1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những giải pháp vĩ mô nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế việt nam giai đoạn 2005 2010

111 342 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả đã tính toán mức độ đóng gópcủa các nhân tố đầu vào, của sự thay đổi kỹ thuật cũng như của mỗikhu vực kinh tế vào quá trình tăng trưởng kinh tế trong suet thời kỳ1985-2004.. Tron

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là vấn đề thu hút sự quantâm đối với mọi quốc gia trên thế giới ở các nước phát triển, tăngtrưởng kinh tế luôn là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế,nâng cao hơn nữa đời sống người dân, giảm thất nghiệp và để thựchiện nhiều mục tiêu vĩ mô khác Đối với các nước đang phát triển,thì nó là điều kiện số một để gia nhập nhóm các nước phát triển, đẩymạnh phát triển kinh tế, thực hiện công bằng xã hội, nâng cao đờisống người dân Còn ở các nước kém phát triển và chậm phát triển,thì nó là nhân tố quyết định để đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo,lạc hậu nhằm phát triển kinh tế và có điều kiện tham gia hội nhậpkinh tế quốc tế

Việc tính toán tỷ lệ tăng trưởng kinh tế nhìn chung không khó đốivới các nhà kinh tế học Nhưng việc nêu ra con số về tốc độ tăngtrưởng kinh tế sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu chúng ta không chỉ rađược con số đó chứa đựng những nội dung gì? Cụ thể, nếu chúng tanói rằng tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2004 là 7,46% màkhông nói cụ thể tăng trưởng này có nguồn gốc từ đâu thì con sốnày cũng không có nhiều ý nghĩa Do đó, việc nghiên cứu nguồngốc tăng trưởng kinh tế là điều kiện tiên quyết để các nhà quản lý vàhoạch định chính sách có cái nhìn đúng đắn về thực trạng của nềnkinh tế và từ đó có những chính sách đúng đắn thúc đẩy tăng trưởngkinh tế nhanh và bền vững

Trang 2

Xuất phát từ vấn đề trên tôi chọn đề tài: “Những giải pháp vĩ mô nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2005- 2010” làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế, góp phần làm rõ thêm

nguồn tăng trưởng và kiến nghị một số giải pháp vĩ mô nhằm thúcđẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu

Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề này đã thu hút không ít sự quantâm của nhiều nhà kinh tế với khá nhiều bài viết trên các báo, nhiềuluận án tiến sỹ, thạc sỹ, chương trình cấp nhà nước, các đề tài khoahọc, các công trình dưới dạng sách giáo khoa, giáo trình, tài liệutham khảo Ví dụ Lê Văn Sang, Kim Ngọc “Tăng trưởng kinh tế vàcông bằng xã hội ở Nhật Bản giai đoạn thần kỳ và Việt Nam thời kỳđổi mới”, NXB CTQG, 1999; Lê Bộ Lĩnh “Tăng trưởng kinh tế vàcông bằng xã hội ở một số nước Châu á và Việt Nam”, NXBCTQG, 1998; “ Đổi mới và tăng trưởng” sách tham khảo của Họcviện CTQG Hồ Chí Minh; Lê Đăng Doanh, Nguyễn Minh Tú “Tăngtrưởng kinh tế và chính sách xã hội ở Việt Nam trong qúa trìnhchuyển đổi từ 1991 đến nay; “Phát triển kinh tế trong một thế giớinăng động, thay đổi thể chế tăng trưởng và chất lượng mức sống,sách tham khảo của Học viện CTQG Hồ Chí Minh

Nổi lên trong những nghiên cứu trên là nghiên cứu của PGS.TS.Nguyễn Khắc Minh, chủ nhiệm khoa Kinh tế học, Đại học Kinh tếquốc dân Hà nội với đề tài “Nhìn lại kinh tế Việt Nam trong haithập kỷ qua một vài dự báo và đề xuất” Nghiên cứu đã chỉ ra nhữngthay đổi trong tăng trưởng năng suất, những thay đổi trong công

Trang 3

nghệ và hiệu quả kỹ thuật Tác giả đã tính toán mức độ đóng gópcủa các nhân tố đầu vào, của sự thay đổi kỹ thuật cũng như của mỗikhu vực kinh tế vào quá trình tăng trưởng kinh tế trong suet thời kỳ1985-2004 Thông qua việc sử dụng hàm sản xuất tổng hợp và chỉ

số TFP (năng suất nhân tố tổng hợp) Malmquist tính theo đầu ra củatoàn bộ nền kinh tế và trong mỗi khu vực sẽ được tính toán dựa trên

cơ sở dự liệu trong thời kỳ 1985-2004 Tác giả đã đưa ra những địnhhướng cụ thể nhằm thúc đẩy năng suất trong tong ngành, đồng thời,cũng mang lại một cái nhìn đầy đủ hơn về tăng trưởng TFP và thayđổi kỹ thuật trong nền kinh tế Việt Nam

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá các khái niệm tăng trưởng và một số phươngpháp đo lường tăng trưởng kinh tế

- Phân tích thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn1984-2004

- Kiến nghị một số giải pháp vĩ mô nhằm thúc đẩy tăng trưởngkinh tế Việt Nam giai đoạn 2005-2010

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng và phươngpháp kinh tế lượng để ước lượng nguồn tăng trưởng

5 Những đóng góp và ý nghĩa của luận văn

Trang 4

Luận văn đã tập trung phân tích thực trạng tăng trưởng kinh tếViệt Nam trên nhiều khía cạnh khác nhau trong giai đoạn 1985-

2004 Trên cơ sở thực trạng đã phân tích, luận văn đã đưa ra một sốphương hướng và giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Namgiai đoạn 2005-2010

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế

Chương 2: Thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn1985-2004

Chương 3: Những giải pháp vĩ mô nhằm thúc đẩy tăng trưởngkinh tế Việt Nam giai đoạn 2005-2010

Kết luận

Phụ lục

Tài liệu tham khảo

Trang 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH

TẾ

I Những vấn đề cơ bản về tăng trưởng kinh tế

1 Khái niệm và đo lường tăng trưởng kinh tế

1.1 Khái niệm

Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là vấn đề thu hút sự quantâm đối với mọi quốc gia trên thế giới Tăng trưởng kinh tế cao sẽtạo tiền đề thuận lợi cho một nước nâng cao khả năng cạnh tranh,chuyển dịch cơ cấu kinh tế đồng thời có nguồn lực dồi dào cho việcgiải quyết vấn đề phúc lợi công cộng như giáo dục, y tế và xoá đóigiảm nghèo.Vậy tăng trưởng kinh tế là gì? Sau đây, chúng ta sẽ lầnlượt tìm hiểu các khái niệm về tăng trưởng kinh tế

Khi nói về tăng trưởng kinh tế, James Tobin cho rằng:”vấn đềtăng trưởng hoàn toàn không có gì mới mẻ, chẳng qua chỉ là chiếc

áo mới được khoác cho một vấn đề muôn thủa, luôn luôn được kinh

tế học quan tâm nghiên cứu: đó là sự lựa chọn giữa hiện tại vàtương lai”1

Còn theo Pramit Chaudhuri tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên củasản lượng hàng hoá và dịch vụ mà sự tăng lên này được duy trìtrong thời gian dài

Khi nói về tăng trưởng kinh tế, Samuelson cho rằng: tăng trưởngkinh tế là sự mở rộng GDP hay sản lượng tiềm năng của một nước

Trang 6

Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế diễn ra khi đường giới hạn khảnăng sản xuất của một nước dịch chuyển ra phía ngoài.

Tăng trưởng kinh tế nói đến sự gia tăng về sản lượng hoặc thunhập bình quân đầu người của một nước Trong đó, sản lượngthường được đo bằng tổng sản phẩm quốc dân, đó là tổng sản lượnghàng hoá và dịch vụ mà một nền kinh tế tạo ra 2

Tăng trưởng kinh tế, theo quan niệm của Giáo sư Simon Kuznets(trích trong bài nhận giải thưởng Nobel 1971), là sự tăng lâu dài vềkhả năng cung cấp ngày càng tăng các mặt hàng kinh tế đa dạng cho

số dân của mình, khả năng ngày càng tăng này dựa trên công nghệtiên tiến và những điều chỉnh về thể chế và tư tưởng mà nó đòi hỏi.Theo tôi đây là một định nghĩa hoàn chỉnh về khái niệm tăngtrưởng kinh tế của một quốc gia Bởi lẽ, cả ba thành phần chính của

định nghĩa này đều có tầm quan trọng lớn Một là, sự gia tăng lâu

dài về sản phẩm quốc gia là một biểu hiện của tăng trưởng kinh tế

và khả năng cung cấp các chủng loại hàng hoá phong phú Hai là,công nghệ tiên tiến tạo cơ sở hay điều kiện tiên quyết cho tăngtrưởng kinh tế liên tục Ba là, những điều chỉnh về tư tưởng, phápluật, thái độ và chính sách là những thay đổi về mặt xã hội cần thiết

hỗ trợ cho quá trình thay đổi xã hội về mặt kinh tế

1.2.Đo lường tăng trưởng kinh tế

Khi một nước có tăng trưởng kinh tế, thỡ dõn cư trong nước nhỡnchung sẽ cú cuộc sống sung tỳc hơn Tăng trưởng kinh tế được định

Trang 7

nghĩa là sự gia tăng mức sản xuất mà nền kinh tế tạo ra theo thờigian.

Nhỡn chung tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm thayđổi của mức sản lượng quốc dân

%

100 Y

Như chúng ta đó biết GDP là thước đo được chấp nhận rộng rói

về mức sản lượng của một nền kinh tế Tất nhiên ở đây chúng ta nóiđến GDP thực tế chứ không phải GDP danh nghĩa, tức là chúng takhông tính đến sự biến động của giá cả theo thời gian

Thước đo trên có thể gây nhầm lẫn nếu như dân số tăng rất nhanhtrong khi GDP thực tế lại tăng trưởng chậm Một định nghĩa khác cóthể thích hợp hơn về tăng trưởng kinh tế tính theo mức sản lượngbỡnh quõn đầu người được tính bằng tổng sản lượng hàng hoá vàdịch vụ được tạo ra trong năm chia cho dân số Do đó, chúng ta đưa

ra chỉ tiêu ý nghĩa hơn về tăng trưởng kinh tế tính bằng phần trămthay đổi của GDP thực tế bỡnh quõn đầu người của thời kỳ nghiêncứu so với thời kỳ trước - thông thường tính cho một năm

%

100 y

y y

1 t t

Trang 8

g pc t là tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bỡnh quõn đầu người củathời kỳ t.

y là GDP thực tế bỡnh quõn đầu người.

Khi các nhà kinh tế nghiên cứu tăng trưởng kinh tế, họ quan tâmđến tăng trưởng của sản lượng thực tế (hay sản lượng trên mỗi đầungười) qua một thời kỳ dài để có thể xác định được các yếu tố làmtăng GDP thực tế tại mức tự nhiờn trong dài hạn

2 Vai trò của tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với một xã hộinói chung và đối với một nhóm người hay từng gia đình trong xãhội nói riêng Bởi lẽ, tăng trưởng kinh tế sẽ mở rộng phạm vi lựachọn của toàn bộ nền kinh tế Trên tầm vĩ mô, tăng trưởng kinh tế sẽlàm giảm nạn nghèo đói ở các quốc gia kém phát triển; nâng caohơn nữa chất lượng sống ở các nước đang phát triển và đem lại vịthế, uy tín cao hơn nữa cho các nước phát triển

Tăng trưởng và mức sống

Tăng trưởng nhanh và bền vững là mục tiêu hàng đầu đối với mọiquốc gia Đặc biệt, đây là vấn đề sống cũn đối với những nước đisau, có xuất phát điểm thấp về kinh tế như Việt Nam? Khi sảnlượng tăng một cách tương đối so với dân số, thỡ mức sống củangười dân sẽ cao hơn Sản lượng thực tế được mở rộng có nghĩa lànhiều hàng hoá và dịch vụ được tạo ra hơn và do đó có thể thoả móntốt hơn nhu cầu của các cá nhân trong xó hội Nếu mọi người đềuđược hưởng lợi từ tăng trưởng thỡ tăng trưởng chính là công cụ đắclực để giảm nghèo đói

Trang 9

Tăng trưởng và phân phối lại thu nhập

Không phải mọi người đều được lợi như nhau từ tăng trưởng kinh

tế Nhiều dân nghèo thậm chí không nằm trong lực lượng lao động

và do đó không được nhận mức tiền lương cao hơn Tiền lương vàlợi nhuận là những phương tiện chủ yếu để phân phối lợi ích từ tăngtrưởng Vỡ lý do này, ngay cả trong nền kinh tế đang có tăngtrưởng, chính sách phân phối lại là cần thiết nếu như nghèo đói vẫn

là một vấn đề cần khắc phục

Tỷ lệ tăng trưởng nhanh làm cho việc giảm nghèo đói trở nên dễdàng hơn về mặt chính trị Nếu như thu nhập hiện tại cần được phânphối lại, mức sống của một số người cần phải thấp hơn Tuy nhiên,khi có tăng trưởng kinh tế và khi phần thu nhập gia tăng được phânphối lại chỳng ta vẫn cú thể làm giảm sự bất bỡnh đẳng mà khônglàm giảm thu nhập của bất kỳ ai Sẽ dễ dàng hơn nhiều cho một nềnkinh tế tăng trưởng nhanh trở nên hào phóng đối với các công dânkém may mắn hơn so với nền kinh tế không có tăng trưởng

Tăng trưởng và lối sống

Các hộ gia đỡnh thường nhận thấy là sự thay đổi lớn trong mứcthu nhập có thể dẫn đến sự thay đổi lớn trong hỡnh mẫu tiờu dựngcủa họ - chi tiờu cho hàng thứ cấp giảm và chi tiờu cho hàng xa xỉtăng Hoàn toàn tương tự, các thành viên của xó hội cú thể thay đổihỡnh mẫu tiờu dựng khi thu nhập trung bỡnh của họ tăng lên.Không chỉ các thị trường trong một nền kinh tế có tăng trưởngnhanh mang lại nhiều lợi nhuận để tái đầu tư mở rộng sản xuất màchính phủ cũng có nhiều nguồn thu và có thể xây dựng được nhiều

Trang 10

đường cao tốc hơn và tạo ra nhiều khu vui chơi giải trí cho các côngdân đó trở nờn giàu cú hơn và cũng như đầu tư được nhiều hơn chodân cư ở các vùng sâu, vùng xa Tuy nhiên, vào giai đoạn sau đó,mối quan tâm về môi trường, về an toàn xó hội cú thể trở nờn quantrọng hơn và chi tiêu cho chúng có thể sẽ chiếm một phần quantrọng trong GDP Các khía cạnh phản ánh chất lượng cuộc sống sẽđược xó hội đặc biệt quan tâm một khi tăng trưởng đó đảm bảo thoảmón cỏc nhu cầu thiết yếu của dõn cư về lương thực, thực phẩm,quần áo và nhà ở.

Hơn nữa, khi một nền kinh tế đạt tăng trưởng cao và bền vững sẽtạo ra những cơ hội cho lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, tinh thần pháttriển Bởi lẽ, chỉ khi xã hội đạt đến một trình độ kinh tế nhất định thìmới có điều kiện tách một lượng người nhất định tập trung pháttriển các giá trị tinh thần như âm nhạc, triết học, hội hoạ

Một vai trò quan trọng khác của tăng trưởng kinh tế là nó giúp chocác nhóm xã hội khác nhau đạt được những mục tiêu của mình màkhông phải hy sinh những lợi ích của nhóm khác

Cuối cùng, tăng trưởng kinh tế có thể giúp đỡ cho những nướcđang phát triển độc lập trong việc huy động các nguồn lực để tăngcường sức mạnh quốc gia cũng như có nhiều điều kiện để tham giahội nhập kinh tế quốc tế

3 Đặc trưng cơ bản của tăng trưởng kinh tế hiện đại

Quá trình tăng trưởng kinh tế của hầu hết các nước phát triển baogồm các đặc trưng cơ bản sau:

3.1 Tốc độ tăng trưởng nhanh về sản lượng trên đầu người:

Trang 11

Trong kỷ nguyên tăng trưởng kinh tế hiện đại tất cả các nước pháttriển hiện nay đã trải qua những tốc độ tăng trưởng lớn gấp nhiềulần tốc độ tăng trưởng trước đây Tốc độ tăng trưởng hàng nămtrong suốt 200 năm vừa qua đạt mức trung bình khoảng 2% đối vớisản lượng theo đầu người và 1% đối với dân số Những tốc độ tăngtrưởng này (thường tăng gấp đôi trong 35 năm đối với sản phẩmtheo đầu người, trong 70 năm đối với dân số) lớn hơn rất nhiều sovới tốc độ tăng trưởng trong toàn bộ kỷ nguyên trước khi bắt đầucuộc cách mạng công nghiệp vào cuối thế kỷ 18.

3.2 Tốc độ tăng nhanh về năng suất

Đặc trưng quan trọng thứ hai của tăng trưởng kinh tế hiện đại làtốc độ gia tăng tương đối cao về năng suất nhân tố tổng hợp (TFP).Người ta tính được rằng tốc độ gia tăng năng suất chiếm từ 50 đến70% mức tăng trưởng trước đây về sản phẩm theo đầu người ở cácnước phát triển như Mỹ, Đức, Pháp Nói cách khác, tiến bộ côngnghệ bao gồm việc mở rộng các nguồn nhân lực và vật lực hiện cóchiếm hầu hết mức gia tăng đã xác định được về GDP theo đầungười

3.3 Tốc độ chuyển đổi cơ cấu kinh tế nhanh

Lịch sử phát triển của các quốc gia phát triển cho thấy tốc độ thayđổi về cơ cấu và khu vực kinh tế rất nhanh chóng Một số thànhphần chủ yếu của thay đổi cơ cấu bao gồm việc chuyển dần dần từcác hoạt động nông nghiệp sang phi nông nghiệp (dịch vụ và công

Trang 12

nghiệp), và gần đây hơn, từ công nghiệp sang dịch vụ; sự thay đổi

có ý nghĩa trong quy mô của các đơn vị sản xuất, từ gia đình nhỏ vàcác xí nghiệp cá nhân của các công ty quốc gia và đa quốc giakhổng lồ; và cuối cùng là sự thay đổi tương ứng trong vị trí địa lý vànghề nghiệp của lực lượng lao động từ các hoạt động ở nông thôn,hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp có liên quan, sang sảnxuất theo hướng đô thị và dịch vụ Số liệu thống kê ở Mỹ và cácnước phương Tây cho thấy tỷ lệ lao động trong nông nghiệp chiếmhơn 50% trong năm 1870 Sau hơn 100 năm, tỷ lệ này đã giảmxuống còn dưới 3%

3.4 Chuyển biến về tư tưởng, pháp luật, chính sách

Để cho cơ cấu kinh tế thay đổi đáng kể trong bất kỳ một xã hộinào, thường cần có sự thay đổi đồng thời về thái độ, chính sách, sự

bổ sung và hoàn thiện về luật pháp Sự chuyển biến này bao gồmcác nội dung chủ yếu sau:

- Hợp lý hoá trong quá trình sản xuất: đó là việc áp dụng các

phương pháp hiện đại về suy nghĩ, hành động, sản xuất, phân phối

và tiêu thụ thay thế cho các hệ thống cổ truyền và lâu đời

- Kế hoạch hoá: đó là việc xây dựng một hệ thống các chính sách

được phối hợp hợp lý mà có thể tạo nên và thúc đẩy sự tăng trưởng

và phát triển kinh tế

- Thái độ, pháp luật, chính sách vĩ mô được cải tiến: đó là việc thay

đổi cần thiết để tăng hiệu quả trong sản xuất; thúc đẩy cạnh tranhhiệu quả; cho phép công bằng hơn về cơ hội; tăng năng suất, tăngmức sống và thúc đẩy phát triển

Trang 13

II Các mô hình tăng trưởng kinh tế

1 Mô hình tăng trưởng kinh tế cổ điển

Đại diện tiêu biểu cho các nhà kinh tế học cổ điển là A.Smith vàD.Ricardo Trong phần này chúng ta sẽ tìm hiểu về mô hình tăngtrưởng kinh tế của D.Ricardo

Các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng cho rằng đất đai, lao động

và tư bản là các yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế Sự kết hợpgiữa những yếu tố này, trong từng ngành, với một trình độ kỹ thuậtnhất định, là không đổi

D.Ricardo cho rằng, hao phí các yếu tố trong sản xuất nôngnghịêp và công nghiệp có khác nhau Cụ thể, trong nông nghiệp khinhu cầu lương thực, thực phẩm tăng thì cần phải tiến hành trênnhững mảnh đất kém mầu mỡ do đó chi phí sản xuất tăng lên, lợinhuận giảm đi Ngược lại, trong công nghiệp, khi sản xuất gia tăngtheo quy mô thì lợi nhuận cũng tăng lên

Mối quan hệ giữa các yếu tố: Trong 3 yếu tố kể trên, theo ông đất

đai là yếu tố quan trọng nhất Bởi lẽ, đất đai canh tác là hạn chế nênđất đai chính là giới hạn của tăng trưởng Vì khi sản xuất nôngnghiệp gia tăng trên những mảnh đất kém mầu mỡ thì giá lươngthực, thực phẩm sẽ tăng lên Mà giá lương thực, thực phẩm lại là bộphận quan trọng nhất để đảm bảo đời sống gia đình công nhân Do

đó, tiền lương danh nghĩa của gia đình công nhân cũng phải tăng lêntương ứng, lợi nhuận của nhà tư bản có xu hướng giảm xuống.Trong khi đó, dân số tăng nhanh làm cho nạn khan hiém tư liệu sinhhoạt là phổ biến dẫn đến nhu cầu canh tác trên các mảnh đất xấu

Trang 14

Nếu cứ tiếp tục như vậy cho đến khi lợi nhuận hạ thấp không thể bùđắp được mọi rủi ro trong kinh doanh làm cho nền kinh tế trở nên bếtắc: địa tô ở mức cao, tiền công ở mức tối thiểu, lợi nhuận ở gầnmức không, tích luỹ tư bản và gia tăng dân số ngừng lại, tăngtrưởng cũng bị giới hạn bởi dất đai

Như vậy, theo D.Ricardo, tăng trưởng là kết quả của tích luỹ, tíchluỹ là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận phụ thuộc vào chi phí sản xuấtlương thực, chi phí này lại phụ thuộc vào đất đai Do đó, đất đai làgiới hạn của tăng trưởng

Hình 1: Đường tăng trưởng của D.Ricardo:Đất đai là giới hạn của sự tăng trưởng

Trong đó: R là đất đai; Y là sản lượng

Trang 15

Anh và Evsay Domar ở Mỹ đã cùng đưa ra mô hình giải thích mốiquan hệ giữa sự tăng trưởng với tiết kiệm và đầu tư ở các nước pháttriển

Trong mô hình giản đơn này chỉ có một yếu tố sản xuất duy nhất

là vốn, không có lao động, không có tiến bộ công nghệ Tham số mà

mô hình quan tâm là tỉ lệ giữa vốn và sản lượng (đầu ra) Mô hìnhHarrod-Domar tổng quát có dạng sau:

Y = K

trong đó:

Y: là sản lượng đầu ra đầu ra

: là hệ số hiệu quả của 1 đơn vị vốn và giả thiết là một hằng số.Nghịch đảo của  là tỉ lệ giữa vốn K và đầu ra Y: Y K

 1

Mô hình tăng trưởng được trình bày dưới dạng hệ phương trìnhsau:

Hệ phương trình trên được giải thích như sau:

(1) kết quả đầu ra Y chỉ phụ thuộc vào vốn K với hệ số hiệu quả

 là một hằng số

Trang 16

(2) dK ) dt(t là vi phân của K theo thời gian biểu thị sự gia tăng của tưbản do đầu tư I với giả thiết không có khấu hao.

(3) giả định tiết kiệm S bằng đầu tư I

(4) tiết kiệm S tỉ lệ với sản lượng Y và s là tỉ lệ tiết kiệm tính theoY

Để chứng minh, chúng ta chỉ cần lấy vi phân theo t:

Từ (1) suy ra:

dt

t dK dt

 ) (

(2) và (3), (4) ta được:

Y s dt

t

dY()   Suy ra: s

Y dt

t dY

.

) (

 (5)Tương tự: Vì I = S (3) và S = s.Y (4) nên I = s.Y, do đó,

I s dt

t dY s

dt

t

dI

) (

t dI

 (6)

Tương tự, ta chứng minh được: ( ) s.

K dt

t dK

 (7)

Từ (5), (6), (7) cho ra kết quả:

s

I dt

t dI K

dt

t dK Y

dt

t dY

.

) ( )

( )

Trang 17

Như vậy, tỉ lệ tăng trưởng đầu ra Y, tăng trưởng vốn K và tăngtrưởng đầu tư I bằng nhau và đều tăng cùng một tỷ lệ như nhau là.s (.s là một hằng số).

Trong thực tớnh toỏn thực nghiệm ta có thể tính gần đúng qua các

giá trị gia tăng tại thời điểm t như sau: s

I

I K

K Y

tăng trưởng sản lượng đầu ra Y, nghĩa là g Y Y , thì rõ ràng g = s(11)

Từ (10) và (11) cho ra kết quả: g  k s (12)

Đây là quan hệ cơ bản Harrod- Domar phản ánh mối quan hệ giữatăng trưởng của sản lượng đầu ra với tiết kiệm và đầu tư: tư bản lànhân tố chính được tạo ra bởi đầu tư và tiết kiệm là nguồn để đầu tưtạo tư bản cho tăng trưởng kinh tế Khi đó với k cho trước, tốc độtăng trưởng kinh tế (g) sẽ phụ thuộc vào tỉ lệ tiết kiệm và đầu tư cầnthiết để đạt được mức tăng trưởng đó

Mô hình trên đây mới chỉ là cách xem xét vấn đề một cách giảnđơn trên cơ sở một nhân tố vốn Hơn nữa, tiết kiệm và đầu tư mớichỉ là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ để thúc đẩy tốc độtăng trưởng kinh tế Để phân bố và sử dụng vốn có hiệu quả cầnphải có thị trường hàng hoá, thị trường tài chính tiền tệ phát triển và

có mức độ liên kết cao, hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển, lực

Trang 18

lượng lao động được giáo dục và đào tạo tốt, Chính phủ hoạt động

có hiệu quả Tuy nhiên, tại các nước đang phát triển thì các nhân tốnày lại rất thiếu hoặc chưa hoàn thiện

Mô hình Harrod - Domar là mô hình tăng trưởng kinh tế giản đơn,

vì thế, không giải đáp được nhiều vấn đề liên quan đến tăng trưởng.Nhưng do tính giản đơn và xét về dài hạn, mô hình đã làm rõ đượcmột cách khái quát mối quan hệ giữa nhu cầu vốn đầu tư và nhịptăng trưởng kinh tế Vì vậy, cho đến nay nó vẫn được sử dụng đểphân tích và dự báo kinh tế cùng với các mô hình kinh tế khác

3 Mô hình Solow - Sự thay đổi kỹ thuật trung tính

Một trong những mô hình tăng trưởng có tính ứng dụng cao vàhiện được sử dụng rộng rãi là mô hình Tân cổ điển hay còn gọi là

mô hình Solow - được đặt theo tên nhà kinh tế học người MỹRobert Solow

Robert Solow là giáo sư của Khoa kinh tế, Học viện công nghệMassachusetts, từng được giải thưởng Nobel kinh tế năm 1987 chonhững đóng góp xuất sắc trong lý thuyết tăng trưởng và nhữngnghiên cứu thực nghiệm về quá trình tăng trưởng Mô hình tăngtrưởng Solow đã được bản thân ông và nhiều nhà kinh tế học kháctiếp tục đi sâu, mở rộng nhằm từng bước hoàn thiện Mặc dù vậy,trong luận văn này, tôi có ý định trình bày những ý tưởng vàphương pháp luận của R.Solow như là những viên gạch đầu tiên của

mô hình Những nội dung này chủ yếu được chắt lọc từ những côngtrình nghiên cứu của ông trong những năm 1956 - 1957 và đây

Trang 19

chính là cơ sở để có thể tiếp cận những giai đoạn và bước phát triểnmới của mô hình.

Điểm xuất phát: Tính cứng nhắc của điều kiện Harrod Domar

-Mô hình tăng trưởng Harrod - Domar đưa ra điều kiện để một nềnkinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ không đổi (trong điều kiệntoàn dụng nhân lực và tư bản): tỷ lệ tiết kiệm quốc gia (s) phải bằngtích số giữa tốc độ tăng lực lượng lao động (rL) và tỷ số vốn - đầu ra(v), s = rLv hay rL = s/v Khi đó nền kinh tế mới có khả năng giữ cholượng thiết bị, máy móc cân bằng với mức tăng cung lao động, nhờ

đó sẽ có tăng trưởng đều đặn và toàn dụng nhân lực Tuy nhiên, mộtvấn đề nảy sinh là cả 3 thành tố của điều kiện này, rL, v và s, đềuđược xem là biến ngoại sinh và coi như cố định: rL phụ thuộc vàotốc độ tăng dân số, s phụ thuộc vào tập quán tiêu dùng, còn v là doyếu tố công nghệ quyết định Nhìn chung, theo thời gian, các thành

tố trên đều thay đổi và với tỷ lệ khác nhau Như vậy, việc đạt đượcđiều kiện trên chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên Bất cứ khi nào nềnkinh tế không đảm bảo điều kiện ấy nó sẽ chệch khỏi quỹ đạo củatăng trưởng đều đặn và toàn dụng nhân lực, đồng thời những sailệch đó bị khuyếch đại lên mãi Điều kiện này được xem như trườnghợp đặc biệt với các giả định quá cứng nhắc

Sự cứng nhắc này có thể được điều chỉnh bằng 3 cách:

1- Thay đổi hàm sản xuất: cho phép có sự thay thế giữa tư bản vàlao động, nói cách khác là có sự thay đổi về công nghệ;

2- Thay đổi giả định về tỷ lệ tiết kiệm cố định;

Trang 20

3- Kết hợp cả hai cách điều chỉnh trên.

R.Solow đã tiến hành sửa chữa lý thuyết tăng trưởng của Harrod Domar trước hết bằng cách thứ nhất nêu trên Ở những công trìnhnghiên cứu về sau, ông tiếp tục đi sâu và mở rộng mô hình bằng cáccách điều chỉnh thứ hai và ba

-Hàm sản xuất trong mô hình Solow

t: Biến thời gian

Sự xuất hiện của biến số t trong hàm sản xuất cho phép đánh giá

sự thay đổi kỹ thuật Sự thay đổi này được xem như những tác độnglàm dịch chuyển đồ thị hàm sản xuất lên trên hoặc xuống dưới,nhưng không làm thay đổi tỷ lệ thay thế cận biên giữa vốn và laođộng và được gọi là “thay đổi kỹ thuật trung tính” (gây ra sự tănggiảm sản lượng một cách đơn thuần với những lượng đầu vào chotrước nhưng không làm tăng năng suất của lao động hay tư bản).Với những giả định như vậy, hàm sản xuất (I) có thể viết lại thành:

Trang 21

Trong đó hệ số A(t) đo lường mức độ dịch chuyển của hàm sảnxuất theo thời gian.

Vi phân toàn phần cả 2 vế của (II) theo thời gian (t) và biến đổi tacó:

dt

dL L

f A dt

dK K

f A L

K f dt

L L

L K

dt dK Q

K K

Q t

A

dt dA Q

dt

) (

rQ = rA + wK.rK + wL.rL (III)Trong đó: rQ, rA, rK, rL lần lượt là tốc độ tăng trưởng của Q, A, K,L

Từ chuỗi số liệu (rời rạc hoặc liên tục) của: rQ, rK, rL, wK, wL ta cóthể ước lượng được rA và A(t), tức phần đóng góp của thay đổi kỹthuật vào tăng trưởng

Những phân tích trên chưa bao gồm giả định về lợi tức theo quy

mô nhưng nếu tất cả các yếu tố đầu vào được xếp vào hoặc tư bảnhoặc lao động thì những số liệu thực tế chỉ ra rằng wK + wL = 1 Khicác yếu tố sản xuất được trả theo sản phẩm biên của chúng (theođịnh lý Euler) ta có thể giả định rằng hàm sản xuất là thuần nhất bậc1

Trang 22

Đặt q = Q/L; k = K/L; wL = 1 - wK Lưu ý rằng nếu q = Q/L; k =K/L thì rq = rQ - rL và rk = rK - rL , trong đó ký hiệu r chỉ tốc độ tăngtrưởng các biến số Thay vào phương trình (III) ta được:

rq + rL = rA + wK.rK + (1 - wK)rL

rq = rA + wK(rK - rL) = rA + wKrk (IV)

Từ phương trình này ta có thể tách biệt được phần đóng góp củathay đổi kỹ thuật trong tăng trưởng dựa trên số liệu về sản lượngtrên 1 đơn vị lao động, vốn trên 1 đơn vị lao động và tỷ lệ phân chiacủa tư bản trong sản lượng (wK):

Trường hợp hàm sản xuất tổng hợp dịch chuyển có tính trung tính

và hiệu suất không đổi theo quy mô có thể được biểu hiện trên đồthị với trục tung là q và trục hoành là k Vấn đề phức tạp nảy sinh ởđây là nếu ta quan sát các điểm trên không gian (q, k) thì sẽ thấyrằng sự biến đổi của chúng bao gồm: do di chuyển dọc theo đườngcong hàm sản xuất; do dịch chuyển hàm sản xuất

Ở hình dưới đây, mọi điểm trên hàm sản xuất (đường cong t = 1)

đã được nhân với cùng một hệ số để có sự dịch chuyển trung tínhđến hàm sản xuất t = 2 Ta cần ước lượng sự dịch chuyển này từ cácthông số tại các điểm P1 và P2 Sẽ là sai lầm nếu vẽ một đường nốicác điểm quan sát được như P1 và P2 hay các điểm tương tự khác.Nhưng nếu hệ số dịch chuyển tại mỗi điểm có thể ước lượng đượcthì những điểm quan sát đó có thể được chỉnh lý và sự thay đổi kỹthuật cũng như hàm sản xuất sẽ được tìm ra

Trang 23

Kết luận

Mô hình đem lại một phương pháp đơn giản trong việc tách biệtảnh hưởng của sự dịch chuyển hàm sản xuất với sự di chuyển dọctheo nó Phương pháp này dựa trên giả định là các yếu tố sản xuấtđược trả theo sản phẩm cận biên của chúng (thị trường cạnh tranhhoàn hảo) nhưng cũng có thể áp dụng cho

những thị trường yếu tố sản xuất có tính độc quyền3 ở những môhình lớn và phức tạp hơn sau này, Solow và nhiều nhà kinh tế họckhác (Denilson, Madison, King và Levine, ) đã mở rộng nhữngphân tích về những đóng góp cho tăng trưởng của tiến bộ kỹ thuậttrong các trường hợp tiến bộ kỹ thuật hàm chứa trong hàng hóa tưbản, hàm chứa trong lao động,…

3 Trong thị trường cạnh tranh ho n h àn h ảo, các yếu tố sản xuất được trả theo sản phẩm biên của chúng;

Trang 24

Từ các mô hình trình bày trên chúng ta có thể rút ra một số nhân

tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế:

 Nguồn tài nguyên (mô hình tăng trưởng cổ điển)

 Nguồn vốn (mô hình Harrod-Domar)

 Lao động, tiến bộ công nghệ (mô hình R.Solow)

Theo lý thuyết tăng trưởng thì bốn nhân tố trên là những nhân tốchủ yếu xác định tăng trưởng Vậy vấn đề thực nghiệm ước lượngcác nhân tố đó hay đóng góp của các nhân tố đó như thế nào Phầnsau đây chúng ta sẽ tìm hiểu cơ sở phương pháp luận ước lượngthực nghiệm đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng kinh tế

III Phương pháp ước lượng ảnh hưởng của các nhân tố đến tăng trưởng kinh tế

Như các kết luận từ mô hình lý thuyết, nguồn của tăng trưởng cóthể quy lại gồm những yếu tố cơ bản sau: tư bản, lao động, khoahọc công nghệ, tài nguyên thiên nhiên Nhưng để xác định các nhân

tố này ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng trong thực nghiệmchúng ta cần phải có phương pháp ước lượng Do đó, trong phầnnày chúng ta sẽ nghiên cứu một số cách tiếp cận cơ bản để ướclượng đóng góp của các nhân tố đến tăng trưởng bao gồm từ cáchtiếp cận cổ điển như tính phần dư Solow đến phương pháp hệphương trình đồng thời

Theo lý thuyết kinh tế học vĩ mô, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đếnquy mô tăng trưởng kinh tế Nhóm nhân tố thứ nhất tác động đếntăng trưởng là nhóm các nhân tố các nhân tố từ phía cung Nhóm

Trang 25

nhân tố thứ hai tác động đến tăng trưởng kinh tế là nhóm các nhân

tố từ phía cầu

Về phía cầu, phân tích được dựa trên cơ sở đầu vào-đầu ra, trong

đó những thay đổi của tổng sản lượng được phân rã thành nhiều yếu

tố cầu như tổng cầu tăng, xuất khẩu tăng, và ảnh hưởng của sự thaythế nhập khẩu

Về phía cung, phân tích dựa trên hàm sản xuất, hàm chi phí, vàhàm lợi nhuận Các nghiên cứu về phía cung được xem là nhữngnghiên cứu về năng suất, và có một số cách tiếp cận sẽ được sửdụng trong các nghiên cứu về năng suất

Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) được coi là một nhân tố đặcbiệt quan trọng có tác động tới phía cung Đóng góp của năng suấtnhân tố tổng hợp luôn được ước lượng từ phần dư Đóng góp củanăng suất nhân tố tổng hợp thường được giải thích là do sự đónggóp của tiến bộ kỹ thuật, hàm ý rằng sự nâng cao trong năng suấtđơn giản là xuất phát từ tiến bộ kỹ thuật Thực ra, tăng trưởng TFP(thay đổi công nghệ) có thể được ước lượng và phân tích dựa vàohàm sản xuất Ta có thể thấy điều này qua các nghiên cứu củaBrown (1966), Nadiri (1970), Baily (1981, 1982), Jorgenson,Gollop, và Fraumeni (1987), Jorgenson(1988), Baily và Schultze(1990) Loại thay đổi kỹ thuật như vậy chính là sự thay đổi của hàmsản xuất, nó phản ánh mức hiệu quả lớn hơn trong việc kết hợp cácnhân tố đầu vào

Có một cách tiếp cận khác, theo đó tăng trưởng sản lượng có thểđược giải thích mà không cần những giả định về hàm sản xuất Cách

Trang 26

tiếp cận này được gọi là phân tích hạch toán tăng trưởng với giảđịnh tối đa hóa lợi nhuận Cách tiếp cận này thay độ co giãn của sảnlượng theo từng đầu vào, một biến không quan sát được, và nó phảiđược ước lượng từ hàm sản xuất dựa theo tỷ trọng thu nhập nhân tố,một biến quan sát được Có thể giải thích được tăng trưởng sảnlượng trong một thời kỳ nhất định bằng tăng trưởng của mỗi đầuvào được tính bằng trọng số của thu nhập từng nhân tố Phần dư cònlại được gọi là năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), hay thay đổi kỹthuật

Những phát triển gần đây đã chỉ ra rằng cùng với tiến bộ kỹ thuậtthì những tiến bộ về hiệu quả kỹ thuật - tức là khoảng cách giữacông nghệ biên và sản xuất thực tế của nó - có thể đóng góp vàotăng trưởng năng suất Để phân rã tăng trưởng năng suất nhân tốtổng hợp ra thành tiến bộ kỹ thuật và thay đổi trong hiệu quả kỹthuật thì người ta sẽ áp dụng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên Hàmsản xuất biên ngẫu nhiên giả định rằng các hãng, hay các ngànhkhông sử dụng tối đa công nghệ hiện có do vấn đề phi hiệu quả kỹthuật của nhiều nhân tố trong quá trình sản xuất Trong nhữngtrường hợp như vậy thì tăng trưởng TFP có thể có được từ việc nângcao hiệu quả kỹ thuật mà không cần tới tiến bộ kỹ thuật Coelli(1995) đã trình bày tổng quan lại các kỹ thuật được sử dụng để đolường hiệu quả, bao gồm cả hạn chế, điểm mạnh, và những ứngdụng của nó Điểm mạnh chủ yếu của cách tiếp cận biên ngẫu nhiên

là nó giải quyết vấn đề nhiễu ngẫu nhiên, và cho phép các kiểm địnhthống kê đối với các giả thuyết liên quan tới cấu trúc sản xuất và

Trang 27

mức độ hiệu quả Điểm yếu lớn nhất của cách tiếp cận này là nó cần

có một dạng tham số cụ thể đối với loại công nghệ đó, và một giảđịnh về phân phối của tính phi hiệu quả

Các cách tiếp cận phi tham số mới được phát triển gần đây, như làphân tích hình bao dữ liệu (DEA), cách tiếp cận này không yêu cầuchúng ta phải có chỉ định về dạng công nghệ, và nó cũng có ưu thếtrong việc xử lý những loại công nghệ nhiều đầu ra và đầu vào bịphân nhỏ Tuy nhiên, mô hình này không thể phân tách độ chệch sovới công nghệ biên thành các bộ phận mang tính hệ thống và bộphận ngẫu nhiên Và do vậy nó coi tất cả những sai lệch so với côngnghệ biên thành tính phi hiệu quả Bởi vì phương pháp này khôngcần những tiên định về dạng hàm đối với công nghệ biên nên nó sẽkhông cần tới những ràng buộc về tham số đối với dạng công nghệ,

và điều này có thể dẫn tới những méo mó trong thước đo về hiệuquả Bởi vì phương pháp DEA có tính quyết định và nó coi mọi sailệch với công nghệ biên là phi hiệu quả nên biên ước lượng từ DEAkhá nhạy cảm với các sai số thước đo hay nhiễu trong dữ liệu

Mặc dù đã có một số phần lý thuyết trình bày về tăng trưởng TFP

ở Việt Nam, nhưng chỉ có nghiên cứu của PGS TS Nguyễn KhắcMinh (Looking Back and Gazing Forward: Vietnamese Economy inthe Last Two Decades) sử dụng mô hình sản xuất biên ngẫu nhiên,chỉ số Malmquist và cách tiếp cận DEA để đo lường và phân rã tăngtrưởng TFP của nền kinh tế bằng cách sử dụng dữ liệu vĩ mô

Trong giới hạn nghiên cứu, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu một sốcách tiếp cận đo lường tăng trưởng kinh tế Cụ thê, chúng ta sẽ trình

Trang 28

bày cách ước lượng hàm sản xuất tổng hợp bằng cách sử dụng cácphương pháp phương trình đơn nhất, cách tiếp cận tham số để ướclượng TFP

1 Cách tiếp cận tham số để ước lượng TFP và hiệu quả kỹ thuật

Phân tích hạch toán tăng trưởng được dựa trên hàm sản xuất tổnghợp, nó thể hiện mối quan hệ giữa sản lượng và nhân tố đầu vào Sửdụng hàm sản xuất chúng ta có thể ước lượng được ảnh hưởng củatiến bộ công nghệ đến tăng trưởng kinh tế Tiến bộ công nghệ đãlàm dịch chuyển hàm sản xuất theo thời gian phản ánh hiệu quả lớnhơn trong việc kết hợp các đầu vào Dạng tổng quát của hàm sảnxuất như sau:

Y= f(K,L,t) hay Y(t) = f (L(t),K(t), t)

Trong đó:

t: thời gian (xem Solow 1957)

Y(t) – sản lượng tại thời điểm t,

L(t) – lao động tại thời điểm t,

K(t) – vốn tại thời điểm t

Để làm cho phân tích được đơn giản, chúng ta giả định chỉ có haiđầu vào là vốn (K) và lao động (L) Chúng ta có thể viết phươngtrình (1) lại như sau:

Y(t) = f(K, L, t) (2)

Dựa vào hàm sản xuất này, sản lượng Y tăng lên phải xuất phát từ

sự tăng lên của đầu vào hay sự thay đổi trong kỹ thuật sản xuất

Trang 29

Từ phương trình (2), chúng ta lấy vi phân toàn phần của y theothời gian, chúng ta sẽ tính toán được mức thay đổi sản lượng theothời gian:

trong đó dấu chấm (.) ở trên mỗi biến số biểu thị sự thay đổi theothời gian

Hai thành phần đầu tiên trong vế phải của phương trình (3) thểhiện sự thay đổi của sản lượng do đầu vào là vốn và lao động tănglên tương ứng, tức là di chuyển dọc theo hàm sản xuất Thành phầncuối cùng trong vế phải của phương trình biểu thị sự thay đổi củasản lượng do năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) thay đổi hay do thayđổi kỹ thuật, tức là sự dịch chuyển của hàm sản xuất Loại thay đổi

kỹ thuật này được gọi là tách biệt hẳn bởi vì nó không gắn với sốlượng nhân tố đầu vào, nó liên quan đến việc sử dụng đầu vào Sựthay đổi này diễn ra dù đầu vào có thay đổi hay không

Chúng ta chia phương trình (4) cho phương trình (2) để có đượcphương trình (5)

Trang 30

Từ phương trình (6) và định nghĩa về độ co giãn của sản lượngtheo nhân tố, chúng ta có:

- Độ co giãn của sản lượng theo vốn là K = f K f(.) K(.)

- Độ co giãn của sản lượng theo lao động L = fL f(.) L(.)

Phương trình (6) có thể được viết lại như sau:

(i) Tổng phần trăm thay đổi của đầu vào, được tính trọng số theo

(ii) Sự thay đổi của hàm sản xuất theo thời gian f f(.)(.)

Từ phương trình (7), chúng ta có thể viết lại thành

Trang 31

Phương trình (8) thể hiện sự thay đổi tách biệt, hay “phần dư” và

“thước đo về mức độ bỏ sót chúng ta”, do nó thể hiện phần tăng lêncủa sản lượng không phải là do sự tăng lên của đầu vào Nó cũng cóthể được giải thích là “sự tiến bộ trong tri thức” hay “thay đổi kỹthuật” hay “tiến bộ công nghệ” Nó cũng được gọi là tăng trưởngnăng suất nhân tố tổng hợp hay TFPG

2 Cách tiếp cận phi tham số

Nếu như cách tiếp cận tham số đòi hỏi phải có một dạng hàm sảnxuất cụ thể như hàm sản xuất Cobb-Douglas hay hàm CESS hayhàm sản xuât Loga siêu việt và chuỗi dữ liệu đủ dài để có nhữngước lượng đáng tin cậy về mặt thống kê thì cách tiếp cận phi tham

số không cần giả định về một dạng hàm sản xuất cụ thể, và nó cũngkhông cần tới chuỗi dữ liệu theo thời gian quá dài Chỉ cần dữ liệu

về mức sản lượng và đầu vào tại hai thời điểm cũng có thể cho phép

ta tính được mức đóng góp của các đầu vào tới tăng trưởng sảnlượng Dưới đây chúng ta sẽ trình bày cụ thể hơn

Chúng ta có thể thấy được từ phương trình (8) là chúng ta cầnphải biết về độ co giãn của đầu ra theo mỗi đầu vào (õK) và (õL) đểtính toán TFPG Các tham số như vậy có thể được tính dựa vào ướclượng với dạng hàm sản xuất bất kỳ Tuy nhiên, vấn đề có thể đượcgiải quyết bằng giả định tối đa hóa lợi nhuận và điểm cân bằng củanhà sản xuất, trong đó mỗi nhân tố đầu vào sẽ được sử dụng cho tớikhi nào sản phẩm biên của nó (MP) bằng với chi phí thực tế của nó

Trang 32

(.)

(.) (.)

co giãn đầu ra theo vốn và lao động bằng phần trăm thu nhập nhân

tố của vốn và lao động tương ứng (sK và sL) Tỷ trọng thu nhập nhân

tố có thể được tính từ tài khoản thu nhập quốc gia Chính vì vậy,chúng ta có thể tính toán tiến bộ kỹ thuật hay TFPG ở cấp quốc gianhư trong phương trình (11) dưới đây

SL: là tỷ trọng thu nhập tạo ra từ lao động

SM: là tỷ trọng thu nhập tạo ra từ đầu vào trung gian

Phần TFP của tăng trưởng là thành phần “chiều sâu”của tăngtrưởng, trong khi đóng góp của các nhân tố đầu vào là thành phần

“chiều rộng” của tăng trưởng

Lưu ý: các phương trình trên được biểu diễn dưới dạng hàm liêntục Khi lấy công thức theo số liệu năm thì những xấp xỉ rời rạc tínhtheo phần trăm thay đổi giữa hai thời kỳ được sử dụng Để tính TFP,phương pháp hạch toán tăng trưởng thường sử dụng dạng rời rạc vàdạng loga siêu việt Ví dụ, trong trường hợp rời rạc:

Trang 33

Phương trình (13) cho biết phần trăm thay đổi kỹ thuật của nềnkinh tế (hoặc ngành) Chúng ta có thể tính được mức độ đóng gópcủa nhân tố đầu vào bằng cách trừ phần trăm thay đổi kỹ thuật rakhỏi phần trăm thay đổi của sản lượng.

3.1 Kiểm định giả thiết về hiệu quả không đổi theo quy mô (CRS)

Trang 34

Thủ tục để kiểm định về hiệu quả không đổi theo quy mô (CRS)

là ước lượng hàm sản xuất

ln(y/L) = 0 + 1ln(K/L) + 3t + u (14)

Trong phương trình trên 1 là độ co giãn của sản lượng theo vốn,1- 1 là độ co giãn theo lao động 3 là tỷ lệ thay đổi kỹ thuật táchbiệt trung tính, và thường được gọi là tăng trưởng TFP

Tuy nhiên, phương pháp ước lượng hàm sản xuất, với giả thiếthiệu quả không đổi theo quy mô, có thể không được sử dụng đểthực hiện kiểm định giả thuyết về tính hiệu quả tăng dần hoặc giảmdần theo quy mô Do vậy, để kiểm định giả thuyết về tính hiệu quảkhông đổi theo quy mô chúng ta sẽ ước lượng phương trình sau:lny = 0 + 1lnK+2lnL + 3t

Sử dụng dữ liệu tương tự, hàm sản xuất được ước lượng có thểviết như sau:

t L K

Trang 35

Trong đó, giá trị của ˆ1 và ˆ2 là giá trị ước lượng của õ1và õ2

tương ứng Var(ˆ1) và var (ˆ2) là phương sai của ˆ1 , ˆ2 tương ứng,

và cov (ˆ1 , ˆ2) là hiệp phương sai của ˆ1, ˆ2

Nếu giá trị của kiểm định t lớn hơn giá trị phê phán thì chúng ta

có thể bác bỏ giả thuyết gốc về tính hiệu quả không đổi theo quy

mô, chấp nhận giả thuyết H1, tức là chấp nhận dạng hàm trongphương trình (15)

Trong đó: A – tham số quy mô

 - tham số phân phối (0<<1)

- tham số thay thế; ≥-1

h - bậc thuần nhất của hàm

Hàm sản xuất CES có thể được coi là dạng tổng quát của hàm sảnxuất Cobb-Douglas với độ co giãn thay thế không đổi Do vậy, đểước lượng hàm sản xuất này, chúng ta có thể sử dụng phương phápKmenta (1967) để lny thành xấp xỉ chuỗi của Taylor của hàm sảnxuất CES xung quanh mức  =0,

Trang 36

hay 2

lny a   lnL  lnK  (lnL ln )Ku Phương trình ước lượng có dạng như sau:

Giả thuyết gốc, hàm sản xuất CES giống như hàm sản xuất Douglas, có thể bị bác bỏ ở mức ý nghĩa mong muốn nếu  lớn hơngiá trị phê phán, (1)

Cobb-Nếu chúng ta sử dụng hàm sản xuất CES để tính nguồn tăngtrưởng kinh tế, thì hệ số õK và õL thay đổi theo thời gian:

K

(.)

(.) 1 1

Trang 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1985-2004

I Diễn biến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2004

1990, nền kinh tế có những dấu hiệu phục hồi và phát triển, tuy tốc

độ chưa cao Từ năm 1990 đến nay, tốc độ tăng trưởng GDP trungbỡnh hàng năm dạt 7%, tỷ lệ lạm phát giảm, tổng đầu tư toàn xó hộiđược tăng lên

Thời kỳ đầu 1985-1986, GDP đã bắt đầu tăng trưởng với mức2.84%/ năm và tiếp tục tăng hai năm tiếp theo Năm 1988, mức tăngtrưởng của nền kinh tế là 6.01% Thời kỳ 1989-1996, mức tăngtrưởng GDP trung bình là 7.51% và mức tăng trưởng cao nhất là9.54% năm 1995 Trong thời kỳ khủng hoảng tài chính khu vựcchâu Á 1997, tốc độ tăng trưởng kinh tế có phần giảm sút, tốc độtăng trưởng trung bỡnh trong giai đoạn 1996-2000 là 6,7% Trongthời kỳ 2000-2004, sau cuộc suy thoái với mức tổng cầu và lạm phátthấp, nền kinh tế đã phục hồi lại tốc độ tăng trưởng năm 2000

Trang 38

Luật Doanh nghiệp mới với sự mở rộng các hoạt động kinh doanh

và việc tạo ra sân chơi rộng hơn cho các doanh nghiệp tư nhân đãthúc đẩy phát triển ở khu vực này, đặc biệt trong lĩnh vực côngnghiệp Trong khu vực nông nghiệp, có hai Nghị định được banhành năm 2000, Nghị định thứ nhất là về phát triển kinh tế trangtrại, và nghị định thứ hai là về tái cơ cấu và phát triển phân phối sảnphẩm nông nghiệp Hai văn bản pháp lý này đã tạo điều kiện chonhững thay đổi trong khu vực nông nghiệp Tăng trưởng GDP đãtăng từ 6.23% trong suốt thời kỳ suy thoái tới 7.16% trong thời kỳnày

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 1996-2000 đạt6,7% thì đến giai đoạn 2001-2005 tốc độ tăng trưởng bình quân đạt7.5% Như vậy, sau giai đoạn bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảngtài chính tiền tệ châu Á, nền kinh tế nước ta đã đạt được tốc độ tăngtrưởng nhanh và tương đối bền vững Cụ thể, năm 2001, tốc độ tăngtrưởng GDP đạt được 6,9% Năm 2002, Chính phủ đã tập trung chỉđạo phát huy nội lực, tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanhnhờ đó tình hình kinh tế đã chuyển biến tích cực; kết quả là tốc độtăng trưởng kinh tế đạt 7,08% Năm 2003, nền kinh tế nước ta phảiđương đầu với những khó khăn thách thức mới – nạn hạn hán kéodài và trên nhiều vùng cả nước, bệnh dịch SARS đã làm thiệt hạicho ngành du lịch hàng triệu USD… nhưng Chính phủ, các banngành đã kịp thời chỉ đạo và khắc phục hậu quả, nền kinh tế đã đạttốc độ tăng trưởng khá cao 7,34% Năm 2004, tình hình kinh tế cónhiều khó khăn và thách thức mới - nạn cúm gà bùng phát và lanrộng ra các tỉnh đã tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp vàđời sống người nông dân Rét đậm kéo dài, hạn hán nặng nề ở miền

Trang 39

trung cũng ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp Đặc biệt trongnăm 2004, chỉ số giá tiêu dùng đột biến tăng cao Giá cả nhiều mặthàng như thép, vật liệu xây dựng, xăng dầu, phân bón tăng mạnh đãtác động bất lợi tới nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh và tốc độtăng trưởng chung của toàn nền kinh tế Nhưng dưới sự chỉ đạo củaChính phủ, các Bộ, ban ngành, nền kinh tế vẫn đạt được mức tăngtrưởng 7,7%.

Tóm lại, trong thời kỳ 1985-2004, Việt Nam đã đạt được mứctăng trưởng GDP hết sức đáng ghi nhận Tăng trưởng GDP đã tăngvới tốc độ 6.68% trung bình

2 Quỏ trỡnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1985-2004

Mục đích của phần này là dựa vào số liệu vĩ mô ở ba khu vực cơbản của nền kinh tế chúng ta sẽ phân tích xem mức độ đóng góp củamỗi ngành vào tăng trưởng chung của nền kinh tế là bao nhiêu? Cơcấu sử dụng vốn và lao động của mỗi ngành trong suốt thời kỳ1985-2004; tốc độ tăng trưởng của mỗi khu vực trong từng thời kỳ

và từ đó chúng ta sẽ phõn tớch quỏ trỡnh dịch chuyển cơ cấu kinh tếcủa nền kinh tế trong giai đoạn 1985-2004

Trang 40

2.1 Thay đổi lao động giữa ba ngành của nền kinh tế

Nhìn vào đồ thị 2.1 chúng ta thấy rằng lực lượng lao động trongkhu vực nông nghiệp có xu hướng giảm xuống trong thời kỳ 1985-

Ngày đăng: 08/05/2016, 20:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hữu Nghĩa, Đinh Văn Ân đồng chủ biên (2001), Phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam lý luận và thực tiễn (kỷ yếu hội thảo khoa học), NXB CTQG, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Hữu Nghĩa, Đinh Văn Ân đồng chủ biên (2001), Ph"át triểnkinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam lý luận và thực tiễn (kỷyếu hội thảo khoa học)
Tác giả: Lê Hữu Nghĩa, Đinh Văn Ân đồng chủ biên
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2001
2. Kinh tế phát triển, tập 1,2, đại học kinh tế quôc dân hà nội, NXB thống kê, 1999, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển
Nhà XB: đại học kinh tế quôc dân hà nội
Năm: 1999
3. Nguyễn khắc Minh (2005), Ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ đến tăng trưởng kinh tế, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật, hà nội 4. Nguyễn Xuân Thắng (2003): một số xu hướng phát triển chủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ đến tăng trưởng kinh tế
Tác giả: Nguyễn khắc Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật
Năm: 2005
6. NDP và MPI, Việt Nam hướng tới 2001, tập 1,2, NXB CTQG, Hà nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: NDP và MPI, "Việt Nam hướng tới 2001
Nhà XB: NXB CTQG
7. Mai Ngọc Cường (1995), Lịch sử các học thuyết kinh tế, NXB thống kê, hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mai Ngọc Cường (1995), "Lịch sử các học thuyết kinh tế
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Nhà XB: NXBthống kê
Năm: 1995
8. Trần Văn Tùng, Mô hình tăng trưởng kinh tế, NXB Đại học quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Tùng, "Mô hình tăng trưởng kinh tế
Nhà XB: NXB Đại họcquốc gia
10. Trần Văn Chử (2004), Giáo trình kinh tế phát triển, NXB CTQG, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Chử (2004), "Giáo trình kinh tế phát triển
Tác giả: Trần Văn Chử
Nhà XB: NXBCTQG
Năm: 2004
11. Trần Quang Tùng (2004), Cạnh tranh kinh tế, NXB Thế giới, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Quang Tùng (2004), "Cạnh tranh kinh tế
Tác giả: Trần Quang Tùng
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2004
12. Tổng cục thống kê, Kinh tế Việt Nam 2000-2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam 2000-2003
Tác giả: Tổng cục thống kê
13. Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế Việt Nam và thế giới, 2001-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời báo kinh tế Việt Nam
16. Võ Văn Đức (2004), Mô hình tăng trưởng kinh tế của R.Solow và khả năng áp dụng vào đánh giá tăng trưởng tế ở Việt Nam, (Đề tài cấp bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Võ Văn Đức (2004), "Mô hình tăng trưởng kinh tế của R.Solowvà khả năng áp dụng vào đánh giá tăng trưởng tế ở Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Đức
Năm: 2004
18. Viện QLKTTW, Kinh tế việt nam năm 2002,2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế việt nam năm 2002,2003
Tác giả: Viện QLKTTW
19. Vũ Đình Bách (1999), Các giải pháp nhằm đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, NXB CTQG, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Đình Bách (1999), "Các giải pháp nhằm đẩy mạnh tăngtrưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Đình Bách
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1999
20. Charles I Jones, Introduction to Economic Growth, W. W.Norton &amp; Company NewYork Sách, tạp chí
Tiêu đề: Introduction to Economic Growth
Tác giả: Charles I Jones
Nhà XB: W. W. Norton & Company
21. David.W. Pearce (1999), Từ điển kinh tế học hiện đại, NXB CTQG, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển kinh tế học hiện đại
Tác giả: David W. Pearce
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1999
22. Geledan (1996), Lịch sử tư tưởng kinh tế, NXB KHXH, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Geledan (1996), "Lịch sử tư tưởng kinh tế
Tác giả: Geledan
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1996
23. N.Gregory Mankiw (2001), kinh tế vĩ mô (bản dịch), NXB thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: N.Gregory Mankiw (2001)," kinh tế vĩ mô
Tác giả: N.Gregory Mankiw
Nhà XB: NXBthống kê
Năm: 2001
28. William H. Branson (1989), Marcoeconomics - Theory &amp;Policy, 3 rd Edition, Harper &amp; Row Publishers, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marcoeconomics - Theory & Policy
Tác giả: William H. Branson
Nhà XB: Harper & Row Publishers
Năm: 1989
9. Thời báo kinh tế vịêt nam 2004-2005, tr61 Khác
17. Văn kiện Đại hội đảng toàn quốc lần thứ IX Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Đường tăng trưởng của D.Ricardo:Đất đai là giới hạn của sự tăng trưởng - Những giải pháp vĩ mô nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế việt nam giai đoạn 2005 2010
Hình 1 Đường tăng trưởng của D.Ricardo:Đất đai là giới hạn của sự tăng trưởng (Trang 14)
Đồ thị 2.1: Thay đổi cấu trúc lao động giữa ba ngành của nền - Những giải pháp vĩ mô nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế việt nam giai đoạn 2005 2010
th ị 2.1: Thay đổi cấu trúc lao động giữa ba ngành của nền (Trang 41)
Bảng 1: quá trình tính toán tốc độ tăng TFP của ngành công nghiệp - Những giải pháp vĩ mô nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế việt nam giai đoạn 2005 2010
Bảng 1 quá trình tính toán tốc độ tăng TFP của ngành công nghiệp (Trang 51)
Bảng 2. Đóng góp của tăng trưởng các nhân tố vào tăng trưởng GDP - Những giải pháp vĩ mô nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế việt nam giai đoạn 2005 2010
Bảng 2. Đóng góp của tăng trưởng các nhân tố vào tăng trưởng GDP (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w