1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận về bình đẳng giới về tiếp cận đất trong sản xuất ở việt nam

211 340 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua việc xây dựng khung phân tích và sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu định lượng với phương pháp thống kê mô tả và mô hình hồi qui dựa trên số liệu thống kê qui mô lớn, mang tính đ

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Giới thiệu luận án

Luận án “Bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam” được

thực hiện với mục đích phân tích, đánh giá khía cạnh bình đẳng giới trong tiếp cận đất với tư cách là một yếu tố nguồn lực sản xuất trực tiếp Thông qua việc xây dựng khung phân tích và sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu định lượng với phương pháp thống kê mô tả và mô hình hồi qui dựa trên số liệu thống kê qui mô lớn, mang tính đại diện cho cả nước, luận án đã phân tích và đánh giá thực trạng bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam ở cả 2 góc độ là khả năng được sử dụng đất

để sản xuất và khả năng sử dụng đất sản xuất để thu lợi, từ đó đề xuất quan điểm định hướng và các nhóm giải pháp để cải thiện vấn đề này trong thời gian tới

Luận án được viết với tổng số trang là 151, trong đó ngoài phần mở đầu (18 trang), kết luận (3 trang), nội dung chính của luận án được trình bày theo 4 chương, trong đó: Chương 1 (29 trang) bên cạnh việc tổng quan về bình đẳng giới, chương này tập trung vào luận giải và làm rõ nội hàm, đề xuất các tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất; chương 2 (18 trang) trình bày các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để đạt được mục tiêu nghiên cứu, các nguồn số liệu được sử dụng và mô tả chi tiết phương pháp phân tích

dữ liệu; Chương 3 (63 trang) tập trung phân tích thực trạng bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất, đồng thời chỉ ra những kết quả đạt được và những mặt còn tồn tại

và nguyên nhân của thực trạng này ở Việt Nam; Chương 4 (20 trang) đưa ra các quan điểm định hướng và khuyến nghị chính sách cải thiện bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam

Luận án được thực hiện thông qua tham khảo 112 tài liệu (gồm 46 tài liệu tiếng Việt và 66 tài liệu bằng tiếng Anh) Luận án được minh họa bằng 20 bảng số liệu, 8 hình vẽ và phần phụ lục (47 trang, chia thành 4 phụ lục với 25 bảng trình bày kết quả định lượng)

Trang 2

2 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Trong vòng hai thập kỷ trở lại đây, vấn đề giới và bình đẳng giới đã trở thành vấn đề chính yếu trong các diễn đàn phát triển trên phạm vi toàn thế giới Với nhiều

nỗ lực của chính phủ các quốc gia và các tổ chức quốc tế, bình đẳng giới đã có những tiến bộ vượt bậc, đặc biệt là trong các khía cạnh như giáo dục, tuổi thọ trung bình, lao động việc làm hay cơ hội tham gia chính trị Tuy nhiên, bên cạnh những lĩnh vực có nhiều tiến bộ vượt bậc, một số lĩnh vực bình đẳng giới khác hầu như có rất ít sự thay đổi, trong đó phải kể đến bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai

Dữ liệu thống kê ở phạm vi toàn thế giới đưa ra rất nhiều bằng chứng đối với tình trạng bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai Cơ sở dữ liệu toàn diện về Giới

và quyền sử dụng đất của FAO đã chỉ ra rằng, tính trung bình, phụ nữ chiếm tới 43% lực lượng lao động trong khu vực nông nghiệp ở các nước đang phát triển, trong khi đó chỉ có khoảng từ 5 - 30% những người có nắm giữ đất nông nghiệp là phụ nữ Không những có ít cơ hội hơn nam giới trong nắm giữ đất đai, ngay cả khi

có cơ hội nắm giữ đất đai thì diện tích đất nắm giữ của phụ nữ cũng nhỏ hơn so với nam giới, thậm chí ở một số nước, diện tích đất của các hộ gia đình do nam giới làm chủ hộ lớn gấp hơn 2 lần diện tích đất của các hộ gia đình do nữ giới làm chủ hộ [71] Việc vẫn còn tồn tại khoảng cách giữa phụ nữ và nam giới trong việc tiếp cận đất sản xuất là một trong các nguyên nhân làm hạn chế cơ hội kinh tế của phụ nữ, khiến năng suất trong sản xuất nông nghiệp của phụ nữ thấp hơn nam giới, từ đó tạo

ra khoảng cách giới về thu nhập Không những tồn tại khá dai dẳng trong xã hội, bất bình đẳng giới trong việc tiếp cận đất còn khiến cho các nỗ lực giảm nghèo của các quốc gia bị hạn chế đi nhiều Việc phụ nữ khó có thể tiếp cận với các quyền sở hữu đất đai làm tăng 60% so với mức trung bình nguy cơ bị thiếu đói [90] “Nếu được trao quyền tiếp cận các nguồn lực bình đẳng với nam giới, phụ nữ ở các nước đang phát triển có thể tăng sản lượng trên các thửa ruộng mà họ canh tác lên từ 20-30%

và nhờ đó giúp nâng tổng sản lượng nông nghiệp của các nước nghèo tăng lên từ 2,5 đến 4% Sản lượng nông nghiệp tăng thêm đó có thể giúp làm giảm 12-17% số người đói nghèo trên thế giới, tương đương từ 100 đến 150 triệu người”[71] Bên

Trang 3

cạnh đó, bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai còn tác động tới các khía cạnh phúc lợi xã hội khác Khi phụ nữ có quyền sử dụng đất bình đẳng với nam giới, họ có nhiều khả năng hơn một cách đáng kể trong việc có tiếng nói quyết định trong gia đình [83], và các bằng chứng từ các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh đều chỉ ra rằng, khi người phụ nữ có tiếng nói quyết định nhiều hơn, thu nhập của hộ gia đình sẽ dành chi tiêu nhiều hơn cho thực phẩm, quần áo, chăm sóc sức khỏe và giáo dục của con cái, điều này sẽ góp phần gia tăng các chỉ số về sức khỏe, dinh dưỡng

và giáo dục của nền kinh tế, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế [71]

Cũng như xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới, Việt Nam với những nỗ lực của mình trong hơn 2 thập kỷ qua đã đạt được những thành tựu to lớn trong khía cạnh tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ và những thành tựu này được cộng đồng quốc tế công nhận Theo báo cáo phát triển con người năm 2011, Việt Nam đứng thứ 128/187 quốc gia và vùng lãnh thổ, mức trung bình trên thế giới về chỉ số phát triển con người (HDI), nhưng xếp hạng 48 về chỉ

số phát triển giới (GII)

Việt Nam thực sự đã có những bước tiến đáng kể trong phát triển kinh tế xã hội kể từ sau đổi mới Tuy vậy, trong điều kiện hiện nay, Việt Nam: (i) vẫn là một quốc gia phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp; (ii) tình trạng nghèo vẫn còn chiếm một tỷ lệ tương đối cao; (iii) đất đai là yếu tố nguồn lực quan trọng nhất đối với sản xuất nông nghiệp, và (iv) phụ nữ lại là lực lượng lao động quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, thì việc bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai sẽ có ý nghĩa quan trọng không phải chỉ ở góc độ xã hội mà nó còn có ý nghĩa quan trọng về kinh tế: góp phần gia tăng khả năng cải thiện năng suất trong nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực, giúp giảm nghèo bền vững

Nhận thức được điều này, trong thời gian vừa qua, Chính phủ đã có một số chính sách nhằm tăng cường bình đẳng giới trong việc tiếp cận đất sản xuất như việc ban hành Luật đất đai năm 2003 với quy định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải được đứng tên cả vợ và chồng, Luật bình đẳng giới năm 2006… Tuy nhiên,

có thể nguyên nhân sâu xa của vấn đề bất bình đằng giới trong tiếp cận đất đai vẫn

Trang 4

chưa được giải quyết triệt để thông qua các chính sách hiện hành, dẫn tới nội dung này vẫn chưa được cải thiện nhiều Kết quả điều tra hộ gia đình nông thôn năm

2012 cho thấy, các hộ có chủ hộ nữ có tỷ lệ hộ không có đất cao hơn so với các hộ

do nam giới làm chủ hộ (16% so với 8% hộ có chủ hộ là nam giới), nếu có đất thì diện tích đất cũng nhỏ hơn (diện tích đất nông nghiệp trung bình của các hộ gia đình

do nữ giới làm chủ hộ chỉ bằng 65% của các hộ gia đình do nam giới làm chủ hộ) Bên cạnh đó tỷ lệ hộ gia đình có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cả vợ

và chồng chỉ đạt 12,9% trong năm 2012, mặc dù đã tăng lên tương đối so với tỷ lệ 8,6% năm 2010 nhưng vẫn ở mức thấp so với khoảng thời gian gần 10 năm thực hiện chính sách đất đai đảm bảo bình đẳng giới

Những nhận định sơ bộ trên đây cho thấy: việc đứng trên góc độ về kinh tế

để nghiên cứu bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai, cụ thể: (i) xây dựng khung nghiên cứu, bao gồm nội hàm, tiêu chí đánh giá và xác định các nhân tố tác động đến bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai; (ii) đánh giá một cách hệ thống khoa học dưới góc độ kinh tế thực trạng bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam hiện nay; (iii) tìm nguyên nhân khiến bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại và (iv) đưa ra các chính sách giúp cải thiện được tình trạng này, là thực sự cần thiết Đặc biệt, trong giai đoạn tới, khi Việt Nam sẽ phải đương đầu với một loạt các vấn đề có ảnh hưởng tới quá trình phát triển như: Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập vào nền kinh tế quốc tế ngày càng sâu sắc, biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu và sự thay đổi về chất trong phát triển kinh tế và giảm nghèo ở Việt Nam, việc nghiên cứu về bình đẳng giới nói chung và trong lĩnh vực tiếp cận đất đai lại càng trở nên quan trọng hơn trên các khía cạnh kinh tế, chính trị và xã hội

3 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Có thể khẳng định rằng, mối quan hệ giới trong các lĩnh vực đã tồn tại từ lâu trong xã hội và trong vòng 2 thập kỷ trở lại đây nó trở thành vấn đề được thảo luận sôi nổi trong các diễn đàn và chương trình nghị sự về phát triển Chính vì vậy, có rất nhiều các nghiên cứu trong và ngoài nước bàn về vấn đề này, nhưng trong đó có một phần tương đối lớn các công trình về Giới lại bàn về vấn đề phụ nữ và vai trò

Trang 5

của phụ nữ trong các mặt đời sống xã hội dưới góc độ của một môn khoa học xã hội

về phụ nữ, và do đó tính gắn kết vấn đề giới với phát triển kinh tế của các vấn đề này hầu như không có, do đó tác giả sẽ không đi vào tổng quan các nghiên cứu này Phần còn lại, với các công trình có tính gắn kết giữa vấn đề Giới và phát triển, sẽ là các nghiên cứu mà tác giả tập trung để đánh giá Tuy nhiên, trong phần đánh giá tổng quan của mình, tác giả chỉ tập trung vào các nghiên cứu (lý thuyết và thực tiễn) trong và ngoài nước có mang tính điển hình cao – thể hiện ở phạm vi ảnh hưởng của các nghiên cứu trong các diễn đàn hoặc khi nhắc đến vấn đề giới, các nhà học giả trong và ngoài nước sẽ nhắc đến Còn các nghiên cứu khác quá nhỏ lẻ, thì không thuộc nội dung được đề cập ở đây

3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

3.1.1 Về bình đẳng giới

Bình đẳng giới là vấn đề trung tâm của phát triển, bản thân nó là một mục tiêu của quá trình phát triển do đó có rất nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển bàn về vấn đề này Các nghiên cứu này thường tập trung vào việc đưa ra định nghĩa hay quan niệm về bình đẳng giới, đưa ra các tiêu chí đánh giá bất bình đẳng giới theo các khía cạnh; đánh giá mối quan hệ giữa bình đẳng giới và tăng trưởng, phát triển kinh tế; đánh giá thực trạng bất bình đẳng giới trên một số khía cạnh ở góc độ quốc gia hoặc quốc tế; hoặc đi tìm các nhân tố tác động tới bình đẳng giới

Ngân hàng thế giới (2001) với báo cáo “Đưa vấn đề giới vào phát triển: thông qua sự bình đẳng giới về quyền hạn, nguồn lực và tiếng nói”, được coi là nghiên cứu đầu tiên mang tính tổng hợp về vấn đề giới, chính sách công và sự phát triển Thừa hưởng kết quả của các nghiên cứu đa ngành về vấn đề giới có liên quan đến sự phát triển như kinh tế, luật pháp, nhân khẩu học, xã hội học và các chuyên ngành khác đã được thực hiện trước đó, báo cáo đã đưa ra khái niệm bình đẳng giới

là bình đẳng về luật pháp, về cơ hội (bao gồm cả sự bình đẳng trong thù lao công việc và việc tiếp cận đến nguồn vốn con người và các nguồn lực sản xuất khác cho phép mở ra các cơ hội này) và bình đẳng về “tiếng nói” (khả năng tác động và đóng góp cho quá trình phát triển), đồng thời chỉ ra thực trạng phân biệt giới theo các

Trang 6

khía cạnh đó trên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt tập trung vào các nước đang phát triển, cũng như cái giá phải trả cho vấn đề bất bình đẳng giới đối với phúc lợi của con người cũng như quá trình phát triển Báo cáo cũng chú trọng phân tích vai trò của thể chế xã hội như tập quán và luật lệ, các thể chế kinh tế như thị trường; vai trò của mối quan hệ quyền lực, nguồn lực và ra quyết định trong hộ gia đình; vai trò của những thay đổi kinh tế và chính sách phát triển như những yếu tố giải thích cho

sự bất bình đẳng giới để từ đó giúp xác định các đòn bẩy chính sách hữu hiệu dể thực đẩy sự bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới

Trong Báo cáo phát triển con người châu Á Thái Bình Dương (UN, 2009), Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) trong báo cáo phát triển con người năm 2010 (UNDP, 2010), cũng xem xét bình đẳng giới trong quyền pháp lý, tiếng nói trên chính trường, và quyền năng kinh tế và đưa cách tiếp cận đó vào việc xây dựng chỉ số đánh giá bất bình đẳng giới mới (GII)

Sau hơn 1 thập kỷ kể từ báo cáo 2001 của Ngân hàng thế giới ra đời, quá trình hoàn thiện thể chế về mặt luật pháp đảm bảo bình đẳng giới đã được thực hiện rộng khắp nhất là ở các nước đang phát triển, do đó trong nghiên cứu gần đây nhất

của Ngân hàng thế giới (2011), báo cáo phát triển thế giới 2012 với chủ đề “Bình

đẳng giới và phát triển”, trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đó của Ngân hàng thế giới liên quan đến chủ đề giới, đã tập trung đánh giá bình đẳng giới được xem xét theo 3 khía cạnh: sự tích tụ năng lực (sức khỏe, học hành, tài sản vật chất); việc

sử dụng năng lực để nắm bắt các cơ hội kinh tế và tạo thu nhập; và việc sử dụng các năng lực được tích tụ đó để tác động đến quyền lợi của cá nhân và hộ gia đình Báo cáo đánh giá những bước tiến trong các khía cạnh của vấn đề bình đẳng giới, đồng thời cũng chỉ ra những khía cạnh bất bình đẳng giới còn tồn tại dai dẳng, từ đó lựa chọn chính sách tập trung giải quyết nguyên nhân cơ bản của tình trạng bất bình đẳng giới trong các lĩnh vực ưu tiên

Trên cơ sở báo cáo phát triển thế giới 2012, Ngân hàng thế giới khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (WB, 2012) đã nghiên cứu chi tiết các khía cạnh bất bình đẳng giới được đặt ra trong báo cáo phát triển thế giới trong bối cảnh của khu

Trang 7

vực Đông Á và Thái Bình Dương từ đó đưa ra cơ sở hoạch định chính sách hướng tới bình đẳng giới mang tính đặc trưng cho khu vực này

Bên cạnh các nghiên cứu đánh giá thực trạng bình đẳng giới một cách tổng quát, có rất nhiều nghiên cứu quốc tế tập trung vào các khía cạnh cụ thể của vấn đề bình đẳng giới như bất bình đẳng giới trong giáo dục hay bất bình đẳng giới trong lao động, việc làm Với khía cạnh bất bình đẳng giới trong giáo dục, các nghiên cứu cho thấy, ở các nước phát triển đang có xu hướng đổi chiều bất bình đẳng từ bất lợi với trẻ em gái sang bất lợi đối với trẻ em trai ở tất cả các cấp học dưới góc độ tiếp cận với giáo dục (Jerry A Jacobs (1996); Claudia Buchmann, Thomas A DiPrete,

và Anne McDaniel (2008); OECD (2011)), tuy nhiên ở các nước đang phát triển, trẻ

em gái vẫn bất lợi hơn so với trẻ em trai trong cả khía cạnh tiếp cận và kết quả học tập (John Bauer, Wang Feng, Nancy E Riley, Zhao Xiaohua, (1992);Vimala, R (2008); OECD (2011)) Với khía cạnh lao động và việc làm, các nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù sự tham gia của phụ nữ vào trong các hoạt động được trả lương ngày càng tăng, tuy nhiên vẫn tồn tại bất bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực lao động việc làm với lợi thế thuộc về nam giới (John Bauer, Wang Feng, Nancy E Riley, Zhao Xiaohua, (1992); Paul Boyle, Tom Cooke, Keith Halfacree, Darren Smith (1999); David A Cotter, Joan M Hermsen, Reeve Vanneman (2004) ) Khi đánh giá các nguyên nhân gây ra bất bình đẳng giới, hầu hết các nghiên cứu về các khía cạnh nhỏ của vấn đề bất bình đẳng giới đều đề cập tới các yếu tố liên quan đến luật pháp, quan điểm và chuẩn mực xã hội, các chính sách liên quan và đặc biệt là các yếu

tố liên quan đến các đặc điểm của cá nhân và hộ gia đình (John Bauer, Wang Feng, Nancy E Riley, Zhao Xiaohua, (1992); Paul Boyle, Tom Cooke, Keith Halfacree, Darren Smith (1999); David A Cotter, Joan M Hermsen, Reeve Vanneman (2004); Claudia Buchmann, Thomas A DiPrete, và Anne McDaniel (2008)

3.1.2 Bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai

Đất đai là một yếu tố nguồn lực sản xuất, do đó nội dung đánh giá bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai được nghiên cứu cùng với các yếu tố nguồn lực khác như vốn tín dụng hay tiếp cận thông tin Các nghiên cứu ngoài nước, cho dù ở đánh giá

Trang 8

trên phạm vi toàn thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển (FAO, 2011) hay tập trung vào 1 số quốc gia như Bangladesh, Ghana, Tajikistan hay vùng (Christine G Ishengoma, (1997); Hatcher, J et.al (2005); Shahnaj Parveen, (2008); Ogato, G and J Subramani.(2009); Alexander M Danzer et.al (2009) đều có chung kết luận

là tình trạng bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực nói chung vẫn diễn ra phổ biến, với bất lợi thuộc về phụ nữ Trên cơ sở phân tích các nguyên nhân liên quan đến quan điểm truyền thống và phong tục tập quán, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, các nghiên cứu trên cũng đưa ra ngụ ý chính sách nhằm tăng cường khả năng tiếp cận nguồn lực cho phụ nữ Mặc dù vậy các nghiên cứu chưa chỉ ra được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động để từ đó đưa ra các lựa chọn ưu tiên về mặt chính sách

Bên cạnh các nghiên cứu bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực sản xuất chung, có tương đối nhiều các nghiên cứu đề cập tới bình đẳng giới trong tiếp cận yếu tố đất đai Các nghiên cứu của Eve Crowley (1999); Linus Blom (2006); Nichols, S.; Crowley, E and Komjathy, K (1999); Carmen Diana Deere, Magdalena Leon (2003); Mechthild Runger (2006); Jagero, N et.al (2011); Nitya Rao (2011); Cheryl Doss et.al (2013); Henri – Ukoha, A et al (2014), với việc sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính hay định lượng hoặc kết hợp cả hai, tất cả đều chỉ ra thực tế có tồn tại vấn đề bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất, theo đó phụ

nữ có ít khả năng tiếp cận và kiểm soát đất đai hơn nam giới, và nếu có thể tiếp cận với đất đai thì các mảnh đất cũng có diện tích nhỏ hơn và chất lượng thấp hơn Các nghiên cứu trên cũng cho thấy tác động của các quan điểm truyền thống “trọng nam khinh nữ” trong trao quyền, kiểm soát và thừa kế đất đai (Jagero, N et.al (2011), các đặc điểm nhân khẩu học của phụ nữ như trình độ học vấn, tuổi, tình trạng hôn nhân của phụ nữ (Henri – Ukoha, A et al (2014)) hay các yếu tố gắn với thể chế chính thức (Mechthild Runger (2006)) ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận và kiểm soát đất đai của phụ nữ Mặc dù vậy, phần lớn các nghiên cứu này xem xét đất đai với tư cách là tài sản của hộ gia đình mà chưa xem xét cụ thể đất đai dưới góc độ là nguồn lực sản xuất Thêm vào đó nếu nghiên cứu ở phạm vi quốc gia thì chỉ dừng ở việc

Trang 9

mô tả dữ liệu cũng như sơ lược giải thích nguyên nhân trong bối cảnh phân tích so sánh với các quốc gia khác mà chưa đi sâu vào phân tích vai trò cũng như cơ chế tác động của các nguyên nhân đó, còn với các nghiên cứu đi sâu phân tích thực trạng của vấn đề bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai thì cho dù là nghiên cứu định tính hay định lượng, các nghiên cứu mới chỉ tập trung khai thác dữ liệu thông qua các cuộc điều tra hay phỏng vấn với đối tượng hộ gia đình cụ thể, qui mô mẫu nhỏ tập trung theo một vùng nhất định của các quốc gia ví dụ như quận Bunyala của Kenya hay bang Abia thuộc Đông Nam Nigeria …và do đó các kết luận sẽ không có tính đại diện quốc gia

Tóm lại, các nghiên cứu ngoài nước cho dù xem xét dưới góc độ tổng quan, mang tính lý thuyết, hay với các vấn đề cụ thể, đánh giá thực trạng trong các khía cạnh của bình đẳng giới, đã cho thấy được một khung lý thuyết tương đối đồng nhất về quan điểm trong đánh giá bất bình đẳng giới, các nguyên nhân gây ra bất bình đẳng giới và tác động của vấn đề bất bình đẳng giới tới quá trình phát triển kinh tế, đây chính là cơ sở tương đối vững chắc để có thể tiến hành đánh giá toàn diện vấn đề bình đẳng giới và trong từng khía cạnh riêng lẻ để từ đó hoạch định các chính sách đảm bảo bình đẳng giới Tuy vậy, vấn đề giới là vấn đề chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố cấu trúc xã hội cũng như đặc trưng văn hóa, do đó các nghiên cứu này chỉ đóng vai trò giúp hình thành khung lý thuyết mà không thể áp dụng làm chính sách chung để giải quyết vấn đề bất bình giới nói chung và bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực sản xuất ở mỗi một quốc gia riêng lẻ, do

đó đây chính là “khoảng trống’ mà tác giả đặt ra trong nghiên cứu của mình

3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

3.2.1 Về bất bình đẳng giới ở Việt Nam

Có thể khẳng định rằng, cùng với việc ký các cam kết quốc tế về vấn đề giới, đồng thời dưới sự giúp đỡ của các nhà tài trợ, vấn đề giới ở Việt Nam cũng

đã được rất nhiều nghiên cứu đề cập tới cả ở góc độ tổng quan và những khía cạnh

cụ thể của vấn đề bình đẳng giới

Trang 10

Một nghiên cứu có thể được coi là đầu tiên của Việt Nam tổng quan về vấn

đề giới đó là nghiên cứu của Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ thực hiện với tên gọi “Phân tích tình hình và đề xuất chính sách nhằm tăng cường tiến bộ của phụ

nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam”(2004) trong đó đề cập tới thực trạng cũng như các nhân tố ảnh hưởng và giải pháp chính sách của 4 khía cạnh của vấn đề bình đẳng giới, đó là vấn đề giới trong việc làm và địa vị kinh tế; giáo dục và phát triển nguồn nhân lực; sức khỏe và an toàn; và tham gia lãnh đạo và hoạt động chính trị Tiếp theo nghiên cứu đó, đã có một số công trình khác cũng nhằm đánh giá tổng quan thực trạng vấn đề bình đẳng giới, từ đó đưa ra một số khuyến nghị chính sách như Báo cáo thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Việt Nam (2005, 2010); “Đánh giá tình hình Giới ở Việt Nam”(WB, 2006); “Đánh giá Giới ở Việt Nam” (WB, 2012); Chuỗi báo cáo của UNDP (2008) “Việt Nam tiếp tục thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ ” - trong đó có báo cáo Việt Nam thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ thứ 3; Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB, 2008) “Bình đẳng giới trong giáo dục, việc làm và chăm sóc sức khỏe, nghiên cứu dựa vào số liệu điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 2006” hay nghiên cứu của Naila Kabeer, Trần Thị Vân Anh, Vũ Mạnh Lợi (2005), “Chuẩn bị cho tương lai: Các chiến lược ưu tiên nhằm thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam” Các nghiên cứu tổng quan này với việc đánh giá bất bình đẳng giới ở Việt Nam thông qua các tiêu chí được đưa ra trong 2 chỉ số đánh giá bình đẳng giới của UNDP là GDI và GEM về cơ bản đã (i) đánh giá thực trạng bất bình đẳng giới trên nhiều phương diện như giáo dục, y tế, và lao động việc làm, cũng như vị thế của phụ nữ Việt Nam trong các cơ quan quyền lực; và (ii) so sánh được vị thế của Việt Nam trong khu vực và quốc tế về vấn đề bình đẳng giới Tuy nhiên, theo nhận định của tác giả, bên cạnh việc không đánh giá được hết các khía cạnh của vấn đề bình đẳng giới, các nghiên cứu này mặc dù cũng đã có sự kết hợp phương pháp đánh giá định tính và định lượng, các đánh giá dựa vào số liệu điều tra mức sống hộ gia đình đều là các dữ liệu theo các kỳ điều tra cách thời điểm công bố khá xa do đó đã bị lạc hậu khi bộ số liệu của các cuộc điều tra mới tiến hành được công bố, đặc biệt việc sử dụng mô hình kinh tế lượng trong các nghiên cứu này rất ít

Trang 11

được sử dụng Mặt khác, các nghiên cứu tổng quan này cũng chưa chỉ ra các căn nguyên sâu xa của vấn đề bất bình đẳng giới để từ đó đề xuất các chính sách mang tính tổng thể nhưng hiệu quả

Bên cạnh những nghiên cứu mang tính tổng quan, có rất nhiều các nghiên cứu chuyên sâu xem xét vấn đề bất bình đẳng giới theo các khía cạnh hoặc trong nhóm nhỏ dân số Trong lĩnh vực lao động và việc làm, các nghiên cứu về vấn đề bình đẳng giới đã tập trung vào một số khía cạnh như việc làm, thu nhập, tuyển dụng, di cư, lao động nữ nông thôn, tuổi nghỉ hưu, an sinh xã hội như nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt (2006); Trung tâm nghiên cứu lao động nữ và giới (2007 - 2008); Báo cáo của ILO (2007); Nguyễn Thị Bích Thúy, Đào Ngọc Nga, Annalise Moser và April Pham (2009); Trịnh Thu Nga (2010) Trong lĩnh vực giáo dục, các nghiên cứu về bất bình đẳng giới thường tập trung vào đánh giá sự khác biệt về trình độ dân trí giữa nam và nữ, cơ hội đi học các cấp phổ thông của trẻ em trai và gái (Đỗ Thiên Kính, (2005); Ngân hàng thế giới (2008)) Nghiên cứu của Vũ Hồng Anh (2010) được tập trung nghiên cứu vấn đề bất bình đẳng giới trong cộng đồng dân tộc thiểu số của Việt Nam

Với góc độ đặt vấn đề về những thách thức đặt ra trong việc thực hiện bình đẳng giới trong các điều kiện mới như biến đổi khí hậu và toàn cầu hóa, cùng với những nghiên cứu ngoài nước, một số nghiên cứu trong nước cũng đã đề cập tới như Naila Kabeer và Trần Thị Vân Anh (2006); Phan Thị Nhiệm (2008), Nguyễn Thị Bích Thúy, Đào Ngọc Nga, Annalise Moser và April Pham (2009) Tuy nhiên, việc xem xét tác động của toàn cầu hóa mới chỉ dừng lại ở các nghiên cứu đơn lẻ trong một số lĩnh vực hẹp như lĩnh vực lao động và việc làm, hay đối tượng cụ thể

là phụ nữ dân tộc thiểu số vùng núi phía bắc của Việt Nam

3.2.2 Về bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam

Với khía cạnh tiếp cận các nguồn lực sản xuất, tính tới thời điểm hiện tại ở Việt Nam có rất ít nghiên cứu đề cập tới vấn đề bất bình đẳng giới theo khía cạnh này Đề cập tới thực trạng tiếp cận các yếu tố nguồn lực, chuỗi báo cáo kết quả điều tra hộ gia đình nông thôn 2002 - 2012 do Viện Quản lý Kinh tế Trung Ương

Trang 12

(CIEM) hợp tác với Trường Đại học Cô-pen-ha-gen, Viện Chính sách và Chiến lược Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (IPSARD) và Viện Khoa học Lao động

và Xã hội (ILSSA) thực hiện đã chỉ ra được thực trạng việc tiếp cận các yếu tố nguồn lực sản xuất: nhân lực, vốn vật chất, tài chính và vốn xã hội của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam ở góc độ tổng thể, cũng như theo các phân nhóm như nhóm thu nhập, vùng và đặc biệt đề cập đến sự chênh lệch theo giới Tuy nhiên ngoài việc đưa ra được kết quả dưới dạng dữ liệu và mô tả tổng quát dữ liệu thực hiện theo thời gian, chuỗi báo cáo kết quả này không cho thấy được các nội dung phân tích thực trạng cũng như định hướng chính sách liên quan đến vấn đề đặt ra cả trên góc độ tổng thể và theo giới Mới đây nhất có nghiên cứu của nhóm nghiên cứu UNDP (2013) về “Tiếp cận đất đai của phụ nữ trong xã hội Việt Nam hiện nay”, bằng việc sử dụng cách tiếp cận liên ngành, kết hợp với các công cụ nghiên cứu của

sử học, nhân học và xã hội học, thông qua điều tra bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu, nghiên cứu đã chỉ ra rằng hiện nay phụ nữ không tiếp cận đất bình đẳng với nam giới và có 6 rào cản đối với quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ gồm có luật hiện hành; thực hành dòng họ; tổ hòa giải; thực hành di chúc và chúc thư; tiếp cận với dịch vụ pháp lý và các thái độ về giới vốn thường ưu tiên nam giới Mặc dù đưa ra được bức tranh chi tiết về thực trạng tiếp cận đất đai của phụ nữ Việt Nam hiện nay dưới góc độ phân tích theo giới tính của chủ hộ, song nghiên cứu này chủ yếu xem xét đất đai dưới góc độ là tài sản của hộ gia đình, do đó trong nghiên cứu chủ yếu phân tích các nội dung tiếp cận liên quan đến đất ở của các hộ Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu được đưa ra dựa số liệu điều tra với quy mô mẫu nhỏ kết hợp với kết quả phỏng vấn sâu bên cạnh ưu điểm là đưa ra được những phân tích nhận định sâu, cũng gặp phải vấn đề về tính đại diện mang tính phổ quát chung của cả nước (nghiên cứu được tiến hành trên các địa phương sau: Hà Nội (huyện Quốc Oai và

Từ Liêm), thành phố Hồ Chí Minh (huyện Hóc Môn và quận Bình Thạnh), và Đà Nẵng (quận Hải Châu và Sơn Trà),Lâm Đồng (huyện Đức Trọng và Lạc Dương), Long An (huyện Cần Đước và thành phố Tân An), Nghệ An (huyện Quỳnh Lưu và Diễn Châu), Ninh Thuận (huyện Ninh Phước và Bác Ái), Quảng Ninh (huyện

Trang 13

Hoành Bồ và thành phố Hạ Long), Sơn La (huyện Phù Yên và Bắc Yên), và Trà Vinh (huyện Cầu Kè và Tiểu Cần)

Như vậy, với các nghiên cứu trong nước, có thể thấy rằng dù là nghiên cứu tổng quan hay nghiên cứu chuyên sâu về một khía cạnh trong vấn đề bình đẳng giới, các nghiên cứu này vẫn còn mang tính đơn lẻ và chưa đánh giá được đầy đủ các nội dung của bình đẳng giới ở Việt Nam trong thời gian vừa qua đặc biệt là ở khía cạnh tiếp cận với các nguồn lực sản xuất, khía cạnh được coi là tồn tại dai dẳng vấn đề bất bình đẳng giới, là giải pháp để nâng cao vị thế kinh tế của phụ nữ trong xã hội Thêm vào đó, phương pháp nghiên cứu định lượng với các mô hình kinh tế lượng,

sử dụng dữ liệu điều tra mang tính đại diện của cả nước được rất ít các nghiên cứu

sử dụng, và nếu được sử dụng thì số liệu cũng đã không còn mới nữa

Tóm lại, qua đánh giá tổng quan các tài liệu nghiên cứu liên quan đến vấn đề bình đẳng giới và đặc biệt là bình đẳng giới trong việc tiếp cận đất sản xuất ở trong

và ngoài nước, có thể thấy các nghiên cứu tập trung vào các vấn đề sau:

Về hướng nghiên cứu chính:

- Đánh giá thực trạng về bình đẳng giới nói chung theo tất cả các khía cạnh trong đó có một nội dung đánh giá bình đẳng giới trong tiếp cận các nguồn lực

- Với các nghiên cứu về vấn đề bình đẳng giới trong tiếp cận đất thì chủ yếu chỉ tập trung đánh giá thực trạng tiếp cận đất dưới góc độ là một tài sản và phần lớn

là đề cập tới vấn đề tiếp cận đất đai của phụ nữ trong đó có sự so sánh với nam giới

Về phương pháp nghiên cứu được sử dụng:

Các nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích định tính (thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu) và phương pháp phân tích thống kê mô tả, hầu như có rất ít nghiên cứu sử dụng mô hình hồi qui kinh tế lượng để phân tích, nếu có cũng chỉ dựa trên số liệu điều tra với giới hạn đối tượng điều tra trong phạm vi nhỏ

Các kết quả nghiên cứu đã đạt được:

- Đưa ra được khung lý thuyết phân tích vấn đề bất bình đẳng giới dưới góc

độ kinh tế

Trang 14

- Đánh giá thực trạng tiếp cận đất đai của phụ nữ theo đó phụ nữ yếu thế hơn nam giới trong tiếp cận đất đai dưới các góc độ quyền/ cơ hội sử dụng đất, nguồn gốc đất và quy mô đất đai nắm giữ

- Chỉ ra được các nguyên nhân của vấn đề bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai từ cả phía chính phủ (luật pháp và quá trình thực thi luật pháp…), từ phong tục tập quán, đặc điểm kinh tế hộ gia đình và cả những rào cản trên thị trường

- Đưa ra một số chính sách để nâng cao khả năng tiếp cận đất của phụ nữ

Hạn chế và khoảng trống cho nghiên cứu của luận án:

- Về phạm vi nghiên cứu: Hầu hết các nghiên cứu về bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai đều là các nghiên cứu ngoài nước do đó bối cảnh chính sách rất khác so với Việt Nam

- Nội dung nghiên cứu:

• Các nghiên cứu trong và ngoài nước chủ yếu nghiên cứu tiếp cận đất đai của phụ nữ và xem việc tăng cường khả năng tiếp cận đất của phụ nữ là tăng cường bình đẳng giới

• Đất đai chủ yếu được xem xét dưới góc độ là một tài sản chứ không phải

là một nguồn lực sản xuất, do đó các khía cạnh và tiêu chí đánh giá chưa phản ánh được hết nội dung của tiếp cận đất với vai trò là nguồn lực sản xuất trực tiếp

- Dữ liệu và Phương pháp nghiên cứu:

• Dữ liệu sử dụng cho nghiên cứu phần lớn dựa trên nguồn số liệu sơ cấp thông qua điều tra mẫu nhỏ không mang tính đại diện cho cả nước

• Chưa có nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế lượng để ước lượng mức độ bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai, đồng thời chỉ ra yếu tố ảnh hưởng tới bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai và mối quan hệ tương quan giữa các yếu tố đó

Với những hạn chế trên, luận án: “Bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản

xuất ở Việt Nam” kỳ vọng sẽ lấp được một phần của khoảng trống này trong nghiên cứu

Trang 15

4 Mục đích nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của Luận án là: bằng cách tiếp cận mang tính khoa học khía cạnh bình đẳng giới trong việc tiếp cận đất sản xuất, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng đánh giá thực trạng vấn đề này ở Việt Nam hiện nay để từ

đó đưa ra định hướng và khuyến nghị chính sách thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực này thời gian tới

Các mục đích nghiên cứu cụ thể bao gồm:

(i) Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai, xây dựng khung phân tích bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất

(ii) Trên cơ sở khung phân tích, đánh giá thực trạng bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai dưới góc độ là một yếu tố nguồn lực sản xuất ở Việt Nam

(iii) Phân tích các nguyên nhân tác động tới hiện trạng bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam

(iv) Đề xuất các chính sách nhằm thực hiện bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất – một trong các nguồn lực sản xuất quan trọng ở Việt Nam

4.2 Câu hỏi nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu tổng quát trên, các câu hỏi nghiên cứu cụ thể của luận

Trang 16

(6) Những nguyên nhân nào gây ra tình trạng bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt nam?

(7) Những chính sách nào cần hoàn thiện để thực hiện bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở VN trong thời gian tới?

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất, cụ thể là quyền/ cơ hội ngang nhau trong khả năng sử dụng đất làm đầu vào

trực tiếp cho quá trình sản xuất giữa hộ gia đình do nam giới làm chủ hộ và hộ gia

cả 2 góc độ là khả năng được sử dụng đất để sản xuất và khả năng sử dụng đất sản xuất để thu lợi

Trang 17

(ii) Luận án đã đề xuất các khía cạnh và tiêu chí đánh giá bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất Cụ thể, 2 góc độ phân tích bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất được đánh giá theo 5 khía cạnh, đó là: (1) Khả năng có đất sản xuất; (2) Nguồn gốc đất sản xuất; (3) Được đảm bảo quyền sử dụng đất; (4) Quy mô đất sản xuất sử dụng; (5) Năng suất đất

(iii) Trong nghiên cứu, Luận án sử dụng cách tiếp cận định lượng với phương pháp thống kê mô tả và mô hình hồi qui dựa trên số liệu thống kê qui mô lớn, mang tính đại diện cho cả nước để đánh giá thực trạng bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam (trước đây các nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp định tính và phương pháp phân tích thống kê mô tả, hầu như có rất ít nghiên cứu

sử dụng mô hình hồi qui kinh tế lượng để phân tích, nếu có cũng chỉ dựa trên số liệu điều tra với giới hạn đối tượng điều tra trong phạm vi nhỏ)

(iv) Với các mô hình hồi quy, bên cạnh phương pháp hồi quy Probit thông thường, luận án sử dụng phương pháp hồi quy với thủ tục Heckman 2 bước để đảm bảo tính không chệch và vững của các giá trị ước lượng Ngoài ra Mô hình ước lượng phân rã Oaxaca - Blinder cũng được sử dụng để giải thích sự khác biệt trong tiếp cận đất sản xuất giữa hộ gia đình chủ hộ nam giới và chủ hộ nữ giới

- Về mặt thực tiễn:

Dựa vào dữ liệu thống kê có tính đại diện cho cả nước (số liệu điều tra mức sống dân cư – VHLSS 2012) và bằng phương pháp phân tích định lượng, luận án chỉ ra rằng:

(i) Trên phạm vi cả nước, có sự tồn tại bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất với lợi thế thuộc về các hộ gia đình có chủ hộ là nam giới trong cả 2 góc độ, trong đó bất bình đẳng giới trầm trọng hơn trong khía cạnh sử dụng đất sản xuất để thu lợi

(ii) Sự khác biệt giới trong tiếp cận đất sản xuất có sự khác biệt theo vùng và dân tộc: bất bình đẳng giới ở các vùng phía nam lớn hơn so với các vùng ở khu vực phía bắc Đặc biệt, ở vùng miền núi phía Bắc và nhóm dân tộc thiểu số có hiện

Trang 18

tượng bất bình đẳng giới “ngược” trong khía cạnh có đất sản xuất với bất lợi thuộc

về các hộ gia đình chủ hộ nam giới

(iii) Trong các yếu tố tác động tới bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai, các yếu tố thuộc về phong tục tập quán, văn hóa, nhận thức (thể chế phi chính thức), cơ chế chính sách (thể chế chính thức) và thị trường (các yếu tố bên ngoài) có tác động lớn hơn so với các yếu tố thuộc về đặc điểm hộ gia đình (các yếu tố bên trong) Ngoài ra, kết quả định lượng cũng chỉ ra rằng, việc tồn tại sự phân biệt giới do ảnh hưởng của yếu tố văn hóa, phong tục tập quán có xu hướng làm gia tăng bất bình đẳng trong tiếp cận đất sản xuất giữa các hộ gia đình có chủ hộ là nam giới và chủ

hộ là nữ giới, trong khi đó những nỗ lực đạt bình đẳng giới trong các lĩnh vực khác

có xu hướng làm thu hẹp khoảng cách giới trong tiếp cận đất đai

(iv) Qua những phát hiện thực tế, luận án đưa ra các gợi ý giải pháp, chính sách để thực hiện bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai dưới góc độ là 1 yếu tố nguồn lực sản xuất tại Việt Nam trong những năm tới, cụ thể: (i) Hoàn thiện thể chế chính thức đảm bảo bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất; (ii) Đổi mới công tác truyền thông nâng cao nhận thức của xã hội đặc biệt là phụ nữ về quyền bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất; (iii) Nâng cao năng lực tự thân của phụ nữ (iv) Tổ chức thực hiện và theo dõi, đánh giá thực hiện các chính sách liên quan đến quyền bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất; (v) Thúc đẩy hoạt động của thị trường đất nông nghiệp

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU BÌNH ĐẲNG GIỚI

TRONG TIẾP CẬN ĐẤT SẢN XUẤT 1.1 Bình đẳng giới

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Giới và vai trò giới

Có thể khẳng định rằng, vấn đề giới đã tồn tại từ lâu trong xã hội, tuy nhiên

khi đề cập tới vấn đề giới có rất nhiều quan điểm đồng nhất giới và giới tính Về mặt tổng quát, giới và giới tính đều để chỉ sự khác biệt giữa nam giới và phụ nữ Song, giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam giới và phụ nữ, nói đến giới tính

là đề cập tới sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, là những đặc điểm đồng nhất và mang tính bẩm sinh, trong khi đó giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam

và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội (luật bình đẳng giới của Việt Nam, 2006)

Chính vì vậy, Giới là một thuật ngữ xã hội để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã

hội và những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ [41] Giới đề cập tới sự phân công lao động, phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội

cụ thể Giới được hình thành do học hỏi từ gia đình, nhà trường, giao tiếp xã hội, nó khác nhau giữa các nước, các địa phương, thay đổi theo thời gian và quá trình phát triển kinh tế xã hội Nói cách khác, khi đề cập tới mối quan hệ giới là nói đến cách thức phân định xã hội giữa nam giới và phụ nữ, liên quan đến các vấn đề thuộc về thể chế, văn hóa và xã hội chứ không phải là mối quan hệ cá biệt giữa một nam giới hay phụ nữ nào đó Đây là một sản phẩm của sự suy luận mang đậm tính chất chủ quan của con người từ sự khác biệt mang tính tự nhiên về mặt sinh học sang sự khác biệt về mặt xã hội, văn hóa giữa phụ nữ và nam giới Do đó, quan niệm về giới có thể khác nhau tùy theo từng nền văn hóa có những phong tục tập quán riêng và có thể thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của xã hội

Với khái niệm giới được đề cập tới ở trên, có thể nhận thấy quan điểm về

giới gắn chặt với một phạm trù, đó là vai trò giới Vai trò giới: Là tập hợp các hành

Trang 20

vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở nam và nữ liên quan đến những đặc điểm giới tính

và năng lực mà xã hội coi là thuộc về nam giới hoặc thuộc về phụ nữ (trẻ em trai hoặc trẻ em gái) trong một xã hội hoặc một nền văn hoá cụ thể nào đó [33] Vai trò giới được quyết định bởi các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội, phụ nữ và nam giới thường có 3 vai trò giới như sau:

- Vai trò sản xuất là các hoạt động làm ra sản phẩm, hàng hoá hoặc dịch vụ

để tiêu dùng và trao đổi thương mại Đây là những hoạt động tạo ra thu nhập, được trả công Cả phụ nữ và nam giới đều có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất, tuy nhiên do những định kiến trong xã hội nên mức độ tham gia của họ không như nhau và giá trị công việc họ làm cũng không được nhìn nhận như nhau Xã hội coi trọng và đánh giá cao vai trò này

- Vai trò tái sản xuất là các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy dỗ giúp

tái sản xuất dân số và sức lao động bao gồm sinh con, các công việc chăm sóc gia đình, nuôi dạy và chăm sóc trẻ con, nấu ăn, dọn dẹp, giặt giũ, chăm sóc sức khoẻ gia đình… Những hoạt động này là thiết yếu đối với cuộc sống con người, đảm bảo

sự phát triển bền vững của dân số và lực lượng lao động; tiêu tốn nhiều thời gian nhưng không tạo ra thu nhập, vì vậy mà ít khi được coi là “công việc thực sự”, được làm miễn phí, không được các nhà kinh tế đưa vào các con tính Xã hội không coi trọng và đánh giá cao vai trò này trong khi hầu hết phụ nữ và trẻ gái đóng vai trò và trách nhiệm chính trong các công việc tái sản xuất

- Vai trò cộng đồng: bao gồm một tổ hợp các sự kiện xã hội và dịch vụ: ví dụ

như thăm hỏi động viên gia đình bị nạn trong thảm họa, thiên tai; nấu cơm hoặc bố trí nhà tạm trú cho những gia đình bị mất nhà ở; huy động cộng đồng đóng góp lương thực, thực phẩm cứu trợ người bị nạn… Công việc cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển văn hoá tinh thần của cộng đồng Có lúc nó đòi hỏi sự tham gia tình nguyện, tiêu tốn thời gian và không nhìn thấy ngay được Có lúc nó lại được trả công và có thể nhìn thấy được (ví dụ: là thành viên phân phối hàng cứu trợ sau bão)

Vai trò và mối quan hệ về giới phát triển dần trong sự tương tác giữa các ràng buộc về sinh học, công nghệ, kinh tế và các ràng buộc xã hội khác Cả nam và

Trang 21

nữ đều có khả năng tham gia vào cả ba loại vai trò trên, tuy nhiên, ở nhiều nơi, phụ

nữ hầu như đều phải đảm nhiệm vai trò tái sản xuất đồng thời cũng phải tham gia tương đối nhiều vào các hoạt động sản xuất Gánh nặng công việc gia đình của phụ

nữ cản trở họ tham gia một cách tích cực và thường xuyên vào các hoạt động cộng đồng, kết quả là, đàn ông có nhiều thời gian và cơ hội hơn để đảm nhận vai trò cộng đồng và rất ít khi tham gia vào các hoạt động tái sản xuất [30] Chính những kỳ vọng xã hội về những hành vi và hoạt động được coi là thích hợp đã tạo ra những sự không tương xứng về giới ở các mức độ khác nhau, đòi hỏi cần có sự can thiệp để đảm bảo bình đẳng giới

Phê phán quan điểm này của trường phái kinh tế học phúc lợi, Amartya Sen (Sen 1985, 1987, 1992, 1995, 1998) cho rằng vấn đề bất bình đẳng giới nên quan tâm tới việc so sánh giữa hai giới về các vấn đề bên trong như chức năng hay năng lực hơn là chỉ quan tâm tới mỗi vấn đề thụ hưởng phúc lợi: “vấn đề bất bình đẳng giới cuối cùng chỉ là sự khác biệt về quyền tự do” [49, tr 125]

Cách tiếp cận này có thể thấy là phù hợp nhất với quan điểm về phát triển kinh

tế đã được sử dụng rộng rãi, theo đó những hạn chế về lựa chọn được phản ánh trong những hạn chế về quyền lợi và do đó nó được phát triển thành định nghĩa về bình đẳng giới được đưa ra trong Công ước về xóa bỏ mọi loại hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ - CEDAW Cụ thể, bình đẳng giới được định nghĩa là tình trạng (điều kiện sống, sinh hoạt, làm việc ) mà trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí như nhau, họ có cơ hội bình đẳng để tiếp cận, sử dụng các nguồn lực để mang lại lợi ích cho mình, phát hiện và phát triển tiềm năng của mỗi giới nhằm cống hiến cho sự phát triển của quốc gia và được hưởng lợi từ sự phát triển đó [33]

Trang 22

Đồng nhất với quan điểm được đưa ra trong công ước quốc tế, Luật bình đẳng

giới của Việt Nam năm 2006 (chương 1, điều 5), định nghĩa “Bình đẳng giới là việc

nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó” [18], và đây là quan điểm được sử dụng trong Luận án

Mục tiêu của bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ, vấn đề đặt ra đó là thế nào là bình đẳng giới một cách thực chất Trên thực tế có ba cách tiếp cận về vấn đề bình đẳng giới, đó là tiếp cận hình thức (cào bằng), tiếp cận bảo vệ và tiếp cận thực chất [33]

- Tiếp cận hình thức (cào bằng): là cách tiếp cận trong đó phụ nữ và nam giới được coi là các chủ thể ngang bằng về mặt tư cách pháp lý, và vì vậy, cần được đối

xử giống nhau, không có sự ưu tiên cho bất cứ bên nào Cụ thể, các quyền, nghĩa vụ

và cơ hội được áp dụng một cách thống nhất cho cả hai nhóm theo cùng một tiêu chuẩn như nhau với niềm tin rằng phụ nữ hoàn toàn có thể tiếp cận với các quyền và

cơ hội đó như nam giới

Hạn chế của cách tiếp cận này là không tính đến sự khác biệt về giới tính và giới giữa hai nhóm, mà cụ thể là sự yếu thế về mặt thể chất và gánh nặng vai trò tái sản xuất của phụ nữ… bởi sự khác biệt đó, phụ nữ có những nhu cầu đặc biệt và chính đáng cần phải được đáp ứng, cũng như có những khó khăn riêng trong việc hưởng thụ các quyền và tiếp cận với các cơ hội Chính vì vậy, việc áp dụng các tiêu chuẩn đồng nhất cho cả hai nhóm, về bản chất, vẫn là sự phân biệt đối xử với phụ nữ

- Tiếp cận bảo vệ: Trong cách tiếp cận này, sự khác biệt về mặt giới và giới tính giữa nam và nữ được thừa nhận và xem xét, theo đó phụ nữ được coi là các chủ thể yếu hơn đàn ông, cần phải được ưu tiên đặc biệt Tuy nhiên, việc ưu tiên lại được thể hiện bằng cách “miễn” cho phụ nữ làm một số ngành nghề, công việc nhất định, với lập luận là để bảo vệ họ

Hạn chế của cách tiếp cận này là đã không thấy rằng chính sự “ưu tiên” không phù hợp đó đã loại trừ phụ nữ khỏi nhiều cơ hội và hạn chế hay tước bỏ một

Trang 23

số quyền của phụ nữ Do đó, có thể nói rằng, cách tiếp cận này đã khôi phục những khuôn mẫu giới mang tính bất lợi cho phụ nữ

- Tiếp cận thực chất: Theo cách tiếp cận này, sự khác biệt về mặt giới và giới tính giữa nam giới và phụ nữ được thừa nhận và xem xét để từ đó đưa ra các biện pháp nhằm bảo đảm sự bình đẳng nam nữ trong cả pháp luật và trên thực tế, trong

đó trọng tâm là làm thay đổi những bối cảnh và điều kiện xã hội có tính chất bất lợi cho giới yếu thế hơn

Như vậy, bình đẳng giới không có nghĩa và không đòi hỏi sự bằng nhau về

số lượng nam và nữ trong tất cả các hoạt động, đồng thời nó cũng không có nghĩa trong mọi trường hợp đối xử giống nhau giữa phụ nữ và nam giới [103] Mục tiêu

cụ thể của cách tiếp cận này là tạo ra một môi trường mà trong đó phụ nữ được bình đẳng với nam giới trên cả ba phương diện: (i) Cơ hội tiếp cận các hoạt động kinh tế

xã hội, tức là nam, nữ bình đẳng trong việc được trang bị các năng lực phát triển con người (trí lực, thể lực,tài chính); (ii) Cơ hội sử dụng, tức là không có sự phân biệt nam hay nữ trong việc sử dụng họ vào trong các hoạt động kinh tế - xã hội; (iii) Hưởng thụ các kết quả hay lợi ích xã hội, tức là không có sự phân biệt nam hay nữ trong quá trình phân chia các kết quả lao động Thể hiện cao nhất của bình đẳng giới là qua việc đánh giá ngang nhau tiếng nói của nam giới và nữ giới trong những quyết định của gia đình và xã hội

Với định nghĩa và cách tiếp cận thực chất về bình đẳng giới được nêu ra ở

trên, tác giả luận án cho rằng: bất bình đẳng giới tồn tại khi có sự khác biệt trong so

sánh tương quan về vai trò, vị trí và tiếng nói của nam và nữ giới Giá trị gắn cho vai trò của giới nam hoặc giới nữ được xã hội thừa nhận chính là cơ sở quyết định khả năng tiếp cận tài sản và nguồn lực của gia đình và xã hội, cũng như tiếng nói khác nhau của nam và nữ

1.1.2 Các khía cạnh của bình đẳng giới

Xuất phát từ cách tiếp cận thực chất trong vấn đề bình đẳng giới, Ngân hàng thế giới (WB) trong nghiên cứu chính sách “Đưa vấn đề giới và phát triển” [41] đã xem xét “bình đẳng giới theo nghĩa là bình đẳng về luật pháp, về cơ hội- bao gồm

Trang 24

sự bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn nhân lực, vốn và các nguồn lực sản xuất khác, bình đẳng trong thù lao cho công việc, và trong “tiếng nói” Trong Báo cáo phát triển con người châu Á Thái Bình Dương, hay trong báo cáo phát triển con người năm 2010 (UNDP, 2010) cũng xem xét bình đẳng giới trong quyền pháp lý, tiếng nói trên chính trường, và quyền năng kinh tế [101][102] Các khía cạnh của bình đẳng giới trong các nghiên cứu này được cho là những biểu hiện then chốt của sự loại trừ và phân biệt đối

xử theo giới và có sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau trong mối quan hệ tương đối giữa nam và nữ [41] Ví dụ, sự bất bình đẳng giới trong giáo dục, tiếp cận các tư liệu sản xuất khác như tài chính hay đất đai, việc làm và thu nhập sẽ ảnh hưởng tới mối quan hệ quyền lực giữa nam và nữ, và vì thế ảnh hưởng tới khả năng tương đối của họ trong việc tác động đến các quyết định trong gia đình Chính những bất bình đẳng này sẽ biến thành những phân biệt trong khả năng tận dụng những cơ hội kinh tế

và cơ hội khác của nam và nữ Bất bình đẳng trong việc đại diện về mặt chính trị, bất

kể ở cấp địa phương hay cấp quốc gia đều ảnh hưởng tới khả năng ảnh hưởng của nam và nữ trong các cuộc thảo luận để từ đó xây dựng các chính sách phát triển

Phân tích bình đẳng giới theo các khía cạnh được nêu ra ở trên chủ yếu tập trung vào: (i) sự không tương xứng về quyền trong những quy định pháp lý, luật tục

và thực tiễn của các cộng đồng và gia đình, cụ thể như quyền kết hôn, ly hôn, quyết định quy mô gia đình, thừa kế và quản lý tài sản, phân bổ lao động của mỗi cá nhân trong gia đình, tham gia các hoạt động tạo thu nhập ở bên ngoài và được đi lại tự do; (ii) vấn đề tiếp cận không bình đẳng đến các nguồn lực bao gồm sự tiếp cận giáo dục, y tế, các tư liệu sản xuất (đất đai, thông tin, công nghệ và nguồn tài chính), việc làm và thu nhập; (iii) Hạn chế khả năng phụ nữ tham gia vào các tiến trình chính trị với tư cách là những đại diện tích cực, cũng như có tác động đến các quyết định trong cộng đồng và ở cấp quốc gia, cụ thể đó là khả năng tham gia bàn luận chính trị, tham gia chính trị và đại diện trong các cấp chính quyền, và tham gia trong các bộ máy điều hành của chính phủ

Kể từ năm 2001, trên phạm vi toàn thế giới đã có những tiến bộ vượt bậc về bình đẳng giới, đặc biệt, trong khía cạnh bảo đảm quyền bình đẳng cho phụ nữ và

Trang 25

nam giới theo luật pháp trong những lĩnh vực như sở hữu tài sản, thừa kế, hôn nhân, khi đã có tổng cộng 136 nước trên thế giới hiện có quy định công khai bảo vệ quyền bình đẳng giữa mọi công dân và chống phân biệt đối xử nam nữ trong hiến pháp [109] Do đó, trong nghiên cứu gần đây nhất của Ngân hàng thế giới, Báo cáo phát triển thế giới 2012, bình đẳng giới được tập trung xem xét theo 3 khía cạnh phúc lợi chính, đây là các khía cạnh được xác định bởi cả nam giới và phụ nữ từ Ba Lan đến Apganistan và Nam Phi cũng như bởi các nhà nghiên cứu [109], đó là: (i) sự tích tụ năng lực của con người (nguồn vốn con người và nguồn lực sản xuất); (ii) sử dụng năng lực đó để nắm bắt các cơ hội kinh tế và tạo thu nhập (việc tham gia và nhận thu nhập từ nền kinh tế); và (iii) tính đại diện: việc sử dụng các năng lực tích lũy được để tác động đến lợi ích của cá nhân và cộng đồng (tiếng nói và ảnh hưởng của phụ nữ trong các lĩnh vực đời sống ở cấp độ cá nhân và cộng đồng)

Theo các khía cạnh đó, trong các nghiên cứu phân tích đánh giá về bình đẳng giới thường tập trung vào các nội dung cụ thể sau:

(i) Sự tích tụ năng lực của con người: Đánh giá kết quả của giáo dục và y tế theo tất cả các tiêu chí đối với cả nam và nữ; cơ hội tiếp cận các yếu tố nguồn lực sản xuất như đất đai, tín dụng và các đầu vào cho sản xuất của nam giới và phụ nữ

(ii) Nắm bắt cơ hội kinh tế: đánh giá khả năng tham gia vào thị trường lao động và sự khác biệt trong tiền lương nhận được trong công việc giữa nam giới và phụ nữ

(iii) Tính đại diện: Được xem xét dưới các góc độ cụ thể đó là sự khác biệt về quyền ra quyết định của phụ nữ và nam giới thể hiện trong việc tham chính; khả năng thích ứng và tham gia của phụ nữ trong các hoạt động công cộng; tình trạng bạo lực trong gia đình; và cuối cùng là khả năng đàm phán thương lượng trong các quyết định của hộ gia đình

Từ những đánh giá nêu trên, luận án nhấn mạnh: (i) cơ hội hay khả năng tiếp cận với các yếu tố nguồn lực sản xuất nói chung và yếu tố đất sản xuất nói riêng của phụ nữ và nam giới là một nội dung trong trong phân tích và đánh giá bình đẳng

Trang 26

giới; (ii) thêm vào đó, đạt được bình đẳng giới trong việc tiếp cận nguồn lực sản xuất, đặc biệt là đất đai, cùng với giáo dục và y tế là nền tảng năng lực để có thể thực hiện các khía cạnh còn lại của bình đẳng giới nói chung

1.1.3 Các tiêu chí đánh giá bình đẳng giới

Bình đẳng giới là một mục tiêu phát triển quan trọng, do đó đi kèm với quan điểm về bình đẳng giới, các nghiên cứu cũng tập trung đưa ra các tiêu chí đánh giá nhằm lượng hóa được mức độ bất bình đẳng giới và có thể so sánh quốc tế

Khi xây dựng các tiêu chí đánh giá, các công trình nghiên cứu về giới có khi

sử dụng các chỉ số để đo lường tình trạng tuyệt đối của phụ nữ (ví dụ như tỷ lệ đi học của trẻ em gái), nhưng cũng có trường hợp sử dụng tiêu chí để đo lường tình trạng tương đối của họ (khoảng cách tỷ lệ đi học của trẻ em trai và trẻ em gái) Chú trọng đến tình trạng tuyệt đối là rất quan trọng, vì sự cải thiện tuyệt đối là điều kiện

cơ bản để đảm bảo quá trình phát triển, tăng cường thêm phúc lợi cho cả nam và nữ Nhưng chỉ tập trung vào tình trạng tuyệt đối không thôi là chưa đủ, dù là về quyền hạn hay việc đòi hỏi các yếu tố nguồn lực, bởi tình trạng tương đối mới thể hiện được mối quan hệ tương đối của nữ và nam, đến lượt mình, mối quan hệ tương đối

đó lại ảnh hưởng đến khả năng tham gia, đóng góp và hưởng lợi từ quá trình phát triển của họ Do đó khi đánh giá bình đẳng giới cần các tiêu chí đề cập tới cả hai góc độ phân tích trên

Tuy nhiên, theo quan điểm của luận án, việc có được một thước đo để lượng hóa được vị thế tương đối của phụ nữ so với nam giới có thể so sánh được ở phạm

vi quốc tế là hết sức khó khăn vì cấu trúc của nền kinh tế, vai trò của thị trường, gia đình và văn hóa là khác nhau giữa các quốc gia Chính vì thế, các nhà nghiên cứu thường cố gắng sử dụng các thước đo tổng hợp có sự phân biệt giới để đánh giá bình đẳng giới Báo cáo phát triển con người của UNDP [100] đưa ra hai chỉ số được biết đến nhiều nhất hiện nay là chỉ số phát triển giới (Gender Developmment Index - GDI), được tính toán dựa trên sự khác biệt về giới trong các tiêu chí của chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI); và thước đo quyền lực giới (Gender Empowerment Measure - GEM), đo lường bất bình đẳng giới dưới khía cạnh khai

Trang 27

thác cơ hội về kinh tế và chính trị Hai chỉ số tổng hợp này cho phép đánh giá được khoảng cách giới về việc hình thành các năng lực cơ bản của con người và cơ hội cho việc sử dụng năng lực đó để tác động đến lợi ích của cá nhân và cộng đồng

(1) Chỉ số phát triển giới (Gender Development Index - GDI)

Nếu HDI đo thành tựu phát triển con người chung, thì GDI có chức năng điều chỉnh các thành tựu trung bình đó để phản ánh sự khác biệt về trình độ phát triển giữa nam và nữ, hay nói cụ thể hơn, GDI phản ánh tổng hợp các khía cạnh năng lực phát triển của con người (trí lực, thể lực và năng lực tài chính) đạt được mức độ như thế nào nếu chú ý đến yếu tố giới, giúp chúng ta trả lời được câu hỏi:

có sự khác biệt không về năng lực phát triển giữa nam và nữ? Như vậy, cũng giống HDI, GDI phản ánh các thành tựu đạt được trên ba lĩnh vực đó là: một cuộc sống lâu dài và khoẻ mạnh được đo bằng tuổi thọ bình quân sau khi sinh; một cuộc sống giàu tri thức, được đo bằng số năm đi học thực tế và số năm đi học kỳ vọng; một cuộc sống vật chất đầy đủ, được đo bằng thu nhập bình quân tính theo PPP Tuy vậy, khác với HDI, nó phản ánh được mức độ chênh lệch giữa phụ nữ và nam giới thể hiện trong tất cả các khía cạnh đó Với ý nghĩa đó, GDI chỉ đơn giản là HDI được chiết khấu hay được điều chỉnh thấp xuống theo mức độ phát triển đều về giới tính Như vậy mức độ phát triển không đều về giới tính được xem xét bằng sự chênh lệch giữa HDI và GDI Trong mỗi nước, nếu giá trị và thứ hạng của GDI càng gần với HDI thì

sự khác biệt theo giới tính càng ít, trường hợp hai chỉ số đều cao tương đương nhau chứng tỏ ở nước này không chỉ có trình độ phát triển con người cao mà còn phản ánh sự phát triển khá đều giữa nam và nữ Nếu thứ hạng GDI thấp hơn thứ hạng HDI cho thấy sự phân phối không bình đẳng về phát triển con người giữa nam và nữ (Nội dung và phương pháp tính của chỉ số này được trình bày trong phụ lục 1)

(2) Thước đo quyền lực theo giới (Gender Empowerment Measure - GEM)

GEM nhằm mục tiêu đo lường kết quả của việc sử dụng năng lực đã được trang bị của nam và nữ để khai thác các cơ hội của cuộc sống Do đó, GEM đánh giá những tiến bộ trong việc nâng cao vị thế của giới (đặc biệt là giới nữ) về kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật Kết quả của chỉ số này sẽ cho biết liệu phụ nữ và nam

Trang 28

giới giới có cơ hội tham gia vào đời sống kinh tế và chính trị cũng như tham gia vào quá trình ra quyết định hay không Cấu thành trong GEM bao gồm ba yếu tố, đó là: (i) Mức độ tham gia hoạt động chính trị và ra quyết định, được cụ thể bằng tỷ lệ tham gia trong quốc hội của nam hay nữ; (ii) Tham gia hoạt động kinh tế, khoa học công nghệ và ra quyết định, được thể hiện bằng hai tiêu chí là tỷ lệ nam hoặc nữ tham gia các vị trí quản lý, điều hành và tỷ lệ nam hay nữ trong các vị trí quản lý khoa học; (iii) Quyền sử dụng các nguồn lực kinh tế thông qua tiêu chí tỷ lệ thu nhập kỳ vọng của nam hay nữ chiếm trong tổng thu nhập dân cư (phương pháp tính chỉ số GEM được trình bày trong phụ lục 1) Giá trị tính toán của GEM càng lớn chứng tỏ xã hội đã có sự quan tâm cao đến sử dụn năng lực của cả nam và nữ để khai thác các cơ hội của cuộc sống

Như phần trên đã trình bày, bình đẳng giới được xem xét theo 3 khía cạnh,

do đó khi đánh giá bình đẳng giới thông qua các tiêu chí tổng hợp, chúng ta phải quan tâm đồng thời đến cả hai chỉ tiêu GDI và GEM Trên thực tế có nước GDI khá cao, thể hiện sự quan tâm của xã hội đến việc nâng cao năng lực của cả nam giới và

nữ giới, nhưng chỉ số GEM lại không cao, điều đó có nghĩa là mặc dù năng lực của phụ nữ được trang bị khá tốt, nhưng xã hội lại không quan tâm đến khía cạnh sử dụng họ theo năng lực đã được hình thành, đây cũng phản ánh một hạn chế trong phát triển con người

Mặc dù được sử dụng phổ biến trong đánh giá bình đẳng giới, song hai chỉ tiêu đánh giá ở trên cũng có những yếu tố hạn chế nhất định, ví dụ như các chỉ số được tính toán dựa vào các mức độ đạt được thành tựu một cách tuyệt đối (A.Geske Dijkstra và Lucia Hanmer, 2000; Dana Schuler, 2006 hay không bao hàm hết các khía cạnh nhỏ bên trong của bình đẳng giới (Gaelle Ferrant, 2009) và do đó có rất nhiều nghiên cứu mới đây được tiến hành nhằm đưa ra chỉ số thay thế cho 2 chỉ số này Khắc phục những nhược điểm của hai chỉ số GDI và GEM, các nghiên cứu này đều cố gắng đưa ra chỉ số tổng hợp bao hàm nhiều khía cạnh của bình đẳng giới hay thay đổi công thức và phương pháp tính toán các chỉ tiêu Trong số đó có, các chỉ số như chỉ số vị thế tương đối của phụ nữ (Relative Status of Women - RSW) của A.Geske Dijkstra và Lucia Hanmer (2000), chỉ số chuẩn hóa về bình đẳng giới

Trang 29

(Standardized Index of Gender Equality - SIGE) của A.Geske Dijkstra (2002) được cho là điều chỉnh phương pháp tính toán của chỉ số GDI của UNDP nhằm hướng tới cách tính toán hoàn thiện hơn, trong khi các chỉ số bình đẳng giới (Gender Equality Index - GEI) của Social Watch (2005), chỉ số khoảng cách giới (Gender Gap Index - GGI) của Diễn đàn kinh tế thế giới (2005), Chỉ số thể chế xã hội và giới (Social Institutions and Gender Index – SIGI) của OECD (2009), chỉ số bất bình đẳng giới mới (Gender Inequality Index - GII) của UNDP (2010) vừa điều chỉnh phương pháp tính toán vừa đánh giá bất bình đẳng giới dựa vào các khía cạnh mới như sức khỏe sinh sản, chính trị, tham gia thị trường lao động, hay dựa vào các khía cạnh của các thể chế xã hội được coi là căn nguyên của bất bình đẳng giới Trong số đó, hai chỉ

số GII của UNDP (2010) và SIGI của OECD (2009) được coi là phản ánh tương đối đầy đủ các khía cạnh của bình đẳng giới theo cách tiếp cận thực chất và quan điểm của CEDAW

(3) Chỉ số bất bình đẳng giới (Gender Inequality Index - GII)

Đây là chỉ số mới được đưa vào trong báo cáo phát triển con người 2010 của UNDP Chỉ số này phản ánh sự bất lợi của phụ nữ trên ba khía cạnh: sức khỏe sinh sản, quyền lực và thị trường lao động GII phản ánh khá tổng hợp các khía cạnh bất bình đẳng giới trong các quốc gia, là cơ sở xác định các chính sách để điều chỉnh các yếu tố liên quan đến sự thiếu hụt của phụ nữ về những khía cạnh của phát triển con người

Theo ý nghĩa trên, cấu thành trong GII bao gồm ba yếu tố: (i) yếu tố phản ánh sức khỏe sinh sản, bao gồm tỷ lệ chết mẹ (MMS) được tính là số bà mẹ tử vong trên 100.000 trẻ em sinh ra còn sống và tỷ lệ vị thành niên mang thai (AFR) được tính bằng số phụ nữ mang thai ở lứa tuổi từ 15 đến 19 trêm 1.000 phụ nữ cùng độ tuổi; (ii) Yếu tố quyền lực, bao gồm: tỷ lệ đại biểu quốc hội và tỷ lệ đến trường bậc trung học; (iii) Yếu tố thị trường lao động, được tính theo tỷ lệ tham gia thị trường lao động Giá trị GII nằm trong khoảng từ 0 đến 1 Qua kết quả tính toán, nếu GII ở gần 0 thì nam và nữ xem như bình đẳng, nhưng khi tới 1, phụ nữ bị đối xử tồi tệ và bất bình đẳng là lớn nhất

Trang 30

Chỉ số GII có ý nghĩa quan trọng phản ánh tổng hợp hơn hai chỉ số GDI và CEM khi đánh gia bất bình đẳng giới trên các phương diện về phát triển con người Dựa vào giá trị và thứ hạng của HDI và GII, có thể đánh giá được việc các quốc gia quan tâm đến vấn đề giới như thế nào để từ đó có các chính sách thiết thực hơn nhằm cải thiện tình trạng giới Mặc dù vậy việc xếp tiêu chí đánh giá giáo dục vào trong cùng khía cạnh liên quan đến quyền lực còn chưa thực sự phù hợp với nội dung các khía cạnh đánh giá bình đẳng giới được Ngân hàng thế giới đưa ra trong báo cáo phát triển thế giới [109]

(4) Chỉ số thể chế xã hội và giới (Social Institutions and Gender Index - SIGI)

Chỉ số thể chế xã hội và giới (SIGI) là chỉ số được thiết kế nhằm đánh giá các khía cạnh là nội hàm của sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ Chỉ số này được OECD đưa ra lần đầu tiên vào năm 2009 và được tính toán dựa trên số liệu của hơn 100 quốc gia trên thế giới Khác với các chỉ tiêu đánh giá bất bình đẳng giới khác chủ yếu dựa vào kết quả như giáo dục hay việc làm, SIGI được tính toán dựa trên các khía cạnh được coi là căn nguyên của các kết quả đó, điều này sẽ giúp các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách có được những đánh giá nhằm giải quyết tận gốc vấn đề bất bình đẳng giới SIGI tổng hợp đánh giá các thể chế xã hội có sự phân biệt đối xử, cụ thể đó là kết hôn sớm, phân biệt đối xử trong thực thi quyền thừa kế tài sản, bạo lực gia đình, chênh lệch giới tính khi sinh, những hạn chế trong việc tiếp cận các nguồn lực sản xuất cụ thể là đất đai và tín dụng và tiếp cận với địa vị xã hội Theo đó, để tính toán, giá trị SIGI là chỉ số tổng hợp của 5 chỉ số

bộ phận bao gồm chỉ số phân biệt đối xử trong các luật lệ gia đình, chỉ số liên quan đến hạn chế trong bảo toàn thân thể, chỉ số về sự ưa thích con trai, chỉ số hạn chế quyền tự do dân chủ trong cộng đồng và chỉ số hạn chế về tiếp cận các nguồn lực với 14 tiêu chí đánh giá đại diện cho các khía cạnh của thể chế xã hội có tồn tại bất bình đẳng, cụ thể:

+ Chỉ số phân biệt đối xử trong luật lệ liên quan đến gia đình bao gồm các tiêu chí: quy định tuổi kết hôn, tỷ lệ kết hôn sớm, quyền hạn liên quan vai trò làm

bố mẹ, thừa kế

Trang 31

+ Chỉ số hạn chế sự bảo toàn thân thể bao gồm các tiêu chí đánh giá: Tỷ lệ phụ nữ bị xâm hại tình dục (FGM), bạo lực với phụ nữ, tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi sinh sản không được tiếp cận các biện pháp kế hoạch hóa gia đình

+ Chỉ số ưa thích con trai gồm các tiêu chí: chênh lệch giới tính khi sinh, lựa chọn giới tính của thai nhi

+ Chỉ số hạn chế tiếp cận các nguồn lực Chỉ số này được đánh giá dựa theo các tiêu chí: tiếp cận đất đai (đánh giá khả năng tiếp cận của phụ nữ đối với đất nông nghiệp), tiếp cận tín dụng (đánh giá khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng của ngân hàng), tiếp cận các tài sản cố định khác ngoài đất

+ Chỉ số hạn chế tự do dân chủ bao gồm các tiêu chí đánh giá: tiếp cận với không gian công cộng, có tiếng nói chính trị

Việc tính toán chỉ số SIGI được thực hiện theo các bước mô tả cụ thể trong phụ lục 1

Chỉ số thể chế xã hội và giới (SIGI) có ưu điểm là phản ánh được nhiều khía cạnh sâu xa của bất bình đẳng giới, đồng thời từng chỉ số bộ phận đều có thể so sánh giữa các quốc gia với nhau Tuy nhiên nhược điểm của chỉ số này là phương pháp tính toán lượng hóa khá phức tạp đòi hỏi phải có sự tham gia của các chuyên gia về giới

Như vậy, tính đến nay, có nhiều chỉ số được sử dụng để đánh giá bất bình đẳng giới, điều này cho thấy rằng mặc dù cách tiếp cận về bình đẳng giới hiện nay

đã tương đối thống nhất về mặt quan điểm, nhưng việc đánh giá được vấn đề này bằng một chỉ số lượng hóa vẫn còn gặp nhiều tranh luận vì bình đẳng giới là một vấn đề bao hàm trong nó nhiều khía cạnh đa chiều

1.2 Bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất

1.2.1 Một số khái niệm

- Đất sản xuất

Theo Lucreotit (triết gia La mã thế kỷ I TCN) “Đất là mẹ của muôn loài, không có cái gì không từ lòng mẹ Đất mà ra” Chính vì lẽ đó, đất đai có vai trò đặc biệt trong đời sống kinh tế - xã hội của con người Luật Đất đai 2003 của Việt Nam

Trang 32

quy định: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặt biệt,

là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng Dưới góc độ xem xét đất đai là tư liệu sản xuất, khái niệm đất đai gắn chặt với khái niệm nguồn lực sản xuất

Theo từ điển Kinh tế học: Nguồn lực sản xuất là tất cả các thực thể hữu hình hoặc vô hình được sử dụng làm đầu vào sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ Số lượng các nguồn lực sản xuất và định nghĩa các nguồn lực sản xuất là khá đa dạng, nó phụ thuộc vào các cơ sở lý thuyết hay các trường phái kinh tế Mặc dù số lượng các nguồn lực sản xuất thay đổi và hoàn thiện theo thời gian, song yếu tố đất đai luôn là một trong các yếu

tố sản xuất cơ bản xuất hiện ngay từ các nghiên cứu của trường phái kinh tế học cổ điển

Đất đai là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ Đây là một nguồn lực sản xuất quan trọng, đặc biệt đối với khu vực sản xuất nông nghiệp, song đất đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt, là tài nguyên thiên nhiên không có khả năng tái tạo do vị trí và diện tích đất đai không thay đổi, chất lượng và hiệu quả sử dụng đất phụ thuộc nhiều vào quá trình sử dụng của con người Với tư cách là tài sản không do sản xuất mà có được sử dụng vào quá trình sản xuất, vai trò của yếu tố đất đai thường được xem xét dưới 2 góc độ, thứ nhất, đó là yếu tố đầu vào trực tiếp của quá trình sản xuất, và thứ hai, đất đai là nền tảng để xây dựng các cơ sở hoạt động kinh tế (nhà xưởng, trụ sở cơ quan ), một dạng vốn vật chất được sử dụng làm phương tiện phục vụ trực tiếp quá trình sản xuất, hay nói cách khác, đất đai là yếu tố nguồn lực gián tiếp

Trong nghiên cứu này, luận án tập trung xem xét đất với vai trò thứ nhất,

theo đó, đất sản xuất được định nghĩa như sau: Đất sản xuất là nguồn lực hữu hình,

không do sản xuất mà có, được sử dụng làm đầu vào trực tiếp sản xuất ra hàng hóa

và dịch vụ

- Tiếp cận đất sản xuất

Trong các nghiên cứu gần đây, khái niệm tiếp cận thường được định nghĩa là

“khả năng hưởng lợi từ cái gì đó”, cụ thể hơn tiếp cận có thể hiểu là tập hợp các quyền và quan hệ cho phép các cá nhân “lấy” được, “quản lý” và “giữ” được (khả năng hưởng lợi) [32]

Trang 33

Liên quan đến tiếp cận nguồn lực sản xuất, tính đến nay có rất nhiều nghiên cứu đưa ra khái niệm này, cụ thể:

Tiếp cận nguồn lực là quyền hay cơ hội để sử dụng, quản lý hay kiểm soát một loại nguồn lực nào đó [89] Nguồn lực ở đây có thể hiểu là nguồn lực kinh tế (ví dụ đất đai và tín dụng), nguồn lực chính trị (tham chính) hay nguồn lực xã hội (giáo dục, y tế)

Theo Shahnal Parveen [96], tiếp cận nguồn lực là khả năng mỗi người (phụ nữ) có thể sử dụng các nguồn lực và thu lợi từ nguồn lực đó

Theo FAO (2011), tiếp cận nguồn lực là việc có thể sử dụng các nguồn lực

để thu lợi không phân biệt là có quyền sở hữu và kiểm soát hay không đối với nguồn lực đó [71]

Như vậy, có thể thấy phần lớn các khái niệm về tiếp cận nguồn lực đều tương đối hội tụ, do đó, dưới góc độ là một yếu tố nguồn lực sản xuất, khái niệm tiếp cận đất sản xuất sử dụng trong luận án được định nghĩa như sau: tiếp cận đất sản xuất

là việc có thể sử dụng đất làm đầu vào trực tiếp cho quá trình sản xuất, không phụ thuộc vào việc có sở hữu hay kiểm soát đất đai hay không Như vậy, bên cạnh những người có quyền sử dụng đất, những người đi thuê đất để canh tác cũng được xem là được tiếp cận đất sản xuất Theo khái niệm này, tiếp cận đất sản xuất được xem xét dưới 2 góc độ, đó là: khả năng được sử dụng đất sản xuất và khả năng sử dụng nguồn lực này để thu lợi

- Bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất

Như phần trên đã phân tích, bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai là một trong các nội dung phân tích bình đẳng giới, nó liên quan đến khía cạnh tích tụ các năng lực cơ bản của con người Do đó, dựa theo khái niệm bình đẳng giới, cùng khái niệm về tiếp cận đất sản xuất được đưa ra trong phần trên, luận án đưa khái niệm

bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất như sau: Bình đẳng giới trong tiếp cận

đất sản xuất là việc nam giới và nữ giới có quyền/ cơ hội ngang nhau trong khả năng sử dụng đất làm đầu vào trực tiếp cho quá trình sản xuất

Trang 34

1.2.2 Nội dung phân tích và tiêu chí đánh giá bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất

1.2.2.1 Nội dung phân tích bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất

Với định nghĩa bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất là việc nam giới và

nữ giới có quyền/ cơ hội ngang nhau trong khả năng sử dụng đất làm đầu vào trực tiếp cho quá trình sản xuất, khi phân tích bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất

sẽ dựa vào xem xét sự khác biệt giới về quyền/ cơ hội trong các khía cạnh gắn với 2 góc độ của tiếp cận đất là khả năng được sử dụng đất và sử dụng đất để thu lợi

Eve Crowley (1999); Nichols, S.; Crowley, E and Komjathy, K (1999); Carmen Diana Deere, Magdalena Leon (2003); Linus Blom (2006); Mechthild Runger (2006); Jagero Nelson, Onego Roseline (2011); Nitya Rao (2011); Cheryl Doss et.al (2013); UNDP (2013); Henri – Ukoha, A et al (2014) trong các nghiên cứu của mình

đã tập trung xem xét sự khác biệt giới theo các khía cạnh:

(i) Sở hữu đất đai (có quyền/ cơ hội sử dụng đất và việc bảo đảm quyền sở hữu đất đai);

(ii) Nguồn gốc của mảnh đất (các kênh có được đất: thừa kế, phân bổ đất đai của nhà nước và cộng đồng; thị trường mua bán);

(iii) Diện tích của đất đai nắm giữ

Các khía cạnh này đã thể hiện được 2 nội dung của tiếp cận đất đai, cụ thể, khía cạnh sở hữu đất đai và nguồn gốc của mảnh đất gắn với khả năng được sử dụng đất, còn khía cạnh về diện tích của đất đai nắm giữ gắn với khả năng thu lợi từ đất Tuy nhiên, như phần tổng quan đã phân tích, các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở các phân tích, đánh giá bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai theo với vai trò là một yếu tố tài sản, do đó, việc phân tích tiếp cận đất đưới góc độ khả năng thu lợi từ đất chỉ dừng ở khía cạnh gắn với diện tích đất đai nắm giữ, nhằm phản ánh giá trị kinh tế của đất, hay mặt lượng của việc sử dụng đất Nếu xem xét tiếp cận đất dưới góc độ yếu tố nguồn lực sản xuất thì khía cạnh này là chưa phản ánh được hết khả năng sử dụng đất để thu lợi

Bên cạnh phần lớn các nghiên cứu đánh giá bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai với vai trò là tài sản ở trên, nghiên cứu của Helen Shahriari và cộng sự về nâng

Trang 35

cao khả năng tiếp cận đất đai và nguồn lực tài chính của phụ nữ ở Tajikistan [57],

và nghiên cứu tiếp cận nguồn lực sản xuất của các hộ gia đình nông thôn thông qua chuỗi điều tra hộ gia đình nông thôn Việt Nam [35][36][37][38] là hai nghiên cứu xem xét tiếp cận đất đai của hộ gia đình với vai trò là nguồn lực sản xuất Bên cạnh

đề cập tới các khía cạnh tiếp cận đất đai như một tài sản đã được đề cập tới ở phần lớn các nghiên cứu về tiếp cận đất đai, hai nghiên cứu này đã phân tích thêm khía cạnh liên quan đến sử dụng đất để thu lợi như cách thức lựa chọn loại cây trồng để sản xuất, sử dụng đầu vào cho sản xuất nông nghiệp và kết quả thu lợi từ đất Việc

bổ sung thêm khía cạnh này đã đảm bảo phản ánh được đầy đủ mặt lượng và chất của khả năng sử dụng đất để thu lợi

Từ kết quả tổng quan nghiên cứu, các nội dung phân tích bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất được đề cập tới trong luận án là:

(1) Bình đẳng giới về khả năng được sử dụng đất sản xuất:

Dưới góc độ này, bình đẳng giới được xem xét thông qua so sánh quyền/cơ hội của nam giới và nữ giới theo các khía cạnh:

(i) Khả năng có đất sản xuất:

Khía cạnh này nhằm xem xét sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới trong việc có được đất hay không để phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất

(ii) Nguồn gốc đất sản xuất:

Khía cạnh này nhằm xem xét sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới trong cách thức có đất sản xuất (đất sản xuất có được từ đâu)

(iii) Được bảo đảm quyền sử dụng đất sản xuất:

Khía cạnh này nhằm đánh giá sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới trong việc được bảo đảm quyền sử dụng đất sản xuất (bảo đảm bằng pháp luật đối với việc sử dụng đất cho mục đích sản xuất)

(2) Bình đẳng giới về khả năng sử dụng đất sản xuất để thu lợi

Dưới góc độ này, bình đẳng giới được xem xét thông qua đánh giá sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới trong các khía cạnh cụ thể sau:

Trang 36

(i) Qui mô đất sản xuất sử dụng:

Khía cạnh này nhằm xem xét sự khác biệt theo giới về mặt lượng của khả năng thu lợi từ đất sản xuất

(ii) Năng suất đất:

Khía cạnh này nhằm xem xét sự khác biệt theo giới trong sức sản xuất của đất, mặt chất của khả năng thu lợi từ đất

Nếu quy mô đất sản xuất sử dụng bị giới hạn cả dưới góc độ tuyệt đối (diện tích đất trên bề mặt trái đất) và tương đối (cơ cấu sử dụng đất cho các mục đích khác nhau: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp) thì sức sản xuất (sản phẩm thu được/ đơn vị diện tích) là không giới hạn nhờ tăng cường đầu tư vốn, sức lao động, đưa khoa học và công nghệ mới vào sản xuất Việc đánh giá bình đẳng giới theo khía cạnh này thể hiện đặc trưng của khả năng thu lợi từ đất với tư cách là yếu tố nguồn lực sản xuất

1.2.2.2 Các tiêu chí đánh giá bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất

Như phần trên đã phân tích, để đánh giá bình đẳng giới, các nghiên cứu về giới và phát triển có lúc đề cập đến tình trạng tuyệt đối của phụ nữ, có lúc đề cập tới tình trạng tương đối của phụ nữ trong tương quan so sánh với nam giới, mặc dù vậy các nghiên cứu này đều hướng tới xóa bỏ khoảng cách giới nhằm đạt được tình trạng bình đẳng giới Do đó, các tiêu chí đánh giá bình đẳng giới trong từng khía cạnh đều có xu hướng so sánh tình trạng của nam giới và nữ giới dựa trên các chỉ số đánh giá kết quả đạt được của cả nam và nữ Trong các nghiên cứu phân tích bình đẳng giới trong việc tiếp cận đất đai đã được tổng quan, theo các khía cạnh phân tích đã được trình bày ở trên, các chỉ số đánh giá kết quả đạt được của nam giới và

nữ giới được sử dụng đều tương đối đồng nhất Do đó, luận án cũng sử dụng các chỉ

số đó để làm cơ sở đánh giá sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới trong từng khía cạnh phân tích bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất, cụ thể:

a Chỉ số đánh giá khả năng có đất sản xuất

Để đánh giá khả năng có đất của nam giới, nữ giới, các nghiên cứu thường sử dụng các chỉ số thể hiện xác suất có đất hay không có đất của nam và nữ trong các nhóm đối tượng khác nhau:

Trang 37

(1) Tỷ lệ phụ nữ/ nam giới có đất sản xuất:

Chỉ số này cho biết xác suất có đất để sử dụng làm đầu vào cho sản xuất của phụ nữ/ nam giới Việc có đất sản xuất được hiểu là việc nam giới / nữ giới hiện đang sử dụng hay quản lý đất sản xuất, cụ thể

Tỷ lệ phụ nữ có đất = Số phụ nữ có đất sản xuất x 100 (%)

Tổng số phụ nữ

Tỷ lệ nam giới có đất = Số nam giới có đất sản xuất x 100 (%)

Tổng số nam giới (2) Tỷ lệ người có đất là phụ nữ:

Chỉ số này cho biết trong số những người có đất sản xuất, bao nhiêu phần trăm là phụ nữ

Tỷ lệ người có đất là nữ = Số phụ nữ có đất sản xuất x 100 (%)

Tổng số người có đất sản xuất Mặc dù hai chỉ số trên thường được dùng để thay thế cho nhau, nhưng hai chỉ

số trên cho biết các thông tin khác nhau trong đánh giá bình đẳng giới trong khía cạnh phân tích Chỉ số (1) bên cạnh việc đánh giá sự khác biệt trong xác suất có đất cho sản xuất của nam giới và nữ giới, thước đo này còn cho phép đánh giá được tình trạng bất bình đẳng trong cơ hội có đất sản xuất giữa nam và nữ tính chung cho

cả nước, tuy nhiên để đánh giá được điều này cần đặt trong sự so sánh tương quan với cơ cấu theo giới tính trong dân số, trong khi chỉ số (2) chỉ đơn thuần chỉ cho thấy được xác suất người có đất là nữ giới trong những người có đất sản xuất [59]

Dựa trên các chỉ số này, bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất sẽ đạt được khi giá trị của chỉ số thể hiện khả năng có đất của nam giới bằng giá trị của chỉ

số thể hiện khả năng có đất của nữ giới

b Chỉ số đánh giá nguồn gốc đất sản xuất

Các nghiên cứu đã tổng quan đều đồng nhất có 3 phương thức phổ biến để các cá nhân hay hộ gia đình có đất, đó là thông qua các mối quan hệ gia đình (thừa

Trang 38

kế), nhà nước (phân bổ đất đai) và thông qua thị trường (mua bán, chuyển nhượng, thuê mướn) Ngoài ra còn có một số phương thức khác như khai hoang, lấn chiếm

Do đó theo khía cạnh này, chỉ số thường được sử dụng là

(1) Cơ cấu đất sản xuất hiện có của nam giới/ nữ giới theo nguồn gốc đất, cụ thể:

Theo cách tính toán này, tổng các tỷ lệ theo các phương thức của nam/ nữ sẽ

là 100%

(2) Tỷ lệ phân bổ cho nữ giới theo mỗi nguồn của đất sản xuất Chỉ số này theo đó sẽ được tính bằng công thức với mẫu số là tổng số mảnh đất có được theo các hình thức phân bổ, ví dụ

Tỷ lệ đất phân bổ cho

nữ giới từ nhà nước (%) =

Số mảnh đất của nữ giới được Nhà nước phân bổ Tổng số mảnh đất do Nhà nước phân bổ Các hình thức phân bổ khác cũng được tính toán tương tự

Dựa vào các chỉ số trên, bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất đạt được khi cách thức có đất của nam giới và nữ giới là tương đồng với nhau, đặc biệt là ở các nguồn có đặc điểm trung tính giới như qua kênh của nhà nước hay thị trường

Trang 39

c Chỉ số đánh giá khả năng được bảo đảm quyền sử dụng đất sản xuất

Khả năng được bảo đảm quyền sử dụng đất sản xuất thể hiện thông qua việc

có được các chứng cứ hoặc được bảo đảm bằng pháp luật đối với đất sản xuất hiện

có, bên cạnh đó, biểu hiện cao hơn của khả năng được bảo đảm quyền sử dụng đất sản xuất đó là được đứng tên trên các loại giấy tờ thể hiện quyền với đất sản xuất, việc đứng tên này có thể đứng độc lập hoặc đồng đứng tên với người khác Do đó, các chỉ số được sử dụng để phản ánh khía cạnh này là:

(1) Tỷ lệ đất sản xuất do phụ nữ/ nam giới sử dụng có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

giới sử dụng

Tỷ lệ đất sản xuất do nữ

giới sử dụng có GCNQSDĐ =

Số mảnh đất nữ giới sử dụng có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

x 100 (%) Tổng số mảnh đất sản xuất do nữ giới

sử dụng (2) Tỷ lệ nam giới/ nữ giới đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất

Tỷ lệ nam giới đứng tên

trên giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất sản xuất =

Số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

do nam giới đứng tên

x 100 (%) Tổng số giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất sản xuất

Trang 40

Dựa vào các chỉ số trên, bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất đạt được khi khả năng được bảo đảm quyền sử dụng đất của nam giới và nữ giới là ngang nhau

d Chỉ số đánh giá khía cạnh quy mô đất sản xuất sử dụng

Trong khía cạnh này, các nghiên cứu đều tập trung đánh giá theo chỉ số diện tích đất sản xuất được nam giới và nữ giới sử dụng

Diện tích đất sử dụng của nữ giới = Diện tích đất trung bình của các phụ nữ

có sử dụng đất

Diện tích đất sử dụng của nam giới = Diện tích đất trung bình của các nam giới có sử dụng đất

e Chỉ số đánh giá khía cạnh năng suất đất

Ở hầu hết các quốc gia, hoạt động sản xuất nông nghiệp – hoạt động gắn chặt với việc sử dụng đất đai làm đầu vào cho quá trình sản xuất được thực hiện ở cấp độ thấp nhất là hộ gia đình, do đó khác với các tiêu chí ở trên có thể tính toán các chỉ

số dưới góc độ cá nhân, các chỉ số đánh giá khía cạnh năng suất đất ở các nghiên cứu đều tính toán ở cấp độ hộ gia đình và sự khác biệt giới được đánh giá theo giới tính của chủ hộ Vì đất sử dụng làm đầu vào trực tiếp cho quá trình sản xuất thường gắn chặt với sản xuất nông nghiệp, do đó, để đánh giá năng suất đất, chỉ số thường được sử dụng là thu nhập từ sản xuất nông nghiệp bình quân trên 1 ha đất sản xuất

Thu nhập từ sản xuất nông

nghiệp/ 1 ha đất của hộ gia

đình có chủ hộ nam giới

=

Tổng thu nhập từ sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình chủ hộ nam giới Tổng diện tích đất nông nghiệp của gia

đình chủ hộ nam giới (ha) Thu nhập từ sản xuất nông

nghiệp/ 1 ha đất của hộ gia

đình có chủ hộ nữ giới =

Tổng thu nhập từ sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình chủ hộ nữ giới Tổng diện tích đất nông nghiệp của gia

đình chủ hộ nữ giới (ha)

Ngày đăng: 09/05/2016, 13:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các yếu tố tác động tới bình đẳng giới - Tiểu luận về bình đẳng giới về tiếp cận đất trong sản xuất ở việt nam
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa các yếu tố tác động tới bình đẳng giới (Trang 46)
Hình 3.3: Tỷ lệ nữ đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 1999 – 2004; 2004 – - Tiểu luận về bình đẳng giới về tiếp cận đất trong sản xuất ở việt nam
Hình 3.3 Tỷ lệ nữ đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 1999 – 2004; 2004 – (Trang 73)
Hình 3.6:  Tỷ lệ các hộ gia đình theo quy mô đất sản xuất theo giới tính chủ hộ - Tiểu luận về bình đẳng giới về tiếp cận đất trong sản xuất ở việt nam
Hình 3.6 Tỷ lệ các hộ gia đình theo quy mô đất sản xuất theo giới tính chủ hộ (Trang 111)
Bảng 3.14. Các yếu tố ảnh hưởng tới quy mô đất sản xuất sử dụng của hộ gia đình - Tiểu luận về bình đẳng giới về tiếp cận đất trong sản xuất ở việt nam
Bảng 3.14. Các yếu tố ảnh hưởng tới quy mô đất sản xuất sử dụng của hộ gia đình (Trang 114)
Hình 3.7: Khoảng cách giới trong cơ cấu đầu vào của sản xuất nông nghiệp - Tiểu luận về bình đẳng giới về tiếp cận đất trong sản xuất ở việt nam
Hình 3.7 Khoảng cách giới trong cơ cấu đầu vào của sản xuất nông nghiệp (Trang 121)
Bảng 2: Kết quả kiểm định sự khác biệt khả năng có đất của hộ gia đình chủ - Tiểu luận về bình đẳng giới về tiếp cận đất trong sản xuất ở việt nam
Bảng 2 Kết quả kiểm định sự khác biệt khả năng có đất của hộ gia đình chủ (Trang 168)
Bảng 1: Kết quả hồi quy Probit khả năng có đất sản xuất cho cả nước - Tiểu luận về bình đẳng giới về tiếp cận đất trong sản xuất ở việt nam
Bảng 1 Kết quả hồi quy Probit khả năng có đất sản xuất cho cả nước (Trang 188)
Bảng 2: Kết quả hồi quy Probit khả năng có đất sản xuất ở khu vực nông thôn - Tiểu luận về bình đẳng giới về tiếp cận đất trong sản xuất ở việt nam
Bảng 2 Kết quả hồi quy Probit khả năng có đất sản xuất ở khu vực nông thôn (Trang 190)
Bảng 3: Kết quả hồi quy phân rã Oaxaca các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng có - Tiểu luận về bình đẳng giới về tiếp cận đất trong sản xuất ở việt nam
Bảng 3 Kết quả hồi quy phân rã Oaxaca các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng có (Trang 191)
Bảng 5: Kết quả hồi quy OLS quy mô đất sản xuất bình quân hộ gia đình - Tiểu luận về bình đẳng giới về tiếp cận đất trong sản xuất ở việt nam
Bảng 5 Kết quả hồi quy OLS quy mô đất sản xuất bình quân hộ gia đình (Trang 195)
Bảng 6: Kết quả hồi qui Heckman selection quy mô đất sản xuất bình quân hộ - Tiểu luận về bình đẳng giới về tiếp cận đất trong sản xuất ở việt nam
Bảng 6 Kết quả hồi qui Heckman selection quy mô đất sản xuất bình quân hộ (Trang 196)
Bảng 7: Kết quả hồi qui Heckman selection quy mô đất sản xuất bình quân hộ - Tiểu luận về bình đẳng giới về tiếp cận đất trong sản xuất ở việt nam
Bảng 7 Kết quả hồi qui Heckman selection quy mô đất sản xuất bình quân hộ (Trang 198)
Bảng 8: Kết quả hồi qui Heckman selection quy mô đất sản xuất bình quân hộ - Tiểu luận về bình đẳng giới về tiếp cận đất trong sản xuất ở việt nam
Bảng 8 Kết quả hồi qui Heckman selection quy mô đất sản xuất bình quân hộ (Trang 200)
Bảng 9: kết quả hồi quy phân rã Oaxaca với thủ tục Heckman 2 bước - Tiểu luận về bình đẳng giới về tiếp cận đất trong sản xuất ở việt nam
Bảng 9 kết quả hồi quy phân rã Oaxaca với thủ tục Heckman 2 bước (Trang 202)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w