Chỉ thị của Ban Bí thư số 41- CT/TW ngày 15/04/2010 “về tăng cường công tác đối ngoại kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” đã nhấn mạnh: công tác đối ngoại kinh tế là ưu ti
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Sau gần 3 thập kỷ thực hiện đường lối đổi mới và cải cách mở cửa, Việt Nam
đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, tình hình kinh tế - xã hội đi dần vào ổn định và có bước phát triển; từ một nước nghèo và thu nhập thấp Việt Nam đã vươn lên hàng ngũ các nước thu nhập trung bình; nền kinh tế đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng và vững chắc vào nền kinh tế thế giới Trong đó, phải kể việc chúng
ta chủ động tham gia các cam kết song phương và đa phương với các đối tác là những quốc gia và định chế kinh tế thế giới Việt Nam lần lượt gia nhập khối ASEAN và tham gia khu vực mậu dịch tự do Asean (AFTA); ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) năm 2004; là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 Hiện Việt Nam đang tích cực đàm phán các Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái bình Dương (TPP), Hiệp định khu vực mậu dịch tự do với Liên minh hải quan Nga - Belaruxia - Kazakstăng, tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015… Cùng với quá trình này, công tác đối ngoại kinh tế cũng được đẩy mạnh, nội dung đối ngoại kinh tế ngày càng sâu sắc, với những hình thức hoạt động phong phú, hiệu quả, nhằm phục
vụ tốt hơn yêu cầu hội nhập và phát triển của đất nước
Trong giai đoạn mới, đối ngoại kinh tế được Đảng và Nhà nước ta coi là ưu tiên hàng đầu, một trong 3 trụ cột chính của công tác đối ngoại là ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa Chỉ thị của Ban Bí thư số 41- CT/TW
ngày 15/04/2010 “về tăng cường công tác đối ngoại kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước” đã nhấn mạnh: công tác đối ngoại kinh tế là ưu tiên hàng đầu, nhằm phục vụ nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế, góp phần tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển, đưa quan hệ giữa nước ta với thế giới đi vào chiều sâu; tham mưu cho Đảng và Nhà nước, hỗ trợ các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp trong việc vận động viện trợ, thu hút đầu tư và công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu, du lịch, đầu tư ra nước ngoài và bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế
Thủ đô Hà Nội là một trong những địa phương đi tiên phong trong cả nước thực hiện đường lối đổi mới và mở cửa hội nhập, đã đạt được những thành tựu ban
Trang 2đầu đáng khích lệ, kinh tế tăng trưởng cao và cơ cấu chuyển dịch theo hướng hiện đại Việc địa giới hành chính của Thủ đô được điều chỉnh năm 2008 với diện tích tăng lên 3,6 lần và dân số tăng gấp 2 lần (với 3.340 km2 và 6,5 triệu người) đã đem
lại cho Hà Nội vị thế mới, không gian - địa chính trị mở rộng Hà Nội lúc này có
những tiềm năng và lợi thế lớn về nguồn lực đất đai, nhân lực, tiềm lực KHCN và
cơ sở hạ tầng tương đối phát triển, các yếu tố xã hội, nhân văn, tự nhiên đa dạng, phong phú… Những điều kiện này cho phép Hà Nội phát triển một cơ cấu kinh tế theo hướng hội nhập, dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp đô thị sinh thái bền vững, đẩy nhanh thực hiện CNH-HĐH và phát triển kinh tế tri thức Tuy nhiên, Hà Nội cũng đứng trước những thách thức phải vượt qua: đó là mức thu nhập GDP/đầu người phải tính toán lại, từ 2.300 USD giảm xuống chỉ còn khoảng 1.800 USD (thời điểm trước và sau khi sáp nhập năm 2008); các vấn đề chậm chuyển dịch cơ cấu sản xuất, bức xúc xã hội và ô nhiễm môi trường, đô thị hóa quá nóng và người dân mất đất thiếu việc làm, nhất là thiếu việc làm ở vùng nông thôn ngoại thành đang trở nên nan giải; mục tiêu Hà Nội phải cơ bản hoàn thành CNH-HĐH về trước cả nước và thu hẹp khoảng cách tụt hậu, đuổi kịp các thủ đô trên thế giới càng khó khăn hơn Thách thức của Việt Nam và Thủ đô Hà Nội sau khi thoát khỏi ngưỡng nước thu nhập thấp hiện đang phải đối diện với “bẫy thu nhập trung bình” và “bẫy thương mại tự do”*; nguy cơ tụt hậu so với thế giới, mà trước tiên là so với Trung Quốc, một số nước trong khu vực Đông Nam Á… đang trở nên hiện hữu!
Trong khi đó, trên thế giới, quá trình toàn cầu hóa kết hợp với cuộc cách mạng KHCN mới và sự hình thành nền kinh tế tri thức đang tạo ra những thay đổi nhẩy vọt về chất trong các mặt đời sống kinh tế - xã hội - chính trị quốc tế Quan hệ đối ngoại kinh tế cũng ngày càng phát triển sâu sắc và mở rộng, thu hút được sự tham gia của các định chế quốc tế và khu vực, các chủ thể quốc gia truyền thống có chủ quyền, đồng thời xuất hiện các chủ thể mới cấp địa phương - đó là các thành phố, các chính quyền địa phương ở những cấp độ và phương diện khác nhau Chính việc triển khai chính sách và hoạt động đối ngoại kinh tế cấp địa phương, với nội
* Bẫy thương mại tự do và bẫy thu nhập trung bình, được nêu lên bới Trần Văn Thọ, GS Đại học Waseda, Nhật Bản; GS Kenichi Ohno, Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF); và những người khác Theo đó, các nước đi muộn vào toàn cầu hóa có nguy cơ cao sa vào các bẫy này một khi bị lệ thuộc, cố định và không có khả năng nâng cấp cơ cấu kinh tế - công nghệ trong quan hệ kinh tế - thương mại với thế giới
Trang 3dung, hàm lượng kinh tế và tầm quan trọng đang gia tăng, sự lớn mạnh, chuyên nghiệp hóa của đội ngũ công chức và tổ chức bộ máy thừa hành, đã bổ sung cho hoạt động đối ngoại trở nên phong phú, thiết thực và hiệu quả, đặc biệt, phản ứng linh hoạt, kịp thời trước một thế giới đang chuyển động nhanh chóng và liên tục không ngừng Có thể coi đây là đặc điểm mới của quan hệ đối ngoại và toàn cầu hóa kinh tế, giúp thắt chặt mối quan hệ tương tác và sự phụ thuộc lẫn nhau không chỉ giữa các định chế quốc tế và khu vực, giữa các quốc gia mà ngay cả ở cấp độ giữa các địa phương, thậm chí là giữa các doanh nghiệp và công dân trên toàn cầu cũng trở nên gần gũi, gắn bó mật thiết
Mặt khác, trong bối cảnh đẩy mạnh quá trình hội nhập của Việt Nam thì công tác đối ngoại Thủ đô cũng ngày càng gia tăng cả về số lượng, chất lượng, mức
độ sâu sắc và tần suất hoạt động đối ngoại, trong đó có hoạt động đối ngoại kinh tế Công tác đối ngoại địa phương nói chung và đối ngoại kinh tế của Thủ đô Hà Nội ngày càng phát triển mở rộng, đi vào chiều sâu và có yêu cầu phải gia tăng hàm lượng kinh tế, gắn với triển khai nhiều hình thức hoạt động đối ngoại kinh tế phong phú, đa dạng hóa, đa phương hóa Với vị thế và vai trò Thủ đô của cả nước, Hà Nội vừa triển khai thực thi chính sách đối ngoại nói chung và chính sách đối ngoại kinh
tế của Trung ương, đồng thời vừa chủ động nghiên cứu vận dụng sáng tạo, linh hoạt chính sách chung vào phù hợp với những điều kiện cụ thể của địa phương Vấn đề đặt ra với Hà Nội là phải tổ chức thực thi một chính sách đối ngoại kinh tế năng động và hiệu quả, theo hướng vừa khai thác, phát huy các tiềm năng và lợi thế đặc thù của Thủ đô về địa chính trị, nhân văn, KHCN; đồng thời tranh thủ được các cơ hội và hạn chế các bất lợi của toàn cầu hóa, giữ vững môi trường hòa bình và ổn định, thực hiện thành công CNH-HĐH và phát triển bền vững Thủ đô trong thế kỷ mới; phấn đấu đưa Hà Nội trở thành Thủ đô văn minh, hiện đại, trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục đào tạo, kinh tế và giao dịch quốc tế lớn của cả nước và trong khu vực
Từ đây, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài nghiên cứu của luận án là “Chính sách đối ngoại kinh tế trong thời kỳ hội nhập - nghiên cứu tại Hà Nội” Đề tài
mang tính cấp thiết và có ý nghĩa về mặt lý luận, thực tiễn đối với phát triển đối ngoại kinh tế nói chung và của Thủ đô Hà Nội nói riêng
Trang 42 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu về đối ngoại kinh tế và chính sách đối ngoại kinh
tế ở nước ngoài chủ yếu được tiến hành ở những nước có đặc điểm chính trị-kinh
tế-xã hội và trình độ phát triển khác biệt so với Việt Nam
Nicolas Bayne và Stephen Woolcock (2007) trong cuốn “Ngoại giao kinh tế
mới: Đàm phán và ra quyết định trong quan hệ kinh tế quốc tế” đã phân tích và đưa
ra cách tiếp cận về đối ngoại kinh tế, cho rằng ngoại giao kinh tế là quá trình hoạch định các chính sách liên quan đến các vấn đề kinh tế quốc tế Thông qua việc mô tả
và phân tích mẫu các quan hệ trong nhóm các nước G8, G20, các NGOs và chính sách đối ngoại kinh tế của Mỹ đối với Châu Á; sự tác động và ảnh hưởng của ngoại giao thông qua kênh Liên hợp Quốc, Quỹ Tiền tệ Quốc tế với kinh tế toàn cầu, vấn
đề nông nghiệp và tổ chức thương mại quốc tế, những bài học được rút ra cho đầu
tư và dịch vụ Công trình “Ngoại giao kinh tế mới: Đàm phán và ra quyết định
trong quan hệ kinh tế quốc tế” là một trong những công trình tiêu biểu nghiên cứu
về đối ngoại kinh tế, đề cập đến chính sách và những quyết sách trong nước (domestic decision making) liên quan đến các vấn đề kinh tế quốc tế Nghiên cứu này có ý nghĩa tham khảo đối với chính sách đối ngoại kinh tế của Việt Nam khi Việt Nam đã tham gia nhiều sân chơi khu vực và quốc tế Tuy nhiên, nghiên cứu là cho trường hợp của Mỹ, các nước G8, G20 có trình độ phát triển cao trong khi Việt Nam là nước đang phát triển và bắt đầu quá trình hội nhập Công trình nói về chính sách đối ngoại kinh tế vĩ mô nói chung mà chưa đề cập ở cấp độ địa phương
Bộ ngoại giao Hà Lan (2013) trong báo cáo “Ngoại giao kinh tế trong thực
tiễn: đánh giá ngoại giao kinh tế Hà Lan tại châu Mỹ la tinh” khẳng định ngoại giao kinh tế là nội dung quan trọng trong chính sách đối ngoại của Hà Lan Nghiên cứu xem xét tác động của ngoại giao kinh tế đối với vị trí cạnh tranh của các công
ty Hà Lan hoạt động trong các lĩnh vực hàng hóa, vận tải biển và hải cảng ở châu
Mỹ la tinh Phân tích cho thấy ngoại giao kinh tế có tác động ảnh hưởng lên sản lượng xuất khẩu của Hà Lan vào khu vực Mỹ la tinh Nghiên cứu kết luận sử dụng ngoại giao kinh tế có thể hỗ trợ và đóng góp điều chỉnh hoàn thiện chính sách kinh
tế, cho phép bộ ngoại giao và bộ phát triển hợp tác kinh tế Hà Lan, khi phối hợp thực thi nhiệm vụ không chồng chéo nhưng vẫn đảm bảo lợi ích chung cho sự phát triển Ở đây là sự hỗ trợ các công ty Hà Lan có sử dụng dịch vụ ngoại giao kinh tế
Trang 5giúp đạt được hiệu quả và hiệu lực trong hợp tác kinh doanh với khu vực Mỹ La tinh Công trình này nghiên cứu ngoại giao kinh tế trong trường hợp cụ thể của Hà Lan trợ giúp các công ty có cách đặt vấn đề và phương pháp tiếp cận đánh giá đối ngoại kinh tế có ý nghĩa tham khảo về lý luận và thực tiễn
Joynal Abdin (2013) trong báo cáo “Sử dụng ngoại giao kinh tế làm công cụ
hiệu quả phát triển kinh tế” phân tích các mục tiêu, chức năng cơ bản của ngoại giao nói chung, tác giả phân tích ngoại giao dưới góc độ kinh tế nói riêng Theo tác giả, ngoại giao kinh tế được sử dụng như một công cụ phát triển kinh tế Trong trường hợp của Bangladest, nước thuộc nhóm các nước chậm phát triển, chính sách đối ngoại chung là phát triển và duy trì quan hệ hữu nghị với các nước, tăng cường hợp tác với các nước phát triển, đang phát triển và chậm phát triển ở các khu vực, các tiểu khu vực, các nhóm chính trị và kinh tế Trên cơ sở đó, chính sách đối ngoại kinh tế nhằm phát triển và duy trì quan hệ kinh tế/thương mại thân thiện với các quốc gia và thúc đẩy hợp tác mậu dịch, thương mại, hợp tác lao động với các nước phát triển, đang phát triển và chậm phát triển,với các vùng, tiểu vùng, các nhóm chính trị và kinh tế Để tổ chức thực thi hiệu quả chính sách đối ngoại kinh tế, tác giả cho rằng cần chuyên gia hóa các nhà ngoại giao, các nhà đàm phán với tư cách
là các chuyên gia cho từng lĩnh vực chuyên sâu khác nhau như: (i) nhà đàm phán thương mại song phương; (ii) nhà đàm phán thương mại khu vực; (iii) nhà đàm phán thương mại đa phương chuyên sâu về các thỏa thuận khác nhau của WTO; (iv) tách riêng bộ phận các chuyên gia đàm phán chuyên đàm phán với các nhà tài trợ/các đối tác phát triển; (v) cán bộ ngoại giao trong sứ mệnh thúc đẩy thương mại tại nước ngoài và (vi) thành lập Hội đồng tối cao các nhà đàm phán để điều phối chung các nhóm và bộ phận nêu trên Công trình rất có ý nghĩa trong điều kiện Việt Nam hiện nay Tuy nhiên công trình không đề cập đến đến nội dung chính sách đối ngoại kinh tế thực thi bởi chính quyền cấp tỉnh
Rogier van der Pluijm và Jan Melissen (2007) “Đối ngoại thành phố: Vai trò
ngày càng lớn của các thành phố trong đời sống chính trị quốc tế” không nghiên cứu đối ngoại do các chủ thể ở cấp trung ương, quốc gia thực hiện mà nghiên cứu đối ngoại ở cấp độ thành phố, chính quyền địa phương Sự tham gia của chủ thể là các thành phố và các chính quyền địa phương vào đời sống chính trị quốc tế và quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng và trực tiếp Nghiên cứu cũng đưa ra nhận định:
Trang 6(i) trên sân khấu chính trị quốc tế xuất hiện ngoài các đại diện quốc gia theo truyền thống đã có thêm chủ thể tham gia, đó là các thành phố, các chính quyền địa phương ở những cấp độ và phương diện khác nhau; (ii) sự lớn mạnh và chuyên nghiệp hóa ngày càng tăng của đối ngoại thành phố cũng là sự gia tăng lớn mạnh các hoạt động quốc tế của các thành phố; (iii) nhiều thành phố đã có đội ngũ công chức chuyên nghiệp làm việc toàn phần với chức trách đối ngoại, tham mưu xây dựng và tổ chức thực thi chính sách đối ngoại cấp địa phương Công trình có giá trị tham khảo cho công tác đối ngoại kinh tế của một địa phương như Thủ đô Hà Nội
Các nghiên cứu trong nước chủ yếu là về công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế nói chung Nội dung đối ngoại kinh tế chỉ được đề cập không trực diện và chưa tập trung, còn mờ nhạt; lại càng ít các công trình nghiên cứu sâu về chính sách đối ngoại kinh tế, cũng như về đối ngoại kinh tế ở cấp địa phương Có một số công trình liên quan sau đây liên quan đến đối ngoại kinh tế
Bộ Ngoại giao (2002) trong sách “Ngoại giao Việt Nam 1945-2000”, Nxb
Chính trị Quốc gia, tập trung đề cập đặc điểm, tính chất của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, các thành tựu chủ yếu của hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước
và ngoại giao nhân dân, rút ra các bài học kinh nghiệm về thành công cũng như tồn tại, hạn chế Đặc biệt, đánh giá ngoại giao phục vụ công cuộc đổi mới, cải thiện quan hệ với các nước Đông nam Á và gia nhập ASEAN, đấu tranh xóa bỏ cấm vận
và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ, đổi mới quan hệ Nga và Đông Âu, cải thiện quan hệ với các nhà nước TBCN, mở rộng quan hệ đối ngoại đa phương, chủ động hội nhập quốc tế và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại kinh tế Nhấn mạnh, từ giữa những năm 80 Việt Nam cùng với đường lối đổi mới toàn diện đất nước, chúng ta đã coi trọng vai trò đối ngoại kinh tế, coi đây là mũi nhọn thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển, theo đó, đổi mới chủ trương, phương thức và biện pháp hoạt động đối ngoại kinh tế Chúng ta đã mở rộng xuất nhập khẩu, có nhiều hình thức vận động viện trợ, vay vốn dài hạn, thu hút nguồn lực Việt kiều, đưa lao động
và chuyên gia đi làm việc ở ngoài nước, đẩy mạnh dịch vụ và phát triển du lịch Nhấn mạnh nhiệm vụ ngoại giao làm kinh tế (phục vụ cho kinh tế): tích cực góp phần hình thành khung khổ pháp lý cho kinh tế đối ngoại, tham gia hoạch định đường lối chính sách kinh tế đối ngoại; nghiên cứu và cung cấp thông tin về chiến lược, quy hoạch và kế hoạch, kinh nghiệm phát triển kinh tế đối ngoại; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại, tích cực mở rộng đa dạng hóa thị
Trang 7trường và đối tác, góp phần tháo gỡ vướng mắc về cơ chế, chính sách, pháp luật cản trở xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài Có thể coi đây là công trình nghiên cứu, tổng kết có hệ thống khá sớm về nền ngoại giao Việt Nam, trong đó đề cập vấn
đề phát triển chính sách và hoạt động đối ngoại kinh tế trong thời kỳ hội nhập ở nước ta
Bộ Ngoại giao (2007), đề tài khoa học “Ngoại giao Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập quốc tế”, đã nêu được một số vấn đề lý thuyết về ngoại giao và hội nhập quốc tế; khái quát các giai đoạn ngoại giao Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc
tế (1986-2006); kiến nghị chính sách trong đó xác định mục tiêu ưu tiên và phương
châm chỉ đạo trong hoạt động ngoại giao; kiến nghị ngoại giao phục vụ phát triển
kinh tế Ngoại giao cần coi các địa phương, doanh nghiệp, chính phủ và các bộ ngành là đối tượng phục vụ, hỗ trợ địa phương trong hội nhập kinh tế quốc tế, hỗ trợ các bộ ngành trong quan hệ quốc tế trong các lĩnh vực chuyên môn của bộ ngành, góp phần xử lý tốt công tác hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam nhất là sau khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới
Sách “Hai mươi năm đổi mới ở Thủ đô Hà Nội - Định hướng phát triển đến
năm 2010”, Nxb Hà Nội, 2005, Chương trình nghiên cứu của Thành uỷ Hà Nội: tổng kết 20 năm phát triển trên các khía cạnh kinh tế-xã hội của Thủ đô dưới ánh sáng của đường lối đổi mới; trong đó có đánh giá tổng quát các thành tựu và bài học kinh nghiệm về phát triển kinh tế, mở cửa và hội nhập, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ đối ngoại kinh tế của Thành phố Hà Nội Nhấn mạnh, nhờ thực hiện chính sách đối ngoại kinh tế rộng mở đã góp phần giúp cho Thủ đô có được xung lực mới và đạt được các thành tích tăng trưởng ấn tượng trong giai đoạn đổi mới
Sách “Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến tư duy, đời sống kinh tế-xã
hội Việt Nam”, Tô Xuân Dân và Nguyễn Thành Công chủ biên, Nxb CTQG 2006, nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tác động của hội nhập kinh tế quôc tế tới Việt Nam; trong đó tập trung vào các ảnh hưởng của hội nhập đến Thủ đô Hà Nội trên các khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội, đời sống người dân cũng như một số khía cạnh của chính sách đối ngoại và đối ngoại kinh tế trong bối cảnh hội nhập; đề xuất các giải pháp ứng phó để giảm thiểu tác động tiêu cực từ bên ngoài và chủ động hội nhập hiệu quả vào nền kinh tế khu vực và thế giới
Sách“Hoạt động đối ngoại trên đất Thăng long – Hà Nội”, Phạm Xuân
Hằng (Ch.biên), Nxb Hà Nội 2010, đề tài cấp Nhà nước KX.09: tổng kết hoạt động
Trang 8đối ngoại, trong đó có đối ngoại kinh tế của Thăng Long Hà Nội với tư cách là Thủ
đô 1000 năm tuổi Bài học rút ra là: đối ngoại của cha ông ta đã có chính sách mềm dẻo, thực tế để bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển; mở mang giao lưu kinh tế - văn hóa - chính trị; góp phần tích cực làm nên thành tựu phát triển rực
rỡ của Thăng Long trong lịch sử giữ nước và dựng nước
Sách“Kinh tế hàng hóa Thăng Long – Hà Nội: Đặc trưng và Kinh nghiệm
phát triển”, Nguyễn Chí Dĩnh (Ch.biên), Nxb Hà Nội 2010, đề tài cấp Nhà nước KX.09: đã tổng kết các bài học kinh nghiệm và đặc trưng của phát triển kinh tế hàng hóa Thăng Long qua 1000 năm; trong đó có các kinh nghiệm hoạt động đối ngoại kinh tế quý báu của ông cha trong lịch sử như: mở mang giao thương buôn bán, thu hút thương nhân nước ngoài, phát triển đội ngũ doanh nhân và các thợ thủ công tài ba khéo léo, du nhập công nghệ và kỹ năng tiên tiến bên ngoài…
Báo cáo khoa học “Giải pháp thu hút nguồn lực của cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài vào phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô”, đề tài cấp Thành phố, Nguyễn Minh Phong (2010): nghiên cứu đặc điểm, biến động và các tiềm năng to lớn của cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài; từ đó đề xuất các giải pháp và cơ chế nhằm thu hút, huy động, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Việt kiều vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô
Báo cáo khoa học “Công tác đối ngoại Thủ đô Hà Nội thời kỳ đổi mới và
định hướng tới năm 2010”, đề tài cấp Thành phố trực thuộc Chương trình 01X-13, Nguyễn Quang Thư (2005): nghiên cứu tổng kết thành tựu đối ngoại những năm đổi mới của Thủ đô Hà Nội trước khi sáp nhập mở rộng địa giới hành chính; chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu trong công tác đối ngoại, phân tích nguyên nhân và đề
ra định hướng phát triển công tác đối ngoại cho thập kỷ đầu của thế kỷ XXI
Báo cáo khoa học "Nghiên cứu thế mạnh của một số thủ đô thành phố lớn
trên thế giới và đề xuất thứ tự ưu tiên phát triển quan hệ hợp tác giữa Hà Nội với các đối tác này trong giai đoạn 2005-2010", thuộc Đề tài cấp Thành phố, Trần Nghĩa Hòa (2005): đã nghiên cứu hệ thống các đối tác phân theo khu vực địa lý, thế mạnh của các thủ đô, thành phố trên thế giới để tìm hiểu, tiếp cận những đối tác, thị trường và những cơ hội hợp tác trong các mối quan hệ quốc tế của Thủ đô Đề xuất thứ tự ưu tiên hợp tác và lựa chọn đối tác, dự án phù hợp
Trang 9Các nghiên cứu trên đây chủ yếu tập trung vào các vấn đề như: chuyển dịch
cơ cấu kinh tế chung trên địa bàn, chuyển dịch cơ cấu các ngành công nghiệp chủ lực, ngành dịch vụ chất lượng cao của Hà Nội theo hướng hội nhập; hoặc đề cập đến hoạt động đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế của Thủ đô nói chung nhằm phục vụ cho các chuyển dịch cơ cấu và ngành kinh tế theo hướng hội nhập trên đây Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa đặt trong bối cảnh Hà Nội đã mở rộng địa giới hành chính và Việt Nam là thành viên WTO với tất cả những thuận lợi và khó khăn, đặc biệt là trong điều kiện thế giới diễn ra khủng hoảng và suy thoái kinh tế kéo dài, nẩy sinh các xung đột địa chính trị căng thẳng giữa các khu vực, các quốc gia và trong vùng Châu Á - Đông Nam Á Ngoài ra, các nghiên cứu chủ yếu tập trung đánh giá các hoạt động đối ngoại chính trị và đối ngoại văn hóa; chưa có những nghiên cứu chuyên sâu và hệ thống về hoạt động đối ngoại kinh tế và chính sách đối ngoại kinh
tế cấp địa phương cũng như tác động của chính sách đối ngoại kinh tế đến quá trình
mở cửa hội nhập, CNH, HĐH và phát triển bền vững của Thủ đô Hà Nội giai đoạn tới năm 2020
Do vậy, luận án “Chính sách đối ngoại kinh tế trong thời kỳ hội nhập - nghiên cứu tại Hà Nội” sẽ bổ sung bằng các nghiên cứu về đối ngoại kinh tế và
chính sách đối ngoại kinh tế của Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh, yêu cầu phát triển mới của Thủ đô
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
a) Mục tiêu nghiên cứu:
Đề xuất với Chính quyền Hà Nội các giải pháp hoàn thiện nội dung chính sách và tổ chức thực thi chính sách đối ngoại kinh tế nhằm nâng cao mạnh mẽ vai trò của đối ngoại kinh tế trong phát triển kinh tế - xã hội thủ đô
b) Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về CSĐNKT; xây dựng khung
lý thuyết cho phân tích, đánh giá, hoàn thiện chính sách và tổ chức thực thi CSĐNKT cấp địa phương
- Phân tích thực trạng chính sách và tổ chức thực thi CSĐNKT của Thủ đô
Hà Nội; xác định những điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện chính sách và tổ chức thực thi CSĐNKT của Thủ đô Hà Nội đến 2020
Trang 10c) Câu hỏi nghiên cứu:
Để thực hiện mục tiêu, nội dung nghiên cứu trên đây, Luận án sẽ trả lời các câu hỏi sau:
(1) CSĐNKT là gì, mục tiêu và các nhân tố ảnh hưởng tới CSĐNKT?
(2) Các CSĐNKT cơ bản, quy trình thực thi và đánh giá CSĐNKT?
(3) Tổ chức thực thi, điểm mạnh và hạn chế của CSĐNKT Thủ đô?
(4) CSĐNKT của Thủ đô thời gian tới cần được hoàn thiện như thế nào?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là nội dung chính sách và tổ chức
thực thi CSĐNKT của chính quyền địa phương và Thủ đô Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung đánh giá thực trạng giai đoạn từ năm 2008 đến nay, sau khi Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO và Thủ đô được mở rộng địa giới hành chính thông qua Nghị quyết 15/2008/QH12 của Quốc hội; đề xuất các giải pháp cho giai đoạn tới năm 2020 khi Việt Nam và Hà Nội cơ bản hoàn thành CNH theo hướng hiện đại
- Nội dung nghiên cứu của luận án là: Chính sách đối ngoại kinh tế theo cách tiếp cận hướng tới mục tiêu của ĐNKT, với năm chính sách cơ bản: chính sách tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho hợp tác phát triển kinh tế, chính sách hỗ trợ phát triển thương mại và dịch vụ, chính sách vận động thu hút đầu tư và viện trợ, chính sách hợp tác khoa học và công nghệ, chính sách thu hút kiều bào tham gia xây dựng Thủ đô; Tổ chức thực thi CSĐNKT được xem xét theo quá trình tổ chức thực thi chính sách với các nội dung cơ bản của chuẩn bị triển khai, chỉ đạo thực hiện và giám sát, đánh giá sự thực hiện chính sách
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Khung nghiên cứu chính sách đối ngoại kinh tế địa phương
Các nhân tố ảnh hưởng
tới CSĐNKT
địa phương
- Bối cảnh quốc tế
- Bối cảnh quốc gia
- Bối cảnh địa phương
Chính sách đối ngoại
kinh tế
- Các CSĐNKT theo cách tiếp cận tới mục tiêu
- Quá trình tổ chức thực thi CSĐNKT
Mục tiêu CSĐNKT
- Mục đích CSĐNKT
- Mục tiêu của CSĐNKT
- Mục tiêu của từng chính sách bộ phận
Hình 1: Sơ đồ khung nghiên cứu CSĐNKT cấp địa phương
Trang 115.2 Quan điểm tiếp cận nghiên cứu
- Quan điểm tiếp cận hệ thống: vấn đề đối ngoại kinh tế được xem xét trong
tổng thể của quá trình đổi mới, hội nhập KTQT và phát triển kinh tế tri thức; giữa phát triển Thủ đô gắn với sự phát triển chung của cả nước và bối cảnh quốc tế trong điều kiện toàn cầu hoá
- Quan điểm tiếp cận liên ngành: sử dụng cách tiếp cận của nhiều ngành
khoa học khác nhau nhằm nghiên cứu các mối quan hệ đa chiều và phức tạp của đối tượng nghiên cứu là chính sách đối ngoại kinh tế
- Quan điểm phát triển bền vững: dựa trên mối liên hệ biện chứng giữa 3
khía cạnh: kinh tế - xã hội - môi trường, chính sách đối ngoại kinh tế được xem xét trong bối cảnh phát triển bền vững của Thủ đô và đất nước nhằm đạt hiệu quả kinh tế-xã hội tối ưu, phù hợp với xu hướng phát triển KHCN, phát triển kinh tế tri thức
và hội nhập kinh tế quốc tế của thời đại
5.3 Thu thập và xử lý dữ liệu
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Luận án sử dụng kết hợp phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, phương pháp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính để có thông tin cần thiết
Luận án thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua 500 phiếu điều tra gửi đến các nhà quản lý và công chức thực hiện hoạt động ĐNKT, các doanh nghiệp tham gia vào kinh tế đối ngoại và các chuyên gia, để đánh giá nhận thức và tác động của CSĐNKT, làm rõ điểm mạnh, điểm yếu của chính sách và tổ chức thực thi chính sách, cũng như các giải pháp hoàn thiện Cơ cấu phiếu điều tra như sau: 100 phiếu xin ý kiến chuyên gia, nhà khoa học; 100 phiếu phỏng vấn nhà quản lý, nhà doanh
nghiệp; 200 phiếu phỏng vấn nhân dân; 100 phiếu điều tra doanh nghiệp
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Luận án đã vận dụng các kỹ thuật thống kê, ứng dụng phần mềm SPSS để xử lý các dữ liệu thu thập được
6 Đóng góp mới và ý nghĩa của luận án
Trang 12- Rút ra bài học kinh nghiệm về CSĐNKT ở một số nước, vận dụng vào hoàn
thiện chính sách và tổ chức thực thi CSĐNKT của Việt Nam và Hà Nội
thành công
6.3 Ý nghĩa của luận án
- Cung cấp cơ sở khoa học của chính sách đối ngoại kinh tế cấp địa phương trong hội nhập; phân tích đánh giá tổng quan về thực trạng chính sách đối ngoại kinh tế của Thủ đô và giải pháp hoàn thiện chính sách tới năm 2020
- Công trình luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý, hoạch định và thực thị chính sách đối ngoại kinh tế trên địa bàn, cho công tác học tập, nghiên cứu về chính sách đối ngoại kinh tế của Hà Nội
7 Kết cấu của Luận án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ Lục, Luận án được cấu trúc thành 3 Chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về chính sách đối ngoại kinh tế trong hội nhập
Chương 2: Phân tích thực trạng chính sách đối ngoại kinh tế của Thủ đô Hà Nội giai đoạn hội nhập
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách đối ngoại kinh tế của Thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI KINH TẾ TRONG HỘI NHẬP
1.1 Đối ngoại kinh tế trong thời kỳ hội nhập
1.1.1 Khái niệm đối ngoại kinh tế, toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh
tế quốc tế
- Khái niệm đối ngoại kinh tế
Mọi quốc gia đều thực hiện hai chức năng cơ bản: đối nội và đối ngoại Đối ngoại chính là sự nối dài tiếp tục của đối nội ra thế giới bên ngoài, phục vụ đối nội
vì mục tiêu chung của quốc gia Ở Việt Nam, Nhà nước thực hiện chức năng đối ngoại thì được gọi là ngoại giao Đảng CSVN thực hiện chức năng đối ngoại được gọi là đối ngoại đảng Các đoàn thể chính trị xã hội và nhân dân hoạt động đối ngoại được gọi là đối ngoại nhân dân Bên cạnh đối ngoại đảng, đối ngoại nhà nước, chính quyền địa phương các cấp cũng thực hiện chức năng đối ngoại và được gọi là đối ngoại địa phương Nhưng cũng có khi đối ngoại nhân dân lại được gọi là ngoại giao nhân dân, đối ngoại thành phố cũng được gọi là ngoại giao thành phố
Tuy tên gọi có khác nhau nhưng đối ngoại và ngoại giao về bản chất đều
phản ánh mối quan hệ với quốc tế, trong đó đối ngoại có nghĩa rộng, bao hàm cả
ngoại giao (Hình 2) Luận án sử dụng hai thuật ngữ đối ngoại kinh tế và ngoại giao
kinh tế với nghĩa tương đồng Khái niệm ngoại giao kinh tế (economic diplomacy)
đã được một số học giả trên thế giới nghiên cứu và đưa ra nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất Gi Kappon và Kappiep (2003), tiếp cận ngoại giao kinh tế theo nghĩa rộng cho rằng: “Ngoại giao kinh tế là lĩnh vực đặc biệt của hoạt động ngoại giao, liên quan đến việc sử dụng kinh tế như là đối tượng và phương tiện để cạnh tranh và hợp tác trong quan hệ quốc tế” [63;45] Ghi Karon và Karen (2003) cho rằng: “Ngoại giao kinh tế là đạt mục đích kinh tế bằng phương pháp ngoại giao ” [64;25]
Một số học giả, chính phủ lại tiếp cận ngoại giao kinh tế theo nghĩa hẹp Theo Ruerd Ruben (2013): “Ngoại giao kinh tế là việc sử dụng các mối quan hệ và ảnh hưởng của nhà nước để tăng cường lợi ích kinh tế (thương mại, sản xuất, đầu
tư, khoa học kỹ thuật) của các chủ thể kinh tế (nhà nước, doanh nghiệp, người dân)
Trang 14trong mối quan hệ với nước ngoài” [66;92] Chính phủ Bồ Đào Nha (2006) quan niệm: “Ngoại giao kinh tế được hiểu là hoạt động được nhà nước và các định chế công triển khai bên ngoài lãnh thổ Bồ Đào Nha nhằm mục đích đóng góp thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế đất nước, tạo dựng môi trường thuận lợi cho đổi mới và phát triển công nghệ cũng như tạo thị trường mới và tạo ra nhiều công ăn việc làm
có chất lượng tại Bồ Đào Nha” [37;29]
Theo Bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh (2013): “Ngoại giao kinh tế là một trong ba trụ cột của ngoại giao Việt Nam, đó là ngoại giao kinh tế, ngoại giao chính trị và ngoại giao văn hóa Ngoại giao kinh tế hiểu đơn giản là các hoạt động ngoại giao đóng góp vào việc phát triển kinh tế đất nước, từ việc xây dựng quan hệ tốt với các nước, mở rộng hợp tác kinh tế đến hỗ trợ cho các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, các hoạt động kinh tế cụ thể” [8;17]
Trong khi đó, quan niệm đối ngoại kinh tế được Nguyễn Văn Phúc (2012)
nêu: “Hoạt động đối ngoại nói chung, đối ngoại kinh tế nói riêng là nỗ lực hành động của chủ thể (bao gồm các cấp độ quốc gia, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp
và người dân), nhằm tham gia hội nhập một cách chủ động, tích cực và hiệu quả vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế, với các mức độ và hình thức phù hợp, nhằm đạt được lợi ích và mục tiêu cao nhất của quốc gia, ở đây là lợi ích và mục tiêu về kinh tế”[40;3]
Luận án sử dụng khái niệm đối ngoại kinh tế theo nghĩa hẹp, có nội dung gần
với quan niệm về ngoại giao kinh tế của chính phủ Bồ Đào Nha Theo đó, đối ngoại
kinh tế được hiểu là hoạt động do nhà nước và các định chế công triển khai trong quan hệ quốc tế nhằm mục đích đóng góp thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế đất nước, tạo dựng môi trường thuận lợi cho thu hút đầu tư và các nguồn lực bên ngoài, mở rộng thị trường hàng hóa dịch vụ và tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân
Như vậy, đối ngoại kinh tế là hoạt động đối ngoại của một quốc gia hay địa
phương nhằm chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, bao gồm tổng thể các hoạt động đối ngoại trong lĩnh vực kinh tế hoặc phục vụ cho kinh tế; do nhà nước và các định chế công triển khai, gồm chính quyền các cấp và cơ quan nghiệp vụ của nó thực hiện nhằm hỗ trợ và tác động vào các tổ chức, doanh nghiệp, người dân tham gia vào kinh tế đối ngoại; vừa tuân theo nguyên tắc - thể thức ngoại giao vừa đáp ứng
Trang 15yêu cầu - nội dung kinh tế, nhằm đạt được các lợi ích kinh tế của quốc gia cũng như của các chủ thể địa phương, doanh nghiệp, tổ chức và người dân Hoặc có thể diễn đạt vắn tắt, đối ngoại kinh tế là hoạt động do nhà nước và các định chế công triển khai trong quan hệ quốc tế nhằm mục đích đóng góp thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế đất nước, tạo dựng môi trường thuận lợi cho thu hút đầu tư và các nguồn lực bên ngoài, mở rộng thị trường hàng hóa, dịch vụ và tạo ra nhiều công ăn việc làm
cho người dân
Hình 2: Cây đối ngoại kinh tế
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Chủ thể của các hoạt động đối ngoại kinh tế trước hết là nhà nước và các định chế công có liên quan, chủ yếu là Bộ ngoại giao, các bộ ngành ở trung ương (như Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Bộ Công thương, Bộ Tài chính ) và địa phương (như
Sở Ngoại vụ, Sở Kế hoạch & Đầu tư, Sở Công thương, Sở Tài chính ) tham gia vào hoạt động đối ngoại kinh tế Trên cơ sở Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại
Đảng Đối ngoại nhân dân
Ngoại giao chính trị
Ngoại giao kinh tế Ngoại giao văn hóa
Ngoại giao kinh
tế trung ương
Đối ngoại kinh
tế địa phương
Trang 16giao, Bộ ngoại giao có kênh chính trị đặc biệt thông qua cơ quan đại diện ngoại giao
ở nước ngoài Các cơ quan này có thể sử dụng các công cụ ngoại giao như đàm phán, vận động hành lang, tình báo kinh tế, quảng bá, họp báo để tác động tới những người lập chính sách ở nước sở tại về những vấn đề kinh tế đối ngoại có lợi cho nước mình Đồng thời, ở trong nước thông qua các cơ quan đối ngoại, các vụ hợp tác quốc tế của các bộ ban ngành, các sở ngoại vụ của các tỉnh thành phố địa phương, các cấp chính quyền có thể sử dụng các công cụ ngoại giao tác động tới đại
sứ, tham tán thương mại, nhân viên ngoại giao phụ trách kinh tế về những vấn đề kinh tế đối ngoại cụ thể (Hình 2)
Khái niệm đối ngoại kinh tế (economic diplomacy) có sự phân biệt với kinh
tế đối ngoại (foreign economic relations) Kinh tế đối ngoại là lĩnh vực kinh tế đặc
thù, thể hiện phần tham gia của nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế thế giới, nói cách khác là tổng thể các quan hệ kinh tế giữa một quốc gia với phần còn lại của thế giới dựa trên cơ sở sự phát triển phân công lao động quốc tế và chuỗi giá trị toàn cầu Lĩnh vực kinh tế đối ngoại bao gồm thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế và chuyển giao công nghệ, di chuyển lao động quốc tế, các quan hệ tiền tệ-tín dụng
quốc tế và các dịch vụ quốc tế khác Kinh tế đối ngoại là lĩnh vực hoạt động rất
chuyên sâu, ít mang tính tổng hợp như hoạt động đối ngoại kinh tế - vốn được định hướng vào nhiệm vụ, mục tiêu phục vụ phát triển kinh tế quốc gia nói chung, trong
đó có phát triển bộ phận quan hệ kinh tế đối ngoại nói riêng Công tác kinh tế đối ngoại do rất nhiều bộ, ngành, địa phương chỉ đạo và thực hiện, trong đó ngành ngoại giao chỉ đóng vai trò hỗ trợ (có tính tổng hợp, phối hợp) mà không chồng lấn lên hoạt động của ngành chức năng và địa phương, nhằm tận dụng những lợi thế và mặt mạnh của ngành ngoại giao để giúp thúc đẩy kinh tế đối ngoại và sự phát triển đất nước
- Toàn cầu hóa kinh tế
Toàn cầu hóa là khái niệm có nội hàm phong phú, phản ánh các quá trình khách quan đang làm thay đổi sâu sắc mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội - tư duy thế giới, được tạo nên bởi sự gia tăng các mối liên kết, phụ thuộc chặt chẽ và trao đổi qua lại giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân xét trên quy mô toàn cầu Do
đó, toàn cầu hóa còn được định nghĩa là xu hướng khách quan có tính phổ quát của
sự phụ thuộc qua lại không ngừng giữa các khu vực, các bộ phận, các cá nhân trên
Trang 17tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, công nghệ, môi trường, văn hoá, xã hội Trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá phản ánh sự liên kết và trao đổi các hoạt động kinh tế, đầu tư, thương mại trên phạm vi toàn cầu ngày càng gia tăng, kéo theo các dòng chảy tư bản, hàng hóa, công nghệ giữa các quốc gia, hình thành nền kinh tế
toàn cầu nhất thể hóa
Về bản chất, toàn cầu hóa kinh tế là biểu hiện sự phát triển cao của xã hội hoá sản xuất, phân công và hợp tác kinh tế đã vượt khỏi phạm vi quốc gia, dân tộc Ngày nay toàn cầu hoá và hội nhập đang trở thành xu thế tất yếu và không thể đảo ngược, chi phối mọi quá trình phát triển riêng của mỗi quốc gia Dưới tác động của toàn cầu hóa, nền kinh tế thế giới hơn bao giờ hết đang trở thành một chỉnh thể hữu
cơ liên kết các nền kinh tế khu vực và dân tộc, một hệ thống chung toàn cầu đan bện
và phụ thuộc lẫn nhau, bao gồm các bộ phận hợp thành với cơ cấu và logic nội tại chặt chẽ
Đặc điểm nổi bật của toàn cầu hóa giai đoạn hiện nay là sự phát triển bùng
nổ các công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation - TNCs), hình thành các liên kết - thỏa thuận đa phương và các khối kinh tế - mậu dịch vùng Có thể nói, toàn cầu hoá kinh tế được đẩy nhanh bởi quốc tế hoá sản xuất với vai trò chủ đạo đi tiên phong của các TNCs Vào đầu thiên niên kỷ này, ba trung tâm kinh tế lớn là
Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản chiếm 70% mức sản xuất thế giới và các TNCs của chúng chiếm gần 80% giá trị sản lượng của tất cả các TNCs toàn cầu Toàn cầu hoá kinh tế
có những đặc điểm cơ bản sau đây:
(1) Thủ tiêu tình trạng cô lập, đóng kín: buộc các nền kinh tế dân tộc phải mở
cửa, hội nhập, tham gia vào “sân chơi chung”, theo “luật chơi" của kinh tế thị trường Cùng với đó, các biên giới quốc gia mờ dần, các rào cản thương mại hạ
thấp, vai trò các chính phủ đang nhường chỗ cho một Nhà nước toàn cầu Thế giới
trở nên “phẳng” hơn, hay như câu nói “một cái làng toàn cầu”!
(2) Mở rộng nhanh chóng quan hệ kinh tế đối ngoại: trong đó, tốc độ tăng trưởng thương mại đã vượt xa tốc độ tăng GDP toàn cầu Các dòng FDI toàn cầu đạt hàng chục ngàn tỷ USD; thị trường vốn quốc tế đạt mức luân chuyển khổng lồ hàng trăm ngàn tỷ USD Chủ yếu các dòng vốn xuất phát từ các nước công nghiệp phát triển và cũng là đầu tư nội bộ giữa các nước này với nhau Gần đây do ảnh hưởng của suy thoái và khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các nước phát triển đang gặp
Trang 18khó khăn nên dòng vốn quốc tế được điều chỉnh hướng vào các nền kinh tế mới nổi
và khu vực châu Á - nơi đang duy trì đà tăng trưởng tốt
(3) Đẩy mạnh khu vực hoá và các liên kết đa phương: Nói cách khác, nhân loại sẽ đi tới nền kinh tế toàn cầu hóa thông qua các hợp tác khu vực và liên kết tập thể Đây cũng là điểm khác biệt của thị trường thế giới hiện đại, so với trước đây khi các liên minh kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở thỏa thuận song phương Chúng ta quan sát thấy, trên khắp các đại lục hình thành những khối kinh tế và các cơ cấu vùng như: Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EC), Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA); Thị trường chung Trung-Mỹ (CACM), Cộng đồng Caribê và Thị trường chung (CARICOM); Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)
và ASEAN +, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á–Thái Bình Dương (APEC); Diễn đàn hợp tác Á–Âu (ASEM), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Tổ chức các nền kinh tế mới nổi (BRICS)… Đồng thời các Liên minh thuế quan đa phương ra đời (nhóm ANDEAN và Liên minh thuế quan Nga – Bêlarút – Cadăcxtan); các Hiệp định thương mại tự do đa phương được ký kết (FTA) như Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA); đã và đang đàm phán Hiệp định thương mại tư do xuyên Thái bình Dương (TPP) Ngoài liên minh thương mại và thuế quan, thế giới đang mở rộng sang các hình thức liên minh đầu tư, tiền tệ và liên minh chính sách Hai quá trình song song: toàn cầu hoá và vùng hoá gắn kết và bổ sung cho nhau, đem lại cho hành tinh một không gian kinh tế thống nhất
(4) Trong đó, năm chủ thể có quyền lực tham gia chế định chính sách, luật lệ trong nền kinh tế toàn cầu: các quốc gia có chủ quyền, các khối kinh tế khu vực, các thể chế quốc tế (IMF, WB, WTO), các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và các TNCs
(5) Quản trị vĩ mô toàn cầu: Cùng với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, quản trị vĩ mô toàn cầu đang trở thành yếu tố quyết định và không thể thiếu cho phát triển Bất kỳ một trục trặc hay lỗi hệ thống nào về quản trị vĩ mô đều có thể gây ra chấn động lan truyền toàn cầu (như các cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á năm 1997, khủng hoảng tài chính-bất động sản ở Mỹ năm 2008, khủng hoảng nợ công châu Âu vừa qua…)
- Hội nhập quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế
Cùng với quá trình toàn cầu hóa, thì hội nhập vào nền kinh tế - chính trị thế giới ngày nay trở thành một tất yếu đối với mỗi quốc gia và chúng cấu thành một trong những nội dung cốt lõi của toàn cầu hóa Một mặt, toàn cầu hóa thu hút tất cả
Trang 19các dân tộc, các quốc gia trên hành tinh không thể cưỡng lại, rơi vào quỹ đạo chung của toàn cầu hóa; mặt khác, sự hội nhập của các quốc gia, dân tộc với những sắc
thái và trình độ riêng càng làm sâu sắc, phong phú thêm nội dung toàn cầu hóa Hội
nhập kinh tế quốc tế được hiểu là quá trình chủ động, có phần mang tính chủ quan của các chủ thể quốc gia hay địa phương; khi họ nhận thức sâu sắc tính tất yếu, xu thế của toàn cầu hóa kinh tế, tiến hành các bước đi, giải pháp phù hợp và thực hiện các cam kết, thỏa thuận quốc tế theo lộ trình; với mục tiêu nhằm tăng cường mở cửa
tự do hóa nền kinh tế, đồng thời nỗ lực gắn kết, hợp tác với cộng đồng quốc tế thông qua các hoạt động thương mại, đầu tư, tài chính, chuyển giao KHCN ; trên nguyên tắc cùng chia sẻ - phối hợp về chính sách, lợi ích, nguồn lực, quyền lực (có thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung, tham gia vào các định chế hoặc các tổ chức kinh tế quốc tế
Dưới góc độ thể chế, quá trình hội nhập hình thành nên và củng cố các định chế/tổ chức quốc tế, thậm chí là các chủ thể mới của quan hệ quốc tế Những chủ thể quốc tế mới này có thể dưới dạng: (a) hoặc là một tổ chức liên chính phủ (các thành viên vẫn giữ chủ quyền quốc gia trong việc định đoạt chính sách, chẳng hạn như tổ chức Liên hiệp quốc, ASEAN…); (b) hoặc là một tổ chức siêu quốc gia (các thành viên trao toàn bộ chủ quyền quốc gia cho một cơ cấu siêu quốc gia, hình thái này có thể giống như mô hình Nhà nước liên bang, chẳng hạn như Hoa Kỳ, Canada…); (c) hoặc là một tổ chức kết hợp giữa hai hình thái trên (các thành viên trao một phần chủ quyền quốc gia cho một cơ cấu siêu quốc gia và vẫn giữ một phần chủ quyền cho riêng mình, chẳng hạn như trường hợp EU hiện nay) Nhưng khác với toàn cầu hóa - được nhấn mạnh như một quá trình mang tính tất yếu khách quan, hội nhập quốc tế lại nhấn mạnh tính chủ động và năng động của phía chủ thể (chủ quan) - trước tiên phải là các quốc gia có chủ quyền, chủ thể chính của các quan hệ quốc tế Bên cạnh chủ thể chính, các chủ thể khác cùng hợp thành lực lượng tổng hợp tham gia vào hội nhập quốc tế
Nội hàm của hội nhập quốc tế: có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của đời sống
xã hội (kinh tế, chính trị, an ninh - quốc phòng, văn hóa, giáo dục, xã hội, v.v.); nhưng cũng có thể đồng thời diễn ra trên nhiều lĩnh vực với nhiều tính chất (mức độ gắn kết); với nhiều phạm vi (gồm địa lý, lĩnh vực/ngành) và nhiều hình thức (song
phương, đa phương, khu vực, liên khu vực, toàn cầu) Về mặt khái niệm, hội nhập
kinh tế quốc tế được hiểu theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng: nghĩa hẹp coi hội nhập
Trang 20kinh tế quốc tế là sự tham gia vào các tổ chức và định chế quốc tế và khu vực; nghĩa rộng coi hội nhập kinh tế quốc tế là sự mở cửa và tham gia của một quốc gia vào
mọi mặt của đời sống kinh tế quốc tế, tức tham gia vào quá trình toàn cầu hóa
Luận án quan tâm tới nội dung hội nhập kinh tế quốc tế, đây là quá trình gắn kết các nền kinh tế của mỗi quốc gia vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu, thông qua các nỗ lực tự do hóa ngoại thương và mở cửa thị trường theo những hình thức và cấp độ khác nhau Hội nhập kinh tế từ đơn phương đến song phương, đa phương, hoặc tiểu khu vực/vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu; Hội nhập kinh tế có thể diễn ra
theo các cấp độ thấp, vừa và cao Tiến trình hội nhập KTQT có thể chia thành năm
cấp độ hay mô hình cơ bản sau đây:
(1) Thỏa thuận ưu đãi thuế quan (PTA): Các nước thành viên dành cho nhau
các ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan, nhưng còn hạn chế về phạm vi (số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan) và mức độ cắt giảm Hiệp định PTA của ASEAN (1977), Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994) là các ví dụ cụ thể của mô hình liên kết kinh tế ở giai đoạn thấp nhất
(2) Khu vực thương mại tự do (FTA): Các thành viên phải thực hiện việc cắt
giảm và loại bỏ các hàng rào thuế quan và các hạn chế về định lượng (có thể bao gồm cả việc giảm và bỏ một số hàng rào phi thuế quan) trong thương mại hàng hóa nội khối, nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập đối với các nước ngoài khối Ví dụ: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu (EFTA), Khu vực mậu dịch tự do bắc
Mỹ (NAFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Những năm gần đây, phần lớn các hiệp định FTA mới có phạm vi lĩnh vực điều tiết rộng Ngoài lĩnh vực hàng hóa, các hiệp định này còn có những quy định tự do hóa đối với nhiều lĩnh vực khác như dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ… Ví dụ: Hiệp định FTA giữa ASEAN với Úc-Niudilân (2009), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP đang đàm phán)
(3) Liên minh thuế quan (CU): Các thành viên ngoài việc cắt giảm và loại bỏ
thuế quan trong thương mại nội khối còn thống nhất thực hiện chính sách thuế quan chung đối với các nước bên ngoài khối Ví dụ, nhóm ANDEAN và Liên minh thuế quan Nga – Bêlarútxia - Cadăcxtan
Trang 21(4) Thị trường chung (hay thị trường duy nhất): Ngoài việc loại bỏ thuế quan
và hàng rào phi quan thuế trong thương mại nội khối và có chính sách thuế quan chung đối với ngoài khối, các thành viên còn phải xóa bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác (vốn, lao động…) để tạo thành nền sản xuất chung của khối Ví dụ, Liên minh châu Âu trải qua giai đoạn xây dựng Thị trường chung châu Âu trước khi trở thành liên minh kinh tế
(5) Liên minh kinh tế - tiền tệ: Là sự hội nhập kinh tế ở cấp độ cao nhất dựa
trên cơ sở một thị trường chung/duy nhất cộng thêm với việc thực hiện chính sách
và thể chế kinh tế và tiền tệ chung (một đồng tiền chung, ngân hàng trung ương thống nhất của khối), ví dụ, Liên minh đồng tiền chung châu Âu (EU)
Một nước có thể đồng thời tham gia vào nhiều tiến trình và cấp độ hội nhập với tính chất, phạm vi và hình thức khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản phải trải qua các bước hội nhập từ thấp đến cao, việc đốt cháy giai đoạn chỉ có thể diễn ra trong những điều kiện nhất định (chẳng hạn Cộng đồng Kinh tế châu Âu đã đồng thời thực hiện xây dựng khu vực mậu dịch tự do và liên minh thuế quan trong những thập niên 60-70) Hội nhập kinh tế là nền tảng hết sức quan trọng cho sự tồn tại và phát triển bền vững của hội nhập quốc gia trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là hội nhập về chính trị và nhìn chung, được các nước ưu tiên thúc đẩy giống như một đòn bẩy cho hợp tác và phát triển trong bối cảnh thế giới toàn cầu hóa hiện nay Chúng thúc đẩy các nước tham gia ngày càng đầy đủ vào toàn cầu hóa và do đó làm cho toàn cầu hóa ngày càng sâu sắc Viêt Nam tuy hội nhập muộn vào nền kinh tế thế giới, nhưng có tốc độ và giải pháp linh hoạt, hiện được đánh giá là nền kinh tế mở
và hội nhập khá cao Nếu tính đến thời điểm cuối năm 2015 gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN thì Việt Nam tham gia 4/5 cấp độ hay mô hình hội nhập vừa nói trên
1.1.2 Vai trò, chức năng của đối ngoại kinh tế
Vai trò của đối ngoại kinh tế
Trong thế giới luôn có mâu thuẫn và diễn biến phức tạp, để có thể tồn tại và phát triển, các quốc gia đều phải quan tâm và thực hiện tốt vai trò nhà nước thông qua các chức năng đối nội và đối ngoại Hai chức năng này có mối liên hệ khăng khít và tương hỗ, trong đó đối nội đóng vai trò quyết định và chi phối Đối ngoại là
sự tiếp tục của đối nội ra thế giới và phục vụ cho đối nội Một nước nếu không
Trang 22thường xuyên củng cố tiềm lực bên trong, xây dựng nội lực mạnh sẽ thiếu tiền đề,
cơ sở cho nâng cao thế và lực bên ngoài cũng như gia tăng ảnh hưởng và vị thế quốc tế của mình Hoạt động đối ngoại nói chung và đối ngoại kinh tế nói riêng chủ động, tích cực, hiệu quả sẽ hỗ trợ tốt cho công cuộc phát triển chấn hưng đất nước
và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế
Dưới góc độ kinh tế học, các hoạt động đối ngoại kinh tế được coi là hàng hóa công (public goods) mà chính phủ cần cung cấp cho xã hội Các hàng hóa đa dạng mà đối ngoại kinh tế cung cấp cho xã hôi đều nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội Phát triển kinh tế cuối cùng sẽ góp phần nâng cao phúc lợi chung cho toàn xã hội Ye Hao (2014) khẳng định vai trò của đối ngoại kinh tế ở các nước đang phát triển là tạo ra lợi ích, quyền lực, môi trường, và cơ hội [72]:
- Vai trò tạo ra lợi ích: đối ngoại kinh tế giúp tăng cường lợi ích phục vụ phát triển kinh tế và đổi mới đất nước Ví dụ khi nền kinh tế ở trình độ phát triển thấp, đầu tư và công nghệ nước ngoài là nhu cầu rất cần thiết Đối ngoại kinh tế giúp tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài cũng như các công nghệ mới, hiện đại của nước ngoài vào trong nước, giúp phát triển sản xuất kinh doanh trong nước và từng bước chuyển đổi nền kinh tế theo hướng hiện đại, hội nhập
- Vai trò tạo dựng quyền lực và ảnh hưởng: bằng việc sử dụng một cách khôn khéo và thông minh sức mạnh đối ngoại kinh tế sẽ giúp tăng cường ảnh hưởng quốc
tế của quốc gia cũng như quảng bá hình ảnh của một thành phố ra thế giới với tư cách như một chủ thể tham gia quan hệ quốc tế và kinh tế quốc tế Thông qua cơ chế hợp tác song phương, đa phương và các thể chế kinh tế quốc tế, tổ chức quốc tế để tạo dựng ảnh hưởng đối với các đối tác nước ngoài
- Vai trò cải thiện môi trường: đối ngoại kinh tế tạo dựng môi trường cho hợp tác và phát triển, giúp các chủ thể kinh tế thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc
tế và có vai trò quốc tế lớn hơn
- Vai trò tạo cơ hội: đối ngoại kinh tế không chỉ cải thiện môi trường mà còn tạo cơ hội phát triển, mở ra các thị trường mới, khuyến khích và hỗ trợ các chủ thể kinh tế vươn ra thế giới
Bộ Ngoại giao Việt Nam (2013) cho rằng “đối ngoại kinh tế là tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế,
Trang 23thương mại, đầu tư với nước ngoài, phục vụ thiết thực sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước”[8;19] Ngành ngoại giao đã tổ chức thực hiện nhiều hoạt động cụ thể triển khai phương châm “đột phá-mở đường; tham mưu, cung cấp thông tin; song hành hỗ trợ; đôn đốc triển khai”[5] Thực tiễn trong nước và quốc tế khẳng định vai trò ngoại giao kinh tế trên một số mặt như sau:
- Vai trò mở đường: phát huy sức mạnh và lợi thế của ngành ngoại giao để khai thông, mở rộng và tăng cường hợp tác với các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới; tạo cơ hội hợp tác kinh tế, mở ra các thị trường mới
- Vai trò tham mưu: tham mưu cho nhà nước, các bộ ngành địa phương trong việc hoạch định các chính sách kinh tế, chiến lược phát triển, các vấn đề kinh tế-chính trị quốc tế, quan hệ kinh tế quốc tế trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm chính sách của các nước
- Vai trò hỗ trợ: ngành ngoại giao song hành cùng các bộ, ngành chức năng, địa phương, doanh nghiệp trong hoạt động kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc các bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp là chủ đạo; ngành ngoại giao tham gia để hỗ trợ, giải quyết những vướng mắc trong triển khai các kế hoạch, dự án hợp tác với nước ngoài, song ngoại giao không dẫm chân, làm thay
- Vai trò đôn đốc thực hiện: kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ, các cam kết quốc tế về kinh tế đối ngoại
Chức năng của đối ngoại kinh tế
Xuất phát từ chức năng ngoại giao trong việc: (i) thông tin, tạo điều kiện truyền thông; (ii) đàm phán thỏa thuận; (iii) hỗ trợ khắc phục, giải quyết xung đột; (iv) khẳng định vị thế của chủ thể trong quan hệ quốc tế, đối ngoại kinh tế là một trong các yếu tố góp phần quyết định kinh tế đối ngoại bên cạnh lợi thế so sánh, chính sách thương mại, công nghiệp, môi trường pháp luật, kinh tế toàn cầu Đối
ngoại kinh tế có thể gây ảnh hưởng ngay từ đầu vào, giai đoạn ban đầu là liên
lạc-contacts (tiếp cận ban đầu, tìm hiểu, định vị, thiết lập mạng lưới) đến kết quả đầu ra
là hợp đồng-contracts (ảnh hưởng lên giá trị xuất-nhập khẩu, đầu tư, KHCN, du lịch ) Chức năng nhà nước thông qua đối ngoại kinh tế là thông tin, kiến thức; tạo
sự tiếp cận, định vị; khuyến khích, hỗ trợ (xem Hộp 1)
Trang 24Bộ Ngoại giao Hà Lan (2013), trong Báo cáo “Ngoại giao kinh tế trong thực
tiễn: đánh giá ngoại giao kinh tế Hà Lan tại châu Mỹ la tinh”, cho rằng ngoại giao
kinh tế có các chức năng thông tin, tiếp cận, giải quyết (Hình 3):
- Chức năng thông tin, cung cấp kiến thức: đối ngoại kinh tế do nhà nước triển khai sẽ cung cấp thông tin một cách chính xác, đầy đủ và tin cậy cho đối tượng
sử dụng về khu vực, thị trường và thẩm định đối tác
- Chức năng cung cấp tín hiệu: về mặt cung, thương mại và đầu tư đối với một số hàng hóa, sản phẩm đòi hỏi phải có sự tham gia của nhà nước (đảm bảo cho trường hợp hàng hóa và dịch vụ nhạy cảm, mang tính chất chính trị) trong khi về mặt cầu, sự can thiệp của nhà nước là cần thiết khi bản thân các chính phủ nước ngoài là khách hàng hoặc họ đóng vai trò quan trọng (như các công việc xây dựng
hạ tầng, các công ty nhà nước trong khu vực cấp thoát nước, dầu khí ) Cung cấp tín hiệu tham gia các dự án, các yêu cầu kinh tế, kỹ thuật liên quan
- Chức năng cải thiện tiếp cận thị trường: thông qua ảnh hưởng và mối quan
hệ đặc thù, nhà nước có thể can thiệp và cải thiện việc tiếp cận thị trường của các doanh nghiệp, giúp vượt các rào cản, quy định và hoạt động của chính phủ nước ngoài (như cung cấp các thỏa thuận và cam kết thương mại, bảo hộ đầu tư, hỗ trợ pháp lý )
Hộp 1: Chức năng của nhà nước thông qua đối ngoại kinh tế [12;15]
- Cung cấp thông tin từ mạng lưới thống nhất, được bảo lãnh bởi nhà nước (nhiều trường hợp chủ thể kinh tế gặp khó khăn hoặc không tiếp cận được thông tin qua các kênh khác)
- Định vị, khuyến khích các sáng kiến cũng như vận động và tăng cường vị thế quốc gia, xóa bỏ các rào cản và tăng cường tiếp cận thị trường, vốn, khoa học công nghệ thông qua mối quan hệ của nhà nước với nhà nước và với các tổ chức, thiết chế kinh tế quốc tế
- Tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiếp cận của các chủ thể kinh tế tới các quan chức nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài
Trang 25
Hình 3: Cây quyết định ngoại giao kinh tế [12;17]
1.1.3 Các hoạt động đối ngoại kinh tế cơ bản
Mỗi quốc gia đặt ra những ưu tiên và nhiệm vụ khác nhau cho hoạt đông đối ngoại kinh tế Do xuất phát điểm của mỗi quốc gia là khác nhau nên yêu cầu cụ thể với ĐNKT của các quốc gia là khác nhau; hơn nữa, yêu cầu của từng giai đoạn phát triển khác nhau nên nội dung ĐNKT cũng không giống nhau đối với mỗi quốc gia Tuy nhiên, nội dung cơ bản của đối ngoại kinh tế của các quốc gia vẫn có những điểm chung nhất sau đây:
Liệu thị trường có đòi hỏi những thông
tin đặc biệt mà chỉ có nhà nước mới có
thể cung cấp hay không?
Không: Liệu thị trường có cần sự tham
gia của nhà nước để đưa tín hiệu chất
lượng về sản phẩm và doanh nghiệp?
Có: Cần đến đối ngoại kinh tế (Chức năng thông tin, cung cấp kiến thức)
Không: Bản chất của sản phẩm có cần
sự tham gia của nhà nước không?
Có: Cần đến đối ngoại kinh tế (Chức năng tín hiệu và tiếp cận thị trường)
Không: Có quy định ngầm nào? (thỏa
thuận bảo hộ đầu tư, thủ tục pháp lý) Có: Cần đến đối ngoại kinh tế (Chức năng tiếp cận thị trường)
Không: Lợi ích của các doanh nghiệp
trong nước bị đe dọa bởi hoạt động của
chính phủ nước ngoài không?
Có: Cần đến đối ngoại kinh tế (Chức năng tiếp cận thị trường và giải quyết, khắc phục các trở ngại)
Không: Về nguyên tắc không cần đến
vai trò đối ngoại kinh tế
Có: Cần đến đối ngoại kinh tế (Chức năng tiếp cận thị trường)
Trang 26(1) Đề xuất với chính phủ việc đàm phán, ký kết các điều ước và thỏa thuận khung quốc tế cần thiết với các nước, các tổ chức quốc tế, thể chế kinh tế quốc tế nhằm tạo thuận lợi cho quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế
(2) Tham mưu cho chính phủ, các bộ ngành, địa phương về chính sách và biện pháp cần thiết phát triển hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, chú trọng
sự hợp tác về kinh tế, thương mại, đầu tư, du lịch, khoa học công nghệ
(3) Thực hiện chính sách đối ngoại của quốc gia hoặc của các tổ chức quốc tế nhằm củng cố và tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước
(4) Tham gia hỗ trợ, thực hiện hoạt động kinh tế đối ngoại và quảng bá đất nước phù hợp với các nhiệm vụ kinh tế hoặc theo yêu cầu của cơ quan hữu quan; Tiến hành vận động nguồn vốn đầu tư, ODA, khoa học công nghệ từ các nước và các tổ chức quốc tế phù hợp với quy hoạch, kế hoạch chung trong từng thời kỳ phát triển của đất nước
(5) Nghiên cứu tình hình và cung cấp thông tin kinh tế: thu thập, phân tích, đánh giá và cung cấp cho các tổ chức, cá nhân thông tin về tình hình kinh tế quốc tế, quan hệ quốc tế; tiềm năng, chiến lược, chính sách, tình hình kinh tế, pháp luật, tập quán thị trường các nước và tổ chức quốc tế; xu thế phát triển của khoa học công nghệ trên thế giới, cơ hội tiếp thu công nghệ; các vấn đề liên quan tới quá trình hội nhập kinh tế, kinh nghiệm tham gia và hoạt động của các nước trong các tổ chức quốc tế và khu vực
(6) Phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng, hoàn thiện và tổ chức việc thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi
để huy động tiềm năng kinh tế, tri thức và đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của kiều bào ở nước ngoài đầu tư về trong nước, đóng góp vào sự phát triển kinh tế,
xã hội, khoa học, công nghệ của đất nước
(7) Đề xuất chính phủ và các cơ quan hữu quan những biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho kiều bào ở nước ngoài làm ăn sinh sống lâu dài, ổn định ở các nước Bảo vệ lợi ích của nhà nước, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân và doanh nghiệp nước mình ở bên ngoài quốc gia phù hợp với luật pháp đất nước, luật pháp quốc tế và luật pháp nước sở tại
Trang 27Hoạt động đối ngoại kinh tế cụ thể trong tác nghiệp hàng ngày của cán bộ ngoại giao ở các cơ quan đại diện thông thường tập trung:
- Xây dựng quan hệ và vận động hành lang (lobby): tìm hiểu và xây dựng lòng tin với các đối tác; chuyển tải thông điệp chính thức về chính sách, cơ hội hợp tác hai bên cùng có lợi; thăm dò những khả năng mở rộng, tăng cường, làm sâu sắc thêm quan hệ hợp tác; tạo điều kiện cho vận động hành lang đối với đối tượng hoặc những người trong mạng lưới của đối tượng
- Quảng bá, xúc tiến kinh tế đối ngoại: quảng bá hình ảnh đất nước ra bên ngoài, giới thiệu tiềm năng, cơ chế chính sách, môi trường đầu tư trong nước cho đối tác nước ngoài; tìm kiếm và thâm nhập thị trường xuất khẩu cho hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ trong nước; tìm kiếm đối tác nước ngoài đầu tư liên doanh vào các lĩnh vực ngành nghề, địa phương trong nước; tìm cách đưa đầu tư trong nước ra nước ngoài trong những ngành, nghề, địa bàn phù hợp
- Xác minh thông tin: xác minh thông tin đối tác, công ty nước ngoài về địa
vị pháp lý, năng lực tài chính, công nghệ, uy tín, kinh nghiệm Đối với những dự
án, hợp đồng lớn, xác minh thông tin đối tác rất quan trọng giúp tránh lãng phí thời gian, loại trừ khả năng lừa đảo, giúp củng cố lòng tin giữa các đối tác thật sự mong muốn hợp tác lâu dài, cùng có lợi Ngành ngoại giao thực hiện các yêu cầu xác minh, điều tra, thẩm định đối tác nước ngoài của doanh nghiệp, địa phương và bộ ngành trong nước giúp tạo ra hiệu quả kinh tế thiết thực
- Khai mở các địa bàn mới, lĩnh vực kinh tế mới tại nước ngoài: tìm hiểu môi trường kinh doanh, cơ hội giao thương tại các nước; cụ thể hóa chủ trương mở rộng xuất khẩu, đầu tư, và tìm hiểu các lĩnh vực kinh tế mới, khả năng hợp tác trong lĩnh vực ngành nghề trong nước có thế mạnh có mong muốn vươn ra thị trường quốc tế
- Giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại: hỗ trợ trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế thương mại, tư vấn pháp lý, tác động ngoại giao đến các cá nhân,
tổ chức có liên quan để bảo hộ lãnh sự và tạo ảnh hưởng hướng đến giải quyết tranh chấp công bằng, minh bạch
- Vận động kiều bào hướng về tổ quốc, tham gia góp sức phát triển kinh tế trong nước thông qua tuyên truyền chủ trương chính sách đối với kiều bào, tiềm năng và môi trường đầu tư trong nước, chính sách ưu tiên hỗ trợ khi đầu tư về nước, các chính sách khuyến khích chuyên gia, trí thức về nước làm việc.v.v
Trang 281.1.4 Phân cấp hoạt động đối ngoại kinh tế
Đối ngoại kinh tế là nhiệm vụ của không chỉ riêng ngành ngoại giao mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, do nhiều cơ quan bộ ngành và chính quyền địa phương tham gia thực hiện Hoạt động đối ngoại kinh tế diễn ra ở các cấp độ và bình diện khác nhau, hay là sự phân cấp hoạt động đối ngoại kinh tế
Ở cấp độ quốc gia, hoạt động đối ngoại kinh tế do các cơ quan bộ ban ngành trung ương thực hiện (Bảng 1) Ngành ngoại giao, trực tiếp là bộ ngoại giao và các
cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài, là cơ quan đầu mối, điều phối để song hành, hỗ trợ và tạo môi trường thuận lợi cho các bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp để triển khai các nhiệm vụ kinh tế đối ngoại Các bộ ngành chức năng về cơ bản đều có vụ hợp tác quốc tế hoặc cục hợp tác quốc tế được giao làm đầu mối trong hợp tác quốc tế nói chung và hợp tác kinh tế quốc tế nói riêng, hợp tác quốc tế chuyên ngành về thương mại, lao động, đầu tư, công nghệ Sự phối hợp giữa bộ ngoại giao và các bộ ngành chức năng trong nhiệm vụ đối ngoại kinh tế phải dựa trên chức năng nhiệm vụ được phân công
Bảng 1: Phối hợp giữa Bộ Ngoại giao và các bộ ngành
(ví dụ Bộ Thương mại)
Phối hợp chiến lược
- Chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế
- Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội
- Hiệp định v.v
Phối hợp chính sách
- Các cam kết với WTO
- Giám sát các rào cản thương mại
- Phát triển thương mại song phương
Quản lý, chỉ đạo mạng lưới các cơ
quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài
- Phối hợp của hệ thống thương
mại-kinh tế với nước sở tại và giữa các sứ
quán (network)
- Đại diện chính trị (bao gồm kinh tế,
chính trị, văn hóa, sự hợp tác đầu vào
cho cuộc đàm phán thương mại, hiệp
- Quản lý các chương trình và quỹ xúc tiến thương mại
- Chương trình quốc gia xúc tiến thương mại
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Ở cấp độ địa phương, hoạt động đối ngoại kinh tế là sự vận dụng CSĐNKT
chung, do các chính quyền địa phương thực hiện (Hình 2: Cây đối ngoại kinh tế) Ở
Trang 29Việt Nam, từ khi tiến hành chính sách đổi mới và mở cửa năm 1986, cơ chế kế hoạch hóa tập trung từng bước được tháo gỡ, hoạt động kinh tế và đối ngoại kinh tế được tự do hóa, đương nhiên có sự quản lý thống nhất của nhà nước - gọi là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN
Hình 4: Phối hợp hoạt động đối ngoại kinh tế địa phương
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Các địa phương và doanh nghiệp có thể thiết lập các quan hệ kinh tế - thương mại trực tiếp với các đối tác (nước ngoài) theo pháp luật và phân cấp tương ứng thuộc phạm vi, thẩm quyền địa phương và doanh nghiệp Thông qua cơ quan đối ngoại, trực tiếp là hệ thống các cơ quan ngoại vụ địa phương, chính quyền cấp tỉnh thường giao cơ quan ngoại vụ làm đầu mối để phối hợp, hỗ trợ hợp tác quốc tế và đối ngoại kinh tế; trong khi các sở, ban ngành chức năng, doanh nghiệp là cơ quan chủ trì tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động kinh tế đối ngoại cụ thể Mối quan
hệ phối hợp được thể hiện như Hình 4
Bộ Ngoại giao Chính quyền cấp tỉnh
Sở Ngoại vụ, Các Sở ngành chuyên môn
Các DN và Tổ chức tham gia hoạt động KTĐN
- Cục ngoại vụ
- Vụ khu vực
- Đại sứ quán
Đối ngoại kinh tế
- Văn bản thỏa thuận quốc tế
- Chương trình, kế hoạch hoạt động đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương
- Tiếp xúc ban đầu cho chuẩn bị ký kết thỏa thuận hợp tác, dự án hợp tác giữa chính quyền tỉnh với đối tác nước ngoài (ví dụ ký thỏa thuận xuất khẩu lao động, hàng hóa…)
- V.v…
Hoạt động kinh tế đối ngoại cụ thể (ví dụ xuất
khẩu lao động, hàng hóa)
- Chương trình xuất khẩu của địa phương
- Đề xuất đề án, chương trình, địa bàn, đối tác, thị trường xuất khẩu
- Tổ chức thực hiện thỏa thuận, hợp đồng quốc tế đã
ký kết
- V.v…
Trang 301.2 Chính sách đối ngoại kinh tế
1.2.1 Khái niệm chính sách đối ngoại kinh tế
Chính sách và chính sách công:
Chính sách theo quan niệm phổ biến, là phương thức hành động được một chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại Chính sách xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình ra quyết định Chúng vạch ra phạm vi hay giới hạn cho phép của các quyết định, nhắc nhở các nhà quản lý những quyết định nào là có thể và những quyết định nào là không thể Bằng cách đó, các chính sách hướng suy nghĩ và hành động của mọi thành viên trong tổ chức vào việc thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức
Chính sách công là tập hợp các chủ trương, biện pháp khuyến khích các đối tượng phụ thuộc vào chính sách để nhằm đạt được mục đích của chủ thể đề ra chính sách Chính sách mà chúng ta đề cập ở đây hàm ý nói chính sách quản lý nhà nước hay chính sách công Nhà nước, bao gồm nhà nước Trung ương và địa phương, là chủ thể đại diện cho quyền lực của nhân dân, hoạch định và ban hành chính sách công để thực hiện chức năng quản lý và mưu cầu lợi ích cho xã hội Trong các nền kinh tế thị trường, Nhà nước thường sử dụng cơ chế chính sách vận hành tương đồng với các quy luật khách quan để quản lý điều hành các quá trình kinh tế - xã hội Xuất phát từ sự cần thiết phối hợp giữa Nhà nước với thị trường, Paul Samuelson cho rằng: “Chính sách còn là sự thoả hiệp của Chính phủ đối với nền kinh tế, ngay cả khi không ban hành chính sách”[67;105] Theo nghĩa tổng quát, chính sách công là tổng thể các quan điểm phát triển, những mục tiêu tổng quát và những phương thức cơ bản để thực hiện mục tiêu phát triển của đất nước”[15,22]
Như vậy, có thể thấy chính sách là những tác động chủ động và có tính toán của Nhà nước để đối phó với những vấn đề nảy sinh trong xã hội theo hướng đồng tình hay phản đối Lại có quan điểm cho rằng, chính sách công trước hết là phải hướng tới phục vụ số đông và lợi ích chung xã hội dù là trực tiếp hay gián tiếp, chứ không thể hướng tới một cá nhân nào Như vậy, dù tiếp cận theo cách nào thì những tác động của Nhà nước thông qua chính sách công đều mang những nét chung, đó
là: i, chính sách phải thể hiện rõ định hướng chính trị của Nhà nước trong mỗi giai
đoạn; ii, cơ chế tác động của chính sách phải hướng tới cộng đồng; Tác động của
chính sách là những tác động có mục tiêu (dù ngắn hạn hay dài hạn); iii, tác động
Trang 31bằng quyền lực và nguồn lực Nhà Nước; iv, mục tiêu chính sách cần có sự ổn định
trên cơ sở thống nhất với lợi ích chung xã hội Từ những đặc trưng cơ bản nêu trên,
có thể nêu khái niệm về chính sách công như sau: Chính sách công là những hành
động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau và phù hợp với quy luật khách quan, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển Chính sách công là quyết định của các chủ thể
quyền lực nhà nước, nhằm quy định mục đích, cách thức và chế định hành động của những đối tượng liên quan, để giải quyết những vấn đề nhất định mà xã hội đặt ra
Chính sách là công cụ quản lý quan trọng của Nhà nước đối với các lĩnh vực đời sống kinh tế, chính trị, xã hội Chúng rất đa dạng, có thể phân loại chính sách theo các tiêu chí khác nhau:
• Xét theo phạm vi ảnh hưởng của chính sách (quy mô tác động), có thể
phân chia chính sách công thành các loại: (i) Chính sách vĩ mô là những chính sách
được xây dựng nhằm vận hành xã hội chung, có tác động đến những cân đối tổng thể, chi phối nhiều lĩnh vực, có ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia và lợi ích của đông đảo nhân dân; (ii) Chính sách trung mô là những chính sách có quy mô tác động lên những bộ phận hay phân hệ của xã hội; (iii) Chính sách vi mô là những chính sách tác động lên các chủ thể xã hội cụ thể (các tổ chức hay một nhóm người trong
xã hội)
• Xét theo thời gian phát huy tác dụng, có thể phân chia chính sách công
thành các loại: (i) Chính sách dài hạn, được áp dụng lâu dài nhằm thực hiện những
mục tiêu chiến lược, dài hạn của đất nước; (ii) Chính sách trung hạn, có thời gian thực hiện từ ba đến bảy năm, thường tập trung vào các vấn đề có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội, được giải quyết trong trung hạn; (iii) Chính sách ngắn hạn, được áp dụng trong khoảng thời gian ngắn (dưới ba năm) nhằm vào những vấn đề ngắn hạn
• Xét theo cấp độ của chính sách, có thể phân chia chính sách công thành:
(i) Chính sách quốc gia do Quốc hội ra quyết định; (ii) Chính sách của Chính phủ; (iii) Chính sách của địa phương do chính quyền địa phương (Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân) quyết định
• Xét theo lĩnh vực tác động, chính sách công có thể được phân chia thành
các nhóm sau: (i) Chính sách kinh tế, điều tiết các mối quan hệ và quá trình phát
Trang 32triển kinh tế (như các chính sách tài chính, tiền tệ - tín dụng, phân phối, kinh tế đối ngoại, cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành kinh tế, chính sách cạnh tranh,…); (ii) Chính sách xã hội, điều tiết các mối quan hệ xã hội (như các chính sách lao động và việc làm, dân số và kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ sức khỏe toàn dân, xóa đói giảm nghèo…); (iii) Chính sách văn hóa, điều tiết lĩnh vực văn hóa với tư cách là nền tảng tinh thần, là động lực phát triển xã hội (như các chính sách giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, bảo tồn và phát huy di sản và truyền thống dân tộc…); (iv) Chính sách đối ngoại, điều tiết các mối quan hệ đối ngoại của một đất nước với các quốc gia trên thế giới; (v) Chính sách an ninh, quốc phòng, nhằm tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo vệ an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia
Chính sách đối ngoại kinh tế:
Theo khái niệm về chính sách công và khái niệm đối ngoại kinh tế trình bày
ở trên, Luận án đề xuất khái niệm chính sách đối ngoại kinh tế như sau: “CSĐNKT
là tổng thể các quan điểm, biện pháp, công cụ và các quy định mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và hoạt động trong lĩnh vực đối ngoại kinh tế, phù hợp với quy luật kinh tế khách quan, nhằm đạt được những mục tiêu và lợi ích của quốc gia, của địa phương, tổ chức, doanh nghiệp và người dân”
Như vậy, CSĐNKT phải thể hiện nhất quán quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cầm quyền về phát triển KT-XH nói chung và trong lĩnh vực ĐNKT nói riêng, phải phù hợp với pháp luật và các quy luật kinh tế khách quan, đáp ứng yêu cầu của hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế Nguyễn Văn Phúc (2012) cho rằng “chính sách đối ngoại kinh tế là tổng hợp các chính sách với nội dung, phương pháp, công cụ, phương thức nhằm thực hiện các chiến lược, các kế hoạch và các hoạt động cụ thể theo các mục tiêu đối ngoại kinh
tế cũng như huy động các phương tiện, nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó”[40]
Về nội dung, CSĐNKT với tư cách là một bộ phận của chính sách đối ngoại,
phục vụ mục tiêu hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển, là chính sách song hành
và hỗ trợ cho các chính sách kinh tế cụ thể về ngoại thương, đầu tư nước ngoài, xuất khẩu lao động, hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ, v.v CSĐNKT cụ thể hóa
Trang 33đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa và đa phương hóa, nhằm hỗ trợ mở đường, khai thác các lợi thế từ bên trong và bên ngoài, các yếu tố tích cực của hội nhập và toàn cầu hóa cho sự phát triển kinh tế đất nước Chính sách đưa ra những
cơ chế, quy định và biện pháp nhằm khai thác các cơ hội và hạn chế những tác động tiêu cực từ quá trình toàn cầu hóa Quốc gia có chính sách đối ngoại kinh tế đúng đắn có thể giúp đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và
phát triển đất nước
CSĐNKT có thể được ban hành bởi các cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương hoặc địa phương theo thẩm quyền, cụ thể hóa thông qua các văn bản hướng dẫn của các cơ quan chức năng và các cơ quan nghiệp vụ, và nó phải được cụ thể hóa thông qua các chương trình, kế hoạch và các hành động cụ thể của các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội từ cấp trung ương đến cơ sở, thậm chí thông qua hoạt động của các cá nhân hoặc nhóm cá nhân Các chính sách được cụ thể hóa thông qua các chương trình và các kế hoạch hành động cụ thể, các quy định pháp lý độc lập hoặc những quy định có liên quan đến hoạt động đối ngoại kinh tế trong các quy định về các vấn đề có liên quan (những quy định có liên quan đến đối ngoại kinh tế trong hệ thống các văn bản về đầu tư, về phát triển kinh tế-xã hội, về xuất nhập khẩu, v.v )
CSĐNKT phải đáp ứng được những yêu cầu sau:
(i) Hệ thống, tức là cần được xây dựng đồng bộ, thống nhất với các chính sách có liên quan khác nhằm đạt được mục tiêu đề ra;
(ii) Hợp hiến, tức là CSĐNKT phải đảm bảo phù hợp với các quy định của pháp luật của đất nước và chuẩn mực quốc tế;
(iii) Hấp dẫn, tức là CSĐNKT phải có tính kích thích, khuyến khích và thoả mãn được các đối tượng mục tiêu (nhà nước, các tổ chức, doanh nghiệp và người dân, các chủ thể trong nước và nước ngoài);
(iv) Đảm bảo hài hòa lợi ích các chủ thể tham gia, trước hết là lợi ích, chủ quyền, an ninh quốc gia, có đảm bảo giữ vững môi trường quốc tế hòa bình và hợp tác cho phát triển đất nước
Trang 34(v) CSĐNKT cũng đảm bảo tính phù hợp: Phù hợp với đường lối, chủ
trương, chính sách của chính Đảng cầm quyền; Phù hợp với hoàn cảnh kinh tế quốc
tế, của từng nước, từng địa phương trong mỗi giai đoạn
1.2.2 Mục tiêu và các tiêu chí chính sách đối ngoại kinh tế
Mục tiêu của CSĐNKT được xác định với ba cấp độ: (1) mục đích của
CSĐNKT; (2) mục tiêu chung của CSĐNKT; (3) mục tiêu cụ thể của từng chính sách ĐNKT bộ phận Mục tiêu chung của CSĐNKT của các nước đều nhằm phát huy, bảo vệ lợi ích của quốc gia, các tổ chức, cá nhân nước mình ở nước ngoài cũng như góp phần phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại phục vụ phát triển kinh
tế trong nước Tùy theo điều kiện và yêu cầu cụ thể mỗi nước, mục tiêu của chính sách đối ngoại có thể khác nhau và thay đổi theo từng giai đoạn, trước bối cảnh diễn biến tình hình quốc tế và trong nước Trong tuyên bố Bộ Ngoại giao Pháp (2013) cho rằng mục tiêu chính sách đối ngoại kinh tế của nước này là [70]: (i) hỗ trợ các doanh nghiệp ở thị trường nước ngoài; (ii) thu hút đầu tư nước ngoài để tạo việc làm; (iii) thích ứng tốt hơn khung pháp lý quốc tế với lợi ích kinh tế trong nước Trong đó, mục tiêu đầu ra (outcomes) của chính sách đối ngoại kinh tế là các kết quả: tiếp cận thị trường (số doanh nghiệp, số doanh nghiệp vừa và nhỏ, số vốn v.v ); xếp hạng (ordering); định vị (positioning) Mục tiêu ảnh hưởng (impact) của chính sách đối ngoại kinh tế đối với khuyến khích (tăng cường-promotion) các hoạt động kinh tế quốc tế cụ thể như xuất-nhập khẩu, đầu tư, công nghệ; thúc đẩy tự do hóa thương mại, đầu tư, lao động
Khái quát, mục đích của CSĐNKT là: (i) Chủ động tham gia hội nhập và toàn cầu hóa với các phương thức và giải pháp phù hợp; (ii) Đảm bảo an ninh kinh
tế, tư vấn cho chính quyền các cấp và hỗ trợ đắc lực cho doanh nghiệp, tổ chức, người dân trong hợp tác kinh tế quốc tế; (iii) Nâng cao vị thế và ảnh hưởng của quốc gia và địa phương trên trường quốc tế Các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể của từng CSĐNKT được thể hiện ở Hình 5
Trang 35Hình 5: Cây mục tiêu chính sách đối ngoại kinh tế
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Tiêu chí đánh giá CSĐNKT địa phương: Luận án áp dụng cách tiếp cận
hướng tới kết quả để đánh giá CSĐNKT với hai nhóm tiêu chí:
(i) Đánh giá đầu ra của CSĐNKT, gồm thiết lập mạng lưới ĐNKT sâu rộng; các sáng kiến, thỏa thuận, hiệp định giúp giảm rào cản thương mại và đầu tư, các thỏa thuận, chương trình hợp tác song phương, đa phương; tạo môi trường tiếp cận thị trường cho các chủ thể kinh tế đối ngoại; cung cấp được thông tin, tư vấn cho
các tổ chức và doanh nghiệp; nâng cao vị thế quốc gia, địa phương, doanh nghiệp
Mục đích CSĐNKT
- Thúc đẩy hội nhập và tăng trưởng kinh tế
- Đảm bảo an ninh kinh tế, tư vấn, hỗ trợ
- Tăng cường vị thế quốc gia và địa phương
Mục tiêu chung CSĐNKT
- Tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho hợp tác và phát triển kinh tế
- Hỗ trợ phát triển thương mại, dịch vụ đối ngoại
- Thu hút đầu tư, viện trợ nước ngoài
- Phát triển hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ
- Vận động kiều bào tham gia phát triển kinh tế đất nước
- Phát triển ngoại thương
- Giới thiệu quảng bá hàng hóa, dịch vụ, thu hút du lịch QT
- Bảo vệ lợi ích
DN và thị trường XK
- Tư vấn, hỗ trợ
DN và nhân dân tìm thị trường, giải quyết tranh chấp quốc tế
Mục tiêu CS thu hút đầu tư, viện trợ nước ngoài:
- Vận động đầu
tư, viện trợ nước ngoài
- Tư vấn giúp
đỡ nhà đầu tư tiếp cận thị trường nội địa
- Thông tin, quảng bá tiềm năng đất nước
- Hỗ trợ nhà đầu
tư xử lý vướng mắc
Mục tiêu CS phát triển hợp tác QT
về KHCN:
- Phát triển hợp tác KHCN
- Thông tin, tư vấn KHCN
- Hỗ trợ chuyển giao KHCN
- Khuyến khích áp dụng công nghệ mới, công nghệ sạch
Mục tiêu CS vận động kiều bào tham gia PT kinh tế đất nước:
- Vận động đóng góp của kiều bào
- Hỗ trợ kiều bào nước sở tại
- Thúc đẩy lập Hội kiều bào, Câu lạc bộ kiều bào, Câu lạc bộ doanh nhân, trí thức Việt kiều
- Tuyên truyền chính sách, môi trường đầu tư trong nước
Trang 36(ii) Đánh giá tác động của CSĐNKT, gồm thúc đẩy tự do hóa thương mại; tác động lên xuất nhập khẩu, thu hút khách du lịch quốc tế; tác động lên thu hút đầu
tư nước ngoài và viện trợ; tác động lên hợp tác khoa học, công nghệ; tác động lên thu hút đóng góp, nguồn lực của kiều bào v.v
Đánh giá chung về CSĐNKT là việc kết hợp hài hoà giữa kết quả mang lại của CSĐNKT và kết quả hoạt động của bộ máy nhà nước trong việc tổ chức thực thi chính sách Kết quả CSĐNKT được đánh giá trên cơ sở kết quả hiện thực hoá mục tiêu chính sách (các chỉ tiêu đối ngoại kinh tế về mặt định tính và định lượng)
và kết quả thực thi chính sách được tổng hợp bằng phương pháp hệ thống hoá, tổng kết, thống kê, phương pháp điều tra xã hội học để xác định hiệu quả chung của CSĐNKT Cũng có thể so sánh kết quả của một địa phương, một quốc gia với các địa phương, quốc gia khác, từ đó có thể đánh giá được hiệu quả CSĐNKT và hiệu quả quản lý điều hành của các cơ quan thực thi chính sách
1.2.3 Các bộ phận cơ bản của chính sách đối ngoại kinh tế
Các bộ phận của CSĐNKT có thể được phân định theo các cách tiếp cận khác nhau Luận án tập trung nghiên cứu CSĐNKT theo cách tiếp cận hướng tới mục tiêu của ĐNKT, với năm chính sách cơ bản sau đây
Thứ nhất, chính sách tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho hợp tác, phát triển kinh tế
Trong bối cảnh thế giới hiện nay, khi toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế ngày càng diễn ra mạnh mẽ và sự phụ thuộc giữa các quốc gia ngày càng tăng lên, việc xây dựng, duy trì và củng cố mối quan hệ quốc tế hòa bình, ổn định, thuận lợi cả về chính trị, an ninh và kinh tế có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế trong nước Nội dung này được thể hiện qua việc tổ chức các hoạt động đối ngoại kinh tế cấp cao và ký kết các văn bản chính thức nhà nước, tạo môi trường quốc tế
và khung khổ luật pháp - thể chế thuận lợi để tranh thủ nguồn lực và sự đầu tư từ
bên ngoài cho sự phát triển đất nước Qua các chuyến viếng thăm, đàm phán cấp
cao sẽ ký kết các hiệp ước, nghị định khung và triển khai các thỏa thuận hợp tác kinh tế, góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế với các đối tác đi vào chiều sâu Điều này cũng tạo xung lực mạnh mẽ thúc đẩy hợp tác nhiều mặt với các nước trên thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế - thương mại - đầu tư và hợp tác phát triển, góp
Trang 37phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hoạt động đối ngoại nhà nước và chính quyền các cấp sẽ thúc đẩy việc hình
thành và củng cố các cơ chế và khuôn khổ hợp tác nhằm góp phần đưa quan hệ với
các đối tác chiến lược, các nước lớn, các khu vực và bạn bè truyền thống ngày càng
đi vào chiều sâu, phát triển ổn định và bền vững; đồng thời đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Củng cố khuôn khổ pháp lý cho hợp tác kinh tế song phương và đa phương thông qua việc ký kết các hiệp định, thỏa
thuận hợp tác quan trọng Tham gia tích cực, hiệu quả vào các diễn đàn quốc tế, có
nhiều sáng kiến và đóng góp thực chất vào các nội dung hợp tác kinh tế trong khuôn khổ các thể chế kinh tế khu vực (như ASEAN, APEC, AFTA, NAFTA,…); hoặc các thể chế kinh tế toàn cầu (WTO, WEF, WB, IMF…) Trong bối cảnh thế giới đầy biến động và tiềm ẩn rủi ro về an ninh - chính trị - kinh tế như hiện nay, mỗi nước cần xác định được chiến lược quan hệ với các đối tác chủ chốt, các đối tác trước mắt và lâu dài để có thể cân bằng quyền lực của mình trong khu vực và trên thế giới, giúp tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển kinh tế trong nước
Thứ hai, chính sách hỗ trợ phát triển thương mại, dịch vụ đối ngoại
Trong các chính sách đối ngoại kinh tế, chính sách ngoại thương giữ vị trí trung tâm và có tác dụng to lớn góp phần thúc đẩy phát triển thương mại - dịch và
do đó, làm tăng sức mạnh tổng hợp, tăng tích lũy của mỗi nước nhờ sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh giữa các quốc gia trong trao đổi quốc tế; là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; "điều tiết thừa thiếu" trong mỗi nước; nâng cao trình độ công nghệ và cơ cấu ngành nghề trong nước; tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của người lao động, nhất là lao động trong các ngành xuất khẩu Nội dung của chính sách ngoại thương bao gồm: xuất nhập khẩu hàng hóa – dịch vụ, thuê nước ngoài gia công để tái xuất khẩu, trong đó xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của
hoạt động đối ngoại kinh tế ở các nước nói chung và Việt Nam nói riêng
Ngành ngoại giao với hệ thống các cơ quan ở trong nước và nước ngoài, bao gồm các cơ quan đại diện, các sở ngoại vụ tại các tỉnh, thành phố có thể hỗ trợ tích cực cho các địa phương, các sở, ban, ngành chuyên môn khác và cho các doanh nghiệp trong các vấn đề kinh tế đối ngoại, giúp họ thực hiện tốt các hoạt động kinh
Trang 38tế đối ngoại Việc mở rộng hoạt động đối ngoại kinh tế của địa phương sẽ giúp các địa phương khai thác tốt hơn các cơ hội từ bên ngoài để phát triển, đồng thời phát huy tốt hơn các lợi thế so sánh của địa phương trong quá trình hội nhập quốc tế, qua
đó không chỉ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở địa phương nói riêng mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của cả nước nói chung
Việc hỗ trợ các địa phương mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại cần được thể hiện thông qua những hoạt động sau: 1) Thông tin thường xuyên và kịp thời giữa địa phương và các cơ quan ngoại giao, các Sở Ngoại vụ để việc hợp tác, hỗ trợ giữa địa phương và các cơ quan ngoại giao đạt được hiệu quả cao; 2) Phối hợp, giúp
đỡ các tỉnh/thành phố tổ chức hoặc tham gia các hoạt động xúc tiến, quảng bá, tăng cường hợp tác, thu hút đầu tư, khơi thông và mở rộng thị trường, không chỉ ở thị trường truyền thống châu Âu, châu Mỹ, Lào, Campuchia mà còn mở rộng sang khu vực Trung Đông, Châu Phi; 3) Có cơ chế tham vấn giữa địa phương và các cơ quan ngoại giao về những chủ trương, biện pháp, dự án cụ thể về kinh tế đối ngoại, trên
cơ sở đó các cơ quan ngoại giao có những đóng góp và hỗ trợ tìm đối tác thích hợp; 4) Hỗ trợ địa phương kiểm tra đối tác đầu tư, thương mại lớn trên các lĩnh vực như địa vị pháp lý, năng lực tài chính, công nghệ, uy tín nhằm tránh lừa đảo kinh tế, xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, v.v ; 5) Tích cực phối hợp, hỗ trợ địa phương tăng cường hiệu quả hoạt động xuất khẩu lao động; 6) Hợp tác cùng địa phương xây dựng và thực hiện Kế hoạch hành động thực hiện Chỉ thị 41-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường công tác Ngoại giao kinh tế
Thứ ba, chính sách vận động thu hút đầu tư và viện trợ nước ngoài
Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, có đầu tư trực tiếp (FDI) giữ vai trò quan trọng, nhằm tận dụng khai thác xu hướng nổi bật của toàn cầu hóa kinh tế là hợp tác quốc tế trong đầu tư và sản xuất, bao gồm gia công, xây dựng xí nghiệp chung, chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất quốc tế… (i) Xây dựng các xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn của nước ngoài, xí nghiệp này thường được ưu tiên trong những ngành kinh tế quốc dân hướng vào xuất khẩu hay thay thế hàng nhập khẩu và trở thành nguồn thu ngoại tệ chuyển đổi hay tạo điều kiện cho
Trang 39nhà nước tiết kiệm ngoại tệ; (ii) Hợp tác gia công: Do tác động của cách mạng khoa học công nghệ, các nước công nghiệp phát triển đã tiến hành cải tổ cơ cấu kinh tế quốc dân theo hướng tập trung ưu tiên những ngành có hàm lượng khoa học cao, chuyển những ngành có hàm lượng lao động và nguyên liệu cao sang các nước đang phát triển; (iii) Hợp tác sản xuất quốc tế trên cơ sở chuyên môn hoá, bao gồm chuyên môn hóa những ngành khác nhau và trong cùng một ngành, đây là hình thức hợp tác làm cho cơ cấu ngành của các nước tham gia đan xen vào nhau, phụ thuộc lẫn nhau
Đầu tư trực tiếp (FDI) của các doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài, nhất là của các tập đoàn lớn, các TNCs là có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để bổ xung vốn cho CNH, HĐH, tăng năng lực sản xuất, chuyển giao KHCN và kỹ năng quản lý hiện đại, phát triển khu vực tư nhân, tái cơ cấu nền kinh tế, nhất là giúp các nước đang phát triển có thể nhanh chóng tham gia vào chuỗi giá trị quốc tế và hội nhập vào nền kinh tế thế giới Hiện nay dòng đầu tư trực tiếp giữa các nước ước tính nhiều ngàn tỷ USD, trong đó, vốn của các TNCs chiếm tỷ trọng lớn và có nhiều ưu thế Các TNCs nhờ hoạt động trên quy mô toàn cầu, phát triển kinh doanh theo mô hình “chuỗi” hay “mạng lưới”, nắm giữ bí quyết công nghệ nguồn, có thể khai thác hợp lý phân công hợp tác giữa các nước, làm cho sản phẩm toàn cầu đáp ứng được nhu cầu đặc thù của từng địa phương (Coca-Cola Hãng đồ uống toàn cầu là thí dụ)
Để thu hút và sử dụng hiệu quả các dòng vốn FDI, các nước đang phát triển cần đẩy mạnh cải cách thể chế, tạo môi trường kinh doanh hấp dẫn, có kế hoạch - chương trình mục tiêu thu hút FDI để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thành lập các KCN-KCX tập trung với ưu đãi về thuế, mặt bằng, tỷ lệ nội địa hóa và phát triển công nghiệp hỗ trợ…
Bên cạnh, thu hút viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGOs), viện trợ chính thức (ODA) của các chính phủ có ý nghĩa quan trọng nhằm bổ xung nâng cấp năng lực sản xuất trong nước và củng cố quan hệ hợp tác chính thức giữa các quốc
gia Các NGOs bao gồm các chủ thể có tư cách pháp nhân, là những tổ chức không
thuộc chính phủ như các Viện, các tổ chức tư nhân hay công cộng hoặc các Quỹ
Trang 40Các tổ chức NGOs đó là những tổ chức phi lợi nhuận, được lập ra hợp pháp và có tư cách pháp nhân, theo pháp luật của nước sở tại và theo pháp luật của nước cho đặt trụ sở chính Viện trợ NGOs được thể hiện dưới ba hình thức chủ yếu là viện trợ thông qua các chương trình, dự án (viện trợ để thực hiện các chương trình/dự án), viện trợ phi dự án (viện trợ bằng tiền hay hiện vật) và viện trợ khẩn cấp trong trường hợp có thiên tai hoặc tai hoạ khác Viện trợ NGO là loại viện trợ không hoàn lại, chủ yếu mang tính nhân đạo và hỗ trợ phát triển, có thủ tục nhanh gọn và đơn giản Quy mô dự án thường không lớn (từ vài nghìn đến vài trăm nghìn đô la Mỹ, thời gian thực hiện không dài (từ vài tháng đến 1-2 năm) nhưng thường đáp ứng kịp thời, sát với nhu cầu và phù hợp với khả năng quản lý, sử dụng của nơi nhận
viện trợ
Chính phủ các nước cũng dành một phần viện trợ ODA cho các nước đang phát triển thông qua NGOs Bên cạnh, các nước đang phát triển còn nhận được từ chính phủ các nước phát triển nguồn hỗ trợ quan trọng – vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), viện trợ có hoàn trả vốn vay với những điều kiện ưu đãi (như lãi suất thấp hoặc gần như bằng không, thời hạn trả nợ kéo dài hàng chục năm, thậm chí nhiều chục năm,…) Viện trợ ODA và thông qua NGOs là đáng kể, ngày một tăng
và trên thực tế đã là nguồn lực quan trọng giúp nhiều nước vượt qua giai đoạn khó khăn ban đầu, hỗ trợ tích cực cho các chương trình cải cách kinh tế - xã hội, nhất là
xây dựng thể chế, phát triển hạ tầng và an sinh đối với các nước đang phát triển
Thứ tư, chính sách hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ
Cạnh tranh và hợp tác giữa các quốc gia ngày nay chủ yếu dựa trên lợi thế về KHCN, hợp tác chuyển giao KHCN là một điều kiện tất yếu để rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến Đối với những nước lạc hậu về kỹ thuật, vốn chi phí cho nghiên cứu khoa học còn ít, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật chưa nhiều, phương tiện vật chất còn thiếu thốn thì việc đẩy mạnh hợp tác và chuyển giao KHCN với nước ngoài là vô cùng quan trọng Chính sách hợp tác và chuyển giao
KHCN được thực hiện dưới nhiều hình thức như trao đổi những tài liệu - kỹ thuật
và thiết kế, giấy phép, trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao KHCN… Việc đưa lao