1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Cấp Xã Của Huyện Ân Thi, Tỉnh Hưng Yên

74 1,3K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, cùng với sự chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh Hưng Yên vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức mà cụ thể là độ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

KHOA TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC

BÁO CÁO KIẾN TẬP

ĐỀ TÀI NẦNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ

CỦA HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN

ĐỊA ĐIỂM KIẾN TẬP:

BAN TỔ CHỨC HUYỆN ỦY ÂN THI

Người hướng dẫn : Dương Đình Hiệu Sinh viên thực hiện : Đặng Thị Nhung Ngành đào tạo : Quản trị Nhân lực

Hà Nội - 2015

Trang 2

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Ý nghĩa, đóng góp của đề tài 3

7 Kết cấu đề tài 3

B PHẦN NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN ÂN THI VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 4

1.1 Khái quát chung về huyện Ân Thi 4

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 4

1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 5

1.2 Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã 8

1.2.1 Hệ thống khái niệm 8

1.2.2 Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 8

1.2.3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 10

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 14

1.3 Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 20

1.3.1 Xuất phát từ yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 20

1.3.2 Xuất phát từ yêu cầu cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 22

1.3.3 Xuất phát từ thực trạng chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức xã 22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG

Trang 3

2.1 Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Ân Thi 24

2.1.1 Về số lượng, cơ cấu 24

2.1.2 Về sức khỏe 26

2.1.3 Về trình độ văn hóa, chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý nhà nước 27

2.1.4 Khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao 29

2.1.5 Về phẩm chất đạo đức và lối sống 30

2.2 Đánh giá chung về thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp xã của huyện Ân Thi 30

2.2.1 Ưu điểm 30

2.2.2 Hạn chế 31

2.2.3 Nguyên nhân 33

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ CỦA HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN 35

3.1 Quan điểm, mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên 35

3.1.1 Quan điểm 35

3.1.2 Mục tiêu 36

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên 37

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên 37

3.2.2 Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 37

3.2.3 Nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng cán bộ, công chức cấp xã 39

3.2.4 Hoàn thiện công tác kiểm tra, đánh giá, khen thưởng và kỷ luật 39

3.2.5 Chuẩn hóa các chức danh 40

3.2.6 Các giải pháp khác 40

3.3 Một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên 41

3.3.1 Khuyến nghị với Nhà nước và các cấp ủy Đảng 41

Trang 4

3.3.3 Khuyến nghị với huyện Ân Thi 423.3.4 Khuyến nghị với cá nhân cán bộ, công chức xã 42

3.4 Kinh nghiệm tỉnh Thái Bình và Đồng tháp về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã 43

3.4.1 Kinh nghiệm tỉnh Thái bình 433.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Đồng Tháp 443.4.3 Đúc rút kinh nghiệm chung của các địa phương trong công tác nâng cao chấtlượng cán bộ, công chức cấp xã 46

C PHẦN KẾT LUẬN 48 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 PHỤ LỤC

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài: “ Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,công chức cấp xã của huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên” tôi đã nhận được sự giúp đỡrất nhiệt tình của các cô, chú, anh, chị trong Ban Tổ chức huyện ủy Ân Thi, cùngcác thầy cô và bạn bè trong và ngoài trường Đại học Nội Vụ Hà Nội Tôi xin chânthành cảm ơn các cô, chú, anh, chị và các thầy cô, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôihoàn thành đề tài này

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của anh Dương Đình Hiệu –Phó trưởng Ban Tổ chức huyện ủy Ân Thi, người đã hướng dẫn tôi trong suốt quátrình thực hiện đề tài này Xin kính chúc anh thật nhiều sức khỏe và hoàn thành tốtnhiệm vụ được giao

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối của mọi người về sự giúp đỡ quý báuđó

Tuy có nhiều sự cố gắng nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế, thiếusót nhất định khi thực hiện đề tài Kính mong các thầy cô và các bạn giúp đỡ, chỉbảo để đề tài của tôi có thể hoàn thiện hơn

Hưng Yên, ngày 30 tháng 5 năm 2015 Sinh viên

Đặng Thị Nhung

Trang 6

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi đánh giá về vai trò của cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rằng: Cán bộ làdây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù có tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng bị tê liệt Cán bộ là những người đem đường lối, chính sách của chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được Từ lý luận đó, Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã khẳng định: “Cán bộ là gốc mọi công việc, công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”.

Ngày nay trước yêu cầu của công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, nhận thức rõ được vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định một trong những vấn cốt lõi được đặt lên hàng đầu là cần phải xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh, có đủ phẩm chất và năng lực công tác để trở thành “công bộc” của nhân dân, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển đất nước

Thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, cùng với sự chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh Hưng Yên vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức mà cụ thể là đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Trong những năm gần đây, huyện

Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã không ngừng nỗ lực, cố gắng thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao chât lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã trên địa bàn huyện Bên cạnh việc đạt được những kết quá đáng khích lệ, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện trên thực tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn và còn nhiều vấn đề tồntại Do đó, nhận biết được thực trạng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là yếu tố cơ bản có tính quyết định góp phần đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã, phường nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Ân Thi nói riêng

Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “ Nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ, công chức cấp xã của huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên” làm đề tài báo cáo kiến tập

của mình

Trang 7

2 Mục tiêu nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề chất lượng cán bộ, côngchức cấp xã; đánh giá thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp xã ở huyện ÂnThi, tỉnh Hưng Yên, đề tài đưa ra những quan điểm, giải pháp góp phần vào việcnâng cao hiệu quả thực thi công vụ, cải cách hành chính cũng như góp phần vàoviệc phát triển kinh tế của địa phương

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích cơ sở lý luận và tính cấp thiết của việc nâng cao chất lượng độingũ cán bộ, công chức cấp xã;

- Khảo sát, làm rõ thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xãcủa huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên từ đó đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu và tìm

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm nghiên cứu, đề tài nghiên cứu tập chung sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp so sánh, đánh giá

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê

- Phương pháp biện chứng duy vật

Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp bổ trợ như: phỏng vấn, điều tra, khảo sát thực tế,

Trang 8

6 Ý nghĩa, đóng góp của đề tài

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

Đề tài có thể cung cấp thêm các luận cứ khoa học giúp các cấp lãnh đạo của tỉnh Hưng Yên trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Trang 9

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN ÂN THI VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.1 Khái quát chung về huyện Ân Thi

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý: Ân thi là một huyện nằm ở tả ngạn sông Hồng thuộc châu thổ

đồng bằng Bắc bộ Phía Đông giáp huyện Thanh Miện và Bình Giang (HảiDương), phía Tây giáp huyện Kim Động và Châu Giang, phía Nam giáp huyệnPhù Cừ và Tiên Nữ, phía Bắc giáp huyện Mỹ Vân Toàn huyện có 20 xã và một thịtrấn Ân Thi có huyện lỵ là thị trấn Ân Thi và các xã: Phù Ủng, Bãi Sậy, Bắc Sơn,Đào Dương, Tân Phúc, Văn Nhuệ, Hoàng Hoa Thám, Quang Vinh, Vân Du, XuânTrúc, Quảng Lãng, Đặng Lễ, Cẩm Ninh, Nguyễn Trãi, Đa Lộc, Tiền Phong, HồTùng Mậu, Hồng Vân, Hồng Quang, Hạ Lễ Huyện lỵ Ân Thi cách thị xã HưngYên khoảng 20Km về phía tây nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 50Km

- Địa chất: Ân Thi là một huyện thuộc vùng trũng của tỉnh Hưng Yên, với cốt

đất so với mực nước biển nơi cao nhất là gần 5 mét, chỗ thấp nhất là gần 2 mét

- Địa hình: Tương đối bằng phẳng, không có núi, đồi Hướng dốc của địa

hình từ tây bắc xuống đông nam, độ dốc 14 cm/km, độ cao đất đai không đồng đềuvới các dải, khu, vùng đất cao thấp xen kẽ nhau

- Khí hậu: Ân Thi thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh Nhiệt độ

trung bình hàng năm là 23,2 độ, nhiệt độ trung bình mùa hè 27 độ, mùa đông dưới

20 độ Lượng mưa trung bình dao động trong khoảng 1.500 - 1.600 mm, trong đótập trung vào tháng 5 đến tháng 10 mưa (chiếm 80 - 85% lượng mưa cả năm) Sốgiờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1.400 giờ (116,7 giờ/tháng), trong đó từtháng 5 đến tháng 10 trung bình 187 giờ nắng/tháng, từ tháng 11 đến tháng 4 nămsau, trung bình 86 giờ nắng/tháng

- Sông ngòi: Ân Thi có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, có sông Hoan Ái,

sông Cửu Yên, và rất nhiều những con sông nhỏ là điều kiện thuận lợi không chỉ

Trang 10

cho sản xuất nông nghiệp mà còn cho sự phát triển công nghiệp, sinh hoạt và giaothông đường thuỷ

- Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên là 12.498,23 ha Trong đó, diện

tích đất nông nghiệp chiếm 68,74%, đất chuyên dùng chiếm 16,67%, đất ở chiếm7,91%, đất chưa sử dụng và sông suối chiếm 6,68% Diện tích đất nông nghiệpphong phú, nhưng đất xây dựng công nghiệp và đô thị còn hạn chế

1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

- Kinh tế: Cùng với sự phát triển kinh tế của tỉnh, Ân Thi được đánh giá là

một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối nhanh và cao Tốc độtăng trưởng kinh tế bình quân trên 12% / năm Nền kinh tế Ân Thi đang đổi thaytừng ngày Cơ cấu kinh tế đang dần chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiệnđại hoá Nông nghiệp, nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ trọng giữa chănnuôi và trồng trọt được cân đối Cơ cấu kinh tế nông nghiệp-tiểu thủ công nghiệp,xây dựng-dịch vụ, thương mại (48% - 20% - 32%)

Vùng đất Ân Thi còn là nơi phát sinh một số nghề thủ công truyền thống, đó

là nghề dệt vải, kéo đũi làm quạt ở Đào Xá, Lưu Xá, nghề đan thuyền ở Nội Lễ

- Dân số - lao động: Nguồn nhân lực Ân Thi khá dồi dào Với số dân là

1241714 người, tuy nhiên tỷ lệ người thất nghiệp vẫn còn cao, gây sức ép đến vấn

đề việc làm

- Văn hoá - xã hội: Nét nổi bật trong truyền thống văn hiến của người Ân Thi

là truyền thống hiếu học và khoa bảng, như Hoàng Công Chi, người Thổ Hoàngđậu tiến sĩ đời Lê, Hoàng Đình Chính, người Thổ Hoàng đậu tiến sĩ năm Ất Mùi(1775), tướng quân Phạm Ngũ Lão quê Phù Ủng là một danh tướng đời Trần,

1.2 Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã 1.2.1 Hệ thống khái niệm

Nước ta bước vào thời kỳ mới vừa đẩy mạnh CNHHĐH, vừa tiến lên xây dựngNhà nước pháp quyền XHCN, vừa tiến hành xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đàbản sắc dân tộc Chính vì vậy chúnh ta cần phải xây dựng cán bộ, công chức có chấtlượng đồng bộ và nâng cao chất lượng đội ngũ này để phù với với những yêu cầu mới

Trang 11

đặt ra, đặc biết là cán bộ, công chức cấp xã Để làm được điều đó, trước hết chúng tacần phải làm rõ một số khái niệm về việc nâng cao chất lượng cán bố công chức cấp xã.

a Khái niệm cán bộ, công chức

*Khái niệm cán bộ:

Theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Luật cán bộ công chức năm 2008:

“Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,

tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội”

Như vậy, cán bộ cấp xã có các chức danh sau đây:

- Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;

- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

- Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

- Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạtđộng nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);

- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

*Khái niệm công chức

Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3, Điều 4 Luật cán bộ công chức năm

2008: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ

Trang 12

chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”

Như vậy, công chức xã gồm các chức danh sau:

- Trưởng Công an;

- Chỉ huy trưởng Quân sự;

- Văn hóa – xã hội

b Khái niện chất lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Theo từ điển tiếng Việt thì “chất lượng” được hiểu theo nghĩa chung nhất là

“cái tạo nên những phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc”

Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã là một hệ thống những phẩm chất,giá trị được kết cấu như một chỉnh thể toàn diện được thể hiện qua phẩm chấtchính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ củamỗi cán bộ, công chức và cơ cấu, số lượng, độ tuổi, thành phần của cả đội ngũ cánbộ công chức xã

Trang 13

c Khái niệm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã là hệ thống nhữngbiện pháp, chính sách, những hoạt động nhằm cải thiện, phát triển toàn diện nănglực, phẩm chất đạo đức, trình độ, thành phần của đội ngũ cán bộ, công chức xã

1.2.2 Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Vốn quý nhất của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là độ ngũ cán bộ Cán bộ là một nhân tố quan trong quyết định sự thành công hay thất bại của sự nghiệp cách mạng Lênin chỉ rõ: “ Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu không đào tạo ra được hàng ngũ của mình những lãnh tụ chínhtrị, người đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” Năm 1992 khi giành được chính quyền Lênin khẳng định : “nghiên cứu con người, tìm ra những cán bộ có bản lĩnh Hiện nay đó là then chốt, nếu không thế thì tất cả mệnh lệnh và quyết định chỉ là mớ giấy lộn”

Để xây dựng nước Việt Nam độc lập có chủ quyền với mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” Hồ Chí Minh đã khẳng định:

“cán bộ là cái gốc của mọi công việc và công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”

Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ, đặc biệt là thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta nhận định: “ Cán bộ là nhân tố quyếtđịnh sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của chế độ, làkhâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” Sự quan tâm của Đảng còn đượcthể hiện thông qua Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 ( khóa VII) khẳng địnhtrong công cuộc đổi mới đất nước thì: Cán bộ hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiếntrình đổi mới Cán bộ nói chung có vai trò rất quan trọng, cán bộ cơ sở nói riêng có

vị trí nền tảng cơ sở Cấp cơ sở là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ chươngđường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước Chất lượng và hiệu quả thực thipháp luật một phần được quyết định bởi sự triển khai ở cơ sở Cấp cơ sở là trựctiếp gắn với quần chúng; tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng Cơ sở xã,

Trang 14

phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng độingũ cán bộ xã, phường, thị trấn.

Thật vậy, đội ngũ cán bộ cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng làm cầu nối giữa Đảng với nhân dân, giữa công dân với Nhà nước Sở

dĩ như vậy vì họ là những cán bộ trực tiếp tuyên truyền phổ biến, vận động và tổ chức nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn dân cư, giải quyết mọi nhu cầu của dân cư, bảo đảm sự phát triển kinh tế của địa phương, duy trì trật tự, an ninh, an toàn xã hội trên địa bàn cấp xã Do tính chất công việc của cấp xã, họ vừa giải quyết những công việc hàng ngày, vừa phải quán triệt các Nghị quyết, Chỉ thị của cấp trên, lại phải nắm tình hình thực tiễn ở địa phương để từ đó đề ra kế hoạch, chủ trương, biện pháp đúng đắn, thiết thực, phù hợp Nhiệm vụ của họ rất nặng nề, vai trò của họ có tính then chốt xét cả trong quan hệ giữa Đảng với dân, giữa công dân với Nhà nước

Thực tế đã chứng minh, đội ngũ cán bộ cấp xã có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị, tạo dựng các phong trào cách mạngcủa quần chúng, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

Họ có khả năng tổ chức, tập hợp và huy động mọi nguồn lực ở địa phương để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng

ở cơ sở

Họ giữ vai trò quyết định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ

sở đảng, năng lực lãnh đạo và quản lý của chính quyền cơ sở Mọi đường lối chủtrương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có thể thành hiện thực haykhông nhất thiết phải thông qua phong trào cách mạng của quần chúng

Do đó để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp cơ sở thì trước hết phải nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Họ không chỉ là người có nhiệt tình cách mạng, có phẩm chất đạo đức tốt

mà cần phải có tri thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực công tác để hoàn thành nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó Vì thế xây dựng

Trang 15

đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, trong đó nâng cao trình độ của đội ngũ này để họ có trình độ, kiến thức và năng lực hoạt động là yếu tố quan trọng nhất trong việc nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền cấp cơ sở.

1.2.3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

a Về số lượng, cơ cấu

Số lượng, cơ cấu hợp lý là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã

Tính hợp lý trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã biểu hiện ở việc tinh giảm biên chế một cách tối ưu, đảm bảo gọn nhẹ, hoạt động có chất lượng, trong đó mỗi cá nhân cán bộ, công chức phát huy được hết năng lực, sở trường của mình, có thể đảm đương tốt nhiệm vụ được giao, đảm bảo cho bộ máy hoạt động thông suốt hiệu quả Tính hợp lý còn thể hiện ở chỗ số lượng cán bộ, công chức không quá đông, nếu không sẽ dư thừa, lãng phí nguồn nhân lực, đồng thời cũng không quá ít vì nó tạo ra sức ép lớn trong công việc, gây sự mệt mỏi, căng thẳng cho cán bộ, công chức

Một đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có cơ cấu hợp lý, đó là sự cân đối giữa các thành phần dân tộc, giai cấp, nghề nghiệp, giới tính, độ tuổi; sự hợp lý đó sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp, tính năng động, phối hợp nhịp nhàng, hài hòa và kế thừa, phát triển trong đội ngũ cán bộ, công chức

b Về sức khỏe, thâm niên công tác

Sức khoẻ của đội ngũ cán bộ, công chức cũng là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công chức Sức khoẻ là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên

Sức khỏe của con người được đánh giá qua nhiều tiêu chí, song có hai tiêu chí cơ bản là thể lực và trí lực Thể lực được đánh giá qua sức mạnh cơ bắp, còn trílực được đánh giá thông qua sự minh mẫn, linh hoạt trong phản ứng, trong giải quyết công việc Thể lực là cơ sở nền tảng để phát triển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ của con người vào hoạt động thực tiễn Tất cả công chức

Trang 16

đều phải có sức khoẻ, dù làm công việc gì, ở đâu Sức khoẻ là nền tảng quan trọng cho mọi hoạt động Chất lượng đội ngũ công chức biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần, thái độ, động cơ và ý thức lao động.

Hiện nay, Bộ Y tế quy định ba trạng thái sức khoẻ của người lao động nói chung và công chức nói riêng: loại A là loại có thể lực tốt, loại B là trung bình, loại

C là yếu Yêu cầu về sức khoẻ của công chức không chỉ là tiêu chuẩn bắt buộc khi tuyển dụng công chức mà còn là yêu cầu được duy trì trong cả cuộc đời công vụ của công chức Công chức phải đảm bảo sức khoẻ mới có thể duy trì việc thực hiệncông việc liên tục với áp lực cao

Mặt khác, độ tuổi hay thâm niêm công tác cũng biểu hiện phần nào nâng lực của cán bộ, công chức Thông thưởng tuổi càng cao, thâm niên công tác càng lâu thì kinh nghiệm của cán bộ, công chức càng nhiều, dày dạn, họ đã tích lũy nhiều kiến thức, kỹ năng, phương pháp để giải quyết công việc nhanh chóng, hiệu quả Tuy nhiên, hiện nay một số những người trẻ họ cũng rất ham hiểu biết, trình độ, năng lực của họ khá cao mặc dù họ chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế Do đó độ tuổi cũng chỉ là một tiêu chí phản ánh chất lượng cán bộ, công chức một cách tương đối

c Phẩm chất đạo đức

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “ cũng như sông thì có nguồn, mới có nước, không có nguồn thì cạn, cây phải có gốc, không có gốc thì héo; người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”

Phẩm chất đạo đức chính là cái “gốc” của người cán bộ, công chức Nó

chính là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong mối quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội Đạo đức của người cán bộ công chức, phản ánh mối quan hệ giữa công chức với công dân, tổ chức, đồng nghiệp trong hoạt động công vụ Nó được xã hội đánh giá về hành vi thái độ, cách ứng xử của công chức khi thi hành công vụ

Trang 17

Người cán bộ có phầm chất đạo đức là người cán bộ có hội tụ 5 đức tính, đó

là Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm Nhưng đức tính đó phải được thể hiện ra bên ngoài trong công việc hàng ngày của người cán bộ, công chức Luôn gương mẫu,

có lối sống lành mạnh, thực hiện cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, không tham nhũng, vụ lợi cá nhân, sinh hoạt bê tha, có tinh thần đấu tranh tham nhũng, quan hệ mật thiết với quần chúng, sâu sát với công việc, không quan liệu cậy quyền, gây phiền hà cho nhân dân, không chạy theo vụ lợi, nói đi đôi với làm, làm nhiều hơn nói – đó là tiêu chí đánh giá đạo đức của người cán bộ

Ngoài ra người cán bộ phải luôn có ý thức kỷ luật và tinh thần tập thể, khiêmtốn, giản dị, trung thực, không cơ hội, có nếp sống văn minh, nêu gương cho quần chúng Như vậy mới tạo lòng tin từ phía nhân dân, thuyết phục được nhân dân tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước

d Về trình độ

- Trình độ văn hóa:

Trình độ văn hóa là mức độ học vấn giáo dục mà cán bộ, công chức đạt được.Hiện nay, trình độ văn hóa của cán bộ, công chức nước ta được phân thành 3 cấpvới mức độ khác nhau từ thấp đến cao: Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổthông Đây là hệ thống kiến thức phổ thông làm nền tảng cho nhận thức, tư duy vàhoạt động của con người Trình độ văn hóa không phải yếu tố duy nhất quyết địnhtoàn bộ năng lực và hiệu quả làm việc nhưng là yếu tố cơ bản ảnh hưởng, đồngthời là tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực và hiệu quả hoạt động của đội ngũcán bộ, công chức cấp xã

Hạn chế về trình độ văn hóa sẽ hạn chế về khả năng nhận thức và năng lực tổ chức thực hiện các văn bản của Nhà nước, cản trở việc thực hiện nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của người cán bộ, công chức do vậy cần phải nâng cao trình độ văn hóa đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ:

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, công chức là trình độ được đàotạo qua các trường lớp có văn bằng chuyên môn phù hợp với yêu cầu của công

Trang 18

việc Trình độ chuyên môn đào tạo ứng với hệ thống văn bằng hiện nay và đượcchia thành các trình độ như: sơ cấp, trung cấp, đại học và trên đại học

Nếu như trình độ văn hóa giúp cho cán bộ, công chức cấp xã có những kiếnthức nền tảng thì trình độ chuyên môn nghiệp vụ chính là những đòi cao hơn để cóthể giải quyết, thực hiện công việc Thực tế cho chính quyền cấp xã là nơi trực tiếpmọi hoạt động quản lý, giải quyết mọi tình huống phát sinh trong thực tế do đó nếucán bộ, công chức không có trình độ chuyên môn nghiệp vụ mà chỉ làm theo kinhnghiệm hay cảm tính thì chắc chắn hiệu quả công việc sẽ không cao và có thể sẽmắc phải những sai lầm nghiêm trọng

- Trình độ quản lý nhà nước:

Trình độ quản lý nhà nước là mức độ đạt được trong hệ thống tri thức về lĩnhvực quản lý nhà nước, bao gồm các kiến thức về hệ thống bộ máy nhà nước, phápluật, nguyên tắc, công cụ quản lý nhà nước Hệ thống kiến thức này giúp ngườicán bộ, công chức hiểu rõ nhiệm vụ, quyền hạn của mình là gì và thực hiện nhưthế nào, cụ thể là họ được làm những gì và không làm những gì; công cụ quản lý,

kỹ năng và phương pháp điều hành ra sao, hiểu được và vận hành của hệ thống tổchức bộ máy nhà nước nói chung và cơ sở nói riêng, từ đó thực thi công việc đúngpháp luật và hiệu quả

Cũng giống như trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn nghiệp vụ thì trình độ quản lý nhà nước cũng được chia thành: Chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên, cán sự,

Trình độ lý luận chính trị được chia thành các cấp khác nhau bao gồm:

Trang 19

Cao cấp, trung cấp, sơ cấp và tương đương

e Năng lực công tác:

Đây là nhóm tiêu chí đánh giá năng lực thực thi nhiệm vụ của công chức,phản ánh mức độ hoàn thành nhiệm vụ của công chức và mức độ đảm nhận chứctrách, nhiệm vụ của cán bộ, công chức Đánh giá thực hiện công việc là phươngpháp, nội dung của quản trị nhân lực trong tổ chức, cơ quan hành chính nhà nước.Đánh giá thực hiện công việc, thực chất là xem xét, so sánh giữa nhiệm vụ cụ thểcủa công chức với những tiêu chuẩn đã được xác định trong bản mô tả công việc,tiêu chuẩn đánh giá thực hiện công việc

Kết quả đánh giá thực hiện công việc cho phép cho phép phân tích và đánhgiá về chất lượng công chức trên thực tế Nếu như cán bộ, công chức liên tụckhông hoàn thành nhiệm vụ mà không phải lỗi của tổ chức thì nghĩa là cán bộ,công chức đó không đáp ứng được yêu cầu công việc Trong trường hợp này có thể

có thể kết luận chất lượng công chức thấp, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụđược giao ngay cả khi công chức có trình độ chuyên môn đào tạo cao hơn yêu cầucông việc

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

a Hệ thống triết lý, chính sách trong tổ chức

Triết lý, chính sách đối với cán bộ, công chức là hệ thống các quan điểm, chủ chương, mục tiêu của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ, công chức, kèm theo các giải pháp thực hiện các mục tiêu đó nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đồng bộ, có chất lượng đáp ứng yêu cầu chính trị của mỗi thời kỳ, bao gồm: chính sách tuyển dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ, công chức; chính sách đaog tạo, bồi dưỡng, chính sách tiền lương; chính sách khen thưởng, kỷ luật cán bộ,

công chức; các chính sách đãi ngộ khác đối với cán bộ, công chức Triết lý,

chính sách phù hợp tào điều kiện cho cán bộ, công chức cấp xã yên tâm, phấn khởi, nhiệt tình trong công tác; ngược lại nó sẽ kìm hãm, gây ra sự hời hợt, thiết trách nhiệm trong thực hiện công việc

Trang 20

Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều các chính sách liên quan

đến cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói riêng như:

- Luật cán bộ, công chức năm 2008;

- Nghị quyết 42-NQ/TW ngày 30/11/2004 về công tác quy hoạch cán

bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;

- Nghị định 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/1013 về cán bộ, công chức xã,phường, thị trấn;

- Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức;

b Thực tiễn hoạt động quản lý

- Trong công tác quy hoạch cán bộ, công chức:

Quy hoạch (xác định phương hướng, kế hoạch phát triển dài hạn, bước đi,các nguồn lực, ) là một yêu cầu khách quan đối với mọi lĩnh vực hoạt động củatoàn xã hội

Quy hoạch cán bộ, công chức là khâu cơ bản trong công tác cán bộ, nó là kếhoạch tổng thể, dài hạn để tạo nguồn cán bộ, công chức nhằm đáp ứng nhiệm vụlâu dài cho công tác cán bộ Công tác quy hoạch nhằm chủ động tạo nguồn nhân sựtrẻ, tập hợp nhiều nhân tài; làm cơ sở cho việc đào tạo, bố trí, sử dụng và phát triểnđội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị nhằm bảo đảm về số lượng và chất lượng,

có cơ cấu hợp lý và chuyển tiếp vững vàng giữa các thế hệ

Quy hoạch cán bộ tạo điều kiện để kiện toàn tổ chức và đổi mới cán bộ một cách thường xuyên, điều quan trọng trong công tác quy hoạch cán bộ là xác định đúng đội tượng cán bộ phải quy hoạch và thời gian quy hoạch, từ đó xác định rõ mục tiêu trong một thời gian nhất định những cán bộ cần phải đạt được những yêu cầu cụ thể gì Khi xác định mục tiêu quy hoạch cán bộ phải đảm bảo những yêu cầu như: Đáp ứng yêu cầu về số lượng cán bộ đang thiếu hoặc phải bổ sung, khăc phục việc thiếu cán bộ trong cơ cấu lãnh đạo, thiếu cán bộ hiểu biết về lĩnh vực khoa học kỹ thuật, về kinh tế, khắc phục tình trạng thiếu tính kế thừa Do đó việc

Trang 21

thực hiện tốt công tác quy hoạch góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.

- Trong công tác tuyển dụng, bổ nhiệm:

Bổ nhiệm cán bộ là việc cấp có thẩm quyền ra quyết định giao cho một cánbộ giữ vị trí lãnh đạo, quản lý một cơ quan, đơn vị trong một thời hạn nhất định

Tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức là một quá trình phức tạp Nói đếntuyển dụng, bổ nhiệm tức là nói đến cách thức, phương pháp để lựa chọn và bố tríđúng người đúng việc nhằm phát huy năng lực, sở trường của họ để đạt kết quả caotrong công việc

Tuy nhiên việc tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức phải phụ thuộc vào nhu cầu công việc của cơ quan Cán bộ, công chức phải có phẩm chất đạo đức tốt,đáp ứng được tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ Công tác tuyển dụng, bổ nhiệmảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác cán bộ, công chức Vì vậy, khi tuyển dụngphải đảm bảo tính dân chủ, công khai, chú ý đến việc sắp xếp “ đúng lúc, đúngngười, đúng việc, đúng ngành nghề, đúng sở trường” thì mới phát huy năng lựccông tác của từng cán bộ và đem lại hiệu quả công việc cao, góp phần nâng caochất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Nếu công tác tuyển dụng, bổ nhiệm thựchiện không tốt sẽ làm cho những cá nhân có trình độ năng lực sinh ra bất mãn,không muốn phấn đấu vươn lên Mặt khác những cán bộ, công chức không có nănglực mà phải đảm nhiệm những công việc quá sức dẫn đến hiệu quả công việckhông cao

- Điều động, luân chuyển cán bộ:

Điều động và luân chuyển cán bộ, công chức là những khâu quan trọng trong công tác cán bộ.Cần phải phân biệt giữa điều động và luân chuyển cán bộ, công chức Cả hai việc đều là bố trí cán bộ từ nơi này đến nơi khác; đều có mục đích là hoàn thành nhiệm vụ chính trị của ngành, địa phương Luân chuyển cán bộ,công chức ngoài mục đích để hoàn thành nhiệm vụ chính trị còn mục đích khác là để rèn luyện, thử thách, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dự bị, cán bộ có triển vọng

Trang 22

nhằm chuẩn bị cho những chức vụ lãnh đạo cao hơn, gánh vác những trọng trách lớn hơn.

Điều động, luân chuyển cán bộ, công chức là công tác hết sức quan trọng, nóphải căn cứ vào tiêu chuẩn, yêu cầu từng nhiệm vụ của từng danh sách cán bộ, công chức đảm bảo cho cán bộ, công chức phát huy tốt sở trường cá nhân, sử dụng đúng chuyên môn đào tạo từ đó giúp nâng cao hiệu quả thực hiện công việc của cán bộ, công chức

- Đào tạo, bồi dưỡng:

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ là rất quan trọng, thậm chí là “công việc gốc của Đảng”, phải được tiến hành thường xuyên Người nhấn mạnh: Học để hành, nghĩa là để làm việc chứ không phải là để có bằng cấp, để cho oai và để có chức này chức nọ Việc giảng dạy, học tập, đào tạo, huấn luyện phải gắn liền với nghiên cứu công việc thực tế, kinh

nghiệm thực tế, “kinh nghiệm và thực tế phải đi cùng nhau”, “lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi liền với nhau” Người cho rằng: cán bộ đảng viên phải học tập lý luận Mác - Lênin, học tập đường lối, chính sách của Đảng, đồng thời phải học văn hóa, kỹ thuật nghiệp vụ, “làm việc gì học việc đấy”, tức là cán bộ làm ở lĩnh vực gì, phụ trách ở ngành nghề gì đều phải học cho thành thạo công việc ở lĩnh vực đó

Đào tạo bồi dưỡng cán bộ là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt của công táccán bộ, là yêu cầu khách quan trong xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cánbộ, công chức Nó có ý nghĩa quan trọng, góp phần tích cực trong việc nâng caotrình độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng và hiệu quả làm việc của cánbộ, công chức; hướng tới mục tiêu tạo được sự thay đổi về chất trong thực thinhiệm vụ chuyên môn của cán bộ, công chức

Công tác đánh giá cán bộ, công chức:

Đánh giá cán bộ, công chức là một trong những khâu quan trong và xuyênsuốt trong công tác cán bộ Nó giữ vai trò quan trọng, có tác dụng phát huy những

ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm, hạn chế, thiếu sót của mỗi cán bộ để bố

Trang 23

trí, sử dụng cán bộ hợp lý, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị Tuynhiên đánh giá cán bộ là công việc rất khó, đòi hỏi phải công tâm khách quan Phảicăn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ và việc hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ để đánh giá,trọng dụng những người có đức, có tài Để đánh giá, nhận xét đúng cán bộ thì đảngbộ, chi bộ cần nắm vững và thực hiện những quy trình sau đây:

+ Dựa vào tiêu chuẩn cán bộ đã được cụ thể hoá cho phù hợp với yêu cầu vànhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ Lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị và hiệu quả công tác của cán bộ, dựa vào sự tín nhiệm của đảng viên, của quần chúng làm thước đo chủ yếu

+ Có phương pháp đánh giá, phân tích, nhận xét cán bộ một cách khách quan, khoa học, công tâm theo một quy trình chặt chẽ đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, phát huy dân chủ Phải kết hợp theo dõi thường xuyên với đánh giá theo định kỳ Đánh giá phải kết hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau để phân tích, chọnlọc; nhận xét, đánh giá công khai và trực tiếp

Do đó công tác đánh giá cán bộ, công chức có vai trò quan trọng, thực hiện tốt công tác đánh giá không chỉ góp phần vào thực hiện công tác đào tạo phát triển,thù lao, thăng tiến, kỷ luật, mà còn góp phần vào việc tạo động lực cho cán bộ, công chức, cải tiến sự thực hiện công việc từ đó nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

- Chế độ đãi ngộ:

Chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức cấp xã bao gồm các chế độ, chínhsách như : tiền lương, phụ cấp, tiền thưởng, bảo hiểm y tế, Đây chính là mộttrong những yếu tố thúc đẩy sự tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân cũng như làđộng lực, là điều kiện để đảm bảo để họ phấn đấu nâng cao trình độ, năng lựctrong việc hoàn thành tốt công việc được giao

Thực tế cho thấy khi thu nhập nhập của con người không tương xứng với công sức họ bỏ ra hoặc không có chế độ chính sách đãi ngộ thỏa đáng ngoài tiền lương đối với cán bộ, công chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao thì họ dễ sinh ra chán nản, thiếu trách nhiệm với công việc, thậm chí có khi còn là nguyên

Trang 24

nhân dẫn đến tệ nạn như tham nhũng, hối lộ Ngoài ra việc thực hiện tốt chế độ đãi ngộ ngoài việc tạo động lực lao động thì còn giúp họ gắn bó hơn với tổ chức, giúp cho cán bộ, công chức nâng cao trách nhiệm, tinh thần làm việc từ đó nâng cao hiệu quả làm việc và chất lượng đội ngũ cán bộ

c Văn hóa tổ chức, điều kiện, môi trường làm việc

- Văn hóa tổ chức:

Văn hóa tổ chức là hệ thống những giá trị, những niềm tin, những quy phạm được chia sẻ bởi các thành viên trong tổ chức và hướng dẫn hành vi của các cá nhân trong tổ chức

Văn hóa tổ chức chính là nét riêng của mỗi tổ chức, việc xây dựng văn hóa

tổ chức có ý nghĩa quan trọng nó không chỉ mang đến nét riêng biệt cho mỗi tổ chức mà còn là chất keo dính gắn kết mọi thành viên trong tổ chức lại với nhau, đồng thời nó cũng giúp hình thành nên thái độ và hành vi của mỗi người trong tổ chức Mặt khác văn hóa tổ chức còn có tác động đến mỗi cá nhân tạo cho họ động lực, niềm tự hào tổ chức từ đó nâng cao hiệu quả làm việc, chất lượng của các thành viên trong tổ chức

Ngược lại, văn hóa tổ chức cũng có thể là gánh nặng khi những giá trị chungkhông phù hợp Từ đó có thể gây áp lực lên mỗi cá nhân dẫn đến hiệu quả côngviệc giảm sút

- Điều kiện, môi trường làm việc:

Đây cũng là một trong số những yếu tố tác động trực tiếp đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức Rõ ràng một tổ chức có điều kiện làm việc thuận lợi, môi trường làm việc thân thiện sẽ tạo ra sự thõa mãn, từ đó làm tăng hiệu quả côngviệc, sự gắn kết với tổ chức từ đó tăng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

d Bản thân cán bộ, công chức

Đây là yếu tố cơ bản và quyết định nhất đến chất lượng của mỗi cán bộ, công chức nói chung và của cán bộ, công chức cấp xã nói riêng bởi đây là yếu tố chủ quan, yếu tố nội tạng bên trong mỗi con người Nhận thức đúng là tiền đề, là kim chỉ nam cho những hành động, những việc làm đúng đắn, khoa học và ngược

Trang 25

lại Bản thân người cán bộ, công chức phải luôn tự rèn luyện, trau dồi, học hỏi những kiến thức, kỹ năng mới, những phương pháp làm việc hiệu quả, luôn rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ, giữ vững phẩm chất, đạo đức cánh mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm.

Ngược lại, khi cán bộ, công chức còn xem thường những chuẩn mực đạo đức, nhân cách, thiếu nghiêm khắc với bản thân, không thường xuyên rèn luyện, tudưỡng, dùi mài tinh thần trách nhiệm sẽ mắc bệnh quan liệu, mệnh lệnh, chủ quan,

tự tư, tư lợi; phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức

kỷ luật, tha hóa về đạo đưc, lối sống từ đó dẫn đến làm giảm uy tín của Đảng và niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước

Như vậy, bản thân chính cán bộ, công chức là vấn đề quan trọng cần quan tâm trong việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã cũng như các cấp khác trong bộ máy nhà nước hiện nay

1.3 Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

1.3.1 Xuất phát từ yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Công nghiệp hóa là bước đi tất yếu trong tiến trình phát triển của mỗi quốcgia, dân tộc vươn tới văn minh, hiện đại Trong điều kiện nước ta, với những điềukiện thuận lợi do sự nghiệp đổi mới tạo ra và trên cơ sở kế thừa có chọn lọc tri thứccủa văn minh nhân loại về công nghiệp hóa, Đảng ta đã xác định công nghiệp hóaphải đi liền với hiện đại hóa

Bước đầu quan trọng trong công cuộc đổi mới đã đưa đất nước đến thời cơphát triển mới Tuy nhiên, đất nước đang đứng trước thách thức tụt hậu về kinh tế,quốc nạn tham nhũng, chiến lược diễn biến hòa bình của kẻ thù Các nguy cơ đóđặt ra nhiều vấn đề đối với việc đổi mới chất lượng cán bộ và công tác cán bộ.Trong quá tình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa vai trò của đội

ngũ cán bộ, công chức là hết sức quan trọng, họ phải là những người đề ra kế hoạch để thực hiện từng mục tiêu , đồng thời lại là người tổ chức, quản lý quá trìnhthực hiện và gương mẫu thực hiện những mục tiêu Việc nâng cao chất lượng đội

Trang 26

ngũ cán bộ , công chức là hết sức quan trọng Có thể khẳng định, không thể thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công với một cơ chế quản lý lạc hậu, xơ cứng với một nền hành chính vừa cồng kềnh, vừa thiếu dân chủ, không biết tôn trọng và phát huy năng lực xã hội, vừa lỏng lẻo, vừa trì trệ, vừa cửa quyền của đội ngũ cán bộ chất lượng thấp, cơ cấu không hợp lý

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng và quan tâm tới việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức chính quyền cấp xã nói riêng Đây là nhân tố then chốt để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm

là phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra mục tiêu: "Xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa;

có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức kỷ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển, có số lượng và cơ cấu hợp lý".

Tóm lại, để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cần phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã với đầy đủ những yếu

tố về trí tuệ, phẩm chất chính trị, đạo đức cá nhân, đạo đức nghề nghiệp và có tính dân chủ Vì đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là những người có trách nhiệm tham gia trực tiếp vào công cuộc đổi mới đất nước Đầu tư cho đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nói riêng là đầu tư có hiệu quảcho tương lai đất nước

Trang 27

1.3.2 Xuất phát từ yêu cầu cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Trong giai đoạn ngày nay khi mà Đảng và Nhà nước ta đang quyết tâm thựchiện cải cách hành chính nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vữngmạnh, từng bước hiện đại; đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực;

hệ thống cơ quan nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứngyêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước Mà nhiệm vụ trước mắt là cảicách hành chính

Xuất phát từ nhiệm vụ đó, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nóichung, cán bộ, công chức cấp xã nói riêng thực sự có trình độ, năng lực, ngangtầm, trung thành với sự nghiệp đổi mới của Đảng, có tâm huyết với cơ sở phảiđược chú trọng, quan tâm hơn bao giờ hết, có như vậy cải cách hành chính nhànước mới đạt hiệu quả, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam vững mạnh, đưa đất nước vượt qua những khó khăn, thách thức, tiếp tụcđổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững

1.3.3 Xuất phát từ thực trạng chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức

Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã từng bướcphát triển cả số lượng và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thời kỳmới Đa số cán bộ, công chức cấp xã có phẩm chất đạo đức tốt, trung thành với lýtưởng, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng; có lối sống giản dị, trong sáng, gầngũi với nhân dân, tâm huyết với công việc Đây là nhân tố quan trọng góp phần đảmbảo tổ chức thực hiện thành công đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước, lãnh đạo nhân dân phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện thắng lợi các mục tiêu

đề ra

Trang 28

Tuy nhiên, trước tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, một bộ phận cán bộ,công chức nói chung, cán bộ, công chức cấp xã nói riêng có biểu hiện suy thoái vềphẩm chất đạo đức, thái độ quan liêu, hách dịch, chưa thực hiện tốt công tác dân chủ cơsở; có dấu hiệu, tư tưởng cơ hội, ý thức kỷ luật kém gây mất đoàn kết nội bộ; tinh thầnphê bình và tự phê bình còn thấp, gây tổn hại đến uy tín và làm giảm sút lòng tin củanhân dân đối với Đảng, Nhà nước Mặt khác, tỉ lệ cán bộ, công chức chưa đạt chuẩncòn cao Theo số liệu thống kê của Bộ Nội vụ, tính đến tháng 12/2012, số lượng và chấtlượng cán bộ, công chức ở nước ta như sau:

- Về đội ngũ cán bộ cấp xã, cả nước có 145.112 cán bộ chuyên trách Trong

đó, số cán bộ người dân tộc thiểu số là 27.571 người (chiếm 19%); số cán bộ nữ là24.959 người (chiếm 17,2%) Về trình độ chuyên môn, số cán bộ chưa qua đào tạo

có 45.071 người (chiếm 31,06%); trình độ sơ cấp là 9.375 người (chiếm 6,46%);cao đẳng là 6.095 người (chiếm 4,20%) và đại học là 32.142 người (chiếm22,15%) Về trình độ lý luận chính trị, số người chưa qua đào tạo là 25.571 người(chiếm 17,46%); trình độ sơ cấp là 23.639 người (chiếm 16,29%); trung cấp89.244 người (chiếm 61,5%) và cao cấp là 6.893 người (chiếm 4,75%)

- Đội ngũ công chức cấp xã có 111.496 người Trong đó, số công chức ngườidân tộc thiểu số là 17.728 người (chiếm 15,9%), số công chức nữ là 28.097 người(chiếm 25,2%) Về trình độ chuyên môn: có 8.507 công chức (chiếm 7,63%) chưaqua đào tạo chuyên môn; công chức có trình độ sơ cấp là 2.409 người (chiếm2,16%); trung cấp là 66.251 người (chiếm 59,42%); cao đẳng là 6.790 người(chiếm 6,09%) và trình độ đại học là 27.539 người (chiếm 24,7%) Về trình độ lýluận chính trị, số công chức chưa qua đào tạo là 46.082 người (chiếm 41,33%);trình độ sơ cấp là 23.481 người (chiếm 21,06%); trung cấp là 41.119 người (chiếm36,88%) và trình độ cao cấp là 814 người (chiếm 0,73%)

Qua số liệu trên cho thấy, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức chínhquyền cấp xã ở nước ta còn thấp Vì vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,công chức chính quyền cấp xã là việc làm rất cần thiết hiện nay

Trang 29

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP

XÃ CỦA HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN 2.1 Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Ân Thi

2.1.1 Về số lượng, cơ cấu

+ Số lượng cán bộ cấp xã là 212 người, chiếm tỉ lệ 49,5%

+ Số lượng công chức cấp xã là 216 người, chiếm tỉ lệ 50,5%

Như vậy số lượng cán bộ cấp xã ít số lượng công chức cấp xã 04 người, tươngđương ít hơn 1%

Qua việc phân tích trên ta thấy các xã trên địa bàn huyện Ân Thi cũng đã quantâm bổ sung về mặt số lượng cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Tỉ lệ số lượng cánbộ, công chức cấp xã của huyện khá đều nhau

b Về cơ cấu

* Cơ cấu theo giới tính ( Phụ lục 2)

Cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã của huyện Ân Thi năm 2014 theo giới tính

là không đồng đều, cụ thể:

- Cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã của huyện tập trung chủ yếu vào nam giới

Trang 30

- Năm 2014, tổng số có 428 cán bộ, công chức cấp xã thì có tới 226 cán bộ, công chức cấp xã là nam giới chỉ có 202 cán bộ, công chức cấp xã là nữ giới Như vậy mức chênh lệch cán bộ, công chức nam/ nữ là 140 người.

+ Cán bộ cấp xã là nam giới có 176 người, chiếm 77,9%; trong khi cán bộ

là nữ giới chỉ có 36 người, chiếm 17,8 % Như vậy mức chênh lệch cán bộ nam/

nữ là 116 người

+ Công chức cấp xã là nam giới có 166 người, chiếm 82,2 % Công chức cấp xã là nữ giới có 50 người, chiếm 22,1% Như vậy mức chênh lệch công chức nam/ nữ là 116 người

Như vậy, số lượng cán bộ, công chức cấp xã là nam giới cao rất nhiều so với

nữ giới Nguyên nhân của vấn đề này có thể do nam giới thường có điều kiện học tập để nâng cao trình độ hơn nữ giới, khả năng di chuyển và chấp nhận đi công tác xã tốt hơn nữ giới trong khi nữ giới còn gặp nhiều vấn đề về gia đình hơn Vấn đề này cũng là thực trạng chung của cả nước, ngoài ra vẫn còn định kiến bất bình đẳng giới, điều này khiến cho nữ giới ít được trọng dụng hơn

* Cơ cấu theo độ tuổi ( Phụ lục 3)

Để có thể đánh giá về cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã của huyện Ân Thi theo độ tuổi năm 2014, ta có thể quan sát bảng số liệu ở phụ lục số 3

Căn cứ vào bảng số liệu về cơ cấu cán bộ theo độ tuổi cho thấy độ tuổi cán bộ, công chức cấp xã của huyện Ân Thi tập chung không đồng đều ở các nhóm độ tuổi, cụ thể:

-Đối với cán bộ cấp xã của huyện tập trung chủ yếu trong độ tuổi từ 45- dưới 55 tuổi và từ 55 - 60 tuổi là chủ yếu

+ Độ tuổi cán bộ cấp xã từ 44 - dưới 55 tuổi là 110 người trên tổng số 212 người,chiếm tỉ lệ 52%;

+ Độ tuổi cán bộ cấp xã từ 55-60 tuổi là 61 người trên tổng số 212 người, chiếm

tỉ lệ 28,7%

+ Trong tổng số 212 cán bộ cấp xã thì chỉ có tất cả 6 người trong độ tuổi dưới 30tuổi và trên 60 tuổi chiếm 2,8% Độ tuổi từ 30-dưới 45 có 35 người, chiếm 16,5%

Trang 31

-Đối với công chức cấp xã của huyện tập trung chủ yếu trong độ tuổi từ 30-dưới

45 tuổi và từ 45-dưới 55 tuổi là chủ yếu

+ Độ tuổi công chức cấp xã từ 30-dưới 45 tuổi là 95 người trong tổng số 216người, chiếm tỉ lệ 44%

+ Độ tuổi công chức cấp xã từ 45-dưới 50 tuổi là 77 người trong tổng số 216người, chiếm tỉ lệ 35,5%

+ Trong đó độ tuổi dưới 30 chỉ có 25 người trong tổng số 216 người, chiếm tỉ lệ11,5% Độ tuổi từ 55-60 có 19 người, chiếm 9% Độ tuổi trên 60 không có công chứcnào

Qua việc phân tích cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã của huyện Ân Thi theo độ tuổi có thể cho thấy cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện là chưa hợp lý Thể hiện ở tỷ lệ cán bộ cấp xã của huyện trong độ tuổi từ 44-dưới 55 tuổi

và từ 55-60 tuổi chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng số cán bộ công chức xã Đây là độ tuổi có nhiềm kinh nghiệm làm việc và thâm niên công tác, điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ cấp xã Song điều này minh chứng rằng việc trẻ hóa đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã chưa được chú trọng, dẫn đến cán bộ

về hưu hoặc luân chuyển công tác không có nguồn kế cận Nên cần có giải phải đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn cán bộ trẻ để có nguồn kế cận sau này

2.1.2 Về sức khỏe

Sức khỏe là yếu tố cần thiết đối với tất cả mọi người Đối với cán bộ,công chức cấp xã của huyện Ân Thi nói riêng thì sức khỏe là yếu tố cần thiết để cán bộ, công chức có một thể lực tốt, một tinh thần thỏa mái để có thể hoàn thành nhiệm

vụ

Nhận thức được tầm quan trọng đó, huyện Ân Thi hàng năm đã đều tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho cán bộ, công chức của huyện trong đó có bao gồm cán bộ, công chức các xã trên địa bàn huyện

Nhìn chung cán bộ, công chức cấp xã của huyện đều có thể lực, sức khỏe tốt docông tác tuyển chọn và khám sức khỏe được tiến hành nghiêm túc Với tỉ lệ cán bộ,

Trang 32

công chức là nam giới chiếm đa số thường có sức khỏe tốt hơn, cường độ làm việc caohơn nữ giới nên về cơ bản có thể đảm bảo thực hiện công việc một cách tốt nhất.

2.1.3 Về trình độ văn hóa, chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý nhà nước

a Về trình độ văn hóa ( Phụ lục 4)

Trình độ văn hóa của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Ân Thiđược phân làm 3 cấp là: Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông

Căn cứ vào bảng số liệu ở phụ lục 4 ta có thể thấy trình độ văn hóa của độingũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Ân Thi năm 2014 như sau:

Số cán bộ, công chức cấp xã có trình độ văn hóa tập trung chủ yếu ở cấpTrung học phổ thông chiếm tỉ lệ đa số là 97,9%, tương đương với 419 người trên tổng

số 428 người

Số cán bộ cấp xã có trình độ Trung học phổ thông vẫn còn 9 người, chiếm tỉ lệ4,3% Trong khi đó công chức cấp xã có tỉ lệ 100% có trình độ văn hóa Trung học phổthông, tương đương với 216 người

Qua phân tích về trình độ văn hóa của đội ngũ cán bộ, công chức ở trên ta thấyđược sự cần thiết phải chuẩn hóa chất lượng cán bộ về trình độ văn hóa nhằm nâng caohơn nữa chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức

b Về trình độ chuyên môn (Phụ lục 5)

Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Ân Thiđược phân theo 5 cấp là: Sơ cấp và chưa qua đào tạo, Trung cấp, Cao đẳng, Đại học,Trên đại học

- Trong tổng số 428 cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Ân Thi chỉ có

72 cán bộ, công chức có trình độ Đại học chiếm tỉ lệ 16,8 % Trong đó, cán bộ cấp xã

có 32 người, chiếm 15%; công chức cấp xã có 40 người, chiếm 18,5%

- Số cán bộ, công chức cấp xã có trình độ Cao đẳng là 40 người trong tổng số

428 người, chiếm tỉ lệ 9% Trong đó, cán bộ cấp xã có 6 người, chiếm tỉ lệ 3%; côngchức cấp xã có 34 người, chiếm tỉ lệ 16%

Trang 33

- Số cán bộ, công chức có trình độ Trung cấp là 261 người chiếm tỉ lệ 61%.Trong đó, cán bộ có 120 người, chiếm 57%; công chức có 141 người chiếm tỉ lệ 65%.

- Số cán bộ, công chức có trình độ Sơ cấp và chưa qua đào tạo có 54 người chiếm tỉ lệ 13%

- Số cán bộ, công chức có trình độ trên đại học chỉ có 1 người, rơi vào công chứccấp xã, chiếm tỉ lệ 0,2%

Như vậy, qua kết quả phân tích ở trên cho thấy trình độ chuyên môn của đội ngũcán bộ, công chức trên địa bàn huyện Ân Thi có nhiều bất cập Cụ thể, số lượng cán bộ,công chức có trình độ trung cấp chiếm tỉ lệ rất cao, lên đến 61% Ngược lại, số cán bộ,công chức có trình độ Cao đẳng, Đại học và trên Đại học chiếm tỉ lệ rất thấp Do cócần phải có các biện pháp, kế hoạch để tiếp tục nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ,công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đặc biệt đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

có trình độ chuyên môn sơ cấp và chưa qua đào tạo cần phải có biện pháp quyết liệt, cụthể

c Về trình độ lý luận chính trị ( Phụ lục 6)

Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện

Ân Thi được phân theo 3 cấp: Sơ cấp và chưa qua đào tạo, Trung cấp, Cao cấp Căn cứ vào bảng số liệu trong phụ lục 6 về trình độ lý luận của cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Ân Thi ta thấy:

Trong tổng số 428 cán bộ, công chức cấp xã của huyện Ân Thi thì có tới 184cán bộ, công chức cấp xã có trình độ lý luận chính trị là Sơ cấp và chưa qua đào tạo, chiếm tỉ lệ 43% Trong đó số cán bộ cấp xã có 49 người, chiếm tỉ lệ 23%; côngchức cấp xã có 135 người, chiếm tỉ lệ 62,5%

Số cán bộ, công chức cấp xã có trình độ lý luận chính trị ở bậc Trung cấp lêntới 240 người, chiếm tỉ lệ 56% Trong đó, số cán bộ cấp xã chiếm tỉ lệ 75%, tương đương với 159 người; số công chức cấp xã chiếm tỉ lệ 37,5% tương đương với 81 người

Số cán bộ, công chức cấp xã có trình độ lý luận chính trị bậc Cao cấp chỉ có

4 người, chiếm tỉ lệ 1%, và tập trung hết vào đội ngũ cán bộ xã

Trang 34

Như vây, qua kết quả phân tích ở trên có thể thấy được trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Ân Thi còn rất nhiều bất cập Số cán bộ, công chức có trình độ Sơ cấp và chưa qua đào tạo, Trung cấp chiếm đa số, trong khi đó số cán bộ, công chức có trình độ lý luận chính trị chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ Điều này cho thấy chất lượng cán bộ, công chức cấp xã củahuyện Ân Thi chưa thực sự tốt và cần có các biện pháp, kế hoạch nâng cao trình độ

lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Như việc mở lớpđào tạo, bồi dưỡng; cử đi học nâng cao trình độ,

d Về trình độ quản lý nhà nước ( Phụ lục 7)

Trình độ quản lý nhà nước của công chức cấp xã của huyện Ân Thi còn rất thấp Số lượng công chức cấp xã chưa qua bồi dưỡng về trình độ quản lý nhà nước chiếm tỉ lệ tuyệt đối là 100%

Tuy nhiên bên cạnh sự bất cập về trình độ quản lý nhà nước của công chức cấp xã thì ngược lại, trình độ quản lý nhà nước của đội ngũ cán bộ cấp xã chưa quabồi dưỡng chiếm tỉ lệ rất nhỏ là 2%, tương đương với 4 cán bộ Số cán bộ có trình độ quản lý nhà nước là Chuyên viên chính và tương đương là 49 cán bộ, chiếm tỉ lệ23%, Chuyên viên và tương đương có 159 cán bộ, chiếm tỉ lệ rất cao là 75%

Qua đánh giá ở trên ta thấy trình độ quản lý nhà nước của đội ngũ công chứccòn rất thấp Vì vậy cần phải quan tâm hơn nữa tới trình độ quản lý nhà nước cho đội ngũ công chức cấp xã của huyện để nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ cấp xã

2.1.4 Khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao

Nhận thưc được trách nhiệm, nhiệm vụ của mình, hều hết cán bộ, công chức cấp

xã của huyện Ân Thi đều tích cực phấn đấu, vượt qua những khó khăn để hoàn thànhnhiệm vụ được giao Tích cực làm công tác tham mưu cho cấp trên để đề ra các chínhsách, chủ chương đúng đăn và triển khai có hiệu quả để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện cácnhiệm vụ chính trị tại địa phương

Tuy nhiên, tính nhạy bén, chủ động còn hạn chế Một số cán bộ, công chức cấpxã của huyện còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn, một số chưa đáp ứng được yêu cầu và

Trang 35

nhiệm vụ mới, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức cấp xã còn nhiềuhạn chế, từ đó ảnh hưởng tới chất lượng chất lượng công việc Qua kết quả đánh giácán bộ, công chức hàng năm cho thấy, có tới 97% cán bộ, công chức cấp xã của huyện

Ân Thi hoàn thành nhiệm vụ

2.1.5 Về phẩm chất đạo đức và lối sống

Về phẩm chất đạo đức và lối sống, số đông cán bộ, công chức cấp xã của huyện

Ân Thi vẫn giữ được phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh, gắn bó với nhân dân.Trong hoàn cảnh kinh tế thị trường, môi trường xã hội rất phức tạp, bên cạnh mặt tíchcực thì mặt trái của nó hàng ngày, hàng giờ tác động tiêu cực không nhỏ đến xã hội,nhưng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện đã phát huy tính tích cực lao động,làm giàu chính đáng; động viên nhân dân làm giàu đi đôi với xóa đói giảm nghèo.Không ít những tấm gương sáng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện vềđạo đức, lối sống, không mắc phải những tiêu cực xã hội, mà còn có ý thức đi đầu,ngăn chặn tiêu cực, làm lành mạnh hóa môi trường xã hội Họ giữ được lòng trung thực

và là hạt nhân đoàn kết quần chúng, hăng hái đấu tranh tham nhũng, quan liêu

2.2 Đánh giá chung về thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp xã của huyện Ân Thi

2.2.1 Ưu điểm

Qua việc phân tích về thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Ân Thi ta có thể nhận thấy chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức xã của huyện có nhiều ưu điểm đáng để kể đến như sau:

- Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Ân Thi có nhiều người được giáo dục và rèn luyện qua thực tiễn đấu tranh cách mạng giải phóng Tổ quốc, bảo

vệ xây dựng nhà nước Trải qua nhiều hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, đại bộ phận cán bộ, công chức cấp xã của huyện đã phát huy được truyền thống vẻ vang của dân tộc thể hiện ở bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý thức độc lập tự chủ, kiên định mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa, luôn trung thành với Đảng, với nhân dân, cốnghiến trí tuệ, tài năng cho đất nước, quan hệ chặt chẽ với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm và ủng hộ Đây là một ưu điểm rất quan trọng của đội ngũ cán bộ, công

Trang 36

chức cấp xã của huyện Ân Thi Bởi Nhà nước ta là Nhà nước “của dân, do dân, vì dân”, do vậy, cán bộ, công chức là “công bộc của dân”.

- Trong quá trình thực hiện các chủ chương của Đảng và Nhà nước về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã, huyện Ân Thi đã coi trọng lãnh đạo các khâu trong công tác cán bộ; từ tuyển dụng, tiếp nhận, bố trí, sử dụng đến quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, chú trọng đến nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức của của cán bộ, công chức Từ đó giúp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của huyện

- Hầu hết các cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Ân Thi đều là những người có phẩm chất đạo đức và lối sống tốt Có ý thức kỷ luật tốt, công tác tốt

- Đại đa số cán, bộ công chức cấp xã của huyện luôn cần cù, chịu khó học hỏi, đổi mới tư duy, do đó có trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức mặc dù không cao nhưng đã từng bước khắc phục và tăng lên qua mỗi nhiệm kỳ, thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chuyên môn, tạo bước chuyển quan trọng về kinh tế-xã hội, góp phần ổn định chính trị, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới của nhà nước

- Có sự đa dạng về các loại hình đào tạo để bổ sung kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện,

- Tất cả những hoạt động trên đã góp phần giảm bớt những khó khăn trước mắt và nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Ân Thi Do đó cần tiếp tục phát huy để nâng cao hơn nữa chất lượng của độingũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện

Trang 37

dự nguồn sau đào tạo (hiện nay còn nhiều trường hợp được cử đi đào tạo tại các trườngtrung cấp và đại học đã tốt nghiệp chưa được bố trí công việc theo quy hoạch), chưa có

kế hoạch cụ thể để thực hiện tốt quá trình chuyển đổi các thế hệ cán bộ cấp xã

- Nội dung và chất lượng đào tạo (nhất là hệ tại chức) chưa cao; một số cán bộ,công chức cấp xã có hiện tượng học nhằm hợp thức hoá bằng cấp Việc đào tạo lại độingũ cán bộ cấp cơ sở chưa được thực hiện đồng bộ về mọi mặt, mới chỉ đào tạo về lýluận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ mà chưa chú ý bồi dưỡng về kỹ năng quản lýđiều hành, tổ chức thực hiện, nhất là xử lý những tình huống khó khăn ở cơ sở; phươngthức đào tạo chưa đa dạng hoá

- Trong quy hoạch cán bộ cơ sở, mới chỉ dừng lại ở các chức danh cán bộ lãnhđạo, quản lý chủ chốt mà chưa chú ý đến các chức danh khác, còn 25% cán bộ cấp xãcủa huyện chưa qua đào tạo sơ cấp chuyên môn; 23% chưa qua đào tạo lý luận chính trị

sơ cấp; 65% công chức chưa qua đào tạo từ trung cấp chuyên môn; 62,5% công chức

chưa qua đào tạo lý luận chính trị sơ cấp

- Trong công tác chỉ đạo, điều hành một số nơi còn bộc lộ yếu kém về năng lực,trình độ, nhất là việc cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước vào tình hình cụ thể địa phương còn lúng túng, chưa đủ sức giải quyết những vấn

đề nảy sinh phức tạp theo thẩm quyền, tính tự chủ trong công việc còn hạn chế

- Trong đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức cấp xã của huyện Ân Thi vẫncòn tình trạng nể nang, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ chưa đủ tiêu chuẩn về trình độ đào tạo,khả năng quản lý, chỉ đạo điều hành

- Trong chính sách đãi ngộ về vật chất và tinh thần, thu hút nhân tài, hỗ trợ cánbộ, công chức cấp xã trong học tập nâng cao trình độ trên địa bàn huyện tuy đã có songchế độ còn thấp

- Ở một số xã, một số CBCC cấp xã hoạt động chưa thực sự dựa vào pháp luật,đôi khi còn giải quyết công việc theo ý muốn chủ quan, việc ứng xử với nhân dân, vớicộng đồng còn nặng về tập quán, thói quen, tình cảm

Ngày đăng: 08/05/2016, 22:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w