1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường quản lý tài chính tại báo thể thao việt nam

104 1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 386,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

từng bước giảm dần bao cấp từ NSNN, Nhà nước đã trao quyền tựchủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp trong tổ chức côngviệc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài c

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đơn vị sự nghiệp là các đơn vị do các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền quyết định thành lập, là đơn vị dự toán độc lập, có condấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định củaLuật Kế toán Các đơn vị sự nghiệp của Việt Nam hoạt động trongcác lĩnh vực sự nghiệp Giáo dục – Đào tạo và Dạy nghề, sự nghiệp

Y tế, Đảm bảo xã hội, sự nghiệp Văn hoá – Thông tin (bao gồm cảđơn vị phát thanh truyền hình ở địa phương), sự nghiệp Thể dục -Thể thao, sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác

Đơn vị sự nghiệp được chia thành các loại: đơn vị có nguồnthu sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên;đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí thườngxuyên và đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị không cónguồn thu do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thườngxuyên

Đơn vị sự nghiệp có thu được thành lập trong các cơ quan nhànước và là một bộ phận quan trọng trong hệ thống kinh tế quốc dân.Ngày nay, vai trò và vị trí kinh tế của các đơn vị sự nghiệp có thungày càng được nâng cao và khẳng định Thực hiện chủ trương xãhội hoá trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đónggóp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp,

Trang 2

từng bước giảm dần bao cấp từ NSNN, Nhà nước đã trao quyền tựchủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp trong tổ chức côngviệc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính đểhoàn thành nhiệm vụ được giao đồng thời phát huy mọi khả năngcủa đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội, tăngnguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động.

Báo Thể thao Việt Nam là đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảotoàn bộ kinh phí hoạt động theo quy định tại Nghị định số43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ và đượcTổng cục Thể dục Thể thao (trước đây là Uỷ ban Thể dục Thể thao)giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với đơn vị sựnghiệp công lập Đơn vị đã xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ quyđịnh các định mức chi tiêu về các nội dung như: chi trả nhuận bút,chế độ công tác phí, chế độ chi tiêu hội nghị, tiếp khách, quy địnhtạm ứng và chi trả thu nhập tăng thêm, thanh toán các khoản chi phínghiệp vụ chuyên môn, …

Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, nhiều hạn chế của Quychế chi tiêu nội bộ và quản lý tài chính đối với đơn vị còn bộc lộ,ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và khả năng phát huy năng lựccủa Báo Do vậy, việc nghiên cứu để đề xuất một số giải pháp nhằmtăng cường hiệu quả quản lý tài chính tại Báo Thể thao Việt Nam làhết sức cần thiết

Trang 3

Nhận thức được tầm quan trọng, tính cấp thiết và mới mẻ của

vấn đề nêu trên tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Tăng cường quản

lý tài chính tại Báo Thể thao Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu

luận văn Thạc sỹ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích lý luận về hoạt động quản lýtài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu và qua thực tế quản lý tài chínhtại Báo Thể thao Việt Nam, Luận văn nhằm đạt các mục tiêu sau:

- Hệ thống hoá những lý luận cơ bản về quản lý tài chính đốivới các đơn vị sự nghiệp có thu;

- Phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Báo Thể thao ViệtNam từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá về hoạt động quản lý tàichính tại đơn vị;

- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm tăng cường quản lý tàichính tại Báo Thể thao Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động quản lý tài chính trong cácđơn vị sự nghiệp có thu;

- Phạm vi nghiên cứu: quản lý tài chính tại Báo Thể thao Việtnam giai đoạn 2007 – 2009

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Bằng công trình nghiên cứu khoa học này, Luận văn đã đónggóp những kết quả nhất định sau:

Trang 4

- Hệ thống hoá và làm rõ lý luận chung về hoạt động quản lýtài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu;

- Qua việc nghiên cứu hoạt động quản lý tài chính tại Báo Thểthao Việt Nam, Luận văn đã khái quát được thực trạng cũng nhưnêu ra những ưu điểm và hạn chế của Quy chế chi tiêu nội bộ vàquản lý tài chính tại Báo Thể thao Việt Nam, từ đó đề xuất các giảipháp nhằm tăng cường quản lý tài chính tại Báo Thể thao Việt Nam

5 Kết cấu Luận văn

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo,Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận cơ bản về quản lý tài chính trong các đơn

Trang 5

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG CÁC

ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU

1.1.1 Khái niệm và phân loại

Bất cứ một xã hội nào, muốn tồn tại và hoạt động bình thường,dưới giác độ kinh tế học, đều phải tiêu tốn rất nhiều sản phẩm dướidạng các hàng hoá và dịch vụ Các hàng hoá và dịch vụ, nếu xéttheo tính chất sử dụng, được chia thành hàng hoá dịch vụ cá nhân vàhàng hoá dịch vụ công cộng

Hàng hoá dịch vụ cá nhân là những hàng hoá dịch vụ đượccung cấp riêng rẽ cho từng cá nhân nào đó sử dụng thì không còn cơhội cho các cá nhân khác sử dụng Do đó, hàng hoá dịch vụ cá nhân

có tính loại trừ cao, cũng đồng nghĩa với tính cạnh tranh cao trong

sử dụng Với đặc tính như vậy, việc cung cấp hàng hoá dịch vụ cánhân trong xã hội hiện nay chủ yếu được thực hiện thông qua cơ chếmua bán trên thị trường theo nguyên tắc trao đổi ngang giá Để đápứng nhu cầu hàng hoá dịch vụ cá nhân của xã hội, đã có hàng loạtcác cơ sở sản xuất với tính chất, quy mô đa dạng và phong phúnhằm tạo ra vô số những chủng loại hàng hoá dịch vụ cá nhân, đượcgọi chung là các cơ sở kinh doanh hay doanh nghiệp Trong điềukiện kinh tế thị trường, các doanh nghiệp có đặc trưng cơ bản nhất

là hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận

Trang 6

Khác với hàng hoá dịch vụ cá nhân, hàng hoá dịch vụ côngcộng được cung cấp đồng thời cho nhiều cá nhân cùng sử dụng Về

cơ bản, việc sử dụng hàng hoá dịch vụ công cộng của cá nhân nàykhông ảnh hưởng đến việc sử dụng của cá nhân khác Do đó, việcloại trừ một cá nhân nào đó không được sử dụng là khá khó khăn,thậm chí không thể nào loại trừ được Như vậy cũng có nghĩa là, khi

sử dụng hàng hoá dịch vụ công cộng hầu như không có tính cạnhtranh, không phân chia theo khẩu phần được Với đặc điểm này, chỉ

có Nhà nước với quyền lực chính trị trong tay đảm nhận sứ mệnhsản xuất và cung cấp các hàng hoá dịch vụ công cộng cho xã hộithông qua các cơ quan đơn vị khác do Nhà nước thành lập Các tổchức, đơn vị được thành lập nhằm sản xuất cung cấp hàng hoá dịch

vụ công cộng cho xã hội với mục đích hoạt động phục vụ cộng đồng

và xã hội, phi lợi nhuận được gọi chung là đơn vị sự nghiệp

Theo chế độ kế toán Việt Nam: “Đơn vị sự nghiệp là đơn vị doNhà nước quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụchuyên môn nhất định hay quản lý Nhà nước về một lĩnh vực nào

đó, hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp, cấp trên cấp toàn bộhoặc cấp một phần kinh phí và các nguồn khác đảm bảo theonguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp nhằm thực hiện nhiệm vụ củaĐảng và Nhà nước giao trong từng giai đoạn”

Xét dưới góc độ tài chính, đơn vị sự nghiệp có 3 loại chủ yếu:Loại đơn vị sự nghiệp không có khả năng bù đắp chi phí, Nhà nước

Trang 7

buộc phải dùng công cụ thuế, bắt buộc, phân bổ nghĩa vụ nộp chomọi người có sử dụng hàng hoá dịch vụ công cộng, số thuế thu đượcnày là nguồn lực tài trợ để duy trì sự hoạt động của các đơn vị; Loạiđơn vị sự nghiệp có khả năng bù đắp một phần chi phí, khi đượccung cấp hàng hoá dịch vụ người thụ hưởng phải trả tiền trực tiếpcho đơn vị theo cơ chế thu phí trong đó phí thực chất là giá củahàng hoá dịch vụ công cộng đó, phí có thể giúp đơn vị trang trảimột phần chi phí; Loại đơn vị sự nghiệp có khả năng bù đắp hoàntoàn chi phí nhưng không vì lợi nhuận, khi cung cấp hàng hoá dịch

vụ công cộng đã đạt được sự loại trừ cao nên có thể áp dụng gầnnhư cơ chế giá bán

Như vậy, đơn vị sự nghiệp nói chung và đơn vị sự nghiệp cóthu nói riêng là những đơn vị mà nguồn thu cho hoạt động dựa trênnguồn thu sự nghiệp theo quy định của Nhà nước để trang trải mộtphần trong toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (phần còn lại doNSNN cấp) Cụ thể là các tổ chức cung cấp các dịch vụ công cộng

về y tế, giáo dục đào tạo, văn hoá, thông tin tuyên truyền … hoạtđộng không nhằm mục đích lợi nhuận trực tiếp mà hoạt động nhằmcung cấp những sản phẩm mang lại lợi ích chung, lâu dài và bềnvững cho xã hội Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp luôn gắn liền

và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội của Nhànước Đơn vị sự nghiệp có quyền chủ động, tự quyết, tự chịu trách

Trang 8

nhiệm, nâng cao hiệu quả hoạt động, sắp xếp bộ máy tổ chức và laođộng hợp lý góp phần tăng thu nhập, phúc lợi cho người lao động.

Căn cứ vào mức độ tự đảm bảo chi phí hoạt động thườngxuyên của đơn vị sự nghiệp có thể phân loại đơn vị sự nghiệp thôngqua công thức sau:

Mức tự đảm bảo chi phí Tổng số nguồn thu sự nghiệp

- x 100%

của đơn vị (%) Tổng số chi hoạt động thườngxuyên

- Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động, gồm:

+ Đơn vị sự nghiệp có mức tự đảm bảo chi phí hoạt độngthường xuyên (xác định theo công thức trên) bằng hoặc lớn hơn100%;

+ Đơn vị sự nghiệp đã tự bảo đảm chi phí hoạt động từ nguồnthu sự nghiệp, từ nguồn NSNN do cơ quan có thẩm quyền của Nhànước đặt hàng;

- Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động: làđơn vị sự nghiệp có mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thườngxuyên (xác định theo công thức trên) từ trên 10% đến dưới 100%;

Trang 9

- Đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạtđộng, gồm:

+ Đơn vị sự nghiệp có mức tự đảm bảo chi phí hoạt độngthường xuyên (xác định theo công thức trên) từ 10% trở xuống;

+ Đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu

Thông thường, mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thườngxuyên, ổn định và lớn hơn 10% thì được xếp vào đơn vị sự nghiệp

có thu

Căn cứ vào từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp cụ thể, đơn vị

sự nghiệp có thu bao gồm:

- Đơn vị sự nghiệp giáo dục, đào tạo

- Đơn vị sự nghiệp y tế (bảo vệ chăm sóc sức khoẻ)

- Đơn vị sự nghiệp văn hoá, thông tin

- Đơn vị sự nghiệp báo chí truyền thông

- Đơn vị sự nghiệp phát thanh truyền hình

- Đơn vị sự nghiệp dân số - trẻ em, kế hoạch hoá gia đình

- Đơn vị sự nghiệp thể dục, thể thao

- Đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ, môi trường

- Đơn vị sự nghiệp kinh tế

Trang 10

- Đơn vị sự nghiệp có thu khác

Đơn vị sự nghiệp có thu được xác định bởi các căn cứ cơ bảnsau:

- Do các cơ quan hành chính Nhà nước thành lập: căn cứ vào

vị trí và phạm vi hoạt động mà các đơn vị sự nghiệp có thu có thể

do Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ trưởng Bộ chủ quản, hoặc Chủtịch Uỷ ban nhân sân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trựctiếp ra quyết định thành lập;

- Trong quá trình hoạt động được Nhà nước cho phép thu cácloại phí để bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí hoạt động, tăngthu nhập cho cán bộ, công chức và bổ sung phát triển hoạt động sựnghiệp của đơn vị;

- Được nhà nước uỷ quyền với mục đích cung cấp dịch vụcông cho xã hội không vì mục tiêu lợi nhuận Dịch vụ công lànhững hoạt động phục vụ lợi ích tối cần thiết cho xã hội, đảm bảocác quyền và nghĩa vụ cơ bản của con người, đảm bảo cuộc sốngbình thường và an toàn Về nguyên tắc, dịch vụ công không phảidịch vụ thương mại nên không tồn tại trong môi trường cạnh tranh

và không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ

Xã hội ngày càng phát triển đến một thời điểm nhất định cáchoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội không còn là những tổ chức riêng

rẽ, phân tán mà được hợp tác liên kết, quan hệ với nhau trong sự

Trang 11

phân công lao động phát triển theo chiều rộng và chiều sâu Hay nóikhác là các hoạt động kinh tế, văn hoá xã hội được “xã hội hoá”,mọi lực lượng từ nhà nước đến tập thể, tư nhân đều có trách nhiệmthực hiện, “nhà nước và nhân dân cùng làm” Đa dạng hoá nguồn tàichính trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục đào tạo, báo chí truyềnthông, thể dục thể thao, y tế, là thực hiện xã hội hoá nguồn tàichính nhằm làm cho mọi người dân, mọi tổ chức, mọi thành phầnkinh tế nhận thức và thực hiện nghĩa vụ, quyền hạn, lợi ích trong sựphát triển và hưởng thụ thành quả các hoạt động sự nghiệp này.

1.1.2 Đặc trưng đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực truyền

thông, báo chí

Các đơn vị sự nghiệp thực hiện tự chủ tài chính là các đơn vị

sự nghiệp công lập do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết địnhthành lập, là một đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoảnriêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật Kế toán, hoạtđộng trong các lĩnh vực sự nghiệp Giáo dục – Đào tạo và Dạy nghề,

sự nghiệp Y tế, Đảm bảo xã hội, sự nghiệp Văn hoá – Thông tin, sựnghiệp Thể dục - Thể thao, sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác.Các đơn vị này được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trongviệc tổ chức công việc, sắp xếp bộ máy, sử dụng lao động và nguồnlực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khảnăng của mình để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội;tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao

Trang 12

động Các đơn vị sự nghiệp có thể tự chủ tài chính một phần, tự chủtài chính 100% hoặc kinh phí hoạt động do NSNN cấp hoàn toàn.

Các đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực truyền thông, báo chí làcác đơn vị sự nghiệp công lập mang tính đặc thù khác xa các đơn vị

sự nghiệp công khác, trực thuộc một cơ quan hành chính của mộtcấp chính quyền nào đó (trung ương hoặc địa phương), một tổ chứcchính trị xã hội hay một đơn vị kinh tế, hoặc là thành viên của mộtđơn vị sự nghiệp khác với một nhiệm vụ chính trị hàng đầu là tuyêntruyền, giáo dục

Trước hết, các đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực truyền thông,báo chí cũng mang một số đặc điểm chung của các đơn vị sự nghiệp

Trang 13

- Được chủ động sử dụng số biên chế được cấp có thẩm quyềngiao; sắp xếp và quản lý lao động phù hợp với chức năng, nhiệm vụcủa đơn vị theo pháp luật;

- Được chủ động xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế độ chitiêu nội bộ để đảm bảo hoạt động thường xuyên cho phù hợp vớihoạt động đặc thù của đơn vị và tăng cường công tác quản lý, sửdụng kinh phí có hiệu quả trên cơ sở quy định hiện hành của Nhànước;

- Hàng năm, căn cứ vào kết quả hoạt động tài chính, sau khitrang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác (nếucó) cho NSNN, nếu còn chênh lệch đơn vị được trích lập các quỹ:Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi,Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp Mức trích Quỹ khen thưởng vàphúc lợi không vượt quá 3 tháng lương thực tế bình quân trong năm

Báo chí là cơ quan ngôn luận của Đảng và Nhà nước, là diễnđàn của nhân dân, người làm nghề báo là những người nắm vữngquan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nướcđồng thời nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của truyền thông đạichúng Trong giai đoạn hiện nay, báo chí là ngọn cờ cách mạng tậphợp, đoàn kết, cổ vũ toàn dân hăng hái tiến hành thắng lợi côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Do đó, các đơn vị sự nghiệpthuộc lĩnh vực truyền thông, báo chí là các đơn vị sự nghiệp mang

Trang 14

tính đặc thù Hầu hết các đơn vị sự nghiệp truyền thông, báo chí ởnước ta đều là các đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo 100% kinhphí hoạt động thường xuyên (trừ một số báo trực thuộc cơ quanhành chính địa phương) với nguồn thu chủ yếu từ hoạt động pháthành báo và thu quảng cáo Luật Báo chí năm 1998 và Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999 quy định rất rõ

“Báo chí ở nước CHXHCN Việt Nam là phương tiên thông tin đạichúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận củacác tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàncủa nhân dân” Sản phẩm của báo chí là sản phẩm tư tưởng - vănhoá không thể tính bằng tiền một cách cụ thể

Hiện nay, cả nước có 620 cơ quan báo chí với 700 ấn phẩm,mỗi năm in trên 700 triệu bản, bình quân gần 8tờ/người/năm; có 68đài phát thanh - truyền hình Trung ương và địa phương; 01 hãngthông tấn Nhà nước, báo mạng điện tử không ngừng phát triểnnhanh và mạnh Đồng thời, các loại hình truyền thông đan xen nhautrong các cơ quan báo chí (VTV, VOV, vietnamnet…) Hàng vạnngười tham gia vào các lĩnh vực báo chí - truyền thông trong đó có15.000 nhà báo được cấp thẻ, công tác đào tạo nhà báo chuyênnghiệp đang phát triển ở các trường đại học chuyên ngành trong vàngoài nước Thế và lực về cơ sở vật chất - kỹ thuật và tài chính củabáo chí ngày càng được nâng cao, tiêu biểu là các tờ báo Tiềnphong, Thanh niên, Tuổi trẻ, Hà nội mới…

Trang 15

Thông qua các hoạt động thông tin tuyên truyền trên báo chí

đã khơi dậy lòng tự hào dân tộc, thời cơ và vận hội mới của đấtnước để vượt qua những khó khăn thách thức trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Bên cạnh đó, báo chí còn tích cực tham giachống tham nhũng, lãng phí, đưa ra ánh sáng nhiều vụ việc tiêu cực,tạo được lòng tin của nhân dân với báo chí cũng như với sự lãnh đạocủa Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước Đội ngũ nhữngngười làm báo là những chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hoá củaĐảng Có thể nói, trong những thành tựu quan trọng của đất nước,báo chí thực sự là công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức các phongtrào hành động cách mạng của nhân dân trong cả nước, thực hiệnthắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước đã đề ra

Nền kinh tế càng phát triển và hội nhập, hoạt động báo chícàng trở nên một hoạt động nghề nghiệp xã hội đặc biệt và mangtính cạnh tranh cao Ngày càng có nhiều tờ báo ra đời, dưới hìnhthức báo in và báo điện tử với độ cập nhật thông tin và hình thứcbáo mang tính cạnh tranh Các đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực báochí, truyền thông muốn tồn tại và phát triển một mặt vừa phải kiêntrì giữ vững định hướng nhằm hoàn thành nhiệm vụ chính trị đượcgiao mặt khác phải liên tục cập nhật đổi mới về nội dung, hình thức,nâng cao tính chuyên nghiệp đồng thời có cơ chế quản lý tài chínhhợp lý, phù hợp trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệtnhư hiện nay

Trang 16

1.2 Quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp có thu

1.2.1 Khái niệm

Cơ chế quản lý tài chính là tổng thể các phương pháp, công cụ

và hình thức tác động lên một hệ thống để liên kết phối hợp hànhđộng giữa các bộ phận thành viên trong hệ thống nhằm đạt đượcmục tiêu cuối cùng của quản lý Cụ thể là, tại một đơn vị sự nghiệpquản lý tài chính là hoạt động quản lý nguồn thu và quản lý các hoạtđộng chi

Nhà nước có thể lựa chọn một trong hai cơ chế quản lý tàichính đối với đơn vị sự nghiệp là cơ chế quản lý tài chính theo dựtoán năm và cơ chế tự chủ tài chính Cơ chế quản lý tài chính theo

dự toán năm là cơ chế quản lý truyền thống, mang tính áp đặt, phụthuộc Các đơn vị hoạt động dựa trên nguồn kinh phí do NSNN cấp,

vì vậy các đơn vị hoàn toàn thụ động, trông chờ kinh phí ngân sáchcấp, không chủ động được nguồn kinh phí, mọi hoạt động đều dựatrên sự cấp phát, cơ chế xin cho đã khiến cho các thủ tục rườm rà,chậm chạp nên hoạt động không hiệu quả Cơ chế tự chủ tài chính là

cơ chế quản lý tài chính linh hoạt, chủ động trong bố trí và sử dụngnguồn kinh phí

Nhà nước đảm bảo cơ chế tự chủ tài chính cho các đơn vị sựnghiệp có thu trên các mặt sau:

Thứ nhất, xác lập và bảo đảm quyền quản lý và sử dụng củađơn vị sự nghiệp có thu đối với toàn bộ các nguồn lực tài chính do

Trang 17

NSNN cấp, nguồn thu sự nghiệp của đơn vị và các nguồn thu kháctheo quy định của pháp luật như viện trợ, vay nợ, quà biếu, tặng…Đơn vị sự nghiệp thực hiện quyền chiếm hữu, quyền sử dụng cácnguồn lực tài chính hoặc với tư cách là một chủ thể quyền sở hữuđược Nhà nước uỷ quyền Thực chất là chủ thể quyền sở hữu vềkinh tế, quản lý và sử dụng các nguồn lực phù hợp với ý chí và lợiích của chủ sở hữu pháp lý (Nhà nước) và tự chịu trách nhiệm trướcchủ thể uỷ quyền (Nhà nước) khi thực hiện các quyền năng này.

Thứ hai, xác lập và đảm bảo quyền chủ động sử dụng cácnguồn lực tài chính, như được chủ động bố trí kinh phí để thực hiệncác hoạt động sự nghiệp, được xây dựng quỹ tiền lương, tiền công,được lập dự toán thu, chi nội bộ; xây dựng các quy chế chi tiêu nộibộ; được điều chỉnh dự toán thu, chi; kinh phí hoạt động thườngxuyên và các khoản thu sự nghiệp cuối năm chưa chi hết đượcchuyển sang năm sau để tiếp tục sử dụng; được trích lập và sử dụngcác quỹ như quỹ dự phòng ổn định thu nhập, quỹ khen thưởng, quỹphúc lợi và quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp…

Cơ chế tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu ra đời trongquá trình thực hiện tách chức năng quản lý nhà nước với chức năngđiều hành các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công để hoạt động theo các

cơ chế riêng, phù hợp, có hiệu quả; xoá bỏ cơ chế cấp phát tài chínhtheo kiểu “xin - cho”, ban hành các cơ chế, chính sách thực hiện chế

độ tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có điều kiện như

Trang 18

trường đại học, bệnh viện, cơ quan báo chí, viện nghiên cứu …Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2002 về cơ chếtài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu ra đời, nhằm quản lýthống nhất nguồn thu, tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp tăngthu bảo đảm trang trải kinh phí hoạt động Nghị định này ra đời đãtrao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu Trongquá trình thực hiện có một số quy định cần được sửa đổi cho phùhợp với thực tế, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế và xã hộinói chung, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006

đã ra đời thay thế cho Nghị định số 10/2002/NĐ-CP Nghị định mớinày được xem là bước khai thông “cởi trói” tiếp tục cho các đơn vị

sự nghiệp có thu.Với Nghị định 43/2006/NĐ-CP, các đơn vị sựnghiệp có thu được giao quyền tự chủ trên cả 3 mặt: nhiệm vụ, tổchức bộ máy, biên chế và tài chính

Đơn vị sự nghiệp được thực hiện quyền tự chủ, tự chịu tráchnhiệm trong việc xác định nhiệm vụ, xây dựng kế hoạch và tổ chứchoạt động Đối với những đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo hoặc đảmbảo một phần kinh phí hoạt động, tuỳ theo khả năng của đơn vị,được quyền quyết định mua sắm tài sản, đầu tư xây dựng cơ sở vậtchất, được sử dụng tài sản để liên doanh, liên kết hoặc góp vốn liêndoanh với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư xâydựng, mua sắm máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động dịch vụ phùhợp với chức năng nhiệm vụ của đơn vị Đơn vị sự nghiệp được

Trang 19

quyền thành lập, sáp nhập, giải thể các đơn vị trực thuộc Đối vớiđơn vị tự đảm bảo chi phí hoạt động, được tự quyết định biên chế.Thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp cũng được quyền quyết định việctuyển dụng cán bộ, viên chức, được quyết định bổ nhiệm vào ngạchviên chức, chấm dứt hợp đồng… Đối với lĩnh vực tài chính, Nhànước vẫn đảm bảo cấp từ ngân sách kinh phí cho hoạt động thườngxuyên, kinh phí cho hoạt động khoa học, công nghệ, kinh phí đàotạo cán bộ, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, kinh phíthực hiện chính sách tinh giản biên chế, vốn đầu tư xây dựng cơbản, kinh phí mua sắm thiết bị… theo dự toán hàng năm đã đượccấp có thẩm quyền phê duyệt Nhưng với đơn vị sự nghiệp tự đảmbảo được chi phí hoạt động được quyết định tổng mức thu nhậptrong năm cho người lao động, sau khi đã trích lập quỹ phát triểnhoạt động sự nghiệp (25%) Những đơn vị đảm bảo được một phầnchi phí hoạt động được tự quyết định mức thu nhập trong năm chongười lao động, nhưng tối đa không quá 3 lần quỹ tiền lương cấpbậc, chức vụ trong năm do Nhà nước quy định Việc chi trả thunhập cho người lao động được thực hiện theo nguyên tắc tính đếnhiệu suất và đóng góp của cá nhân với đơn vị và công việc đượcgiao Thực tế, Nghị định 43/2006/NĐ-CP đã trao cho các đơn vị sựnghiệp có thu thêm quyền tự chủ để phát huy mọi tiềm năng, đemhiệu quả cao nhất cho hoạt động của mình và người lao động kỳvọng sẽ được hưởng đồng lương xứng đáng hơn với kết quả laođộng.

Trang 20

1.2.2 Nội dung

Quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu bao gồm hoạtđộng quản lý nguồn tài chính và quản lý các hoạt động chi của đơnvị

Về nguồn tài chính:

- Một là: Nguồn kinh phí do NSNN cấp gồm:

+ Kinh phí đảm bảo hoạt động thường xuyên thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ đối với đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chiphí hoạt động, được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trongphạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao;

+ Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ, các

đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp bộ, ngành, chươngtrình mục tiêu quốc gia và các nhiệm vụ đột xuất khác được cấp cóthẩm quyền giao;

+ Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,viên chức;

+ Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền đặt hàng;

+ Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩmquyền giao;

Trang 21

+ Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độNhà nước quy định;

+ Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết

bị, sửa chữa TSCĐ phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án đượccấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàngnăm;

+ Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoàiđược cấp có thẩm quyền phê duyệt;

Riêng đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí, đượcNSNN cấp kinh phí hoạt động thường xuyên Mức kinh phí NSNNcấp được ổn định trong thời kỳ là 03 năm và hàng năm được tăngthêm theo tỷ lệ do cấp có thẩm quyền quyết định Hết thời kỳ ổnđịnh 03 năm, mức NSNN bảo đảm sẽ được xác định lại cho phùhợp

- Hai là: Nguồn thu sự nghiệp của đơn vị, bao gồm:

+ Thu từ phí, lệ phí thuộc NSNN do đơn vị thu được để lạitheo quy định;

+ Thu từ hoạt động cung ứng dịch vụ phù hợp với chuyên môn

và khả năng của đơn vị Mức thu các hoạt động dịch vụ này do thủtrưởng đơn vị quyết định theo nguyên tắc đảm bảo thu bù đắp đủ chi

và có thể có tích luỹ;

Trang 22

+ Các khoản thu sự nghiệp khác theo quy định của pháp luật(nếu có);

+ Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiềngửi ngân hang từ các hoạt động dịch vụ

- Ba là: Thu từ nguồn vốn viện trợ, quà biếu, tặng, cho theoquy định của pháp luật

- Bốn là: Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật nhưnguồn vốn vay tín dụng, vay của cán bộ, viên chức trong đơn vị;nguồn vốn tham gia liên doanh, liên kết…

Các đơn vị sự nghiệp được Nhà nước cho phép khai thác mọinguồn thu để bổ sung nguồn tài chính cho các đơn vị Khoản thucủa các đơn vị sự nghiệp không vì mục đích lợi nhuận Tuỳ theotính chất và đặc điểm hoạt động, Nhà nước cho phép đơn vị sựnghiệp ở một số lĩnh vực được thu một số khoản mang tính chất sựnghiệp như phí, lệ phí… Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp là mộtnội dung thu của NSNN và được quy định trong Luật Ngân sách.Mục đích của các khoản thu này là nhằm xoá bỏ dần tình trạng baocấp qua ngân sách, giảm nguồn kinh phí cấp phát từ NSNN, trangtrải thêm cho các hoạt động của đơn vị, huy động sự đóng góp củacác tổ chức và dân cư, không phải xuất phát từ mục đích lợi nhuậnnhư các khoản thu của các doanh nghiệp Đơn vị sự nghiệp có thuhoạt động vì nhiệm vụ chính trị là chính, nếu có thu thì chủ yếu là

Trang 23

để tự trang trải cho hoạt động của mình không vì mục tiêu lợinhuận.

Việc hạch toán và quản lý nguồn kinh phí hoạt động được ápdụng ở mọi đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính và phải đảm bảonguyên tắc: kinh phí được hình thành từ nguồn nào phải hạch toánđúng theo nguồn đó và được theo dõi, quản lý riêng, chi tiết theotừng nguồn

Về hoạt động chi:

- Chi hoạt động thường xuyên:

+ Chi cho hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụđược cấp có thẩm quyền giao, gồm: tiền lương, tiền công, các khoảnphụ cấp lương, các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,kinh phí công đoàn theo quy định hiện hành, dịch vụ công cộng, vănphòng phẩm, chi nghiệp vụ chuyên môn, sửa chữa thường xuyênTSCĐ và các khoản chi khác theo chế độ quy định;

+ Chi hoạt động thường xuyên phục vụ công tác thu phí và lệphí gồm: tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp lương, các khoảntrích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theoquy định hiện hành, dịch vụ công cộng, văn phòng phẩm, chi nghiệp

vụ chuyên môn, sửa chữa thường xuyên TSCĐ và các khoản chikhác theo chế độ quy định phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí;

Trang 24

+ Chi cho các hoạt động dịch vụ, gồm: tiền lương, tiền công,các khoản phụ cấp lương, các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảohiểm y tế, kinh phí công đoàn theo quy định hiện hành, nguyên,nhiên vật liệu, tiền công, khấu hao TSCĐ, sửa chữa TSCĐ, chi trảtiền lãi vay, tiền lãi huy động theo hình thức vay của cán bộ, viênchức; chi các khoản thuế phải nộp theo quy định của pháp luật vàcác khoản chi khác.

- Chi không thường xuyên, gồm:

+ Chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ

+ Chi thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viênchức

+ Chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia

+ Chi thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩmquyền đặt hàng

+ Chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nướcngoài theo quy định

+ Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩmquyền giao

+ Chi thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ nhànước quy định

Trang 25

+ Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửachữa lớn TSCĐ thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phêduyệt

+ Chi thực hiện các dự án từ nguồn vốn viện trợ nước ngoài+ Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết

+ Các khoản chi khác theo quy định

Kế thừa và phát huy Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, cơ chế củaNghị định số 43/2006/NĐ-CP đã có nhiều tác động tích cực đếncông tác quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu Một mặt,

về quản lý và sử dụng nguồn tài chính, các đơn vị được tạo điềukiện đa dạng hoá hoạt động cung cấp dịch vụ công, đa dạng hoá các

mô hình tổ chức thu hút các nguồn lực tài chính đặc biệt là quyềnđược liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân để hoạt động dịch

vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội; quyền được vay vốn của các tổ chứctín dụng, được huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị đểđầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổchức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng nhiệm vụ được giao.Mặt khác, về quản lý chi hoạt động, căn cứ vào nhiệm vụ được giao

và khả năng nguồn tài chính, các đơn vị được tự chủ, tự quyết địnhmột số mức chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ cao hoặc thấp hơnmức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; quyền quyếtđịnh đầu tư tăng cường trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp,

Trang 26

sửa chữa và nâng cấp công sở theo quy định của pháp luật; cải thiệnđời sống cán bộ, nhân viên thông qua việc trả lương gắn với hiệuquả công việc của mỗi người qua đó tạo ra động lực đối với ngườilao động, tạo không khí phấn đấu làm việc, yên tâm công tác vàcống hiến.

Hàng năm, sau khi trang trải toàn bộ chi phí hoạt động và thựchiện đầy đủ nghĩa vụ với NSNN theo quy định của pháp luật, sốchênh lệch giữa phần thu và phần chi tương ứng các đơn vị phảitrích tối thiểu 25% để tạo lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp,trả thu nhập tăng thêm cho người lao động, sau đó trích lập QuỹKhen thưởng, Quỹ Phúc lợi và Quỹ Dự phòng ổn định thu nhập.Đối với Quỹ Khen thưởng và Quỹ Phúc lợi, mức trích tối đa khôngquá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quânthực hiện trong năm

Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi bằng hoặc nhỏ hơnmột lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm đơn vị được tựquyết định sử dụng như sau: trả thu nhập tăng thêm cho người laođộng; trích lập các quỹ: Quỹ Phát triển hoạt động sự nghiệp (khôngkhống chế mức trích tối thiểu 25% chênh lệch thu lớn hơn chi), QuỹKhen thưởng, Quỹ Phúc lợi, Quỹ Dự phòng ổn định thu nhập Đốivới Quỹ Khen thưởng và Quỹ Phúc lợi mức trích tối đa 2 quỹ khôngquá ba tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quântrong năm

Trang 27

Mức cụ thể chi trả thu nhập tăng thêm và trích lập các quỹ doThủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộcủa đơn vị.

Nhà nước khuyến khích đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính tăngthu, tiết kiệm chi nhằm tạo điều kiện tăng thu nhập cho người laođộng trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao và thực hiện đầy đủnghĩa vụ với NSNN

Trong cơ chế tự chủ tài chính, quy chế chi tiêu nội bộ của từngđơn vị chính là thước đo và định mức việc thực hiện các khoản chicũng như cách thức phân phối kết quả của đơn vị Quy chế chi tiêunội bộ bao gồm các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức chitiêu áp dụng thống nhất trong đơn vị, đảm bảo đơn vị hoàn thànhnhiệm vụ được giao, thực hiện hoạt động thường xuyên phù hợp vớihoạt động đặc thù của đơn vị, sử dụng kinh phí có hiệu quả và tăngcường công tác quản lý Như vây, quy chế chi tiêu nội bộ là căn cứ

để thủ trưởng đơn vị điều hành việc sử dụng và quyết toán nguồnkinh phí từ nguồn NSNN cấp cho hoạt động thường xuyên và nguồnthu sự nghiệp của đơn vị, là cơ sở pháp lý để Kho bạc Nhà nướckiểm soát chi Những nội dung chi trong quy chế chi tiêu nội bộ đã

có tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền ban hành thìphải thực hiện theo đúng quy định của nhà nước như tiêu chuẩn,định mức sử dụng xe ôtô, sử dụng trụ sở làm việc… Những nộidung chi cần thiết phục vụ cho hoạt động của đơn vị trong quy chế

Trang 28

chi tiêu nội bộ nhưng nhà nước chưa ban hành chế độ thì thủ trưởngđơn vị có thể xây dựng mức chi cho từng nhiệm vụ, nội dung côngviệc trong phạm vi nguồn tài chính của đơn vị Quy chế chi tiêu nội

bộ phải được xây dựng trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc dân chủ,công khai, đoàn kết nội bộ nhằm tạo điều kiện cho đơn vị chủ động,mạnh dạn hơn trong việc tổ chức các hoạt động chuyên môn, dịch

vụ đồng thời khai thác tối đa nguồn thu, bổ sung cơ sở vật chất vàphân phối tốt hơn kết quả hoạt động

Để đứng vững trong cơ chế thị trường, các đơn vị sự nghiệp cóthu không những phải vươn lên trong cạnh tranh chất lượng sảnphẩm về giá trị văn hoá, trình độ trí tuệ, thẩm mỹ, giá trị đạo đức,tính dân tộc, tính hiện đại… mà còn cạnh tranh về giá trị tiền tệ, hạgiá thành sản phẩm để nhiều người được sử dụng Như vậy, chứcnăng chính của các đơn vị sự nghiệp có thu là tạo ra những sảnphẩm chủ yếu phục vụ xã hội đồng thời tận dụng khả năng về nhânlực và vật lực của đơn vị để khai thác hoạt động thu

1.2.3 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý tài chính đối với đơn

vị sự nghiệp có thu

Cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp có thu là một nhân

tố có ảnh hưởng quan trọng tới công tác tự chủ tài chính tại các đơn

vị sự nghiệp có thu Vị trí quan trọng đó thể hiện ở các điểm cơ bảnsau:

Trang 29

- Cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp có thu có vai tròcân đối giữa việc hình thành, tạo lập và sử dụng các nguồn lực tàichính (các nguồn thu) nhằm đáp ứng các yêu cầu hoạt động thườngxuyên (các khoản chi) của đơn vị Do đó, cơ chế phải được xâydựng phù hợp với loại hình hoạt động của đơn vị nhằm tăng cường

và tập trung nguồn lực tài chính, đảm bảo sự linh hoạt, năng động

và đa dạng về hình thức giúp đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ đượcNhà nước giao;

- Cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp có thu tác độngđến quá trình chi tiêu ngân quỹ quốc gia, ảnh hưởng lớn đến việcthực hiện và hoàn thành nhiệm vụ của các đơn vị Vì vậy, cơ chế đóphải khắc phục được tình trạng lãng phí các nguồn lực tài chínhđồng thời khuyến khích tiết kiệm trong chi tiêu và tôn trọng nhiệm

vụ hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của mỗi đơn vị;

- Cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp có thu có vai trònhư một cán cân đảm bảo tính công bằng hợp lý trong việc phânphối, sử dụng các nguồn lực tài chính giữa các loại hình đơn vị,nhằm tạo môi trường bình đẳng cũng như sự phát triển hài hoà giữacác lĩnh vực hoạt động khác nhau của các đơn vị;

- Cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp có thu góp phầntạo hành lang pháp lý cho quá trình tạo lập và sử dụng nguồn tàichính trong các đơn vị Cơ chế được xây dựng trên quan điểm thốngnhất và hợp lý từ việc kiểm soát quá trình chi tiêu nhằm phát huy

Trang 30

vai trò của cơ chế tự chủ đến việc khuyến khích các nguồn thu Vìvậy, xây dựng cơ chế quản lý tài chính phải quan tâm về tổ chức bộmáy, đào tạo bòi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao trình độ cán bộ kết hợpvới tăng cường sự thống nhất trong chỉ đạo giữa các đơn vị trongcùng lĩnh vực, ngành hoạt động

Nghị định 10/2002/NĐ-CP là bước quan trọng nhằm phân biệt

rõ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệpthì việc giao quyền tự chủ cho đơn vị sự nghiệp có thu theo Nghịđịnh 43/2006/NĐ-CP là bước tiếp theo phân biệt chức năng, nhiệm

vụ toàn bộ các cơ quan, đơn vị thụ hưởng ngân sách theo 3 mảng:

cơ quan hành chính có chức năng quản lý nhà nước (điều chỉnh theoNghị định 130/2005/NĐ-CP về giao quyền tự chủ, tự chịu tráchnhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính); đơn vị

sự nghiệp công lập có chức năng cung cấp các dịch vụ công cộng(điều chỉnh theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP) và các tổ chức khoahọc công nghệ công lập (điều chỉnh theo Nghị định 115/2005/NĐ-

CP về …), từ đó có cơ chế quản lý phù hợp với từng lĩnh vực Đây

là đóng góp quan trọng trong cải cách hành chính, phân định rõluồng ngân sách của tài chính công

Một là: Thay đổi phương thức quản lý Thực hiện Nghị định

43/2006/NĐ-CP mối quan hệ giữa đơn vị sự nghiệp với cơ quanquản lý nhà nước đã có sự thay đổi theo hướng trao quyền tự chủ vềquản lý biên chế, lao động, hoạt động chuyên môn, quản lý tài chính

Trang 31

cho đơn vị sự nghiệp công lập đồng thời không làm thay đổi vàkhông can thiệp sâu vào hoạt động nội bộ của đơn vị Cụ thể là:

- Trong việc giao dự toán ngân sách nhà nước: việc cấp kinhphí ngay từ đầu năm và cấp vào một mục (đối với phần kinh phígiao khoán) và vào 4 nhóm mục (đối với phần không giao khoán) đãgiúp các đơn vị chủ động điều chỉnh các mục chi theo nhu cầu củamình đồng thời việc kiểm soát chi tại Kho bạc Nhà nước cũngnhanh chóng và thuận lợi hơn;

- Trong việc sử dụng kinh phí tiết kiệm từ hoạt động thườngxuyên: các đơn vị chủ động trong việc quản lý, sử dụng kinh phí,tiết kiệm chi Kinh phí thường xuyên năm trước không sử dụng hếtđược chuyển sang năm sau nên việc sử dụng nguồn kinh phí của cácđơn vị chủ động và hiệu quả hơn;

- Trong việc huy động nguồn vốn phát triển hoạt động sựnghiệp: các đơn vị được tự chủ trong việc huy động các nguồn vốn

để tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị; vay các tổ chứctín dụng, huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị, từ các nhàđầu tư thông qua hoạt động liên doanh, liên kết Nhờ đó cơ sở vậtchất của các đơn vị sự nghiệp được tăng cường, tạo điều kiện mởrộng các lĩnh vực hoạt động với các loại hình đa dạng, phong phú,phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao

Trang 32

Những kết quả này là bước tiến trong đổi mới cơ chế tài chính,làm cho hoạt động tài chính thông thoáng hơn, bước đầu thực hiệndân chủ cơ sở, thực hiện công khai minh bạch, dân chủ trong quản

và thu hút được người tài, người có năng lực, cống hiến cho sựnghiệp phát triển của đơn vị

Ba là: Đa dạng hoá các loại hình hoạt động sự nghiệp Thực

hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP các đơn vị sự nghiệp được giao

Trang 33

quyền tự chủ tài chính, đã mở rộng hoạt động sự nghiệp, ví dụ như:các trường đào tạo đã tổ chức hình thức đào tạo chính quy, tại chức,liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước về đào tạo…; các bệnhviện, trung tâm y tế đã tổ chức các hình thức khám chữa bệnh nộitrú, khám chữa bệnh theo yêu cầu, bác sỹ gia đình…; các cơ quanbáo chí, truyền thông đã mở rộng các loại hình phát hành báo nhưbáo in, báo điện tử, thành lập các trung tâm tổ chức sự kiện vàtruyền thông, giải trí… Nhà nước khuyến khích các đơn vị công lậpchuyển đổi sang hoạt động theo loại hình doanh nghiệp, loại hìnhngoài công lập nhằm phát huy mọi khả năng của đơn vị trong việcthực hiện các hoạt động chuyên môn theo quy định của pháp luật(được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tài sản của Nhànước đã đầu tư theo quy định của Pháp luật).

Bốn là: Thực hiện tự chủ về tài chính Các đơn vị sự nghiệp

khi chuyển sang thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP được khoánphần kinh phí ngân sách cấp cho hoạt động thường xuyên, đồng thờitích cực khai thác các nguồn thu từ hoạt động cung ứng dịch vụ vàđược chủ động sử dụng các nguồn kinh phí tuỳ theo yêu cầu hoạtđộng của đơn vị, đảm bảo chi tiêu hiệu quả, tiết kiệm trên cơ sở quychế chi tiêu nội bộ do đơn vị tự xây dựng Các đơn vị đã xây dựngcác giải pháp tích cực để tiết kiệm chi phí, như: xây dựng các tiêuchuẩn, định mức chi phí, định mức tiêu hao nguyên nhiên liệu để

Trang 34

thực hiện trong nội bộ đơn vị, xây dựng các quy trình cung cấp dịch

vụ hợp lý khoa học hơn

Bên cạnh những kết quả đạt được như đã nêu trên, trong quátrình triển khai thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP tại các đơn vị

sự nghiệp công lập còn những tồn tại Cụ thể như sau:

Thứ nhất, về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm tổ chức bộmáy, biên chế và nhân sự, Nghị định cho phép các đơn vị được tựquyết định về biên chế nhưng thực tế Thủ trưởng các đơn vị sựnghiệp chưa thực sự được thực hiện quyền này Biên chế thườngđược Bộ chủ quản giao từ đầu năm

Thứ hai, về cơ chế tài chính:

- Các đơn vị sự nghiệp công lập chưa có cơ sở thực hiện cácvăn bản định mức tiêu chuẩn ngành do một số văn bản quy định vềtiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật lạc hậu, chậm sửa đổi như:định mức giờ giảng, định mức biên chế theo lĩnh vực, theo ngànhnghề, mức chi trả thù lao cho giáo viên (theo quy định tại Thông tư79/2005/TT-BTC), mức thu học phí, viện phí quá thấp so với giá cảhiện tại Do vậy, hàng năm, NSNN vẫn phải hỗ trợ kinh phí chithường xuyên cho các cơ sở đào tạo dẫn đến một số cơ sở đào tạocòn tư tưởng trông chờ sự bao cấp từ NSNN, không năng động,cạnh tranh trong hoạt động Với các cơ quan báo chí, truyền thông,Nghị định 61/2002/NĐ-CP quy định về xây dựng quỹ nhuận bút và

Trang 35

khung nhuận bút đã trở nên quá lạc hậu và không còn phù hợp vớitính thị trường của nên kinh tế đang phát triển mà báo chí là mộtthành viên;

- Các đơn vị còn gặp khó khăn về thủ tục trong việc vay vốntín dụng để đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ do chưa có hướng dẫn

cụ thể và thủ tục yêu cầu về thế chấp tài sản phức tạp;

- Về tỷ lệ trích khấu hao và trích lập các quỹ: Thông tư số45/2006/TT-BTC quy định các đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ tàichính theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP phải trích khấu hao TSCĐnhư doanh nghiệp Mặt khác theo quy định tại Nghị định43/2006/NĐ-CP phần chênh lệch thu lớn hơn chi sau khi trang trảicác khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định,phải trích tối thiểu 25% vào quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp.Như vậy, các đơn vị bị giảm nguồn chi để nâng cao thu nhập chongười lao động, trong khi nguồn quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp

có thể không được sử dụng hết

Đối với các quỹ được trích lập do tiết kiệm chi từ hoạt độngthường xuyên trong năm của đơn vị không cho phép gửi tại ngânhàng mà phải thực hiện chi qua kho bạc cũng thể hiện tính cứngnhắc trong thi hành Luật Ngân sách

Trang 36

Nhận thức được những hạn chế khi thực hiện quản lý tài chínhtại đơn vị sự nghiệp có thu ở trên đã cho thấy sự cần thiết phải tăngcường quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu.

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính đơn vị sự

nghiệp có thu (thuộc lĩnh vực truyền thông, báo chí)

1.3.1 Nhân tổ chủ quan

- Các đơn vị chưa thực sự chủ động thay đổi và năng độngtrong quá trình hòa nhập với nền kinh tế thị trường, vẫn tồn tại tưtưởng ỷ lại vào sự bao cấp của nhà nước vì vậy chưa tận dụng tối đanăng lực vốn có và khả năng cạnh tranh thấp;

- Quy chế chi tiêu nội bộ do các đơn vị xây dựng còn chungchung, chưa trở thành cơ sở vững chắc để quản lý tài chính đồngthời phạm vi lĩnh vực hoạt động của các đơn vị còn thụ động, thiếuhiệu quả gây lãng phí nguồn lực vốn rất dồi dào của các đơn vị sựnghiệp có thu;

- Trình độ chuyên môn của đội ngũ kế toán ở các đơn vị chưađồng đều, một số Kế toán trưởng còn yếu về chuyên môn, nghiệp vụnên chưa thích nghi với cơ chế tài chính mới, đưa hoạt động tàichính của đơn vị theo quỹ đạo mới Một số đơn vị, bộ phận thammưu về tài chính còn yếu, lúng túng trong việc xây dựng quy chếchi tiêu nội bộ, đặc biệt là việc xác định hệ số lương cho từng cánhân Hầu hết các đơn vị đều gặp khó khăn trong việc xây dựng tiêu

Trang 37

chí để trả thu nhập tăng thêm cho người lao động theo hiệu quảcông việc;

- Hệ thống kiểm tra, kiểm soát tình hình tài chính của đơn vịđặc biệt là kiểm soát nội bộ hoạt động chưa chuyên nghiệp và pháthuy hiệu quả Việc kiểm tra, kiểm soát dù là kiểm soát nội bộ haykiểm tra của các cơ quan thanh tra, giám sát bên ngoài sẽ giúp đơn

vị tìm ra những thiếu sót trong cơ chế quản lý tài chính của đơn vị

từ đó kịp thời đưa ra các biện pháp khắc phục nhất là khi có sự lợidụng kẽ hở tài chính để tham ô, tư lợi Tuy nhiên công tác kiểm tra,kiểm soát cần phải đảm bảo tính khách quan, trung thực và hợp lý;

- Trình độ của cán bộ quản lý: nhà quản lý hay thủ trưởng cácđơn vị là người đầu tiên vận dụng các cơ chế quản lý tài chính vìvậy cần phải có đủ trình độ và năng lực chuyên môn để quản lý tàichính chặt chẽ, đảm bảo đúng pháp luật và phát huy tối đa hiệu quảcủa các nguồn tài chính

1.3.2 Nhân tố khách quan

- Các đơn vị sự nghiệp có thu đều được thành lập bởi các đơn

vị thụ hưởng NSNN đồng thời có nguồn gốc là đơn vị thụ hưởngmột phần hoặc 100% NSNN nên còn lệ thuộc nhiều vào cơ chếquản lý của đơn vị chủ quản;

- Các văn bản pháp luật của Nhà nước là cơ sở để thực hiệnmột số điều khoản thuộc quy chế chi tiêu nội bộ tại các đơn vị sự

Trang 38

nghiệp có thu chậm được sửa đổi cập nhật phù hợp với sự thay đổichung của xã hội;

- Các Bộ chủ quản chưa ban hành được các tiêu chí cơ bảnlàm căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao đối vớiđơn vị trực thuộc Đồng thời, Bộ cũng chưa ban hành văn bảnhướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiệnnhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với các đơn vị sự nghiệptheo quy định tại khoản 4 điều 5 và khoản 7 điều 8 Nghị định43/2006/NĐ-CP dẫn đến các đơn vị được giao quyền tự chủ về tàichính không đồng bộ, ảnh hưởng đến kết quả về việc thực hiện chế

độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm;

- Trình độ và sự hiểu biết của các nhà hoạch định chính sách,pháp luật của nhà nước ở tầm vĩ mô: chính sách, cơ chế hay phápluật đều do con người xây dựng vì vậy cơ chế quản lý tài chính tạicác đơn vị phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu biết, kến thức chuyên sâucủa các nhà hoạch định chính sách, nhà xây dựng pháp luật

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI BÁO THỂ THAO VIỆT NAM 2.1 KHÁI QUÁT VỀ BÁO THỂ THAO VIỆT NAM

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển

Ngày 16 tháng 6 năm 1957 Báo Thể dục Thể thao (tên ban đầucủa Báo Thể thao Việt Nam) xuất bản số đầu tiên Trước đó, tháng 3năm 1946 báo Việt Nam khoẻ, tờ báo đầu tiên của chế độ mới, tiềnthân của Báo Thể thao Việt Nam ra đời và hoạt động chưa đầy mộtnăm nhưng đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử là người mở đường chobáo chí thể thao cách mạng và đã để lại những trang tư liệu quý giá,phản ánh chân thật sự chỉ đạo và thực tiễn hoạt động của nhân dân

ta trong những tháng năm hào hùng xây dựng nền độc lập của đấtnước và mở đầu sự nghiệp thể dục thể thao thực sự của dân và dodân Báo Thể dục Thể thao thuộc Ban Thể thao Trung ương và là tờbáo chuyên đề đầu tiên về thể dục thể thao của nước Việt Nam Dânchủ Cộng hoà sau ngày giải phóng miền bắc

Ngày 15 tháng 3 năm 1990 Báo Thể dục Thể thao đổi tên mới

là Báo Thể thao Việt Nam, là cơ quan ngôn luận của Uỷ ban Thểdục Thể thao (sau này là Tổng cục Thể dục Thể thao), là diễn đàncủa quần chúng trong lĩnh vực thể dục thể thao, chịu sự quản lý trực

Trang 40

tiếp của cơ quan chủ quản là Uỷ ban Thể dục Thể thao, có chứcnăng tổ chức thực hiện việc xuất bản các loại ấn phẩm định kỳ thểdục thể thao đồng thời tuyên truyền chủ trương, đường lối củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thông tin các hoạt độngtrong lĩnh vực thể dục thể thao và các hoạt động kinh tế xã hội khác.

Giai đoạn 1965-1975: cả nước dồn sức người sức của chống

Mỹ, cứu nước, phong trào thể dục thể thao trên miền bắc đang pháttriển sâu rộng, Báo Thể dục Thể thao in 2kỳ/tháng phản ánh phongtrào rèn luyện 5 môn thể thao phục vụ quốc phòng và phong trào thiđua tiên tiến về thể dục thể thao đồng thời bám sát các trận địa hoạtđộng, cổ vũ phong trào thể dục thể thao yêu nước chống Mỹ

Giai đoạn 1975-1985: thời kỳ đất nước thống nhất đi lên chủnghĩa xã hội, Báo góp sức xây dựng nền thể dục thể thao xã hội chủnghĩa phát triển cân đối, có tính chất dân tộc, khoa học và nhân dân.Báo Thể dục thể thao mở rộng địa bàn hoạt động trong cả nướcđồng thời cùng với tuần báo, xuất bản thêm các ấn phẩm (đặc san vàPhụ trương Bóng đá) phục vụ yêu cầu đa dạng của bạn đọc

Giai đoạn 1986-1996: thời kỳ đầu đổi mới đất nước, Báo Thểdục thể thao với tên mới là Thể thao Việt Nam với sự đổi mới bướcđầu về nhiều mặt như nội dung, phong cách, nâng cao chất lượngthông tin và hình thức trình bày Cùng với việc tiếp tục xuất bản tờĐặc san Thế giới thể thao ra hàng tháng, Báo Thể thao Việt Namtăng số lượng lên 2kỳ/tuần

Ngày đăng: 08/05/2016, 20:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 2: Thang điểm nhuận bút (Nguồn: Phòng Tài vụ) - Tăng cường quản lý tài chính tại báo thể thao việt nam
Bảng s ố 2: Thang điểm nhuận bút (Nguồn: Phòng Tài vụ) (Trang 52)
Bảng số 3: Cơ cấu chi hoạt động của Báo Thể thao Việt Nam giai đoạn 2007-2009 (Nguồn: Phòng Tài vụ) - Tăng cường quản lý tài chính tại báo thể thao việt nam
Bảng s ố 3: Cơ cấu chi hoạt động của Báo Thể thao Việt Nam giai đoạn 2007-2009 (Nguồn: Phòng Tài vụ) (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w