1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn quản trị xuất nhập khẩu tìm hiểu về công ước viên 1980 CISG

43 998 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các Điều 74, 75, 76, 77, 78 của CISG là những điều khoản được dẫn chiếu đến rất nhiều trong các án lệ áp dụng CISG, vì các điều khoản này quy định rất chi tiết về một biện pháp được áp d

Trang 1

TÌM HIỂU VỀ CÔNG ƯỚC VIÊN 1980

LÊ PHAN KHẮC SANH

MAI QUỲNH HOA

TRẦN THỊ LỆ XUÂN

GVHD: Ths NGÔ THỊ HẢI XUÂN

Trang 2

MỤC LỤC

I PHẦN MỞ ĐẦU 2

II GIỚI THIỆU CHUNG 2

1 Mục đích của CISG: 3

2 Tóm Tắt Nội Dung 4

III PHÂN TÍCH MỘT SỐ ĐỀ QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN (CISG) 7

1 Chương 1: Phạm vi áp dụng 7

1.1 CISG được áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong trường hợp nào? 7

1.2 CISG không được áp dụng trong trường hợp nào? 8

1.3 Một số lưu ý khác: 8

2 Chương 2: Quy định pháp lý của CISG 8

2.1 Ký kết hợp đồng 8

2.2 Hình thức của hợp đồng 9

2.3 Việc sửa đổi hợp đồng 9

2.4 Chào hàng 9

2.5 Chấp nhận chào hàng có hiệu lực 10

2.6 Hủy bỏ chào hàng 13

2.7 Ký kết hợp đồng 13

3 Chương 3: Nghĩa vụ và trách nhiệm của bên bán 15

3.1 Giao hàng 15

3.2 Nghĩa vụ giao chứng từ kèm theo hàng hóa 20

3.3 Bảo quản hàng hóa 20

3.4 Thời điểm chuyển rủi ro thành công 21

4 Chương 4: Nghĩa Vụ Và Trách Nhiệm Của Bên Mua 23

5 Chương 5: Biện pháp khi các bên vi phạm hợp đồng 28

5.1 Buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng 28

5.2 Yêu cầu bồi thường thiệt hại 30

5.3 Hủy hợp đồng 33

IV KẾT LUẬN 39

Trang 3

I PHẦN MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh Việt Nam đang trên đường hội nhập vào kinh tế toàn cầu ngày càng mạnh mẽ, thương mại hàng hóa luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế Nhằm thúc đẩy sự gia tăng của thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và các nước, bên cạnh việc đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương với các nước trên thế giới Ngày 18/12/2015 vừa qua, Việt Nam cũng

đã chính thức phê duyệt việc gia nhập Công ước viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liện hiệp quốc (“CISG”) để trở thành thành viên thứ 84 của công ước này Việc gia nhập CISG đã đánh dấu một mốc mới trong quá trình tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương về thương mại, tăng cường mức độ hội nhập của Việt Nam, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế và cho các doanh nghiệp Việt Nam một khung pháp lý hiện đại, công bằng và an toàn để thực hiện hợp mua bán hàng hóa quốc tế

Công ước sẽ chính thức có hiệu lực ràng buộc tại Việt Nam từ ngày 01/01/2017 Tuy nhiên, tầm quan trọng của Công ước Viên 1980 vẫn chưa được tìm hiểu và đánh giá đúng mức ở các doanh nghiệp Việt Nam Hiện nay, ngoài các bài giới thiệu chung về Công ước Viên của VCCI, có rất ít các bài nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn về quy định của Công ước Viên 1980

Vì vậy, sau khi tìm hiều qua công ước, bằng sự hiểu biết của mình, trong phạm vi một bài tiểu luận, chúng tôi xin được giới thiệu sơ lược về Công ước viên 1980 và đưa ra phân tích ngắn một số quy định cần lưu ý cũng như làm nổi bật tinh thần của Công ước viên trong thương mại hàng hóa quốc tế giữa Việt Nam và thế giới

II.GIỚI THIỆU CHUNG

Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

(viết tắt theo tiếng Anh là CISG- Convention on Contracts for the International Sale of Goods) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong một nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Trang 4

Được soạn thảo dựa trên các điều khoản của hai Công ước La Haye 1964 , song Công ước Viên 1980 có những điểm đổi mới và hoàn thiện cơ bản Công ước này được thông qua tại Viên (Áo) ngày 11 tháng 04 năm 1980 trong Hội nghị của Ủy ban của Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế với sự có mặt của đại diện của khoảng 60 quốc gia

và 8 tổ chức quốc tế CISG có hiệu lực từ ngày 01/01/1988 (khi có 10 quốc gia phê chuẩn, theo Điều 99 của Công ước)

BẢNG 84 NƯỚC THÀNH VIÊN CỦA CISG - tính đến 18/12/2015

(nguồn: http://www.uncitral.org/uncitral/en/uncitral_texts/sale_goods/1980CISG.html)

1 Mục đích của CISG:

Mục đích của CISG là tạo thuận lợi và hiệu quả cho việc mua bán nguyên liệu thô, hàng tiêu dùng, hàng chế tạo trong thương mại quốc tế Nếu không có Công ước sẽ có nhiều nguy cơ dẫn đến sự không chắc chắn và các tranh chấp Luật mua bán hàng hóa ở các nước khác nhau thì thường là khác nhau Trong giao dịch quốc tế, thường xảy ra vướng mắc về vấn đề luật nước nào sẽ điều chỉnh Khi vướng mắc này xảy ra, các bên sẽ không chắc chắn về quyền và nghĩa vụ của mình Sự không chắc chắn này tạo nên sự không hiệu quả và ý chí không tốt

CISG chứa đựng các quy tắc điều chỉnh quá trình tạo lập và giải thích hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Nó cũng cung cấp các quy tắc điều chỉnh nghĩa vụ và các biện pháp khắc phục của các bên trong giao dịch nói trên

Trang 5

CISG không hạn chế sự tự do của người bán và người mua trong việc soạn thảo hợp đồng cho phù hợp với điều kiện của họ Nhìn chung, ta được tự do sửa đổi các quy tắc của Công ước hoặc chấp nhận có áp dụng Công ước hay không

2 Tóm Tắt Nội Dung

Công ước Viên 1980 (gọi là CISG) gồm 101 Điều, được chia làm 4 phần với các nội dung chính sau:

Phần 1: Phạm vi áp dụng và các quy định chung (Điều 1- 13)

Phần này quy định trường hợp nào CISG được áp dụng (từ Điều 1 đến Điều 6), đồng thời nêu rõ nguyên tắc trong việc áp dụng CISG, nguyên tắc diễn giải các tuyên bố, hành

vi và xử sự của các bên, nguyên tắc tự do về hình thức của hợp đồng Công ước cũng nhấn mạnh đến giá trị của tập quán trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế

Về vấn đề xác lập hợp đồng mua bán, CISG thừa nhận quy tắc Chào hàng – Chấp nhận chào hàng (offer-acceptance rule) Công ước quy định một thư chào giá phải được gửi đến một hay một số người cụ thể, xác định và miêu tả đầy đủ về hàng hóa, số lượng, giá cả Thư chào hàng có thể được thu hồi nếu thư thu hồi đến khách hàng trước hoặc cùng lúc với thư chào hàng, hoặc trước khi khách hàng gửi lại thư chấp thuận Bất kỳ sự thay đổi nào với thư chào hàng ban đầu đều được xem như sự từ chối thư chào hàng trừ

Trang 6

phi các điều khoản sửa chữa không làm thay đổi những điều khoản thiết yếu của thư chào

hàng

Phần 3: Mua bán hàng hóa (Điều 25 - 88)

Với tên gọi là “mua bán hàng hóa”, nội dung của phần 3 này là các vấn đề pháp lý trong quá trình thực hiện HĐ Phần này được chia thành 5 chương với những nội dung cơ bản như sau:

Chương I: Những quy định chung

Chương II: Nghĩa vụ của người bán

Chương III: Nghĩa vụ của người mua

Chương IV: Chuyển rủi ro

Chương V: Các điều khoản chung về nghĩa vụ của người bán và người mua

Đây là chương có số lượng điều khoản lớn nhất, cũng là chương chứa đựng những quy phạm hiện đại, tạo nên ưu việt của CISG Nghĩa vụ của người bán và người mua được quy định chi tiết, trong hai chương riêng, giúp cho việc đọc và tra cứu của các thương nhân trở nên dễ dàng Về nghĩa vụ của người bán, Công ước quy định rất rõ nghĩa

vụ giao hàng và chuyển giao chứng từ, đặc biệt là nghĩa vụ đảm bảo tính phù hợp của hàng hóa được giao (về mặt thực tế cũng như về mặt pháp lý) Công ước nhấn mạnh đến việc kiểm tra hàng hóa được giao (thời hạn kiểm tra, thời hạn thông báo các khiếm khuyết của hàng hóa) Những quy định này rất phù hợp với thực tiễn và đã góp phần giải quyết có hiệu quả các tranh chấp phát sinh có liên quan Nghĩa vụ của người mua, gồm nghĩa vụ thanh toán và nghĩa vụ nhận hàng, được quy định tại các điều từ Điều 53 đến Điều 60

Công ước Viên 1980 không có một chương riêng về vi phạm hợp đồng và chế tài do

vi phạm hợp đồng Các nội dung này được lồng ghép trong chương II, chương III và chương V Trong chương II và chương III, sau khi nêu các nghĩa vụ của người bán và người mua, Công ước Viên 1980 đề cập đến các biện pháp áp dụng trong trường hợp người bán/người mua vi phạm hợp đồng Cách sắp xếp điều khoản như vậy, một mặt, làm cho việc tra cứu rất thuận lợi; mặt khác, cho thấy được tinh thần của các nhà soạn thảo

Trang 7

CISG là tạo ra sự bình đẳng về mặt pháp lý cho người bán và người mua trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Các biện pháp mà Công ước cho phép người bán và người mua áp dụng khi một bên

vi phạm hợp đồng bao gồm buộc thực hiện đúng hợp đồng, đòi bồi thường thiệt hại, hủy hợp đồng

Ngoài ra còn có một số biện pháp không có tính chất chế tài hoặc nhằm mục đích trừng phạt bên vi phạm, ví dụ biện pháp giảm giá (Điều 50), biện pháp bên bị vi phạm gia hạn thời hạn thực hiện nghĩa vụ để tạo điều kiện cho bên vi phạm tiếp tục thực hiện hợp đồng (Điều 47 khoản 1 và Điều 63 khoản 1) hay những biện pháp mà bên vi phạm có thể đưa ra nhằm khắc phục những thiệt hại do hành vi vi phạm của mình gây ra (Điều 48 khoản 1) Công ước cũng quy định rõ trường hợp áp dụng các biện pháp cụ thể (ví dụ biện pháp hủy hợp đồng hay đòi thay thế hàng chỉ được áp dụng trong trường hợp vi phạm cơ bản- khái niệm vi phạm cơ bản được nêu tại Điều 25)

Chương V của Phần 3 quy định về vấn đề tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, vi phạm trước hợp đồng, việc áp dụng các biện pháp pháp lý trong trường hợp giao hàng từng phần, hủy hợp đồng khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ Các Điều 74, 75, 76,

77, 78 của CISG là những điều khoản được dẫn chiếu đến rất nhiều trong các án lệ áp dụng CISG, vì các điều khoản này quy định rất chi tiết về một biện pháp được áp dụng phổ biến nhất trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: đó là tính toán tiền bồi thường thiệt hại Các điều khoản khác trong chương này đề cập đến vấn

đề miễn trách, hậu quả của việc hủy hợp đồng và bảo quản hàng hóa trong trường hợp có tranh chấp

Phần 4: Các quy định cuối cùng (Điều 89 - 101)

Phần này quy định về các thủ tục để các quốc gia ký kết, phê chuẩn, gia nhập Công ước, các bảo lưu có thể áp dụng, thời điểm Công ước có hiệu lực và một số vấn đề khác mang tính chất thủ tục khi tham gia hay từ bỏ Công ước này

Trang 8

III PHÂN TÍCH MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN (CISG)

Thứ ba, hai bên tham gia không phải cả hai là thành viên của Công ước, ký kết hợp đồng có thỏa thuận áp dụng một số tập quán quốc tế như Incoterm và UCP của ICC, nhưng không có thỏa thuận luật áp dụng Khi vụ việc được đưa ra cơ quan giải quyết tranh chấp tại nước thành viên của Công ước Với trường hợp này trọng tài nhận định việc dẫn chiếu đến Incoterm, UCP cho thấy ý định của các bên là hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi các tập quán thương mại quốc tế Mà Công ước Viên được soạn thảo dựa trên các tập quán quốc tế và phản ánh các tập quán quốc tế thường được áp dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế

Ví dụ 1: Phán quyết trọng tài ICC số 8502 tháng 11/1996 xét xử tranh chấp giữa

người bán Việt Nam và người mua Pháp Hai bên đã thỏa thuận áp dụng Incoterms 1990

và UCP 500 của ICC Trọng tài nhận định rằng, việc các bên dẫn chiếu đến Incoterms và UCP cho thấy ý định của các bên là hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi các tập quán thương mại quốc tế Trọng tài đã quyết định áp dụng Công ước Viên do Công ước này được soạn thảo dựa trên các tập quán thương mại quốc tế và phản ánh các tập quán thường được áp dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế Phán quyết này cho thấy khi tranh chấp hợp

Trang 9

đồng mua bán hàng hóa quốc tế được giải quyết tại các quốc gia thành viên Công ước mà các bên không lựa chọn luật, đồng thời lại áp dụng các điều kiện cơ sở giao hàng Incoterms của ICC thì khả năng cơ quan xét xử áp dụng CISG là rất lớn (https://cisgvn.wordpress.com/2010/11/01/ )

Thứ nhất, không được áp dụng CISG để điều chỉnh một số giao dịch liên quan đến quy định của Điều 2, từ khoản (a,b,c,d,e,f) - mua bán hàng hóa tiêu dùng, hàng bán đấu giá, hoặc nhằm thực thi pháp luật hoặc quyền lực khác theo luật, và mua bán chứng khoán,

tàu thủy, máy bay, điện năng

Thứ hai, không được áp dụng để điều chỉnh tính hiệu lực của hợp đồng, sự tác động

có thể phát sinhtừ hợp đồng đối với quyền sở hữu hàng hóa đối tượng của hợp đồng mua

bán, trách nhiệm của người bán đối với thiệt hại mà hàng hóa gây ra cho bất kì người nào

Các quốc gia là thành viên của CISG có thể tồn tại những điểm khác nhau trong việc áp dụng CISG Công ước cho phép các quốc gia có quyền bảo lưu những điều khoản nhất

định nhằm phù hợp với pháp luật trong nước với điều kiện tuân thủ điều 12 CISG

Mọi quốc gia có thể tuyên bố, kho nộp văn bản phê chuẩn, chấp nhận, chuẩn y hay gia nhập rằng quốc gia đó sẽ không bị ràng buộc bởi các quy định tại đoạn b khoản 1 Điều thứ

nhất của công ước này

2 Chương 2: Quy định pháp lý của CISG

CISG đã đề cập đến hai hình thức phổ biến hiện nay trong thương mại hàng hóa quốc tế

Đó là ký kết hợp đồng giữa các bên có mặt trực tiếp tham gia ký và ký kết giữa các bên vắng mặt Có thể được hiểu như sau:

- Hình thức ký kết hợp đồng trực tiếp giữa các bên tham gia tại một thời gian và địa điểm được ấn định bởi các bên tham gia ký kết Mọi thỏa thuận chào hàng, hoàn giá

và các vấn đề liên quan tới điều khoản hợp đồng có thể được đàm phán trước thời gian này hoặc nếu có thể thay đổi bổ sung ngay tại thời điểm ký kết (nếu có)…hợp

Trang 10

đồng được xác lập ngay khi hai bên ký kết tại thời gian và không gian được ấn định trước

- Hình thức ký kết gián tiếp (hay còn gọi là ký kết giữa các bên vắng mặt) Theo hình thức này, các bên có thể sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc như thư điện tử (email), fax, thư chào hàng, …hoặc thậm chí là điện thoại để trao đổi đàm phán bày tỏ ý chí tự ràng buộc mình vào trong các hình thức chào hàng, hoàn giá,…hay các thỏa thuận khác thì hợp đồng được xác lập bởi sự phúc đáp có khuynh hướng chấp nhận các đề nghị chào hàng hay hoàn giá giũa các bên.Thời gian hợp đồng được xác lập ngay khi một bên nhận được phúc đáp của bên qua các hình thức thư tín thương mại hay ngôn ngữ nói (có người làm chứng hay chứng cứ chứng minh theo quy định của CISG) tại trụ sở thương mại của các bên, tại địa chỉ bưu chính hoặc nới thườn trú của các bên

Theo điều 11 của CISG thì hợp đồng không cần phải tuân thủ theo bất cứ yêu cầu nào về hình thức Hợp đồng có thể được chứng minh với bất cứ cách nào, kể cả nhân chứng Như vậy, các dạng để biểu hiện sự thỏa thuận mua bán của các bên rất là đa dạng:

Có thể giao kết hợp đồng bằng lời nói, bằng văn bản, bằng hành vi chấp thuận

Tuy nhiên, tại Điều 96 của Công ước quy định nếu luật một quốc gia thành

viên nào quy định hợp đồng, chào hàng hoặc chấp nhận chào hàng phải được kí kết dưới hình thức văn bản mới có giá trị thì quy định này phải được tôn trọng ngay cả khi một bên có trụ sở tại quốc gia này nếu quốc gia đó bảo lưu điều 11, 12, 29

Khoản 1 Điều 29 duy định rằng « một hợp đồng có thể được sửa đổi hay chấm dứt bằng thỏa thuận đơn thuần giữa các bên » Nhưng trong những trường hợp hai bên

không thể thỏa thuận với nhau được thì lúc này lại phải xem hợp đồng có chứa đựng những quy định về việc sửa đổi hay không thì các bên không thể chấm dứt

Trang 11

Chào hàng là hành vi đề nghị của một chủ thể đã thể hiện ý chí của mình cho nhiều người hoặc một người về việc ký kết hợp đồng, và sẵn sàng chịu mọi sự ràng buộc của mình vào sự chấp nhận nó CISG có quy định 02 loại chào hàng:

- Một đề nghị chào hàng được coi là đầy đủ và chính xác - có hiệu lực khi nó được nêu rõ về thông tin hàng hóa, số lượng hàng hóa, giá cả một cách trực tiếp hoặc gián tiêp của hàng hóa hoặc những cơ sở để xác định hiệu lực chấp nhận của chào hàng (theo điều 14 CISG), còn gọi là chào hàng cố định

- Một chào hàng chưa quy định trực tiếp, gián tiếp về giá cả theo Điều 55 CISG lại quy định về trường hợp đồng được kí kết hợp pháp nhưng không có ấn định giá thì

các bên được phép suy đoán rằng «giá sẽ được ấn định cho loại hàng hóa này khi được đem bán trong điều kiện tương tự của nghành buôn bán hứu quan »

Điều 14 chỉ ra rằng phải có quy định giá ít nhất là ngầm định thì đề nghị hợp đồng mới có hiệu lực, còn Điều 55 chỉ ra rằng hợp đồng được ký hợp đồng đúng theo quy định nhưng không ấn định giá thì được suy đoán

Như vậy, việc xác định giá theo Điều 14 hay theo Điều 55 lại một lần nữa được các bên, tòa án và trọng tài xác định dựa trên các tình tiết có liên quan Vấn đề về sự vô hiệu của hợp đồng nếu xác định giá theo điều 14 hoàn toàn có thể xảy ra nếu tòa án của quốc gia hay trọng tài chỉ dựa vào các yếu tố pháp lý để phán quyết và khi hiểu điều 55 theo nghĩa hẹp Tuy nhiên, hầu hết các phán quyết đều không áp dụng Điều 55, với lý do giá được chứng minh qua ý định của bên mua, bên bán tại thời điểm ký hợp đồng

2.5 Chấp nhận chào hàng có hiệu lực

Khái niệm về chấp nhận chào hàng có hiệu lực:

Chấp nhận chào hàng là sự thể hiện ý chí đồng ý của người được chào hàng với những

đề nghị của người chào hàng

Chấp nhận chào hàng sẽ có hiệu lực khi người chào hàng nhận biết được sự chấp nhận của người được chào hàng

Theo Điều 18 CISG, sự thể hiện ý chí đồng ý của người được chào hàng chỉ

có giá trị pháp lý khi nó được thể hiện bằng lời tuyên bố hoặc bằng một hành vi biểu thị một sự đồng ý của mình đối với nội dung của chào hàng Mặc dù bên được chào hàng

Trang 12

không đưa ra một tuyên bố, nhưng trên thực tế đã đã có một hành vi cụ thể như là: gửi hàng, trả tiền, mua bảo hiểm hàng hóa, lập chứng từ thanh toán

Ví dụ 2: Chấp nhận chào hàng bằng hành vi

Khi nhận được đơn chào hàng của đối tác nước ngoài, doanh nghiệp có thể chấp nhận bằng văn bản, bằng lời nói Thậm chí, bằng việc thực hiện một số hành vi nhất định, người được chào hàng sẽ bị coi là đã chấp nhận chào hàng và bị ràng buộc bởi chào hàng

đó

Tranh chấp giữa Nguyên đơn là một công ty của Argentina và Bị đơn là một công ty của Italy trong quá trình giao kết hợp đồng Hai bên tranh cãi về việc liệu hành vi của Bị đơn có được coi là một hành vi chấp nhận chào hàng có hiệu lực hay không Tranh chấp được giải quyết tại Tòa án Argentina Các điều 18 và 19 của Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (sau đây gọi tắt là CISG) đã được áp dụng để giải quyết tranh chấp

Diễn biến tranh chấp

Người mua Argentina đàm phán ký hợp đồng với người bán Italia để mua một số máy móc công nghiệp Người bán đã gửi cho người mua bản chào hàng căn cứ trên một mẫu đơn chào hàng chuẩn Người mua không có ý kiến gì về nội dung của chào hàng trên ngoài việc yêu cầu thay đổi lại kích cỡ của một số phụ tùng kèm theo Sau đó, người mua

đã ký vào đơn chào hàng và gửi đơn chào hàng đó đến một ngân hàng để xin cấp tín dụng cho thương vụ này

Tuy nhiên, sau đó, người mua lại làm đơn kiện người bán ra toà án Argentina với lý

do là hợp đồng chưa được thành lập Người mua cho rằng chào hàng và chấp nhận chào hàng chưa cấu thành một hợp đồng có hiệu lực Người mua dẫn điều 18 CISG, theo đó,

im lặng hay không hành động (inaction) không được coi là chấp nhận chào hàng

Phân tích và quyết định của Toà án

Vì Argentina và Italy là hai quốc gia thành viên của CISG nên tòa án áp dụng CISG

để giải quyết tranh chấp Toà án bình luận rằng theo điều 18 CISG thì im lặng hay không hành động (inaction) tự nó không cấu thành chấp nhận chào hàng Trường hợp này, mặc

dù người mua không chính thức trả lời người bán bằng văn bản hay bằng lời nói nhưng

Trang 13

người mua đã ký vào đơn chào hàng và gửi nó đến ngân hàng; đây chính là hành động mà người mua thực hiện liên quan đến thanh toán tiền hàng, và hành vi này có ý nghĩa là đã chấp nhận chào hàng theo quy định tại điều 18 khoản 1- CISG

Ngoài ra, người mua có một số thay đổi về kích cỡ của một số phụ tùng kèm theo nhưng những thay đổi này không được coi là những sửa đổi, bổ sung cơ bản chào hàng ban đầu và vì thế không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của chấp nhận chào hàng theo quy định tại điều 19 khoản 2 và khoản 3- CISG Chỉ các yếu tố bổ sung hay thay đổi liên quan đến các điều khoản giá cả, thanh toán, phẩm chất, số lượng, địa điểm & thời gian giao hàng, phạm vi trách nhiệm các bên, việc giải quyết các tranh chấp mới được coi là thay đổi cơ bản nội dung của chào hàng

Với những lập luận đó, tòa án cho rằng người mua đã chấp nhận chào hàng của người bán Italia Toà án kết luận hợp đồng đã được thành lập và không thể bị bác bỏ

Khoản 1 Điều 19 Công ước Viên quy định rằng “Một sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có chứa đựng những điểm bổ sung, bớt đi hay các sửa đổi khác thì được coi là từ chối chào hàng và cấu thành một hoàn giá Điều này có nghĩa là nếu một sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có bất kỳ sự sửa đổi, bổ sung tạo nên sự khác biệt giữa chào hàng và chấp nhận chào hàng thì sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng đó sẽ cấu thành một chào hàng mới hoặc một hoàn giá” Quy định này của Công ước Viên được áp dụng cho cả những điều khoản soạn sẵn

trong các hợp đồng hoặc trong các mẫu chào hàng và chấp nhận chào hàng mẫu

Tuy nhiên, khoản 2 điều 19 quy định rằng “một sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có chứa đựng các điều khoản bổ sung hay những điều khoản khác

mà không làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng thì được coi là chấp

nhận chào hàng, trừ phi người chào hàng ngay lập tức không biểu hiện bằng miệng để phản đối những điểm khác biệt đó hoặc gửi thông báo về sự phản đối của mình cho người được chào hàng Nếu người chào hàng không làm như vậy, thì nội dung của hợp đồng sẽ là nội dung của chào hàng với những sự sửa đổi nêu trong chấp nhận chào hàng.Theo quy định này, Công ước Viên thì không phải mọi sự trả lời có khuynh hướng

chấp nhận chào hàng đều được coi là sửa đổi hoặc bổ sung chào hàng Tuy nhiên, những

Trang 14

sửa đổi hoặc bổ sung “không làm biến đổi một cách cơ bản nội dung chào hàng” và

người chào hàng không có bất kỳ hành động nào (bằng lời nói hoặc thông báo) biểu hiện

sự phản đối “ngay lập tức” với những sửa đổi hoặc bổ sung đó thì hợp đồng xem như

được giao kết Từ đó, có thể thấy rằng, vấn đề quan trọng của việc xem xét hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có được giao kết hay không tùy thuộc vào sự trả lời chào hàng của người được chào hàng có chứa đựng những điều khoản làm biến đổi (sửa đổi hoặc bổ sung) cơ bản hay không cơ bản chào hàng

Khi nhận được chào hàng của người bán, nếu người mua có những thay đổi, bổ sung thì đó không được coi là chấp nhận chào hàng Tuy vậy, nếu những sửa đổi, bổ sung đó không biến đổi một cách cơ bản chào hàng ban đầu, thì một hợp đồng được coi là đã được thiết lập giữa hai bên

Mặc dù chấp nhận chào hàng đã được gửi đi đúng theo quy định pháp luật, nhưng

nó có thể bị thu hồi Với điều kiện việc thông báo thu hồi đó phải tới trước hoặc cùng lúc với thông báo chấp nhận chào hàng (Điều 22)

Quy định tại điều 22 CISG này, được áp dụng trong trường hợp mà trước đó người được chào hàng đã chấp nhận chào hàng và bày tỏ quan điểm chấp nhận đó bằng một thông báo chính thức Nhưng sau đó đã thay đổi ý kiến của mình là không chấp nhận chào hàng và đã gửi thông báo hủy chấp nhận chào hàng mà họ đã gửi đi

CISG có quy định về việc chấp nhận chào hàng có thể bằng một hành vi hoặc một tuyên bố (Điều 18 CISG) Nhưng Điều 22 chỉ đề cập đến việc hủy chấp nhận chào hàng bằng tuyên bố

Còn vấn đề chấp nhận chào hàng bằng một hành vi thì làm thế nào để hủy bỏ nó? Vấn

đề này CISG không có quy định rõ ràng, nhưng nhìn từ câu (b) khoản 2 Điều 16 thì chào hàng không thể bị hủy nếu một cách hợp lý người nhận coi chào hàng là không thể hủy được Trường hợp được áp dụng tương tự đối với việc chấp nhận chào hàng không ? Theo khoản 1 Điều 7 thì các bên phải ứng xử với nhau một cách thật thiện chí mà thôi

Trang 15

Hợp đồng được ký kết trực tiếp tại thời điểm hai bên đều có mặt và cùng ký vào hợp đồng thì ngay lập tức nó sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với các bên.Trong trường hợp ký kết hợp đồng giữa các bên vắng mặt - chào hàng, thì hợp đồng chính thức phát sinh hiệu lực khi có sự chấp nhận chào hàng theo quy định của Công ước (Điều 23 CISG) Khi hợp đồng

đã phát sinh hiệu lực, thì các bên phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng, trong chào hàng trước đó Việc chấp nhận chào hàng cũng giống như việc ký trực tiếp vào hợp đồng, vì bản thân hành vi này tự nó xác lập các ràng buộc của mỗi bên, nó là một sự đồng ý cho một bản dự thảo hợp đồng.Vấn đề thẩm quyền ký kết hợp đồng Công ước không quy định rõ.Tuy nhiên, Công ước đã để độ mở cho các vấn đề không được quy định rõ tại Công ước này thì được phép sử dụng các quy định của tư pháp quốc tế

Sơ đồ quy trình ký kết hợp đồng theo CISG

Trang 16

Hình thức ký kết gián tiếp

3 Chương 3: Nghĩa vụ và trách nhiệm của bên bán

Theo quy định của Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì nghĩa vụ của bên bán bao gồm nhưng không giới hạn các nghĩa vụ sau: Giao hàng, giao chứng từ có liên quan đến hàng hóa và chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa Các nghĩa

vụ này phải thực hiện đúng theo quy định của hợp đồng và của Công ước này

Giao hàng được coi là nghĩa vụ cơ bản nhất của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Việc thực hiện các nghĩa vụ khác của người bán đều có liên quan đến và nhằm mục đích hoàn thành nghĩa vụ giao hàng cho người mua Theo điều 30 của Công ước thì người bán có nghĩa vụ giao hàng, giao chứng từ liên quan đến hàng hoá và chuyển

giao quyền sở hữu về hàng hoá theo đúng quy định của hợp đồng và của Công ước này

3.1.1 Giao hàng đúng địa điểm

Giao hàng tại địa điểm trong hợp đồng

Sau khi đã ký kết hợp đồng hợp pháp - hợp đồng có hiệu lực, thì hai bên phải thực hiện những nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng Về phần nghĩa vụ giao hàng của bên bán thì bên bán phải giao hàng cho bên mua đúng địa điểm mà đã chỉ rõ trong hợp đồng Việc xác

định địa điểm trong hợp đồng là việc làm tối thiểu phải có của hai bên và đặc biệt là bên bán

Xác lập hợp đồng

Hoàn giá Chào hàng

Trang 17

Hợp đồng không quy định địa điểm giao hàng

Trường hợp hợp đồng mua bán liên quan đến việc vận chuyển, nguyên tắc xác định nghĩa vụ giao hàng của người bán là giao hàng cho người chuyên chở đầu tiên để chuyển giao cho người mua (Theo khoản a, ĐIều 31 CISG)

Ở quy định này ta thấy việc chuyển giao hàng hóa cho người vận chuyển đầu tiên được người mua thuê Nó có thể là bất cứ phương tiện nào không nhất thiết là một loại phương tiện xác định

Các hợp đồng mua bán hang hóa liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa nếu người bán được yêu cầu hoặc được ủy quyền gửi hàng hóa cho người mua Ví dụ như hợp đồng gửi hàng thông qua các điều kiện của INCOTERM Đó được xác định là hợp đồng mua bán hàng hóa có liên quan đến việc vận chuyển

Nếu hợp đồng có quy định về nghĩa vụ của người bán về việc đặt hàng dưới quyền định đoạt của người mua tại nơi đến Giống như quy định về việc giao hàng theo điều kiện FOB, CIF - Incoterm 2010 Như vậy theo hợp đồng nghĩa vụ của người bán phải đặt hàng trên tàu tại cảng gửi hàng mà nơi đó có phương tiện đầu tiên của người mua Đây là trường hợp mà người bán phải vận chuyển từ một điểm nội địa cho tới cảng bốc hàng, thì mới đảm bảo được hàng hóa dứoi quyền định đoạt của ngừoi vận chuyển

3.1.2 Thời gian giao hàng

Giao hàng đúng thời hạn

Bên cạnh nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm, người bán phải có nghĩa vụ giao hàng theo đúng thời gian đã quy định trong hợp đồng Nếu hợp đồng không quy định cụ thể về thời gian giao hàng thì người bán có nghĩa vụ giao hàng trong một thời gian hợp lý sau khi hợp đồng được ký kết

Theo khoản 1, điều 33 CISG có quy định về việc xác định thời gian giao hàng trong hợp đồng Nếu hợp đồng có quy định rõ về thời gian thì đó là một sự chu đáo trong việc ký kết hợp đồng Trong nhiều trường hợp, hợp đồng đã bỏ qua vấn đề này Tuy nhiên, CISG cũng đã đề cập đến yếu tố liên quan trong vấn đề về thời gian giao hàng Khi không có quy rõ ràng trong hợp đồng thì có thể xác định bằng các yếu tố như khi đàm

Trang 18

phán, các cuộc trao đổi, giấy tờ liên quan, hành vi của bên kia để xác định thời gian hợp

lý cho việc giao hàng

Vấn đề xác định thời gian hợp lý, nó chỉ có thể được xác định một cách rõ ràng khi hai bên hợp tác thiện chí với nhau hoặc thông qua cơ quan tài phán quyết định cho mỗi vụ việc tranh chấp Như vậy, để xác định một thời gian hợp lý để giao hàng không phải là việc của một bên nữa Vì khi xác định thời gian của một bên không khách quan khi họ chỉ nhằm mục đích có lợi cho mình Chính vì thế mà quyền lợi của bên kia có thể bị ảnh hưởng, và đương nhiên không ai có thể chấp nhận bị thiệt hại Bởi vậy, quy định giao hàng trong một thời gian hợp lý tính từ thời điểm hợp đồng được giao kết (Mục c, Điều 33) là một quy định mở để cho Tòa án, trọng tài có cơ sở

để đưa ra phán quyết với sự bế tắc của các bên khi không thể thỏa thuận, không đưa ra được những chứng cớ có liên quan

Ví dụ 3: Thời gian giao hàng hợp lý được hiểu như thế nào?

Diễn biến tranh chấp:

Từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2008, bên bán (Công ty TNHH Holland Loader) và bên mua (Tập đoàn phát triển Alpha Prime) kí thỏa thuận mua bán hàng hóa là máy chở than được tân trang (sau đây gọi là Máy chở)

Tháng 8/2008, bên bán giao hàng là Máy chở Holland 610 tới Mexico, nhưng Máy chở chưa được tân trang Khi bên mua phát hiện ra điều này, bên mua yêu cầu bên bán tân trang máy và bên bán đã cam kết sẽ tân trang máy

Tháng 10/2009, bên mua khởi kiện bên bán về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với hợp đồng Bên mua yêu cầu bên bán bồi thường 552.334,59 USD (bao gồm giá mua máy và chi phí giao nhận) cộng với lãi suất cho đến trước khi xét xử

Hai bên đều đồng ý áp dụng Công ước của Liên hiệp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) để giải quyết tranh chấp

Nguyên đơn, dựa vào điều 35, 36 của Công ước này, cho rằng bên bán đã vi phạm hợp đồng Theo điều 35.1 CISG, người bán có nghĩa vụ “giao hàng đúng số lượng, phẩm chất và mô tả như quy định trong hợp đồng và đúng bao bì hay đóng gói như hợp đồng yêu cầu.”

Trang 19

Điều 36.1 CISG cũng quy định: “Người bán chịu trách nhiệm chiếu theo hợp đồng

và Công ước này, về mọi sự không phù hợp nào của hàng hóa tồn tại vào lúc chuyển giao quyền rủi ro sang người mua, ngay cả khi sự không phù hợp của hàng hóa chỉ được phát hiện sau đó.”

Theo lập luận của nguyên đơn, thậm chí nếu tòa án cho rằng rủi ro chưa chuyển sang người mua và người bán không phải chịu trách nhiệm về giao hàng không phù hợp, thì người bán vẫn vi phạm về thời gian giao hàng Theo điều 33 CISG, trong trường hợp thời gian giao hàng không được ấn định trong hợp đồng, người bán phải giao hàng trong “thời gian hợp lý sau khi hợp đồng được ký kết” Trên thực tế, Máy chở được mua vào tháng 7/2008 nhưng tới tháng 5/2009 vẫn chưa được tân trang và giao cho bên mua, thậm chí cho tới thời điểm người mua khởi kiện người bán, máy vẫn chưa được tân trang Đây không thể coi là khoảng thời gian hợp lý nên người mua có quyền ngừng hợp đồng

Phân tích và quyết định của toà án:

– Liệu việc bên bán giao Máy chở chưa được tân trang tới Mexico có được coi là giao hàng không phù hợp với hợp đồng?

Trong hợp đồng, hai bên thỏa thuận mua bán Máy chở than được tân trang Câu hỏi đặt ra là theo thỏa thuận của hai bên, khi nào thì Máy chở cần được tân trang, trước hay sau khi máy được giao tới Mexico?

Về vấn đề này, hợp đồng không có quy định cụ thể Theo CISG thì khi giải thích hợp đồng, tòa án phải xem xét cả những tình huống cụ thể có liên quan, bao gồm cả việc giải thích những tuyên bố và cách xử sự của một bên theo nghĩa mà một người có lý trí, nếu người đó đặt vào vị trí của phía bên kia trong những hoàn cảnh tương tự cũng sẽ hiểu như thế (Điều 8.2 CISG)

Thực tế, trong Bản kiến nghị của mình, bên mua khẳng định khi bên mua phát hiện Máy chở không hoạt động sau khi máy được giao tới Mexico, bên bán cam kết sẽ hoàn thành việc tân trang sau đó nhưng đã không làm Điều này cho thấy ngay cả khi ban đầu hai bên thỏa thuận Máy chở phải được tân trang trước khi tới Mexico thì sau đó các bên

đã nhất trí lại rằng máy có thể được tân trang sau khi tới Mexico

Trang 20

Tiếp đó, để xác định bên bán có phải chịu trách nhiệm về sự không phù hợp của hàng hóa vào lúc chuyển giao rủi ro sang người mua, cần xác định liệu rủi ro đã chuyển sang người mua hay chưa?

Theo điều 69.2 CISG thì “nếu người mua bị ràng buộc phải nhận hàng tại một nơi khác với nơi có xí nghiệp thương mại của người bán, rủi ro được chuyển giao khi thời hạn giao hàng phải được thực hiện và người mua biết rằng hàng hóa đã được đặt dưới quyền định đoạt của họ tại nơi đó”

Trong vụ kiện này, tòa án cho rằng thiếu căn cứ xác thực về việc rủi ro đã chuyển sang người mua Cụ thể là không có căn cứ xác thực về địa điểm người mua ràng buộc phải nhận hàng; về thời gian người mua phải nhận hàng, trước hay sau khi Máy chở được tân trang; và về việc liệu hàng hóa đã được đặt dưới sự định đoạt của người mua hay chưa? Vì vậy, tòa án bác bỏ lập luận của người mua dựa trên điều 36 CISG, và kết luận người bán không phải chịu trách nhiệm vì giao hàng không phù hợp với hợp đồng

Thế nào là thời gian giao hàng hợp lý ?

Trong hợp đồng không quy định ngày giao hàng nên căn cứ điều 33 CISG, người bán phải giao hàng trong “thời gian hợp lý” Khoảng thời gian hợp lý này được xác định như thế nào?

Tính hợp lý ở đây phụ thuộc vào hoàn cảnh cũng như những điều kiện thương mại có thể chấp nhận được trong từng vụ việc cụ thể Trong trường hợp này, các bằng chứng cho thấy việc tân trang máy cần khoảng thời gian từ 120 tới 180 ngày và người mua cũng tỏ ý với người bán là không có nhu cầu ngay lập tức đối với hàng hóa Vì thế, tòa án cho rằng việc chậm trễ tân trang máy của người bán là hợp lý Hơn thế, thực tế vào tháng 5/2009, người mua đã tỏ dấu hiệu từ chối nhận hàng, nên người bán không còn có nghĩa vụ phải giao hàng cho người mua

Chính vì thế, tòa án bác bỏ lập luận của người mua về việc người bán không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng trong khoảng thời gian hợp lý

(nguồn: cac-ben/ )

https://cisgvn.wordpress.com/an-l%E1%BB%87-cisg/nghia-v%E1%BB%A5- Trường hợp giao hàng trước thời hạn

Trang 21

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 52 thì người mua có quyền chấp nhận hoặc từ chối việc giao hàng trước thời hạn quy định trong hợp đồng Trên thực tế thì bên mua thường nhận hàng ngay khi có thể vì việc vận chuyển trong thương mại quốc tế luôn luôn có nhiều sự biến, nó không hề đảm bảo một cách chắc chắn hàng hóa sẽ đến đúng một thời hạn nhất định Khi bên mua đã đồng ý nhận hàng trước thời hạn như vậy thì trong thời hạn chưa hết hạn giao hàng bên bán có thể giao hàng mới để thay cho hàng

đã giao không phù hợp với hợp đồng, hoặc khắc phục sự không phù hợp của hàng đã giao

Giao hàng đúng số lượng và chất lượng

Số lượng và chất lượng hàng hóa là những nội dung quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Người bán phải thực hiện giao hàng đầy đủ số lượng và chất lượng căn cứ theo nội dung hợp đồn Trong trường hợp không thể xác định được theo hợp đồng thì căn

cứ vào quy định của pháp luật - đó là theo CISG

Điều 35 Công ước Viên 1980 quy định nếu hợp đồng không quy định cụ thể về phẩm chất hàng hóa thì hàng hóa không được coi là đủ quy cách phẩm chất khi:

Hàng không thích hợp cho mục đích sử dụng mà các hàng hóa cùng loại vẫn thường đáp ứng hoặc; Hàng không thích hợp với bất cứ mục đích nào mà người bán đã cho người mua biết một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào lúc kí kết hợp đồng hoăc; Hàng hóa không phù hợp với các tính chất của hàng mẫu (trong trường hợp bán hàng theo mẫu) mà người bán đã cung cấp cho người mua hoặc; Hàng không được đóng trong bao bì theo cách thông thường để bảo vệ hàng hóa

3.2 Nghĩa vụ giao chứng từ kèm theo hàng hóa

Chứng từ của hàng hóa là một phần của hàng hóa, nó làm cho hàng hóa được trở nên hợp pháp, chính vì vậy việc chuyển giao giấy tờ đúng quy định của hợp đồng

và của luật áp dụng được coi là một hành vi quan trọng trong nghĩa vụ của người bán Việc giao chứng từ được thực hiện đúng quy định của thương mại quốc tế

Khi viêc vận chuyển đến đúng địa điểm và đúng thời gian giao hàng nhưng bên mua đã chậm trễ nhận hàng hay không trả tiền hoặc việc nhận hàng và trả tiền

Ngày đăng: 09/05/2016, 10:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 84 NƯỚC THÀNH VIÊN CỦA CISG -  tính đến 18/12/2015 - Tiểu luận môn quản trị xuất nhập khẩu tìm hiểu về công ước viên 1980 CISG
BẢNG 84 NƯỚC THÀNH VIÊN CỦA CISG - tính đến 18/12/2015 (Trang 4)
Hình thức ký kết gián tiếp - Tiểu luận môn quản trị xuất nhập khẩu tìm hiểu về công ước viên 1980 CISG
Hình th ức ký kết gián tiếp (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w