Chuyên ngành: Khoa học xã hội Giáo dục Sư phạm Sơ lược: Đề tài: Xây dựng và hướng dẫn giải hệ thống bài tập chương “Dòng điện không đổi” chương trình vật lí 11 nâng cao nhằm phát huy tính tích cực của người học Mở đầu Chương 1: Cơ sở lý luận về bài tập và giải pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập vật lí Chương 2: Xây dựng và hướng dẫn giải hệ thống bài tập nâng cao nhằm phát huy tính tích cực của học sinh khi học chương “Dòng điện không đổi” vật lí lớp 11 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, hội nhập kinh tếngày càng mở rộng đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam không ngừng cải tiến, đổimới phù hợp với xu hướng của thế giới và các quốc gia trong khu vực Nhậnđịnh tình hình này Đảng ta đã sớm có chủ trương đổi mới căn bản và toàndiện giáo dục Trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI, Đảng đã chỉ ra:
“Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồidưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thứcsang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi vớihành; lý luận gắn với thực tiễn; ” và chỉ ra mục tiêu cho giáo dục phổ thông:
“Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thànhphẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, địnhhướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoạingữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thựctiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời ”.Như vậy vấn đề thực hành và vận dụng kiến thức vào thực tiễn phải được đặt
ở vị trí quan trọng của quá trình dạy và học
Trên thực tế nghiên cứu chương trình vật lí lớp 11 nâng cao, đặc biệt làchương II – Dòng điện không đổi, tác giả nhận thấy: trong sách giáo khoa cótất cả 19 bài tập (6 câu hỏi trắc nghiệm, 13 bài tập tự luận); trong sách bài tậpvật lí có 71 bài tập (19 câu hỏi trắc nghiệm, 52 bài tập tự luận); phần lớn cácbài tập đều ở dạng áp dụng, luyện tập lý thuyết; số bài tập thực tiễn khôngnhiều
Thực tiễn đề ra trước mắt là môn vật lí đang dần trở thành sự chán nảncủa các em HS, kết quả học tập của môn vật lí ở nhiều trường THPT đangthấp dần đi so với các môn học khác Các giờ học vật lí không còn gây hứngthú cho các em HS và đương nhiên trong học tập các em chưa phát huy tính
Trang 2tích cực của mình Nhiều giờ học vật lí có kịch bản nhàm chán do HS khôngtham gia vào các hoạt động mà giáo viên đề ra; các em thiếu quan tâm.
Có nhiều giải pháp đã được các nhà giáo dục học đề ra trong đó xâydựng hệ thống bài tập mở, phát huy được tính tích cực của học sinh là mộtgiải pháp Đã có những nghiên cứu khoa học sư phạm thực hiện theo hướnggiải quyết này và cho kết quả khá tốt, học sinh có hứng thú với các bài tậpthực tiễn và thể hiện tính tích cực không chỉ trong giờ học mà còn cả thời gian
ở nhà
Xuất phát từ thực tế trên và điều kiện nghiên cứu của bản thân, tác giả
chọn đề tài: “ Xây dựng và hướng dẫn giải hệ thống bài tập chương “Dòng điện không đổi” chương trình vật lí 11 nâng cao nhằm phát huy tính tích cực của người học” làm luận văn thạc sỹ.
2 Mục đích nghiên cứu
Phân tích thực trạng học vật lí của học sinh THPT đặc biệt là học sinhlớp 11, từ đó đề xuất giải pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh tronghọc tập môn vật lí
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về bài tập và giải pháp phát huy
tính tích cực của học sinh trong học tập môn vật lí tại các trường THPT
Thứ hai: Đề xuất các giải pháp phát huy tính tích cực của học sinh
thông qua hệ thống bài tập mở phù hợp với chương trình vật lí 11 nâng cao
Thứ ba: Thực nghiệm sư phạm.
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy và học nội dung kiến thức chương “Dòng điện khôngđổi” chương trình vật lí 11 nâng cao
4.2 Khách thể nghiên cứu
- Giáo viên trường THPT Trần Nguyên Hãn – Hải Phòng
- Học sinh trường THPT Trần Nguyên Hãn – Hải Phòng
Trang 35 Vấn đề nghiên cứu
Luận văn giải quyết các vấn đề sau:
- Xây dựng hệ thống bài tập chương “Dòng điện không đổi” chương
trình vật lí 11 nâng cao như thế nào để thúc đẩy được sự tích cực của họcsinh?
- Những phương pháp giải bài tập nào gây được hứng thu cho học sinh?
6 Giả thuyết khoa học
Nếu áp dụng các bài tập có nội dung phù hợp vào trong quá trình giảngdạy và luyện tập cho học sinh THPT thì sẽ phát huy được tính tích cực củacác em trong học tập vật lí
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Các nghiên cứu khảo sát được tiến hành trên phạm vi các trường THPTtrên địa bàn Hải Phòng mà tác giả có thể cộng tác
Số liệu sử dụng để nghiên cứu đề tài này được thu thập trong khoảngthời gian từ năm 2012 đến năm 2014, những số liệu khảo sát mới được điềutra trong năm 2015
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài:
Cung cấp một cách rõ ràng và hệ thống cơ sở lý luận về bài tập vànhững vấn đề cơ bản để phát huy tính tích cực của học sinh trong học tậpchương “Dòng điện không đổi” vật lí 11 nâng cao
8.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Giải pháp sử dụng bài tập có nội dung đổi mới để phát huy tính tích cựccủa người học có thể được áp dụng rộng rãi với các trường THPT trong cảnước và đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy vật lí trong giaiđoạn hiện nay
9 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau :
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Trang 4- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Nhóm phương pháp xử lý thông tin
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụlục, luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về bài tập và giải pháp phát huy tính tích cực
của học sinh trong học tập vật lí
Chương 2: Xây dựng và hướng dẫn giải hệ thống bài tập nâng cao
nhằm phát huy tính tích cực của học sinh khi học chương “Dòng điện khôngđổi” vật lí lớp 11
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Trang 5CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÀI TẬP VẬT LÍ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP VẬT LÍ 1.1 Khái niệm về bài tập vật lí
1.1.1 Bài tập vật lí
Bài tập là một hệ thống thông tin chính xác, bao gồm hai tập hợp gắn
bó chặt chẽ, tác động qua lại với nhau đó là những điều kiện (đôi khi cònđược gọi là giả thiết) và những câu hỏi (đôi khi còn được gọi là kết luận) [7,
tr 3]
Bài tập vật lí là hệ thống bao gồm điều kiện và yêu cầu đặt ra hướnghọc sinh tới việc vận dụng các kiến thức, lý thuyết vật lí đã học vào nhữngtrường hợp cụ thể, học sinh thông qua việc giải bài tập sẽ ghi nhớ được kiếnthức, rèn luyện kỹ năng, hình thành kỹ xảo
Ví dụ: Cho một bài tập như sau:
“Một bình điện phân đựng dung dịch đồng sunfat (CuSO4) với anốtbằng đồng (Cu) Điện trở của bình điện phân là R = 10 Hiệu điện thế đặtvào hai cực là U = 40V Xác định lượng đồng bám vào cực âm sau 1 giờ 4phút 20 giây Cho biết đối với đồng A = 64 và n = 2.”
- Ở đây ta nhận thấy các điều kiện được nhắc tới là:
+ Chất điện phân là: CuSO4
+ Điện trở của bình là: R=10
+ Hiệu điện thể hai đầu bình điện phân là: U=40V
+ Khối lượng phân tử của đồng là: A=64
Trang 6- Trước một bài tập, để phát huy vai trò của mình thì người dạy, hayngười học phải xử lý các điều kiện có trong bài tập tìm ra lời giải, khi ấyngười dạy hay người học cùng đóng một vai trò là người giải hay hệ giải.
Người giải (hệ giải) là một hệ bao gồm hai thành tố tương tác với nhau để hình thành lời giải cho bài tập là phương pháp giải và phương tiện giải.
- Phương pháp giải là hình thức vận động hình thành lời giải bao gồmcác bước tìm hiểu đề bài và xây dựng lập luận
- Phương tiện giải là cách biến đổi, thao tác trí tuệ được sử dụngtrong quá trình làm bài tập
1.1.3 Sơ đồ giải bài tập vật lí
- Sơ đồ giải bài tập vật lí miêu tả mối quan hệ qua lại giữa bài tập vàngười giải cùng với các thành tố của chúng [7, tr 3]
1.1.4 Phân loại bài tập vật lí
Bài tập vật lí là một vấn đề đặt ra đòi hỏi phải giải quyết nhờ những suyluận lôgic, những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật và cácphương pháp vật lí Dựa vào yêu cầu của bài tập ta phân loại như sau [20, tr.9]:
BÀI TẬPNhững điều kiện
Những yêu cầu
NGƯỜI GIẢIPhương pháp giải
Phương tiện giải
Trang 7- Phương pháp Ơ-ristic: Là phương pháp được sử dụng khi nội dungcủa bài tập định tính có thể phân tích được thành nhiều câu hỏi định tính nhỏ,đơn giản hơn, có liên quan với nhau mà các câu trả lời hoặc đã nằm trong giảthiết, hoặc ở trong các định luật vật lý mà học sinh đã biết Ưu điểm cơ bảncủa phương pháp này là rèn luyện cho học sinh khả năng phân tích các hiệntượng vật lí, biết tổng hợp các dữ kiện của bài tập với nội dung các định luậtvật lí đã biết, khả năng khái quát hóa các sự kiện và biết cách rút ra những kếtluận cần thiết.
- Phương pháp đồ thị: Là phương pháp được sử dụng khi giải các bàitập định tính mà giả thiết của chúng được diễn đạt bằng những cách minh họanhư lập bảng, đồ thị, mô hình Trong phương pháp này, việc diễn đạt giảthiết của bài tập một cách chính xác, trực quan, là cơ sở làm toát lên nhữngmối liên quan giữa hiện tượng đang khảo sát và các định luật vật lí tương ứng.Phương pháp này đặc biệt có ý nghĩa khi nội dung của đề bài là một loạt cáchình vẽ, các thông tin ghi lại các giai đoạn xác định trong tiến trình biến đổicủa hiện tượng Ưu điểm của phương pháp này là trực quan và ngắn gọn giúpcho học sinh phát triển tư duy, tập cho học sinh quen với tính chính xác, cẩnthận
- Phương pháp thực nghiệm: Là phương pháp được sử dụng trongtrường hợp nội dung của bài tập định tính có liên quan đến thí nghiệm, bằngcách bố trí và tiến hành thí nghiệm theo đúng giả thiết của bài tập để trả lờicác câu hỏi của bài tập đó Trong các bài tập như vậy, bản thân thí nghiệmkhông giải thích được tại sao hiện tượng lại xảy ra như thế này mà không phải
là như thế khác Việc chứng minh bằng lời thông qua quá trình giải quyết cáccâu hỏi như “cái gì sẽ xảy ra?”, “làm thế nào?” sẽ là cơ sở để có lời giảithích chính xác và quan trọng hơn là câu trả lời tìm được có sức thuyết phụccao, không gây nghi ngờ cho học sinh Ưu điểm nổi bật của phương pháp này
là đưa học sinh vào vị trí tựa như các nhà nghiên cứu, phát huy cao độ tính
Trang 8tích cực, tính ham học hỏi, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo trong việc sử dụng cácdụng cụ thí nghiệm vật lý [28].
Khi giải các bài tập định tính, các phương pháp trên có thể sử dụngphối hợp, bổ sung cho nhau
1.1.4.2 Bài tập vật lí định lượng
Bài tập vật lí định lượng là loại bài tập mà việc giải bài được dựa trênviệc thực hiện một loạt các phép tính, xuất phát từ các điều kiện của đề bài để
đi đến một yêu cầu về số hoặc công thức
Dựa vào mục đích dạy học ta có thể phân loại bài tập dạng này thành 2loại:
- Bài tập tập dượt là những bài tập đơn giản được sử dụng ngay khinghiên cứu một khái niệm hay một qui tắc vật lí nào đó để học sinh vận dụngkiến thức vừa mới tiếp thu
- Bài tập tổng hợp là những bài tập phức tạp mà muốn giải nó học sinhvận dụng nhiều kiến thức ở nhiều phần, nhiều chương, nhiều cấp học và thuộcnhiều lĩnh vực
Đặc biệt, khi các câu hỏi loại này được nêu dưới dạng trắc nghiệmkhách quan thì yêu cầu học sinh phải tái hiện những kết quả đã được chứngminh trước đó để giải nó một cách nhanh chóng Vì vậy yêu cầu học sinhphải hiểu bài một cách sâu sắc để vận dụng kiến thức ở mức độ cao
Theo con đường xây dựng lập luận tìm lời giải cho bài tập vật lí địnhlượng, tôi phân loại phương pháp giải bài tập định lượng thành hai phươngpháp là phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp:
- Phân tích: Là phương pháp giải bài tập dựa trên việc lập luận tìm lờigiải bài toán thông qua con đường: tìm một định luật, một qui tắc diễn đạtbằng công thức chứa đại lượng cần tìm với một vài đại lượng khác chưa biết.Tiếp theo tìm những định luật, công thức khác cho biết mối quan hệ giữa đạilượng chưa biết này với các đại lượng đã được cho trong đề bài; cuối cùng
Trang 9tìm được một số công thức chỉ chứa đại lượng cần tìm với đại lượng đã đượcxác định
SƠ ĐỒ LẬP LUẬN THEO PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH
- Tổng hợp: Là phương pháp giải bài tập dựa trên việc lập luận tìm lờigiải bài toán từ những đại lượng đã cho ở đề bài, dựa vào các định luật, quitắc vật lí, tìm những công thức có chứa đại lượng đã cho với các đại lượngtrung gian mà ta dự kiến có liên quan đến đại lượng cần tìm Sau đó, suy luậntoán học, đưa đến công thức chỉ chứa đại lượng phải tìm và các đại lượng đãcho
SƠ ĐỒ LẬP LUẬN THEO PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP
1.1.4.3 Bài tập đồ thị
Đó là bài tập mà dữ kiện đề bài cho dưới dạng đồ thị hay trong quátrình giải nó ta phải sử dụng dồ thị Ta có thể phân loại dạng câu hỏi naythành các loại:
Trang 10- Đọc và khai thác đồ thị đã cho: Bài tập loại này có tác dụng rèn luyệncho học sinh kỹ năng đọc đồ thị, biết cách đoán nhận sự thay đổi trạng tháicủa vật thể, hệ vật lý, của một hiện tượng hay một quá trình vật lý nào đó.Biết cách khai thác từ đồ thị những dữ liệu để giải quyết một vấn đề cụ thể.
- Vẽ đồ thị theo những dữ liệu đã cho: bài tập này rèn luyện cho họcsinh kỹ năng vẽ đồ thị, nhất là biết cách chọn hệ tọa độ và tỉ lệ xích thích hợp
để vẽ đồ thị chính xác
1.1.4.4 Bài tập thí nghiệm
Bài tập thí nghiệm là những bài tập nói tới mặt kết quả của các thínghiệm đang khảo sát Đây là loại bài tập được giải bằng cách vận dụng tổnghợp các kiến thức lý thuyết và thực nghiệm, các kỹ năng hoạt động trí óc vàthực hành, các vốn hiểu biết về vật lý, kỹ thuật và thực tế đời sống Loại bàitập này có 2 mức độ:
- Mức độ 1: Chỉ xây dựng phương án (tính toán lập luận trên giấy,không đo đạc, làm thí nghiệm thực) Với loại bài tập này HS cần phải có mộtkiến thức rộng về các nguyên lý thí nghiệm, phải có đủ kiến thức, kỹ nănggiải trình phương án được xây dựng cho kết quả tốt khi tiến hành thiết kế thínghiệm thực; không nhất thiết phải có kỹ năng thực hành
- Mức độ 2: Tiến hành làm thí nghiệm thực theo phương án đã vạch ra
HS vừa phải có cả kiến thức về nguyên lý thí nghiệm vừa phải có đủ kỹ năng
để thực hiện các thao tác thí nghiệm; hiểu biết về bài thí nghiệm và thực hànhcho ra kết quả như ý muốn, tiến hành đo đạc kết quả và xử lý số liệu nếu đềbài yêu cầu
1.2 Mục tiêu, vị trí, vai trò và nhiệm vụ của bài tập vật lí trong dạy học
1.2.1 Bài tập vật lí giúp cho học sinh, đào sâu, mở rộng kiến thức
Bài tập vật lí là một phương tiện củng cố, ôn tập kiến thức sinh động và
có hiệu quả Khi giải bài tập vật lí, HS phải nhớ lại các kiến thức đã học, cókhi phải sử dụng tổng hợp các kiến thức thuộc nhiều chương, nhiều phần củachương trình HS phải vận dụng những kiến thức khái quát và trừu tượng đã
Trang 11học vào những trường hợp cụ thể rất đa dạng, nhờ đó mà họ nắm được nhữngbiểu hiện cụ thể của chúng trong thực tế, phát hiện ngày càng nhiều nhữnghiện tượng thuộc ngoại diên của các khái niệm hoặc chịu sự chi phối của cácđịnh luật hay thuộc phạm vi ứng dụng của chúng Quá trình nhận thức cáckhái niệm, định luật vật lí không kết thúc ở việc xây dựng nội hàm của cáckhái niệm, định luật vật lí mà còn tiếp tục ởgiai đoạn vận dụng vào thực tế[20, tr.7].
1.2.2 Bài tập vật lí có thể là điểm khởi đầu để dẫn dắt tới kiến thức mới
Nhiều khi các bài tập vật lý được sử dụng khéo léo có thể dẫn dắt HS điđến những suy nghĩ về một hiện tượng mới hoặc xây dựng một khái niệm mới
để giải thích hiện tượng mới do bài tập phát hiện ra [20, tr.8] Nếu giáo viên
sử dụng các bài tập có nội dung thích hợp có trong bài mới mà HS có thể vậnđộng để giải thích được thì đây cũng là cách tốt để bắt đầu một bài học mới.Các bài tập này nên bắt đầu từ những hiện tượng trong thực tiễn, hoặc ít nhiềuđược nói đến trong các chương trình ti vi, đài báo, tạp chí…
1.2.3 Bài tập vật lí giúp rèn kỹ năng, kỹ xảo vận dụng lý thuyết vào thực tiễn
Bài tập vật lí là một trong những phương tiện rất quí báu giúp HS rènluyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng lí thuyết vào thực tiễn; rèn luyện thói quen vậndụng kiến thức khái quát đã thu nhận được để giải quyết các vấn đề của thựctiễn Có thể xây dựng rất nhiều bài tập có nội dung thực tiễn, trong đó yêu cầu
HS phải vận dụng lí thuyết để giải thích các hiện tượng hoặc dự đoán hiệntượng có thể xảy ra trong thực tiễn ở những điều kiện cho trước
1.2.4 Bài tập vật lí là một trong những hình thức làm việc tự lực cao của học sinh
Trong khi giải bài tập vật lý, HS phải tự mình phân tích các điều kiệncủa bài tập đặt ra, xây dựng những lập luận, kiểm tra và phê phán những kếtluận rút ra được nên tư duy của họ được phát triển, năng lực làm việc tự lựccủa họ được nâng cao
Trang 121.2.5 Bài tập vật lí góp phần làm phát triển tư duy của học sinh
Tư duy vật lí là khả năng quan sát, phân tích một hiện tượng phức tạpthành những hiện tượng thành phần, thiết lập các mối liên hệ giữa các mặtđịnh tính và định lượng của các hiện tượng và các đại lượng vật lí, đoán trướccác hệ quả từ lí thuyết và vận dụng được kiến thức Hầu hết các hiện tượngnêu lên trong bài tập vật lí là phức tạp, trừ một số bài tập đơn giản chỉ đề cậpđến một hiện tượng vật lí Muốn giải được chúng cần phải phân tích hiệntượng phức tạp ấy thành các hiện tượng thành phần, nghĩa là cần phải phântích một bài tập vật lí phức tạp thành các bài tập đơn giản Trong quá trình đó
HS phải vận dụng các thao tác tư duy để giải bài tập, nhờ đó mà tư duy đượcphát triển
1.2.6 Bài tập vật lí giúp kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh
Tùy theo cách đặt câu hỏi kiểm tra, ta có thể phân loại được các mức độnắm vững kiến thức của HS, làm cho việc đánh giá chất lượng kiến thức của
HS được chính xác Bởi vậy, bài tập vật lí là phương tiện rất hữu hiệu để kiểmtra mức độ nắm vững kiến thức của HS
1.2.7 Bài tập vật lí gây hứng thú và góp phần phát huy tính tích cực học sinh
Bài tập vật lí có thể gắn với các dữ liệu, điều kiện thực tế trong đờisống và trong lao động Khi giải bài tập vật lí học sinh được khám phá nhữngvấn đề mà các em bắt gặp trong thực tế; tìm hiểu, giải thích và nêu được bảnchất; qua đó hình thành hứng thú với các môn học Khi tự tìm tòi khám phámột vấn đề vật lí học sinh sẽ tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tíchcực chiếm lĩnh kiến thức
1.3 Quan điểm về tính tích cực và phương pháp dạy học tích cực
1.3.1 Tính tích cực
1.3.1.1 Tính tích cực của con người
Tính tích cực (TTC) được xem như là sự thể hiện vai trò chủ thể củacon người trong hoạt động [19, tr.3] Vai trò chủ thể của con người phản ánh
Trang 13qua các hoạt động sáng tạo của cá nhân, qua sự phát triển của xã hội loàingười theo tiến trình lịch sử Xét ở khía cạnh này cho phép chúng ta nhậnthấy được TTC của con người (trên bình diện cá nhân) kéo theo sự vận động
và không ngừng thay đổi của xã hội loài người (trên bình diện lịch sử) Tuynhiên, mọi hoạt động của cá nhân con người ít nhiều có liên quan đến sự thỏamãn nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu lại nảy sinh nhu cầu mới và hoạt độngmới [17] Vì vậy, TTC trong hoạt động của con người có liên quan và đượcthúc đẩy chủ yếu bởi nhu cầu của cá nhân Trong một số trường hợp, hoạtđộng thỏa mãn nhu cầu cá nhân tạo nên các giá trị cho sự phát triển của cánhân và xã hội nếu có sự thống nhất (theo chiều hướng tích cực) giữa lợi íchcủa cá nhân/nhóm với xu hướng phát triển của thời đại; trong trường hợpngược lại thì dễ dẫn đến các hệ lụy tiêu cực Đồng thời, vai trò chủ thể củacon người còn thể hiện như là các bước ngoặt đánh dấu sự khởi đầu cho tiếntrình mới của sự phát triển xã hội trên các lĩnh vực khác nhau (kinh tế, vănhóa, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, chính trị…)[19]
Tính tích cực là một phẩm chất của con người được nhận định qua sự
chủ động hành động, đem hết khả năng, tâm trí vào công việc, nhằm cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội để tồn tại và phát triển Với định nghĩa
này chúng ta thấy con người vừa có những đặc điểm đặc trưng của loài ngườivừa có những nhu cầu, khả năng đặc thù của cá nhân Vì vậy, xuất phát từ nhucầu cá nhân để tạo nên động cơ cho tính tích cực hoạt động của con ngườitrong xã hội, biến sức mạnh (thể lực, tâm lực và trí lực) của cá nhân thànhvốn xã hội (social capital), thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người thìkhông thể không cần đến môi trường xã hội và cơ chế vận hành của hệ thốngquản lý xã hội thích hợp Điều này cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của hệthống điều khiển và quản lý xã hội đối với việc phát huy TTC trong hoạt độngcủa con người nói chung
1.3.1.2 Tính tích cực học tập
Trang 14Tính tích cực học tập - về thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở khátvọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnhtri thức TTC nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động
cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác.
Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinhnếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại,phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú,bồi dưỡng động cơ học tập TTC học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như:hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn,thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòihỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức,
kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học;kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khókhăn…
TTC học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:
- Bắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn…
- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyếtkhác nhau về một số vấn đề…
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu
1.3.2 Phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp (PP) giảng dạy được gọi là tích cực nếu hội tụ được cácyếu tố sau: Thể hiện rõ vai trò của nguồn thông tin và các nguồn lực sẵn có;động cơ học tập của người học khi bắt đầu môn học; bản chất và mức độ kiếnthức cần huy động; vai trò của người học, người dạy, vai trò của các mốitương tác trong quá trình học; kết quả mong đợi của người học [28]
Phương pháp dạy học tích cực là những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
PP dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạtđộng nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực
Trang 15của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực củangười dạy Tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải
nỗ lực nhiều hơn so với dạy theo phương pháp thụ động
1.3.3 Một số phương pháp dạy học tích cực
1.3.3.1 Phương pháp dạy học dựa trên vấn đề (PBL)
Phương pháp dạy học dựa trên vấn đề ký hiệu là PBL
- “PBL là bất kì môi trường học tập nào mà vấn đề đặt ra sẽ điều khiểnquá trình học tập Như vậy một vấn đề nào đó sẽ được giao cho người họctrước khi họ được học các kiến thức Vấn đề đặt ra sao cho người học khámphá rằng họ cần phải học một số kiến thức nào đó trước khi họ có thể giảiquyết vấn đề” [9]
- “PBL là một điển hình về mô hình dạy người học là trung tâm củaviệc học và dạy Đó là phương pháp học tập dựa trên nguyên tắc sử dụng cácvấn đề như là khởi điểm cho việc tiếp thu và tích hợp kiến thức mới”[28]
- “PBL vừa là chương trình, vừa là quá trình Chương trình bao gồmnhững vấn đề được lựa chọn kĩ càng, đòi hỏi người học trong quá trình họcphải tích lũy kiến thức then chốt Quá trình là sự rèn luyện các kĩ năng giảiquyết vấn đề thành thạo, phương pháp tự học, kĩ năng làm việc theo nhóm,rèn luyện trong những quá trình, những phương pháp được sử dụng phổ biếntrong cuộc sống, trong giải quyết vấn đề”
- “PBL là một cách tiếp cận những gì diễn ra trong bối cảnh các nhiệm
vụ xác thực, các vấn đề phù hợp với mối quan tâm trong thế giới thực Cácvấn đề thách thức người học giải quyết thông qua cam kết của chính ngườihọc Chính qua việc đặt người học trong vai trò tích cực đối mặt với các tìnhhuống thực tế của cuộc sống để giải quyết vấn đề, người học đồng thời pháttriển cả kĩ năng giải quyết vấn đề và thu nhận các kiến thức” [27, tr 209]
Theo tôi: Dạy học dựa trên vấn đề (PBL) là phương pháp dạy học mà
việc tổ chức hoạt động học được tiến hành thông qua việc đặt vai trò tích cực của người học vào vị trí trung tâm của việc giải quyết một hoặc một chuỗi
Trang 16các vấn đề, qua đó người học phải học thêm một số kiến thức yêu cầu trong bài học mới có thể giải quyết vấn đế đưa ra.
* Mục tiêu của PBL
- Giúp học sinh thích nghi và tham gia vào quá trình thay đổi chínhmình Khi thay đổi các vấn đề thì yêu cầu và cách giải quyết cũng thay đổi,học sinh không tự thích nghi và thay đổi chính mình thì sẽ không đạt được kếtquả trong quá trình giải quyết vấn đề
- Giúp học sinh vận dụng khả năng giải quyết vấn đề vào các tìnhhuống phức hợp, có thực trong thực tiễn Điều này khẳng định một điều, cácvấn đề đưa ra có tính phức hợp và thực tiến thì mới thu hút được học sinhtham gia vào quá trình giải quyết vấn đế Nếu một vấn đề được đưa ra mà chỉ
có trong sự tưởng tượng của giáo viên thì vấn đề đó mang nặng tính lý thuyết,không lôi kéo được học sinh Trên thực tế HS quan tâm nhiều đến việc vậndụng kiến thức vào thực tế như thế nào
- Giúp HS phát triển tư duy phê phán và sáng tạo Trong quá trình giảiquyết vấn đề HS phải lập luận các trường hợp, chọn ra phương án giải quyếttốt nhất nên tư duy phê phán phát triển; HS cũng có thể đưa ra những phương
án giải quyết vấn đề mà chưa có trong thực tế đời sống, hay chưa có trongnhận thức của các em
- Giúp HS công tác hiệu quả trong nhóm, chấp nhận những quan điểmkhác nhau Đề tiến hành các phương pháp dạy học tích cực việc chia nhómhay ghép cặp là cần thiết Nên đối với PBL thì việc làm việc nhóm và tranhluận nhóm là các hoạt động trọng tâm
- Giúp HS hình thành kĩ năng giao tiếp hiệu quả, rèn luyện khả nănglãnh đạo Trong hoạt động chung của nhóm HS tất yếu phải giao tiếp, phâncông công việc, và lãnh đạo các bạn cùng nhóm để cả nhóm đạt kết quả caonhất
- Giúp HS đề cao sự tự học, bổ sung kiến thức cơ bản trong hoạt độngnhóm có cả hoạt động chung và hoạt động riêng của cá nhân Do đó mỗi cá
Trang 17nhân đều phải tự suy nghĩ và tự làm việc để nêu ra ý kiến của minh cho cảnhóm cùng nghe, xem xét và đánh giá do đó sự tự học và bổ sung kiến thức làcân thiết.
* Các nội dung có thể tổ chức dạy học dựa trên vấn đề:
- Xây dựng vấn đề dựa vào kiến thức có liên quan đến bài học Toàn bộbài dạy được xây dựng dựa trên một vấn đề sẽ kích thích tính tò mò và sựhứng thú của người học Tính phức tạp hay đơn giản của vấn đề luôn luôn làyếu tố cần được xem xét [27, tr 213]
- Xây dựng vấn đề dựa trên các tiêu chí thường xuyên biến đổi trongcông việc, thực tiễn (Vấn đề đó có thường xuyên gặp phải? Nó có phải lànguồn gốc của những thiếu sót trong sản xuất? Nó có tác động lớn haykhông? Các giải pháp đặt ra cho vấn đề này có đa dạng và khác biệt theo hoàncảnh hay không?)
Vấn đề phải được xây dựng xung quanh một tình huống (một sự việc,hiện tượng…) có thực trong cuộc sống Vấn đề cần phải được xây dựng mộtcách cụ thể và có tính chất vấn Hơn nữa, vấn đề đặt ra phải để cho người họcdiễn đạt và triển khai các hoạt động liên quan Một vấn đề không quá phứctạp cũng không quá đơn giản Cuối cùng là cách thể hiện vấn đề và cách tiếnhành giải quyết vấn đề phải đa dạng
Vấn đề đặt ra cần phải có nhiều tài liệu tham khảo nhưng trọng tâmnhằm giúp người học có thể tự tìm tài liệu, tự khai thác thông tin và tự traudồi kiến thức; các phương tiện thông tin đại chúng như sách vở, phần mềm
mô phỏng, internet,… cũng cần phải đa dạng nhằm phục vụ mục đích trên
Khi xây dựng vấn đề, một vấn đề cần phải thoản mãn các yêu cầu: Làvấn đề hướng về thế giới thực, vấn đề đề cập đến một thách thức hiện tại, cótiềm năng ứng dụng lớn; là vấn đề phát sinh nhiều giả thuyết; là vấn đề cần sự
nỗ lực giải quyết của một nhóm người; phù hợp với mục tiêu học tập; đượcxây dựng dựa trên kiến thức và kinh nghiệm đã có của người học; thúc đẩy sựphát triển những khả năng nhận thức bậc cao
Trang 18* Các giai đoạn tổ chức PBL
- Giai đoạn 1: Giao nhiệm vụ
Ở giai đoạn này, giáo viên có những hỗ trợ ban đầu để học sinh tiếpnhận vấn đề thuận lợi nhất làm cơ sở cho việc tiến hành giải quyết vấn đề.Các công việc chính của giao viên giai đoạn này là: làm rõ vấn đề (xác địnhmục đích, làm rõ các thuật ngữ); hướng dẫn công việc (chỉ ra các nguồn tàiliệu, kế hoạch làm việc); tổ chức nhóm (phân chia nhóm, cách làm việc nhóm,cách liên hệ giáo viên)
- Giai đoạn 2: Giải quyết nhiệm vụ
Khi đã hiểu rõ các nhiệm vụ học tập, học sinh bắt đầu các hoạt độnggiải quyết vấn đề Trong giai đoạn này việc làm việc nhóm và làm việc cánhân luôn luân phiên nhau Mỗi học sinh đều phải làm việc theo sự phân côngtiến độ chung của nhóm, sau đó họp nhóm để chia sẻ, thống nhất các quanđiểm Hoạt động cá nhân và nhóm cứ đan xen nhau đến khi hoàn thành nhiệm
vụ, thống nhất lời giải cho vấn đề Khi đã có lời giải chung, nhóm phân côngbáo cáo và thông qua báo cáo trước nhóm
- Giai đoạn 3: Trình bày, thể chế hóa kiến thức
Các nhóm báo cáo kết quả của mình trước lớp, hoặc chưng bày sảnphẩm trước tập thể Việc đánh giá kết quả thuộc về giáo viên và học sinh cảlớp Cuối cùng giáo viên hệ thống à làm rõ các kiến thức mới trong nhữngvấn đề học tập
* Vai trò của học sinh
- Học sinh quyết định cách tiếp cận vấn đề và các hoạt động cần phảitiến hành để giải quyết vấn đề
- Học sinh là người thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau rồi tổnghợp, phân tích và tích lũy kiến thức từ quá trình làm việc
- Người học trình bày kiến thức mà họ đã tích lũy thông qua vấn đề vàđánh giá dựa trên những gì đã thu thập được
Trang 19Như vậy học sinh thực sự là trung tâm của quá trình dạy học, họ tựquyết định một phần hay toàn bộ chiến lược học tập
* Vai trò của giáo viên
- Là người lựa chọn các vấn đề sao cho có tác dụng kích thích các hoạtđộng nhận thức cũng như các hoạt động xã hội của người học
- Đóng vai trò người hướng dẫn, người đồng hành, trợ giúp hoạt độngnhóm và tạo điều kiện cho học sinh tiến hành các hoạt động mà các hoạt độngnày thường gắn kết với một hoạt động nghiên cứu thực thụ
- Hướng dẫn quá trình tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh
1.3.3.2 Phương pháp dạy học thông qua làm dự án
* Khái niệm về dạy học thông qua làm dự án
Theo các nhà giáo dục Mỹ : Dạy học thông qua làm dự án là quá trình
mô phỏng và giải quyết các vấn đề thực tế Trong đó học sinh tự lựa chọn đềtài và thực hiện các dự án học tập dựa trên sở thích và khả năng của bản thân
Các dự án học tập không chỉ giúp các em học tốt bài trên lớp mà còn
mở rộng ra ngoài phạm vi lớp học khi các em được phát huy trí thông minh đểhoàn thành dự án của mình
Theo Bộ Giáo dục Singapore : Dạy học theo dự án là một hoạt động
học tập nhằm tạo cơ hội cho học sinh tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vựchọc tập, và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống Quá trình họctheo dự án giúp học sinh củng cố kiến thức và xây dựng các kỹ năng hợp tác,giao tiếp và học tập độc lập, chuẩn bị hành trang cho các em trong sự nghiệphọc tập suốt đời và đối mặt với các thử thách trong cuộc sống [28]
Theo dự án Việt - Bỉ : Dạy học theo dự án là một chuỗi các hoạt động
dựa trên động cơ bên trong của học sinh nhằm khám phá và phát hiện mộtphần của thực tế (các chuỗi hoạt động thực tế : Thực hiện nghiên cứu; Khámphá các ý tưởng theo sở thích; Tìm hiểu và xây dựng kiến thức; Học liên môn;Giải quyết các vấn đề; Cộng tác với các thành viên trong nhóm; Giao tiếp;Phát triển các kỹ năng, thái độ và sự đam mê)
Trang 20Nghiên cứu tài liệu, tôi đồng tình với khái niệm sau: Dạy học dự án
hay dạy học thông qua làm dự án là một mô hình dạy học lấy hoạt động của học sinh làm trung tâm Kiểu dạy này phát triển kiến thức và kĩ năng của học sinh thông qua quá trình học sinh giải quyết một bài tập tình huống gắn với thực tiễn bằng những kiến thức theo nội dung môn học- được gọi là dự án.
- Dạy học theo dự án với tư cách một hình thức dạy học: Theo quanniệm này, trong Dạy học theo dự án có nhiều phương pháp cụ thể khác nhauđược sử dụng, do đó đây là một hình thức dạy học
- Dạy học theo dự án được hiểu theo nghĩa rộng nhất như một quanđiểm, mô hình hay nguyên tắc dạy học: Theo quan điểm này người ta muốn
mở rộng phạm vi ứng dụng của Dạy học theo dự án Tuy nhiên với quan niệmnày dễ có xu hướng sử dụng những dự án không điển hình Khi đó người tacòn dùng thuật ngữ Dạy học định hướng dự án
* Mục tiêu của dạy học dự án
- Dạy học dự án hướng tới phát triển kỹ năng tư duy bậc cao (phân tổng hợp, đánh giá và sáng tạo) Học sinh trong quá trình thực hiện các nhiệm
tích-vụ học tập cùng lúc với việc tìm kiếm thông tin (trong đó có nội dung bàihọc) là quá trình xử lý thông tin, lập ra một tổng thể kiến thức (không chỉ cónội dung bài học), phê phán đánh giá, lựa chọn công cụ, để thực hiện nhiệm
vụ học tập
- Dạy học dự án hướng tới phát triển kĩ năng sống Hợp tác, giao tiếp,quản lí, tổ chức, điều hành, ra quyết định, tích hợp công nghệ thông tin vào
Trang 21giải quyết công việc và thực hiện các sản phẩm… là những mục tiêu màPPDH hướng tới Dạy học dự án có ưu thế đặc biệt trong hiện thực hóa cácmục tiêu này Học sinh trong quá trình thực hiện dự án toàn quyền quyết địnhphương tiên, và cách thức hoạt động, phải hợp tác cao độ trong sự hiểu biếtđiểm mạnh của tứng thành viên trong nhóm, phải biết tranh luận, lắng nghe,phải biết tự kiểm tra, đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động, phải huy động tối đakhả năng tích hợp công nghệ vào sản phẩm của nhóm…
* Các nội dung có thể tổ chức dạy học dự án
Vật lí là môn học có nhiều ứng dụng trong đời sống, kĩ thuật, nhiều đềtài vật lí gắn liền với thực tiễn đời sống Từ đặc điểm này có thể nói vật lí làmôn học có nhiều cơ hội tổ chức dạy học dự án Nội dung vật lí phổ thông lạigần gũi với quan sát của người học nên trong quá trình dạy học với các nộidung có liên hệ tới thực tiễn thì người giáo viên đều có thể tổ chức thành các
dự án cho học sinh Tuy nhiên, không phải nội dung nào giáo viên cũng có thể
tổ chức dạy học dự án, giáo viên không nên tổ chức dạy học dự án đối với cácnội dung, bài học đòi hỏi sự trình bày một cách chính xác, chặt chẽ logic và
hệ thống
* Các giai đoạn của tiến trình dạy học dự án
- Giai đoạn 1: Xây dựng ý tưởng dự án, quyết định chủ đề
Trong giai đoạn này giáo viên tạo điều kiện để học sinh đề xuất ý tưởng
dự án, quyết định chủ đề, xác định mục tiêu của dự án Giáo viên có thể nêumột số ý tưởng nhằm kích thích học sinh suy nghĩ phát biểu ý tưởng trongnhóm và trước cả lớp
- Giai đoạn 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án
Thời gian để học sinh lập kế hoạch làm việc, phân công lao động theonhóm Đối với các tập thể chưa quen với phương pháp, để nhóm hoạt động tốthơn, giáo viên nên hướng dẫn các em học sinh cách lập kế hoạch, lựa chọnnhân sự, phân công cho phù hợp với thành phần của mỗi nhóm
- Giai đoạn 3: Thực hiện dự án
Trang 22Trong giai đoạn này học sinh làm việc nhóm và cá nhân theo kế hoạch,kết hợp lý thuyết và thực hành tạo ra sản phẩm Giáo viên nêu giới hạn về mặtthời gian, gợi ý tài liệu nghiên cứu và tham khảo cho học sinh rồi để học sinh
tự lực nghiên cứu, tìm tòi thực hiện dự án, tạo ra sản phẩm
- Giai đoạn 4: Giới thiệu sản phẩm dự án
Học sinh thu thập sản phẩm, tổ chức giới thiệu, công bố sản phẩm.Trong giai đoạn này giáo viên có thể tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau,những hình thức theo mô hình hội thảo, hay triển lãm cũng được áp dụngtương đối hiệu quả: Giáo viên có thể cho lớp sắp xếp lại chỗ ngồi tạo nhữngkhông gian riêng đủ rộng để các nhóm trưng bày sản phẩm và cử thành viên
để trình bày quá trình tiến hành làm dự án, các kiến thức thu nhận được trongquá trình làm dự án, các điểm mới của sản phẩm so với các sản phẩm đã cócùng loại…; tạo điều kiện cho các nhóm phỏng vấn, tranh luận nhằm khắc sâukiến thức một cách tốt nhất
- Giai đoạn 5: Đánh giá sản phẩm dự án
Giáo viên và học sinh đánh giá kết quả và quá trình thực hiện dự án, rút
ra kinh nghiệm Sau khi được quan sát sản phẩm, chứng kiến sự trình bày củacác nhóm giáo viên tạo điều kiện cho cả lớp nêu ý kiến đánh giá sản phẩm, vàkiến thức thu được của nhóm trưng bày và cho điểm nếu cần
* Vai trò của học sinh
- Học sinh đóng vai thuộc những ngàng nghề khác nhau trong xã hội,hoàn thành vai trò của mình dựa trên những kiến thức, kĩ năng đã nghiên cứuđược (học sinh chủ động trong việc tiếp nhận kiến thức)
- Học sinh được giao những nhiệm vụ cụ thể, có thật trong cuộc sống,bằng những kiến thức theo sát chương trình học và có phạm vi liên môn vàbằng những kĩ năng sống của người lớn, qua đó rèn luyện kĩ năng sống (làmviệc với người khác, đưa ra quyết định chín chắn, chủ động giải quyết các vấn
đề phức tạp…)
Trang 23- Học sinh được tự quyết định cách tiếp cận các vấn đề và các hoạtđộng.
- Học sinh phải hoàn thành dự án với một số sản phẩm cụ thể (chútrọng sự tích hợp công nghệ cơ bản trong sản phẩm, cũng là cách giải quyếtcông việc của tất cả mọi người trong thế kỉ XXI): bài trình diễn, sản phẩm,phần mềm, trang web…
* Vai trò của giáo viên
Giáo viên không dạy nội dung bài học mà:
- Tạo vai trò cho học sinh và làm sao để gắn vai trò của học sinh vớinội dung bài học
- Hướng dẫn, tham vấn chứ không phải cầm tay chỉ việc
- Không phải dạy kiến thức mà tạo ra sự hỗ trợ cần thiết Năng lực, vaitrò của giáo viên thể hiện ở các hỗ trợ học sinh (không chỉ bằng các chỉ dẫn
mà bằng các sản phẩm mẫu, tài liệu, các nguồn thông tin, các chuyển giaocông việc, các phiếu đáng giá…)
1.3.3.3 Phương pháp dạy học theo trạm
* Khái niệm dạy học theo trạm
Dạy học theo trạm là một hình thức dạy học mở, trong đó căn cứ vàoyêu cầu về kiến thức, kĩ năng của bài học, GV có thể tổ chức cho HS hoạtđộng học tập tự lực tại các vị trí không gian lớp học để giải quyết các vấn đềtrong học tập Hệ thống các trạm thường được thiết kế, bố trí theo hình thứccác vòng tròn khép kín trong không gian lớp học
Hình thức dạy học hiện nay mở ở rất nhiều khía cạnh khác nhau: Mở vềnội dung bài học, mở về các phương pháp dạy học, mở về các phương tiệnhọc tập, mở về không gian học tập, Hoạt động của HS tại các trạm là hoàntoàn tự do, dưới sự định hướng của GV, HS phải tự xoay xở để vượt qua cáctrạm Do đó, dạy học theo trạm do đó tập trung vào "tự chủ và tự học", rènluyện thói quen tự lực giải quyết vấn đề cho HS
Trang 24Dạy học theo trạm là một phương pháp tổ chức dạy học dựa trên hìnhthức làm việc tại các trạm, ngoài mục tiêu truyền đạt kiến thức, dạy học theotrạm còn kích thích hứng thú say mê nghiên cứu, rèn luyện năng lực giảiquyết các vấn đề phức hợp, gắn lí thuyết với thực hành, tư duy và hành động,rèn luyện năng lực cộng tác làm việc theo nhóm.
Dạy học theo trạm là một phương pháp tổ chức dạy học dựa trên hìnhthức làm việc tại các trạm, ngoài mục tiêu truyền đạt kiến thức, dạy học theotrạm còn kích thích hứng thú say mê nghiên cứu, rèn luyện năng lực giảiquyết các vấn đề phức hợp, gắn lí thuyết với thực hành, tư duy và hành động,rèn luyện năng lực cộng tác làm việc theo nhóm
* Mục tiêu của dạy học theo trạm
- Lớp học được diễn ra trong một không gian mở, có sự luân chuyểncủa các trạm
- Tổ chức cho học sinh học tập và nghiên cứu nhiều nội dung học trongcùng một khoảng thời gian
- Các nội dung học tập có sự độc lập, tách rời sẽ được tổ chức ở cáctrạm khác nhau cho học sinh có thể tự lực nghiên cứu và học tập
* Phân loại các trạm
- Phân loại theo vị trí:
+ Trạm cố định: Trạm cố định là trạm có vị trí cố định tại một nơi nào
đó trong lớp học Hầu hết các trạm đều được đặt cố định tại một vị trí đặttrước có điều kiện thuận lợi Tuy nhiên các trạm có nhiệm vụ quan sát đốitượng thì có thể di chuyển địa điểm để tìm không gian quan sát hợp lí hơn
+ Trạm bên ngoài (Outstation): Là một trạm được đặt ở không gian bên
ngoài lớp học, ngoài khu vực, Các trạm này thường xuất hiện trong các buổihọc ngoại khóa, người học có thể làm việc ở một vị trí nào đó ngoài khônggian lớp học như: Thư viên, hành lang, ở nhà, xưởng của trường,… , có thểlàm việc bằng các phương tiện khác nhau để đạt được yêu cầu công việc ( ốngnhòm, máy vi tính,…)
Trang 25+ Trạm đệm: Trạm đệm là trạm hỗ trợ làm việc cho một trạm chính nào
đó Trạm đệm thường được bố trí sát ngay trạm chính Mỗi HS có thể thựchiện nhiệm vụ ở trạm đệm trước, sau đó thực hiện nhiệm vụ ở trạm chính
Các nội dung học tập phức tạp, nhiều nội dung thì người ta có thể bố tríthêm các trạm đệm hỗ trợ Trạm này là bước đệm để cho HS thực hiện nhiệm
vụ ở trạm chính Nhờ có trạm đệm mà nhiệm vụ ở các trạm chính được thựchiện đúng tiến độ, tránh tắc ngẽn ở một trạm nào đó trên vòng tròn học tập
+ Trạm giám sát - dịch vụ: Trạm này được đặt tại một ví trí trung tâm
của vòng tròn học tập nhằm cung cấp thông tin cho các trạm khác, cung cấpđáp án cho các trạm để so sánh kết quả sau khi HS hoàn thành nhiệm vụ.Trạm giám sát thường xuyên trao đổi các thông tin phản hồi cho các trạmkhác một cách trực tiếp, liên tục
Trạm giám sát dịch vụ cung cấp các tài liệu cần thiết như từ điển, cácthông tin bổ xung, các thông tin kĩ thuật hoặc một phương tiện đặc biệt (ví dụnhư một máy tính có kết nối Internet và một số phần mềm cần thiết ) Trạmnày thường được bố trí tách dời vòng tròn học tập
- Phân loại theo mức độ yêu cầu nhiệm vụ
+ Các trạm tự chọn: Các trạm tự chọn để HS tuỳ ý lựa chọn theo cáctrình độ khác nhau, các phòng cách học tập khác nhau, học cá nhân hay theonhóm Các trạm này vẫn có tính chất bắt buộc đối với HS, vẫn yêu cầu HSthực hiện nhưng có thể theo các cấp độ, hình thức khác nhau
Trạm tự chọn cũng có thể hiểu là các trạm có nội dung mở rộng, nộidung vui để tạo hứng thú cho người học Các trạm này HS có thể thực hiệnhay bỏ qua cũng được, tuy nhiên cần phải quy định cho người học nhất thiếtphải thực hiện đủ một số lượng trạm có nội dung tự chọn nào đó, tùy theotừng chủ đề bài học
+ Trạm bắt buộc: Trên trạm bắt buộc có các nội dung kiến thức, bắtbuộc, trọng tâm của bài học Trạm bắt buộc sẽ hình thành cho người học cáckiến thức và kĩ năng tối thiểu của bài
Trang 26- Phân loại các trạm theo phương tiện dạy học.
+ Trạm có sử dụng máy tính: Các trạm này cần đến máy vi tính để hỗ
trợ quá trình học tập, xem tranh, ảnh, video, tạo các thí nghiệm ảo, máy vitính kết nối với các thí nghiệm,…
+ Trạm thí nghiệm truyền thống: Đó là các trạm có sử dụng thí nghiệmthật, thường là các trạm kiểm tra các giả thuyết
- Phân loại theo vai trò của các trạm
+ Trạm luyện tập, củng cố: Trên các trạm này có các nhiệm vụ dạngcác bài tập trắc nghiệm, HS chỉ cần dùng các kiến thức đã được học ở bàitrước hoặc kiến thức thu được ở ngay các trạm khác để thực hiện
+ Trạm xây dựng kiến thức mới: Xây dựng kiến thức mới là việc rấtkhó thực hiện trong dạy học theo trạm Đây là một điểm hạn chế của hìnhthức dạy học này
- Phân loại theo hình thức làm việc
+ Trạm cá nhân: Trong trạm này, học sinh thực hiện nhiệm vụ trong
trạm một cách độc lập
+ Trạm làm việc theo nhóm: Hình thức làm việc trên mỗi trạm thường
là theo nhóm nhỏ, tuy nhiên có thể xây dựng các trạm dành riêng cho cá nhânnhằm kiểm tra, phát triển các kĩ năng cho từng cá nhân riêng biệt Ví dụ, khihình thành các trạm của bài Mắt Để đo những khả năng riêng của mắt, ngoàikiến thức bài học thì có thể xây dựng thêm các trạm: Phản ứng màu sắc củamắt, khả năng nhìn không gian của mắt để nhìn các ảnh không gian sâu bachiều, khả năng liếc của mắt, để cho cá nhân thực hiện
* Vai trò của học sinh trong dạy học theo trạm
- Học sinh đóng vai trò là người chủ
- Học sinh quyết định tới hoạt động của trạm
- Học sinh phải tự lực đề xuất phương pháp, tổ chức, tham gia hoạtđộng của trạm;
Trang 27Nói cách khác học sinh là trung tâm của lớp, hoạt động học là hoạtđộng chủ đạo của lớp học Những kết luận học sinh đưa ra mang màu sắcriêng của các em không có sự gò ép của giáo viên, những kết luận của cảnhóm thường được mỗi em nêu lên, thông qua sự trao đổi, tranh luận của cảnhóm; vai trò của giáo viên trong suốt quá trình hoạt động của trạm là rất ít.
* Vai trò của giáo viên
- Sau khi giáo viên giới thiệu các trạm và cung cấp đầy đủ tài liệu họctập cho các trạm thì dành thời gian học sinh hoạt động một cách độc lập, cho
ra sáng kiến riêng, cách làm riêng
- Giáo viên chuẩn bị vật liệu ở các trạm là các thí nghiệm, tranh ảnh,video, máy vi tính, Internet, các tài liệu giáo khoa,…
- Giáo viên là người theo dõi hoạt động của cả lớp, bổ xung các tài liệucần thiết cho học sinh cho phù hợp để học sinh có thể thực hiện được nhiệm
vụ một cách hoàn toàn độc lập
- Những vấn đề nảy sinh trong khi học sẽ được giáo viên giải quyết kịpthời, hỗ trợ đúng lúc, đúng mức và đúng đối tượng học sinh
1.3.3.4 Phương pháp dạy học theo góc
* Khái niệm dạy học theo góc
Học theo góc là một hình thức tổ chức hoạt động học tập theo đó người
học thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại vị trí cụ thể trong không gian lớphọc, đáp ứng nhiều phong cách học khác nhau
Học theo góc người học được lựa chọn hoạt động và phong cách học:
cơ hội “Khám phá”, “Thực hành”; cơ hội mở rộng, phát triển, sáng tạo; cơ hộiđọc hiểu các nhiệm vụ và hướng dẫn bằng văn bản của người dạy; cơ hội cánhân tự áp dụng và trải nghiệm Do vậy, học theo góc kích thích người họctích cực thông qua hoạt động; Mở rộng sự tham gia, nâng cao hứng thú vàcảm giác thoải mái, đảm bảo học sâu, hiệu quả bền vững, tương tác mang tính
cá nhân cao giữa thầy và trò, tránh tình trạng người học phải chờ đợi
Trang 28Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, tôi đồng tình với khái niệm: Dạy học
theo góc là một hình thức tổ chức hoạt động học tập theo đó người học thực
hiện các nhiệm vụ khác nhau tại vị trí cụ thể trong không gian lớp học nhưngcùng hướng tới chiếm lĩnh một nội dung học tập theo các phong cách họckhác nhau [27, tr 226]
* Mục tiêu của dạy học theo góc là khai thác và sử dụng các chức năngcủa bán cầu não trái và bán cầu não phải
- Phù hợp với các phong cách học khác nhau của học sinh Mỗi họcsinh có một khả năng phù hợp với một cách học nào đó: em thì có khả năngphân tích, em có khả năng quan sát và rút ra kết luận, em có khả năng họcthực hành, em có khả năng theo hướng lập luận lô-gic… Bằng việc thiết kếcác góc học có hướng tiếp cận kiến thức khác nhau giáo viên đã huy độngđược các em tham gia vào học tập theo các phong cách khác nhau
- Đảm bảo cho học sinh học sâu, học thoải mái Vì được học với phongcách phù hợp với năng lực, sở thích, sở trường của cá nhân ở một góc nào đónên học sinh có thể học sâu, học kỹ và cảm thấy thoải mái hơn
- Phát huy tính tích cực của học sinh Học sinh cảm thấy thoải mái vớigóc mình lựa chọn, thấy kiến thức môn học là phù hợp với bản thân nên tíchcực học tập hơn
- Thúc đẩy phát triển năng lực của học sinh như: khả năng quan sátphản ánh; khả năng phân tích và suy ngẫm; khả năng vận dụng
* Các nội dung có thể tổ chức dạy học theo góc
Trong nội dung vật lí phổ thông, các loại kiến thức sau có thể tổ chứcdạy học theo góc một cách thuận lợi:
- Kiến thức về định luật vật lí (vừa rút ra được từ con đường thựcnghiệm vừa xây dựng được bằng con đường suy luận lí thuyết)
- Kiến thức về những ứng dụng kĩ thuật của vật lí
- Những kiến thức khác trong chương trình vật lí có sự hỗ trợ đắc lựccủa công nghệ thông tin (như các phần mềm dạy học)
Trang 29* Vai trò của học sinh
- Được lựa chọn và tham gia tích cực vào các hoạt động khám phá cácnhiệm vụ tại các góc do giáo viên thiết kế và tổ chức theo phong cách học củamình để tự phát triển năng lực cá nhân, năng lực hợp tác trong nhóm
- Trình bày kết quả học tập của mình (hay nhóm) trước tập thể lớp, traođổi thảo luận với bạn, tự đánh giá và đánh giá học sinh khác
- Công tác, phân công làm việc hiệu quả trong nhóm nếu nhiệm vụ tạigóc thực hiện theo nhóm
* Vai trò của giáo viên
- Giáo viên không dạy nội dung cần học theo cách truyền thống
- Từ khung chương trình ban hành giáo viên cần biết lựa chọn nộidung/chủ đề để có thể tổ chức dạy học theo góc đáp ứng sự đa dạng trong họctập của học sinh
- Tạo môi trường học tập thân thiện, phong phú, đa dạng và có sựtương tác tích cực giữa giáo viên với học sinh và giữa học sinh với học sinh
- Là người thiết kế, tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, hỗ trợ, phản hồi,tạo các cơ hội để học sinh khám phá và trải nghiệm thành công và là ngườithể chế hóa kiến thức
1.4 Phân tích thực trạng về tính tích cực của học sinh THPT giai đoạn gần đây
1.4.1 Hiện trạng về tính tích cực của học sinh Việt Nam sau năm 2000
1.4.1.1 Điều kiện xã hội ảnh hướng đến tính tích cực của học sinh
* Mặt tích cực
- Sự bùng nổ của các phương tiện viễn thông và Internet đã tạo ra một
nguồn tài nguyên thông tin và tri thức vô cùng rộng lớn và quí giá Internet đã
có tại Việt Nam từ năm 1997 được đánh dấu là ngày 01/12/1997 với dịch vụInternet đầu tiên, nhưng phải đến những năm đầu của thế kỷ 21 thì các loạidịch vụ Internet mới thực sự thịnh hành tại các tỉnh thành Việc có mặt của
Trang 30Internet cùng với các trang mạng đã đưa vào Việt Nam một nguồn thông tin,trí thức vô cùng dồi dào và rộng lớn
- Nhà nước nhận định được sự lạc hậu của các phương pháp dạy học cổtruyền nên đã có chỉ đạo điều chỉnh và cải tiến phương pháp dạy Xác định lạivai trò của thầy và của trò Đặt học sinh vào vị trí “trung tâm” của lớp học
- Giáo viên có trình độ cao hơn trước có khả năng vận dụng nhiềuphương pháp dạy học tiên tiến trên thế giới Bộ giáo dục đào tạo có nhiềuchương trình đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên nêntrình độ của giáo viên được tăng cường, giáo viên được học và tiếp cận vớinhiều phương pháp và công nghệ dạy học tiên tiến trên thế giới và chọnnhững phương pháp phù hợp với hoàn cảnh trường lớp để vận dụng
- Các tổ chức cộng đồng cũng đưa vào xã hội những chương trình hay,hấp dẫn, phù hợp tạo điều kiện cho học sinh tham gia và tự khẳng định mình.Nhiều chương trình giáo dục được các tổ chức đưa vào nhằm quảng cáo, thuhút, kích thích thị hiếu của học sinh và phụ huynh
- Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa hội nhập đã thúc đẩy nhiều bạntrẻ (có cả những em còn là học sinh) tham gia, và sớm đã có nhiều biểu hiệntích cực Nhiều học sinh sinh viên đã biết mang hiểu biết của bản thân ra vậndụng vào quá trình làm kinh tế nên đã thu được nhiều thành công
* Mặt tiêu cực
- Tồn tại một lực lượng giáo viên chậm đổi mới, có phương pháp dạyhọc truyền thống, không gây hứng thú cho học sinh Trong nước vẫn còn mộtlực lượng lớn các giáo viên không tích cực học tập thêm các phương phápmới, khả năng sử dụng tin học có hạn Những giáo viên này thường là nhữnggiáo viên lớn tuổi tự cho mình không còn phù hợp để học tập thêm, hoặc lànhững giáo viên dạy các môn xã hội vì cho rằng công nghệ mới không cầnthiết trong truyền thụ; vì vậy họ thường dạy học theo các phương pháp dạyhọc truyền thống bị lỗi thời
Trang 31- Sự ra đời và phát triển của các công ty game mạng được các em họcsinh khai thác một cách bừa bãi, đặc biệt là về mặt thời gian, dẫn đến ảnhhưởng tới kết quả học tập Hiện tượng học sinh dành nhiều thời gian chơigame đáng báo động, có những em học sinh dành một số thời gian quá nhiềutại các quán game hoặc để chơi game tại nhà; nhiều em học sinh không đếntrường mà lại góp mặt tại các quán game trong cả thời gian học chính thức vàhọc phụ đạo; học sinh nói dối để chơi game là những biểu hiện mang tính tiêucực của giới trẻ hiện nay.
- Kinh tế thị trường cùng với sự du nhập của nhiều lối sống không thực
sự tốt làm cho học sinh coi nhẹ việc học hành Lối sống vui chơi, hưởng thụ
đã du nhập vào trong nước biểu hiện theo nhiều con đường: dành nhiều thờigian để trang điểm, chăm sóc sắc đẹp, đi mua sắm; dành nhiều thời gian để tụtập bạn bè, băng nhóm; dành nhiều thời gian để giao du, chơi bời, gặp gỡ bạnbè; dành nhiều thời gian quá mức cho các công nghệ giải trí…
- Sự thay đổi về mặt tư tưởng trong xã hội cũng làm cho nhiều học sinh
có suy nghĩ và hành động tiêu cực như bỏ học, ăn chơi, tự tử… Sự thiếu quantâm của cha mẹ tới giới trẻ cũng là một nguyên nhân cho hiện tượng này;quan niệm của người lớn về giáo dục thay đổi làm cho các em cũng có nhữngquan điểm lệch lạc về giáo dục; không chỉ thế hình tượng người giáo viêncũng đã mất đi sự cao quí vốn có, nhiều người quan niệm giáo viên không còn
là tấm gương sáng trong việc rèn luyện đạo đức, lối sống cho học sinh nữa…
- Việc bỏ đi kì thi đầu ra cấp học THCS cũng ảnh hưởng tới không íthọc sinh Mất kì thi đầu ra ở cấp THCS làm cho nhiều học sinh ở bậc học này
tự tạo cho mình cách học tập đối phó ở các môn không có trong kỳ thi vào 10.Các em tập trung vào học tập các môn Văn và Toán, bỏ bẵng các môn còn lại
- Bộ sách giáo khoa hiện hành chưa có sự đổi mới về chất, trên thực tếvẫn nặng về lý thuyết
1.4.1.2 Đánh giá tính tích cực của học sinh Việt Nam sau năm 2000
* Mặt được
Trang 32- Các em đã biết sử dụng những phương tiện hiện đại để phục vụ choviệc học ở nhà và cả ở trường Sự ra đời của máy vi tính và mạng Internet đãđưa tới cho các em học sinh một phương pháp học tập mới Trang tra cứuthông tin Google.com đã tạo ra một thư viện điện tử lớn trên phạm vi toàn thếgiới, qua việc tra cứu từ máy vi tính, hoặc từ điện thoại thông minh đã thunhận được kiến thức một cách đầy đủ
- Các em biết đưa các kiến thức vào trong nhiều chương trình để bànluận Các hoạt động phong trào của nhà trường, của Đoàn thanh niên cũng tậptrung vào học tập, nhiều diễn đàn được xây dựng để các em có thể bàn luận
về kiến thức và phương pháp học tập trên đó Qua những diễn đàn, hội thảo
đó đã có những ý kiến độc đáo và sáng tạo mang dấu ấn riêng của học sinh.Phần lớn các em tỏ ra năng động, hiểu biết trong các chương trình của họcsinh trong cả nước
- Có nhiều công trình khoa học hay được làm từ phía các em học sinh,sinh viên như công trình của em Phan Trí Hòa sinh viên trường Đại học Khoahọc Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội; nhóm tác giả La Ngọc Điệp (CN),Phùng Quốc Danh, Lê Thị Thu Vân, Nguyễn Thị Ngọc Giàu khoa Sử trườngĐại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; Đoàn ThịThanh Vinh trường Đại học Quốc tế TP Hồ Chí Minh…
- Khả năng tự giải quyết các vấn đề khó của các em ngày càng tốt hơn.Với yêu cầu của các đề thi ngày càng cao, đề thi tốt nghiệp và thi đại học với
số lượng nhiều câu hỏi trắc nghiệm nhưng thời gian giải quyết lại ngắn, đểđáp ứng được, nhiều học sinh đã tự trau dồi kĩ năng giải quyết được nhiều vấn
đề khó
- Các đội tuyển học sinh giỏi, đội tuyển sáng tạo Robocon cũng đạt giảicao hơn trong những năm gần đây Cuộc thi Robocon được truyền hình trêncác kênh của VTV cho thấy, kết quả của đoàn Việt Nam ngày một tốt hơn, tạonên phong trào học tập, nghiên cứu khoa học công nghệ ngày càng mạnh mẽhơn trong học sinh và sinh viên
Trang 33* Mặt chưa được
- Một bộ phận đông các bạn học sinh không tu dưỡng đạo đức đã coinhẹ tầm quan trọng của trí thức, không chăm chỉ học tập, tham gia các băngnhóm, hoặc nhiều ngành nghề phạm pháp; sống thực dụng và coi trọng đồngtiền
- Một số không ít học sinh dành nhiều thời gian tham gia các công tác
xã hội mải miết với các chương trình mà quên đi kiến thức cơ bản nên dẫnđến chán nản việc học kiến thức khoa học; không có nền tảng kiến thức nênnội dung việc làm không có chiều sâu
- Một số khác thì lại mất quá nhiều thời gian tham gia vào các trò chơiđiện tử, trò chơi trực tuyến dẫn đến chỉ nhớ nội dung các game mà quên kiếnthức; nhiều hiện tượng không tốt xảy ra
- Một số thấy việc học ngày một khó khăn và nặng nhọc hơn nên buôngsuôi, học trống đối để ra xin việc thế là xong
- Học sinh bỏ học tham gia vào các ngành nghề để kiếm tiền…
1.4.2 Nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực của học sinh
Trang 34- Lượng bài tập trong sách giáo khoa và sách bài tập ban hành chưa đủ
và chưa sát với yêu cầu
1.5 Phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập vật lý
1.5.1 Thông qua đổi mới phương pháp dạy học
Để phát huy được tính tích cực của học sinh nhiều giáo viên đã lựachọn con đường đổi mới phương pháp giảng dạy của mình các phương phápdạy học tích cực (mà được một số giáo viên gọi là phương pháp giảng dạy cảitiến) được đưa vào trong trường học Do đó vai trò của thầy và trò có sự thayđổi, từ việc dạy học đề cao vai trò của người dạy đến nay tư tưởng chỉ đạo làdạy học đề cao vai trò của người học
1.5.2.Thông qua đổi mới nội dung bài tập
Ý thức được vai trò lớn lao của bài tập, nhiều thầy cô đã mạnh dạn đổimới nội dung của bài tập nhằm phát huy tối đa tính tích cực của học sinh Cácbài tập không chỉ tập trung vào một số mục tiêu là ôn luyện, đào sâu kiếnthức, hay để dẫn dắt bài như đã từng diễn ra trước đây nữa, mà còn giúp họcsinh có được hứng thú trong công việc học tập qua đó phát huy được tính tíchcực của cá nhân Để làm được như vậy các giáo viên đã thực hiện việc thayđổi điều kiện và yêu cầu của đề bài như sau:
- Các điều kiện đề ra trong bài lấy từ kết quả bài thực hành
- Các điều kiện đề ra trong bài lấy từ sự thật trong cuộc sống mà giáoviên đã trải nghiệm, hoặc chứng kiến
- Các điều kiện đề ra trong bài lấy từ những tư liệu lịch sử
- Các điều kiện trong bài do học sinh đo đạc và đề ra
- Các điều kiện trong bài do học sinh bắt gặp trong đời sống
Trang 35- Các yêu cầu trong bài là những yêu cầu bắt gặp trong cuộc sống hàngngày của học sinh và người thân
- Các yêu cầu trong bài tính toán cho những vật dụng thông thường cótrong gia đình của học sinh
- Các yêu cầu trong bài là những hoạt động vui chơi gắn liền với cácvật dụng có nguyên lý hoạt động dựa trên các hiện tượng vật lí
- Các yêu cầu trong bài liên quan tới các hoạt động tìm kiếm, sưu tầm,
và chế tạo mô hình các vật dụng liên quan tới các nguyên lý vật lí
Trang 36CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI HỆ THỐNG BÀI TẬP NÂNG CAO NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH KHI HỌC CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” VẬT LÍ LỚP 11 2.1 Cấu trúc nội dung và vị trí chương “Dòng điện không đổi” trong chương trình vật lí lớp 11 nâng cao
2.1.1 Sơ đồ cấu trúc nội dung
Nội dung của chương 2 – Dòng điện không đổi có cấu trúc như sau:
Sơ đồ cấu trúc nội dung chương II – Dòng điện không đổi
Thuyết trình qua về nội dung của chương “dòng điện không đổi”.Trong chương ta xét hai thành phần bộ phận là các thiết bị điện và các địnhluật chi phối tới nội dung Trong các thiết bị điện ta xét tới các thiết bị nhưnguồn điện, điện trở (bóng đèn), các máy đo (vôn kế, ampe kế), các thiết bịnhư cuộn dây và tụ điện không được kể đến ở đây Các thiết bị này được bốtrí trong các loại mạch điện và đoạn mạch khác nhau Trong chương ta nghiêncứu hai định luật là định luật Ôm và định luật Jun-Lenxơ Hai định luật này códạng thức khác nhau trong các loại mạch điện khác nhau
CHƯƠNG 2 - DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI
LINH KIỆN VÀ DỤNG CỤ CÁC ĐỊNH LUẬT
Máy đo(V, A)
Điện trở(R, Đ)
Nguồn
điện
()
Định luật Ôm
Định luật Jun– Len xơ
Các loại mạch điện và đoạn mạch
Trang 372.1.2 Vị trí vai trò của chương “Dòng điện không đổi” trong chương trình vật lí lớp 11 nâng cao
- Chương “Dòng điện không đổi” kế tiếp chương “Điện tích điệntrường” mở ra thêm những mảng kiến thức mới của phần điện học như: vềnguồn điện, suất điện động, dòng điện, cường độ dòng điện, điện trở, vật dẫnđiện, vật cách điện…
- Mở đầu cho việc nghiên cứu về sự chuyển động của điện tích trongcác vật Trong chương, ta nghiên cứu tới sự chuyển động của các điện tíchdưới tác dụng của điện trượng, chủ yếu là electron
- Đặt nền tảng kiến thức để nghiên cứu về dòng điện trong các môitrường, từ trường, dòng điện xoay chiều, sóng điện từ… sau này
2.2 Mục tiêu kiến thức, kĩ năng cần đạt qua việc giảng dạy chương
“Dòng điện không đổi”
2.2.1 Nội dung kiến thức học sinh cần đạt được sau khi học chương
“Dòng điện không đổi”
2.2.1.1 Dòng điện và tác dụng của dòng điện
Học sinh phải:
- Nêu được nội dung định nghĩa dòng điện
- Nêu được 5 tác dụng cơ bản của dòng điện: tác dụng nhiệt, tác dụng
từ, tác dụng quang, tác dụng hóa học, tác dụng sinh học
- Viết được dạng thức định luật Ôm cho các đoạn mạch chỉ có R
- Vẽ được đặc tuyến Vôn – Ampe cho các mạch điện
- Khai thác đặc tuyến Vôn – Ampe
Trang 382.2.1.4 Nguồn điện
Học sinh phải vẽ được mô hình cấu tạo của hai loại pin là : pin vôn-ta
và pin lơclăngxê
2.2.1.5 Điện năng, định luật Jun – Lenxơ
- Học sinh phải phát biểu và viết được công thức định luật Jun-Lenxơ
2.2.1.6 Định luật Ôm với toàn mạch, hiệu suất
- Học sinh viết được công thức của Định luật Ôm với toán mạch, xây
dựng được công thức tính hiệu suất
2.2.1.7 Định luật Ôm với các loại đoạn mạch, ghép nguồn thành bộ
Học sinh nêu được công thức của định luật Ôm với các loại đoạn mạchchứa nguồn và máy thu Nêu được công thức tính suất điện động và điện trởcủa bộ nguồn song song, nối tiếp, hỗn hợp
2.2.2 Nội dung kỹ năng học sinh cần đạt được sau khi học chương “Dòng điện không đổi”
2.2.2.1 Kỹ năng suy luận lý thuyết
- Xây dựng định luật Ôm cho toàn mạch từ định luật Ôm, định luật Lenxơ và định luật bảo toàn năng lượng Nêu được sự thống nhất giữa địnhluật bảo toàn năng lượng với định luật Ôm
Jun Xây dựng định luật Ôm cho các loại đoạn mạch từ định luật Ôm chotoàn mạch và định luật Ôm cho đoạn mạch chỉ có điện trở R
2.2.2.2 Kỹ năng vận dụng kiến thức
- Vận dụng vào tính vận tốc chuyển động của điện tích trong dây dẫnkhi có dòng điện chạy qua Giải các bài tập liên quan tới mật độ electron tự do
và chuyển động có hướng của điện tích
- Vận dụng 5 tác dụng cơ bản vào giải thích hoạt động của các thiết bịđiện: bóng đèn dây tóc, bóng đèn huynh quang, máy sạc ác quy, bình điệnphân, thiết bị châm cứu…
2.2.2.3 Kỹ năng về thí nghiệm
- Thiết kế các thí nghiệm để vẽ đặc tuyến Vôn – Ampe
Trang 39- Thiết kế thí nghiệm đo suất điện động và điện trở trong của nguồnđiện hóa học.
- Thiết kế các thí nghiệm kiểm chứng nội dung các định luật Ôm vàđịnh luật Jun-Lenxơ
2.2.2.4 Kỹ năng liên hệ thực tiễn
- Giải thích các hiện tượng điện thường gặp trong thực tiễn: hoạt độngcủa bếp điện, đèn điện, quạt điện, các thiết bị y học liên quan…
- Phương án để giảm hao phí điện năng
2.3 Xây dựng và hướng dẫn giải hệ thống bài tập chương “Dòng điện không đổi” thuộc chương trình Vật lý 11 nâng cao
Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận và nội dung kiến thức của chương.Đồng thời dựa trên đề thi học sinh giỏi môn Vật lý qua các năm và kinhnghiệm của bản thân và đồng nghiệp, tôi xây dựng hệ thống bài tập gồm 40bài tập theo bốn chủ đề:
- Định nghĩa dòng điện, cường độ dòng điện: 8 bài
- Bài tập về định luật Ôm và điện trở tương đương: 10 bài
- Bài tập về công của dòng điện và nguồn điện: 8 bài
- Bài tập về định luật Ôm cho toàn mạch: 9 bài
- Bài tập về định luật Ôm cho các loại đoạn mạch, ghép nguồn thànhbộ: 5 bài
2.3.1 Bài tập về định nghĩa dòng điện, cường độ dòng điện
Bài 1 Cho một dòng điện không đổi chạy qua dây dẫn đường kính 1,5mm
trong thời gian 10 s có một điện lượng 1,6 C chạy qua tiết diện của dây dẫn
Trang 40a) Vận dụng kiến thức định nghĩa cường độ dòng điện:
1,60,16( )10
0,16
10 ( )1,6.10
Dân số Hà Nội có khoảng 7.106, giả sử mỗi người dân Hà Nội hàngngày đều đi qua phố Khâm Thiên thì với mật độ tính được ở trên đủ để chotoàn bộ dân cư trong thành phố Hà Nội mỗi người đi lại qua phố Khâm Thiênkhoảng 1,4.1011 lần, tức khoảng hàng trăm tỷ lần Từ so sánh trên thấy được
số electron đi qua tiết diện thẳng của một dây dẫn trong 1 giây là rất lớn mặc
dù dòng điện ở đây là dòng nhỏ (0,16A)
Bài 2 Một dòng điện không đổi có cường độ 1,6 mA chạy trong dây dẫn.
Tính số eletron chuyển qua tiết diện thẳng của dây dẫn trong thời gian 0,1s
, sau đó suy ra công thức tính điện lượng dịch chuyển là: q I t . :
Điện lượng dịch chuyển qua dây dẫn trong thời gian 1 giờ là: