mây

Trang 24

từ một nhà cung cấp bên thứ ba bên ngoài cung cấp các tài nguyên chia sẻ và gửi hóa đơn tính cước trên cơ sở tính toán việc sử dụng

Các đám mây riêng tư tồn tại bên trong tường lửa của công ty bạn và do tổ chức của bạn quản lý Chúng là các dịch vụ đám mây do bạn tạo ra và kiểm soát trong doanh nghiệp của mình Các đám mây riêng tư cũng cung cấp nhiều lợi ích tương tự như các đám mây công cộng, sự khác biệt chủ yếu là tổ chức của bạn chịu trách nhiệm thiết lập và duy trì đám mây đó

Các đám mây lai là một sự kết hợp của đám mây công cộng và riêng tư khi sử dụng các dịch vụ có trong cả hai vùng công cộng và riêng tư Các trách nhiệm quản lý được phân chia giữa các nhà cung cấp dịch vụ đám mây công cộng và chính doanh nghiệp Khi sử dụng một đám mây lai, các tổ chức có thể xác định các mục tiêu và các yêu cầu của các dịch vụ được tạo ra và có được chúng dựa vào sự lựa chọn thích hợp nhất

Trang 25

1.2.9 Lợi ích của điện toán đám mây

Nói chung trong hầu hết các trường hợp, doanh nghiệp cần phải điều chỉnh lại chiến lược sử dụng hạ tầng công nghệ thông tin để giảm chi phí sản xuất,

và một trong các xu hướng được tính đến là sử dụng mô hình điện toán đám mây với những lợi ích điển hình được liệt kê dưới đây:

Giảm chi phí

Mô hình điện toán đám mây có chi phí thấp hơn so với mô hình sử dụng hạ tầng công nghệ thông tin truyền thống vì phí sử dụng được trả theo dịch vụ và thời gian, mà khách hàng không phải đầu tư quá nhiều vào cơ sở hạ tầng và giảm được chi phí vận hành và bảo trì Còn trong trường hợp mô hình điện toán riêng thì chi phí ban đầu và chi phí định kỳ thấp hơn nhiều so với mô hình hạ tầng công nghệ thông tin truyền thống

Tăng khả năng lưu trữ

Với cơ sở hạ tầng quy mô lớn được do nhà cung cấp mang lại, việc lưu trữ và bảo trì khối lượng lớn dữ liệu có thể được tiến hành dễ dàng Việc tăng đột ngột khối lượng công việc cũng được xử lý hiệu quả, vì các đám mây có thể được mở rộng một cách dễ dàng và linh hoạt Khách hàng cũng không phải quan tâm đến các thay đổi trong công nghệ lưu trữ, điều mà trước kia có thể gây ra vấn đề khi có chuyển đổi lớn

về công nghệ và phương tiện lưu trữ đặc biệt đối với những khối lượng dữ liệu lớn

Tăng tính linh hoạt

Tính linh hoạt cao là một yêu cầu vô cùng quan trọng trong kinh doanh Với các doanh nghiệp phải điều chỉnh nhanh khi điều kiện kinh doanh thay đổi, tốc độ cung cấp dịch vụ là rất quan trọng Điện toán đám mây nhấn mạnh vào việc đưa các ứng dụng và sản phẩm ra thị trường một cách nhanh chóng, bằng cách sử dụng các modul xây dựng sẵn thích hợp nhất cho việc triển khai

1.2.10 Ưu nhược điểm của điện toán đám mây

1.2.10.1 Ưu điểm của điện toán đám mây

Tốc độ xử lý nhanh, cung cấp cho người dùng những dịch vụ nhanh chóng và giá thành rẻ dựa trên nền tảng cơ sở hạ tầng tập trung (đám mây)

Chi phí đầu tư ban đầu về cơ sở hạ tầng, máy móc và nguồn nhân lực của người sử dụng điện toán đám mây được giảm đến mức thấp nhất

Không còn phụ thuộc vào thiết bị và vị trí địa lý, cho phép người dùng truy cập

và sử dụng hệ thống thông qua trình duyệt web ở bất kỳ đâu và trên bất kỳ thiết bị nào

mà họ sử dụng (chẳng hạn là PC hoặc là điện thoại di động…)

Trang 26

Chia sẻ tài nguyên và chi phí trên một địa bàn rộng lớn, mang lại các lợi ích cho người dùng

Với độ tin cậy cao, không chỉ dành cho người dùng phổ thông, điện toán đám mây còn phù hợp với các yêu cầu cao và liên tục của các công ty kinh doanh và các nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, một vài dịch vụ lớn của điện toán đám mây đôi khi rơi vào trạng thái quá tải, khiến hoạt động bị ngưng trệ Khi rơi vào trạng thái này, người dùng không có khả năng để xử lý các sự cố mà phải nhờ vào các chuyên gia từ

“đám mây” tiến hành xử lý

Khả năng mở rộng được, giúp cải thiện chất lượng các dịch vụ được cung cấp trên “đám mây”

Khả năng bảo mật được cải thiện do sự tập trung về dữ liệu

Các ứng dụng của điện toán đám mây dễ dàng để sửa chữa và cải thiện về tính năng bởi lẽ chúng không được cài đặt cố định trên một máy tính nào

Tài nguyên sử dụng của điện toán đám mây luôn được quản lý và thống kê trên từng khách hàng và ứng dụng, theo từng ngày, từng tuần, từng tháng Điều này đảm bảo cho việc định lượng giá cả của mỗi dịch vụ do điện toán đám mây cung cấp để người dùng có thể lựa chọn phù hợp

1.2.10.2 Nhược điểm của điện toán đám mây

Tính riêng tư: Các thông tin người dùng và dữ liệu được chứa trên điện toán

đám mây có đảm bảo được riêng tư, và liệu các thông tin đó có bị sử dụng vì một mục đích nào khác?

Tính sẵn dùng: Liệu các dịch vụ đám mây có bị “treo” bất ngờ, khiến cho

người dùng không thể truy cập các dịch vụ và dữ liệu của mình trong những khoảng thời gian nào đó khiến ảnh hưởng đến công việc

Mất dữ liệu: Một vài dịch vụ lưu trữ dữ liệu trực tuyến trên đám mây bất ngờ

ngừng hoạt động hoặc không tiếp tục cung cấp dịch vụ, khiến cho người dùng phải sao lưu dữ liệu của họ từ “đám mây” về máy tính cá nhân Điều này sẽ mất nhiều thời gian Thậm chí một vài trường hợp, vì một lý do nào đó, dữ liệu người dùng bị mất và không thể phục hồi được

Tính di động của dữ liệu và quyền sở hữu: Một câu hỏi đặt ra, liệu người

dùng có thể chia sẻ dữ liệu từ dịch vụ đám mây này sang dịch vụ của đám mây khác? Hoặc trong trường hợp không muốn tiếp tục sử dụng dịch vụ cung cấp từ đám mây, liệu người dùng có thể sao lưu toàn bộ dữ liệu của họ từ đám mây? Và làm cách nào

để người dùng có thể chắc chắn rằng các dịch vụ đám mây sẽ không hủy toàn bộ dữ liệu của họ trong trường hợp dịch vụ ngừng hoạt động

Trang 27

Khả năng bảo mật: Vấn đề tập trung dữ liệu trên các “đám mây” là cách thức

hiệu quả để tăng cường bảo mật, nhưng mặt khác cũng lại chính là mối lo của người

sử dụng dịch vụ của điện toán đám mây Bởi lẽ một khi các đám mây bị tấn công hoặc đột nhập, toàn bộ dữ liệu sẽ bị chiếm dụng Tuy nhiên, đây không thực sự là vấn đề của riêng “điện toán đám mây”, bởi lẽ tấn công đánh cắp dữ liệu là vấn đề gặp phải trên bất kỳ môi trường nào, ngay cả trên các máy tính cá nhân

1.3 Báo điện tử

1.3.1 Khái niệm

Báo điện tử hay báo mạng là loại báo mà người ta đọc nó trên máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng khi có kết nối internet Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí mới, có khả năng cung cấp thông tin sống động bằng chữ viết và âm thanh chỉ trong vài phút đến vài giây, với số trang không hạn chế Báo mạng điện tử là hình thức báo chí được sinh ra từ sự kết hợp những ưu thế của báo in, báo nói, báo hình, sử dụng yếu tố công nghệ cao như một nhân tố quyết định Qui trình sản xuất và truyền tải thông tin của báo mạng dựa trên nền tảng mạng Internet toàn cầu

1.3.2 Đặc điểm báo điện tử

Khác với báo in, tin tức trên báo điện tử được cập nhật thường xuyên Thông tin có thể được lấy từ nhiều nguồn khác nhau hoặc do tự sản xuất

Báo điện tử cho phép mọi người trên khắp thế giới tiếp cận tin tức nhanh chóng, không phụ thuộc vào không gian và thời gian Điều này làm cho báo điện tử ngày càng phát triển hơn, từng bước thay đổi thói quen đọc tin của độc giả và ít nhiều

có ảnh hưởng đến việc phát triển báo giấy truyền thống

1.3.3 Phân loại báo điện tử

Hiện nay có nhiều cách phân loại báo điện tử khác nhau tùy theo quy định riêng Ở Việt Nam hiện tại, báo điện tử được phân loại dựa trên hình thức thể hiện của

tờ báo trên Internet Cụ thể có ba loại báo cơ bản là: Trang tin điện tử, Báo điện tử và Báo tổng hợp tin tức từ các báo khác

Trong khi Báo điện tử hội đủ các yếu tố được cấp phép hoạt động của một tờ báo điện tử, có quyền tự sản xuất tin bài riêng thì Trang tin điện tử đa phần lấy thông tin từ báo in đăng lại Riêng Báo Tổng hợp tin tức từ các báo khác lại lấy tin theo hình thức quét dữ liệu, thông tin từ các trang khác sau đó hiển thị trên trang Người ta gọi chung các báo điện tử dạng này, theo một cách khác là "Báo tự động cập nhật tin tức" Đây là loại báo điện tử có khả năng tổng hợp các tin tức mới, cập nhật từ nhiều nguồn báo điện tử có tiếng của Việt Nam, sau đó các tin này tự động được phân loại, tổ chức

và sắp xếp theo mục mà không cần con người biên tập Dạng báo này giúp độc giả đọc

và tìm kiếm tin tức theo cách hoàn toàn mới Mỗi mẩu tin được hiển thị kèm với các

Trang 28

nguồn tin khác nhau đưa cùng tin hoặc tin tương tự Điều này giúp ích cho người đọc rất nhiều trong việc tiếp cận các báo điện tử của Việt Nam một cách hiệu quả nhất Báo được thiết kế đơn giản, tập trung vào tin tức, không có các banner quảng cáo Do vậy, người đọc cảm thấy rất tiện lợi và thời gian đọc tin cũng tiết kiệm hơn

1.3.4 Ưu nhược điểm của báo điện tử

1.3.4.1 Ưu điểm của báo điện tử

Tính không giới hạn: Báo mạng điện tử có ưu điểm nổi bật là khả năng truyền

tải thông tin vô biên giới Với mạng Internet, thông tin có thể truyền tải đi khắp toàn cầu giúp người dùng có thể tự do khám phá các kiến thức hoặc bất cứ những gì mình thích

Tính thời sự: Thông tin trên Internet nói chung và báo mạng điện tử nói riêng

có tính thời sự rất cao Thông tin đến với người đọc tức thời và gần như ngay lập tức Người đọc biết tin sớm nhất từ những khoảng cách xa nhất Mọi thông tin từ khi tạo ra cho đến khi được phát hành đều diễn ra trong khoảng thời gian ngắn hơn rất nhiều so với báo in truyền thống Chính khả năng này làm cho thông tin trên báo mạng điện tử luôn sống động từng ngày, từng giờ, thậm chí có khi từng phút Hơn nữa, báo mạng điện tử có ưu điểm là khả năng xã hội hóa các sản phẩm đơn lẻ Việc cập nhật theo từng trang tin, chuyên mục có thể được thực hiện bất cứ lúc nào Không giống như các loại hình báo chí khác phải chờ đầy đủ các tin, bài mới lên khuôn in hay lên chương trình phát sóng

Tính tích hợp: Vì là một dịch vụ trên Internet nên báo chí xuất bản trên mạng

hội đủ các ưu thế của một mạng máy tính Tờ báo có thể cung cấp một ngôn ngữ truyền tải mới lạ hấp dẫn dạng thông tin đa phương tiện Đó là khả năng kết hợp ngôn ngữ chữ viết, hình ảnh, âm thanh sống động vào trang báo Nói cách khác đó là một sự tổng hợp về báo in, báo hình và báo nói

Tính hệ thống: Tính cơ bản của báo điện tử là khả năng lưu giữ thông tin của

báo Báo mạng điện tử có thế mạnh hơn báo in ở chỗ lưu giữ thông tin một cách có hệ thống Báo mạng điện tử cho phép độc giả tìm kiếm thông tin theo chủ đề, theo thời gian rất tiện lợi so với việc phải vào thư viện tìm số báo đã ra cách đây nhiều năm về một chủ đề nào đó Báo mạng điện tử khai thác gần như miễn phí mọi nguồn tin từ báo chí, từ Internet, chọn lọc những thông tin hấp dẫn nhất tung lên mạng trong một thời gian rất nhanh, chỉ sau khi báo in phát hành

Tính tương tác: Khả năng giao lưu, tương tác giữa độc giả và tòa soạn cũng

như tác giả của chính bài báo đó cũng là ưu điểm nổi bật của báo mạng điện tử Báo mạng điện tử cho phép sự phản hồi thông tin từ người sử dụng đến tòa soạn báo nhanh chóng, thuận tiện Bằng các phương tiện dễ dàng như email hay chat, cầu nối giữa bên cung cấp thông tin và bên tiếp nhận thông tin trở nên rất chặt chẽ Khi làm báo truyền

Trang 29

thống, muốn biết phản hồi từ độc giả, người đọc để cải tiến nội dung, phương thức đưa tin, cách duy nhất là phải tổ chức các cuộc điều tra dư luận Điều này phải cần thời gian dài trong khi đó độ chính xác lại không cao Tuy nhiên, với báo mạng điện

tử câu trả lời sẽ là 100% chính xác Báo mạng điện tử với công nghệ hiện đại, cung cấp các công cụ điều tra bạn đọc một cách khách quan, nhanh chóng, chính xác

Tính kinh tế: Việc xuất bản báo chí trên mạng Internet rất kinh tế Báo mạng

điện tử không có trọng lượng, nó không bị phụ thuộc vào khoảng cách địa lí, nó không hạn chế số trang Với khối lượng thông tin hết sức đồ sộ nhưng báo mạng điện tử lại không tốn chi phí cho việc in ấn, phát hành Báo mạng điện tử chỉ có một bản duy nhất cho hàng trăm triệu độc giả

1.3.4.2 Nhược điểm của báo điện tử

Bên cạnh một số thế mạnh chính, không thể phủ nhận một số hạn chế của báo mạng điện tử

Hạn chế đầu tiên đó là do báo mạng cập nhật nhanh Áp lực thời gian nên các bài viết trên báo mạng chất lượng không cao, thông tin lại dễ chỉnh sửa nên không dộ chính xác và tính tin cậy, chính thống không cao bằng báo in, phát thanh, truyền hình Hơn nữa báo in có thế mạnh phân tích sâu, bài viết sâu sắc, còn báo mạng đọc lâu, dài dòng và thường mỏi mắt Hiệu quả tiếp nhận không cao, dễ quên, khó nhớ

Hạn chế thứ hai đó là báo mạng bị phụ thuộc vào máy móc thiết bị, đòi hỏi trình độ sử dụng máy móc thiết bị của người sử dụng.Những người già hay trung niên thường gặp khó khăn khi vào báo mạng đọc thông tin vì họ sử dụng máy tính không thành thạo Bên cạnh đó đọc một tờ báo thì thật tiện lợi, có thể mang theo đọc khi có nhu cầu vô cùng dễ dàng Ngoài ra, việc sử dụng phát thanh truyền hình cũng vô cùng thuận lợi cho mọi người, mọi lứa tuổi

Vì báo mạng không hạn chế các luồng thông tin đa chiều nên khó khăn trong việc quản lý và kiểm soát thông tin Không những thế, bố cục báo nhiều lúc làm cho người đọc bị rối mắt và phân tán tư tưởng

Mặc dù còn tồn tại những điểm yếu không thể phủ nhận, nhưng báo điện tử vẫn tiếp tục phát triển từng ngày và dự đoán trong tương lai sẽ ngày càng bùng nổ hơn nữa

1.3.5 Ưu thế của báo mạng điện tử so với các loại hình báo chí khác

Xét về nội dung, báo mạng điện tử có những lợi thế vượt trội so với báo in, thậm chí cả phát thanh-truyền hình Đó chính là dung lượng thông tin không giới hạn,

là sự cập nhật liên tục Về công nghệ, báo mạng điện tử có thể đồng thời tích hợp nhiều hình thức thông tin từ chữ viết, âm thanh cho đến hình ảnh tĩnh và động Vì thế báo mạng điện tử còn được gọi là loại hình báo chí truyền thông đa phương tiện Và

Trang 30

nếu nói đến tốc độ của thông tin thì báo mạng điện tử có ưu thế hơn hẳn so với các loại hình báo chí khác

1.3.5.1 Với báo in

Với phương thức truyền tải, các sản phẩm của báo in được in trên giấy Độc giả của báo in sử dụng phương pháp “đọc-nhìn” để tiếp cận với sản phẩm báo in Trong khi đó, các sản phẩm của báo mạng điện tử đến với độc giả thông qua những trang web được đưa lên mạng Internet, mỗi bài báo là một trang web khác nhau, có địa chỉ khác nhau Ngoài khả năng “ đọc-nhìn”, các sản phẩm đa phương tiện của báo mạng điện tử cho phép công chúng có thể “nghe”, “xem” và “tham gia” Từ so sánh vừa nêu

ta dễ dàng nhận thấy ưu thế vượt trội của báo mạng điện tử so với báo in Tuy có khá nhiều nhược điểm so với báo in như việc đòi hỏi thiết bị, đòi hỏi khả năng sử dụng cho người đọc, dễ gây mỏi mắt, hệ thống kĩ thuật còn chưa ổn định…Nhưng có thể tin rằng, với những tính năng hấp dẫn vượt trội, công nghệ ngày càng phát triển đi vào đời sống, báo mạng điện tử sẽ trở thành báo chí ưu việt lớn nhất trong tương lai

1.3.5.2 Với phát thanh - truyền hình

Sử dụng 2 phương tiện chính là âm thanh (với báo phát thanh) và video (với báo truyền hình), báo phát thanh và truyền hình cũng không có tính đa phương tiện như báo mạng điện tử Không thể phủ nhận sự hấp dẫn của phát thanh và truyền hình trong xã hội ngày nay, đặc biệt là truyền hình Tuy nhiên so với báo mạng điện tử, 2 loại hình báo chí trên vẫn còn có nhược điểm, đặc biệt từ khi công nghệ cho phép báo mạng điện tử có khả năng tích hợp những thế mạnh của phát thanh, truyền hình Những lợi thế của báo mạng điện tử so với những sản phẩm trên báo phát thanh- truyền hình có thể kể ra như: giới hạn dung lượng, thời lượng của chương trình Các video hay file âm thanh trên mạng Internet có thể kéo dài hàng tiếng, đủ thời gian để tường thuật cả một sự kiện, chương trình có diễn biến dài Trong khi đó với phát thanh, truyền hình, mỗi chương trình chỉ có một khoảng thời gian nhất định cho phép

và luôn phải khống chế chương trình trong khoảng đó, không được xê dịch một phút, thậm chí một giây Ngoài ra, báo mạng điện tử còn cho phép người xem lựa chọn những chương trình mình mong muốn, khi mà các chương trình phát thanh, truyền hình được phát theo một trật tự tuyến tính đã được đặt sẵn Với những công chúng bận rộn, không có điều kiện để theo dõi những chương trình mìnhthích vào những khoảng thời gian nhất định, thì những sản phẩm được đăng tải trên báo mạng điện tử quả là lựa chọn hoàn hảo

Trang 31

CHƯƠNG II – MÔ TẢ BÀI TOÁN VÀ GIẢI PHÁP

2.1 Thực trạng phát triển báo điện tử hiện nay

Hiện nay, báo điện tử ngày càng phát triển mạnh mẽ về số lượng bởi sự phát triển nhanh chóng về mặt công nghệ cũng như sự hỗ trợ của các loại mã nguồn mở CMS chia sẻ trên Internet Bên cạnh các trang báo lớn uy tín như Dantri.com.vn, VietNamNet, VnExpress, …, nhiều báo điện tử và trang tin điện tử khác đã ra đời “ồ ạt” với mong muốn làm sao đưa được tin tức nhanh nhất đến với người dùng (độc giả) Chính vì thế, cuộc chạy đua săn tin bài giữa các phóng viên của các tờ báo ngày càng gay gắt để trang chủ của tờ báo bên mình phải có tin nhanh nhất, thời sự nhất và lượng tin bài cập nhật trong ngày càng phong phú nhất Có như vậy, các trang báo mới

có đủ doanh thu quảng cáo để nuôi sống bộ máy vận hành và cập nhật nội dung

Thông thường, một trang tin hoặc báo điện tử cơ bản gồm có hai phần Phần hiển thị nội dung (Front-end) và phần Quản trị nội dung (Back-end) Quản trị nội dung

là phần quan trọng nhất bởi nơi đây tạo ra bài viết hiển thị trên trang để người đọc xem Biên tập viên sẽ là người tạo ra các bài viết dựa trên nguồn dữ liệu từ các Phóng viên hoặc Cộng tác viên Đôi khi cả Cộng tác viên cũng tham gia vào quá trình viết bài Việc hiển thị nội dung bài viết trên trang báo bao giờ cũng phải trải qua bước xuất bản trước khi trang được đưa đến với độc giả Với các Tòa soạn lớn, quy trình xuất bản này trải qua nhiều bước hơn Trước khi được xuất bản, các tin bài phải trải qua các bước duyệt Những người duyệt nội dung ở các bước này thường là Biên tập viên

và Thư ký Tòa soạn Thư ký Tòa soạn là người duyệt cuối cùng trước khi chuyển tin bài cho Tổng biên tập Tổng biên tập sẽ là người chịu trách nhiệm cao nhất cho việc xuất bản tin bài lên trên web Thỉnh thoảng, Tổng biên tập cũng ủy quyền cho Thư ký Tòa soạn hoặc Biên tập viên đẩy bài trực tiếp lên trang mà không qua quá trình duyệt nếu tin bài đó nóng và cần cập nhật nhanh Bài viết sau khi được xuất bản sẽ hiển thị trên báo để người đọc có thể xem được ngay lập tức

Với sự chia sẻ, phổ biến và hỗ trợ của các loại mã nguồn mở CMS trên mạng tại thời điểm hiện tại, việc phát triển một hệ thống báo điện tử trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết trong khi chi phí thấp Mã nguồn mở hầu như đã hỗ trợ cơ bản đầy đủ các tính năng thông thường của một hệ quản trị nội dung Do đó, rất thích hợp cho các trang tin và báo bởi vì mọi dữ liệu hiển thị trên báo đều là nội dung Người phát triển khi xây dựng hệ thống chỉ cần tùy biến đi chút ít cho phù hợp với yêu cầu là có thể sử dụng ngay trang báo một cách nhanh chóng mà không phải tốn chi phí nhân lực nghiên cứu và phát triển từ đầu Có thể kể đến các mã nguồn mở quản trị nội dung phổ biến hiện nay như Joomla, Wordpress, Drupal, … Ở Việt Nam, mã nguồn mở NukeViet cũng rất được mọi người ưa chuộng và sử dụng phổ biến

Trang 32

Các công ty lớn thường không sử dụng mã nguồn mở bởi lý do bảo mật Họ có đội ngũ và bộ phận riêng để nghiên cứu và phát triển từ đầu hệ thống Tuy nhiên, việc này sẽ khiến cho chi phí bỏ ra lớn, thời gian phát triển hệ thống lâu hơn trong khi hệ thống càng triển khai sớm càng có lợi trong bối cảnh thông tin cần được đưa nhanh nhất và kịp thời đến độc giả Nhưng bù lại, vấn đề bảo mật được kiểm soát kỹ càng hơn so với khi sử dụng mã nguồn mở bởi toàn bộ mã code được bảo mật tuyệt đối chứ không chia sẻ rộng rãi như mã nguồn mở Có thể kể đến một số trang tin, báo điện tử đang chạy thực tế như là: Tinmoi.vn, Doisongphapluat.com, Nguoiduatin.vn, … Bên cạnh đó, một số công ty còn nghiên cứu các giải pháp báo điện tử trên nền điện toán đám mây Tuy nhiên, số lượng các giải pháp này là rất ít Có thể kể đến Tòa soạn điện

tử VINA DESIGN

Các nội dung trên trang báo hoặc trang tin điện tử thường được hiển thị trên web qua Internet hoặc hiển thị trên các thiết bị di động, máy tính bảng, … Tại cùng một thời điểm, sẽ có một lượng lớn người dùng vào xem tin nếu nội dung tin đó hay

và hấp dẫn Không những thế, số lượng tin bài rất lớn, tăng theo từng ngày đòi hỏi hệ thống phải xử lý một khối lượng thông tin rất lớn mà vẫn phải đảm bảo độ ổn định hoạt động Trong thời gian tin được đăng trên trang web, ban quản trị nội dung hoàn toàn có thể gỡ tin xuống bất cứ lúc nào nếu là tin bài nhạy cảm, xuyên tạc, tuyên truyền hoặc phản động Tin sau khi được gỡ xuống có thể không bao giờ xuất bản trở lại nữa hoặc được chỉnh sửa cho phù hợp trước khi xuất bản lại

Thực tế hiện nay cho thấy, ngoài các tờ báo điện tử chính thống, uy tín đưa tin bài sâu sắc, chất lượng thì hầu hết các trang báo đều chạy theo xu hướng đưa tin càng nhanh, càng nhiều, càng giật gân, càng dễ câu khách càng tốt Với số lượng tin bài được cập nhật hàng ngày, hàng giờ trong khi lại thiếu đội ngũ biên tập viên cẩn thận, chất lượng sẽ không tránh khỏi tình trạng xuất bản ẩu trên một số báo Vì lợi nhuận quảng cáo và mục đích tăng lượng người đọc, một số trang tin và báo điện tử sẵn sàng đua nhau đưa tin trước, tin giật gân, không kiểm chứng, tin sai sự thật, câu khách rẻ tiền Những bình luận của độc giả đối với bài viết không được kiểm duyệt kỹ càng trước khi đưa lên Không những thế, tình trạng một số báo triển khai hệ thống chưa tốt

do thiếu kinh phí, không chú trọng, đầu tư về mặt kỹ thuật dẫn đến trang báo bị treo, không truy cập được khi số lượng độc giả vào xem tin nhiều tại cùng một thời điểm Vấn đề bảo mật hệ thống cũng là một vấn đề đáng lo ngại khi một số báo sử dụng mã nguồn mở CMS phổ biến trên mạng nhưng đội ngũ phát triển lại không hiểu rõ hoặc không làm chủ được mã nguồn mở này, thậm chí bê nguyên mã nguồn mở vào trong việc phát triển hệ thống mà không thay đổi gì trong lõi hệ thống, hầu như chỉ tùy biến giao diện, ngôn ngữ, thêm bớt module dẫn đến hệ thống bị hack, bị đánh sập và bị tấn công từ chối dịch vụ (DDOS) Một số báo có quy trình xuất bản tin đơn giản, không bảo mật Tin bài không qua bước duỵệt mà được xuất bản thẳng lên web

Trang 33

2.2 Các vấn đề còn tồn tại

Căn cứ trên việc khảo sát hiện trạng phát triển báo điện tử hiện nay và đồng thời căn cứ vào việc khảo sát sơ bộ một số giải pháp xây dựng trang tin, báo điện tử của một số đơn vị đang triển khai trong thực tế (xem Phụ lục 01 và Phụ lục 02), có thể nhận thấy rằng quy trình phát triển hệ thống báo điện tử hiện nay còn tồn tại một số hạn chế và vấn đề bất cập chưa được giải quyết hoặc đã giải quyết nhưng chưa triệt để như sau:

o Thời gian triển khai hệ thống lâu nếu tự nghiên cứu và phát triển mã nguồn của

hệ thống Nếu sử dụng mã nguồn mở thì thời gian triển khai có được rút ngắn nhanh hơn nhưng độ bảo mật không cao bởi mã nguồn mở được phát triển bởi cộng đồng và được chia sẻ rộng rãi trên mạng Ngoài ra, mã nguồn mở không đáp ứng được một số đặc thù của nghiệp vụ báo chí bên cạnh việc phải việt hóa

để sử dụng bởi mã nguồn mở hầu hết do nước ngoài phát triển (xem thêm Phụ lục 03)

o Chi phí triển khai lớn, không thích hợp với các công ty nhỏ hoặc các nhà đầu tư vốn ít, không có cơ sở hạ tầng kỹ thuật

o Khả năng chịu tải của hệ thống chưa tốt khi có nhiều độc giả cùng truy cập vào trang tin, báo điện tử tại cùng một thời điểm hoặc khi số lượng tin bài trở nên quá lớn do phải lưu trữ các dữ liệu của những năm về trước

o Cơ chế kiểm soát thông tin chưa chặt chẽ và chưa tuân theo đúng quy trình xuất bản Các tin bài trước khi xuất bản không qua bước kiểm duyệt hoặc được kiểm duyệt một cách sơ sài, qua loa Hệ thống chưa có chức năng chuyển bài viết bị

hạ xuống về đúng tác giả ban đầu để sửa đổi lại nội dung cũng như chức năng theo dõi lịch sử bài viết

o Độ an toàn dữ liệu trên hệ thống không cao Chưa có cơ chế sao lưu và phục hồi tốt dữ liệu khi xảy ra mất mát, hỏng hóc dữ liệu trên hệ thống

o Độ bảo mật chưa cao hoặc chưa có giải pháp bảo mật tốt dẫn đến nguy cơ hệ thống bị tấn công, bị hack

2.3 Giải pháp

Căn cứ trên những khó khăn, hạn chế còn tồn tại thông qua việc khảo sát hiện trạng phát triển báo điện tử và căn cứ vào việc khảo sát sơ bộ một số giải pháp xây dựng trang tin, báo điện tử của một số đơn vị đã được áp dụng triển khai hiện nay trong thực tế, vấn đề đặt ra là cần phải có một hệ thống báo điện tử đáp ứng được các tiêu chí sau đây:

o Thời gian triển khai hệ thống nhanh chóng để có thể kịp thời đưa vào thực tế phục vụ ngay cho độc giả

o Chi phí triển khai hệ thống vừa phải và hợp lý để đảm bảo làm sao vận hành hiệu quả hệ thống mà vẫn tiết kiệm được chi phí

Trang 34

o Hệ thống phải có khả năng chịu tải cao nhờ cơ chế phân tải tốt khi số lượng người dùng truy cập vào hệ thống tại cùng một thời điểm

o Hệ thống phải có cơ chế kiểm soát thông tin tốt nhờ việc phân quyền theo vai trò người dùng Tổng biên tập có quyền cao nhất trong quá trình xuất bản Biên tập viên có trách nhiệm viết bài và biên tập tin Thư ký Tòa soạn kiểm duyệt bài và biên tập lại trước khi gửi đến Tổng biên tập

o Hệ thống phải đảm bảo an toàn dữ liệu và có độ bảo mật cao Dữ liệu phải được bảo mật kỹ càng đồng thời phải có cơ chế sao lưu tốt và phục hồi nhanh chóng khi xảy ra sự cố mất mát

Dưới đây là một số giải pháp giải quyết một phần các vấn đề và hạn chế còn tồn tại trên để có một hệ thống báo điện tử chi phi thấp nhưng hiệu quả cao

o Thiết kế hệ thống theo hướng dịch vụ, chia hệ thống thành nhiều khối chức năng cung cấp cho người sử dụng như một dịch vụ Việc thiết kế này giúp cho người dùng sử dụng các dịch vụ theo nhu cầu, theo khả năng tài chính và theo thực tế công việc Người sử dụng chỉ phải trả chi phí thuê bao cho những gì mình sử dụng Việc thiết kế này cũng đảm bảo cho hệ thống dễ dàng mở rộng trong tương lai cũng như dễ ghép nối với các hệ thống khác

o Xây dựng hệ thống đăng ký tài khoản thuê bao sử dụng giúp người dùng sau khi đăng ký có thể sử dụng ngay trang báo điện tử của riêng mình mà không phải chờ đợi lâu Hệ thống đăng ký tài khoản thuê bao có các chức năng tùy chỉnh module, theo dõi tình trạng thuê bao và kiểm soát chi phí sử dụng

o Xây dựng hệ thống hiển thị và quản trị nội dung cho phép người sử dụng dễ dàng tùy biến giao diện cũng như đăng tin lên web Mỗi người dùng sẽ có một trang báo của riêng mình với giao diện, nội dung và phần quản trị hoàn toàn độc lập

o Thiết kế và triển khai các giải pháp phân tải giúp cho hệ thống chạy nhanh và

ổn định khi có lượng truy cập lớn, nhất là trong cùng một thời điểm Cụ thể là

sử dụng Data Caching để giảm tải việc truy cập trực tiếp quá nhiều vào hệ thống Sử dụng CDN giúp hệ thống load nhanh hơn

o Xây dựng cơ chế sao lưu dữ liệu định kỳ Dữ liệu của mỗi tài khoản cũng như của cả hệ thống được lưu trữ thành nhiều bản sao hàng ngày hàng giờ trên nhiều máy chủ lưu trữ để đảm bảo rằng dữ liệu có thể phục hồi nhanh chóng khi mất mát

o Xây dựng cơ chế kiểm soát thông tin chặt chẽ nhờ phân quyền theo vai trò người dùng bên cạnh việc áp dụng quy trình xuất bản tin theo nhiều bước chặt chẽ,có kiểm duyệt

o Áp dụng các giải pháp bảo mật cao cho hệ thống như là OpenVPN giúp cho người quản trị nội dung yên tâm đăng nhập vào hệ thống để quản trị nội dung

mà không lo mất tài khoản và lộ mật khẩu

Trang 35

CHƯƠNG III - CÔNG NGHỆ, CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP

THỰC HIỆN 3.1 Công nghệ

3.1.1 PHP

3.1.1.1 Giới thiệu về PHP

PHP là một ngôn ngữ lập trình kịch bản được dùng chủ yếu cho việc phát triển các ứng dụng web Nó có cú pháp giống C và Java, có thể dễ dàng nhúng vào các trang HTML Do PHP có tốc độ xử lý nhanh, nhỏ gọn, dễ học nên các ứng dụng web được lập trình trên ngôn ngữ PHP có thời gian phát triển tương đối ngắn hơn so với các ngôn ngữ khác Chính vì thế, PHP đã nhanh chóng trở thành một ngôn ngữ lập trình web phổ biến nhất thế giới

3.1.1.2 Đặc điểm của PHP

Mã nguồn mở

- PHP là một sản phẩm mã nguồn mở (open-source) nên việc cài đặt và tùy biến PHP

là hoàn toàn miễn phí và tự do sử dụng

- Do có ưu thế nguồn mở nên PHP có thể được cài đặt trên hầu hết các máy chủ web (web server) thông dụng hiện nay như Apache, IIS…

Hình 3.1 : Công nghệ PHP

Trang 36

- Các thành viên trên cộng đồng thường xuyên hỗ trợ, chia sẻ kinh nghiệm cho nhau qua nhiều diễn đàn, blog trong và ngoài nước Vì thế, việc học và nghiên cứu PHP trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết Thời gian tìm hiểu PHP cũng được rút ngắn nhanh chóng

Thư viện phong phú

- Ngoài sự hỗ trợ của cộng đồng, thư viện script PHP cũng rất phong phú và đa dạng

Từ những cái rất nhỏ như chỉ là một đoạn code, một hàm cho tới những cái lớn hơn như framework (Zend, CakePHP, CogeIgniter, Symfony, …) hay là một ứng dụng hoàn chỉnh (Joomla, WordPress, PhpBB, …)

- Với thư viện code phong phú, việc học tập và ứng dụng PHP trở nên rất dễ dàng và nhanh chóng Đây cũng chính là đặc điểm khiến PHP trở nên khá nổi bật và cũng là nguyên nhân vì sao ngày càng có nhiều người sử dụng PHP để phát triển web

Hỗ trợ kết nối nhiều hệ cơ sở dữ liệu

- Nhu cầu xây dựng web có sử dụng cơ sở dữ liệu là một nhu cầu tất yếu và PHP cũng đáp ứng rất tốt nhu cầu này Với việc tích hợp sẵn nhiều thư viện kết nối cơ sở dữ liệu khác nhau trong PHP đã làm cho ứng dụng PHP dễ dàng kết nối tới tất cả các hệ cơ sở

dữ liệu thông dụng Một số hệ cơ sở dữ liệu thông dụng mà PHP có thể làm việc là: MySQL, MS SQL, Oracle, Cassandra, …

Lập trình hướng đối tượng

- PHP hỗ trợ hầu hết các đặc điểm nổi bật của lập trình hướng đối tượng (OOP) như là

Kế thừa (Inheritance), Trừu tượng hóa (Abstraction), Bao đóng (Encapsulation), Đa hình (Polymorphism), …

- Với việc ngày càng có nhiều framework và ứng dụng PHP viết bằng mô hình OOP nên lập trình viên tiếp cận và mở rộng các ứng dụng này trở nên dễ dàng và nhanh chóng

Tính bảo mật

Trang 37

- Bản thân PHP là mã nguồn mỡ và cộng đồng phát triển rất tích cực nghiên cứu, cải tiến nên có thể nói PHP khá là an toàn

- PHP cũng cung cấp nhiều cơ chế cho phép triển khai tính bảo mật cho ứng dụng của mình như session, các hàm lọc dữ liệu, kỹ thuật ép kiểu, thư viện PDO (PHP Data Object) để tương tác với cơ sở dữ liệu an toàn hơn

- Các nhà phát triển hoàn toàn có thể tự xây dựng cho mình các extension (phần mở rộng) để tối ưu, bổ sung các chức năng cho PHP cũng như tối ưu luôn core (lõi hệ thống) của PHP để phục vụ cho các mục đích mở rộng website

3.1.2 MySQL

3.1.2.1 Giới thiệu về MySQL

MySQL là một phần mềm quản trị CSDL mã nguồn mở, miễn phí, tốc độ cao,

ổn định và dễ sử dụng Nó có tính khả chuyển, hoạt động trên nhiều hệ điều hành và cung cấp một hệ thống lớn các hàm tiện ích rất mạnh

MySQL được các nhà phát triển rất ưa chuộng trong quá trình phát triển ứng dụng Nó rất thích hợp cho các ứng dụng có truy cập CSDL trên internet

Điểm mạnh của MySQL là chạy trên mọi ngôn ngữ như ASP, Net, PHP, JSP, Khi chạy nó không đòi hỏi tài nguyên máy quá lớn như CPU, RAM chẳng hạn

Cơ sở dữ liệu MySQL đã trở thành cơ sở dữ liệu mã nguồn mở phổ biến nhất trên thế giới vì cơ chế xử lý nhanh và ổn định của nó cùng với sự đáng tin cậy cao và

dễ sử dụng

3.1.2.2 Đặc điểm của MySQL

- Tốc độ truy xuất nhanh, ổn định và dễ sử dụng

- Có tính khả chuyển, hoạt động trên nhiều nền tảng HĐH

- Cung cấp hệ thống thư viện hàm lớn

- Khả năng bảo mật tốt

Trang 38

- Hoạt động như một hệ client/server hoặc trong hệ thống nhúng

- Thích hợp cho các hệ thống trên Internet như Yahoo!, Alcatel, Google, Nokia, YouTube, )

- MySQL được hỗ trợ bởi nhiều ngôn ngữ lập trình

3.1.3 Apache

Apache là một máy chủ web (web server) miễn phí được phát triển theo chuẩn

mã nguồn mở

Apache chạy được trong cả hai môi trường Linux và Windows

Apache là một trong các máy chủ web đơn giản và phổ thông nhất để phát triển các dự án website Từ 1996, Apache trở thành phần mềm máy chủ web phổ biến nhất thế giới Đến năm 2009, Apache đã chiếm 46 % tổng số website chạy trên nền tảng của nó

Máy chủ web là máy chủ mà trên đó cài đặt phần mềm phục vụ web Tất cả các máy chủ web đều hiểu và chạy được các file *.htm và *.html Tuy nhiên mỗi máy chủ web lại phục vụ một số kiểu file chuyên biệt chẳng hạn như IIS của Microsoft dành cho *.asp và *.aspx, …; Apache dành cho *.php, …; Sun Java dành cho *.jsp, …

Hình 3.2: Máy chủ Apache

3.1.4 UML

UML là ngôn ngữ mô hình hoá, ngôn ngữ đặc tả và ngôn ngữ xây dựng mô hình trong quá trình phát triển phần mềm, đặc biệt là trong phân tích và thiết kế hệ thống hướng đối tượng UML là ngôn ngữ hình thức, thống nhất và chuẩn hoá mô hìnhhệ thống một cách trực quan Điều này có nghĩa là các thành phần trong mô hình được thể hiện bởi các ký hiệu đồ hoạ, biểu đồ Mối quan hệ giữa các thành phần này cũng được thể hiện đầy đủ một cách thống nhất và có logic chặt chẽ

Trang 39

- Tận dụng được những khả năng sử dụng lại và kế thừa ở phạm vi diện rộng để xây dựng được những hệ thống phức tạp và nhạy cảm như: các hệ thống động, hệ thống thời gian thực, hệ thống nhúng thời gian thực,

- Tạo ra những ngôn ngữ mô hình hoá sử dụng được cho cả người lẫn máy tính

3.1.5 Data Caching

Data Caching là công nghệ nhằm nâng cao tốc độ xử lý của website (hoặc ứng dụng web) bằng cách giảm thiểu số lượng request trực tiếp tới cơ sở dữ liệu vì những request trực tiếp thường gây hao tốn tài nguyên hệ thống nhiều nhất

Hình 3.3 : Công nghệ Data Caching

3.1.6 CDN

CDN (Content Delivery Network) là một mạng lưới các server cung cấp nội dung tĩnh từ website dựa trên vị trí địa lí của người dùng mà chọn server gần nhất để cấp phát

CDN giúp lưu lại các dữ liệu tĩnh như ảnh, flash, stylesheet (file css), javascript, … ở toàn bộ máy chủ của mạng lưới server đó Lúc này, nếu có người xem truy cập vào website, CDN sẽ lấy dữ liệu đã lưu ở server gần nhất để cấp phát cho người đó

Vị trí địa lí của người xem ảnh hưởng tương đối đến thời gian load site Do vậy, việc phân tán các máy chủ về mặt địa lí sẽ giúp site load nhanh hơn khi người xem tải các nội dung tĩnh

Trang 40

Hình 3.4 : Hệ thống CDN

3.1.7 VPN

VPN (Virtual Private Network) là một mạng riêng sử dụng hệ thống mạng công cộng (thường là Internet) để kết nối các địa điểm hoặc người sử dụng từ xa với một mạng LAN ở trụ sở trung tâm Thay vì dùng kết nối thật khá phức tạp như đường dây thuê bao số, VPN tạo ra các liên kết ảo được truyền qua Internet giữa mạng riêng của một tổ chức với địa điểm hoặc người sử dụng ở xa

VPN là một kết nối rất an toàn, đáng tin cậy giữa mạng cục bộ (LAN) và một

hệ thống khác Router của người dùng là chiếc cầu nối để các mạng kết nối vào Máy tính của người dùng và máy chủ VPN sẽ “bắt tay” với nhau bằng cách sử dụng chứng chỉ xác nhận lẫn nhau Sau khi xác nhận, cả máy khách và máy chủ sẽ đồng ý “tin tưởng” nhau và cho phép truy cập vào mạng của server

Việc sử dụng VPN sẽ giúp cho người sử dụng có một kết nối an toàn và bảo mật khi truy cập dữ liệu trên máy chủ từ chính máy của người đó (máy client) Mọi dữ liệu trong quá trình trao đổi đều được mã hóa trước khi truyền đi

Hình 3.5: Kết nối VPN

Ngày đăng: 09/05/2016, 15:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.8: Các bước xây dựng hệ thống theo chiến lược top-down - Luận văn thạc sĩ Điện toán đám mây mô hình kiến trúc hướng dịch vụ
Hình 1.8 Các bước xây dựng hệ thống theo chiến lược top-down (Trang 13)
Hình 1.11: Mô hình tổng quan về Cloud computing - Luận văn thạc sĩ Điện toán đám mây mô hình kiến trúc hướng dịch vụ
Hình 1.11 Mô hình tổng quan về Cloud computing (Trang 17)
Hình 1.14: Các lớp Back-end và Front-end của điện toán đám mây - Luận văn thạc sĩ Điện toán đám mây mô hình kiến trúc hướng dịch vụ
Hình 1.14 Các lớp Back-end và Front-end của điện toán đám mây (Trang 22)
Bảng 4.3: Các tác nhân nghiệp vụ của hệ thống - Luận văn thạc sĩ Điện toán đám mây mô hình kiến trúc hướng dịch vụ
Bảng 4.3 Các tác nhân nghiệp vụ của hệ thống (Trang 54)
Hình 4.2 : Biểu đồ hoạt động quy trình tổng quát nghiệp vụ của hệ thống báo điện tử - Luận văn thạc sĩ Điện toán đám mây mô hình kiến trúc hướng dịch vụ
Hình 4.2 Biểu đồ hoạt động quy trình tổng quát nghiệp vụ của hệ thống báo điện tử (Trang 55)
Hình  4.3: Mô hình ca sử dụng mức gộp của hệ thống - Luận văn thạc sĩ Điện toán đám mây mô hình kiến trúc hướng dịch vụ
nh 4.3: Mô hình ca sử dụng mức gộp của hệ thống (Trang 56)
Hình 4.4: Mô hình chi tiết gói ca sử dụng đăng ký tài khoản thuê bao hệ thống mức - Luận văn thạc sĩ Điện toán đám mây mô hình kiến trúc hướng dịch vụ
Hình 4.4 Mô hình chi tiết gói ca sử dụng đăng ký tài khoản thuê bao hệ thống mức (Trang 57)
Hình 4.6: Mô hình chi tiết gói ca sử dụng quản trị nội dung báo điện tử mức khái - Luận văn thạc sĩ Điện toán đám mây mô hình kiến trúc hướng dịch vụ
Hình 4.6 Mô hình chi tiết gói ca sử dụng quản trị nội dung báo điện tử mức khái (Trang 63)
Hình 4.9: Biểu đồ tuần tự ca sử dụng Đăng ký tài khoản mức khái niệm - Luận văn thạc sĩ Điện toán đám mây mô hình kiến trúc hướng dịch vụ
Hình 4.9 Biểu đồ tuần tự ca sử dụng Đăng ký tài khoản mức khái niệm (Trang 68)
Hình 4.11: Biểu đồ tuần tự ca sử dụng Kiểm soát thuê bao - Luận văn thạc sĩ Điện toán đám mây mô hình kiến trúc hướng dịch vụ
Hình 4.11 Biểu đồ tuần tự ca sử dụng Kiểm soát thuê bao (Trang 70)
Hình 4.19: Kiến trúc hệ thống vật lý của ứng dụng - Luận văn thạc sĩ Điện toán đám mây mô hình kiến trúc hướng dịch vụ
Hình 4.19 Kiến trúc hệ thống vật lý của ứng dụng (Trang 76)
Hình 4.23: Biểu đồ lớp thiết kế của hệ thống - Luận văn thạc sĩ Điện toán đám mây mô hình kiến trúc hướng dịch vụ
Hình 4.23 Biểu đồ lớp thiết kế của hệ thống (Trang 81)
Hình 4.27: Biểu đồ lớp thiết kế ca sử dụng Kiểm soát thuê bao - Luận văn thạc sĩ Điện toán đám mây mô hình kiến trúc hướng dịch vụ
Hình 4.27 Biểu đồ lớp thiết kế ca sử dụng Kiểm soát thuê bao (Trang 85)
Hình 5.3: Kiến trúc CDN áp dụng cho hệ thống - Luận văn thạc sĩ Điện toán đám mây mô hình kiến trúc hướng dịch vụ
Hình 5.3 Kiến trúc CDN áp dụng cho hệ thống (Trang 90)
Hình 5.15: Giao diện trang Báo điện tử của một thuê bao trên thiết bị di động - Luận văn thạc sĩ Điện toán đám mây mô hình kiến trúc hướng dịch vụ
Hình 5.15 Giao diện trang Báo điện tử của một thuê bao trên thiết bị di động (Trang 100)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w