1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng quản lý tài chính tại đại học kinh tế và quản trị kinh doanh thái nguyên

136 206 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 599 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù vậy quản lý tàichính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu luôn bộc lộ những bất cập lớnnhư về trình độ năng lực cán bộ quản lý, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, trình độ thanh kiểm t

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN VĂN

Đất nước đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi nguồnnhân lực trí tuệ cao, quá trình hội nhập khu vực và quốc tế với xu thếtoàn cầu hóa đang là một thách thức với nước ta, đòi hỏi nhà nước và

ngành giáo dục phải có một chiến lược phát triển nhân tài Trong quá

trình hội nhập và phát triển, Việt Nam buộc phải có những bướcchuyển mình, nhanh chóng hoà nhập cùng thời đại, tránh tụt hậu so vớithế giới Tại quyết định số 13/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001của Thủ tướng chính phủ, chương trình tổng thể cải cách hành chínhNhà nước giai đoạn 2001 - 2010 được phê duyêt với bốn nội dung lớn,trong đó cải cách tài chính công là một trong bốn nội dung quan trọng

đó Để thực hiện được nội dung quan trọng này Chính Phủ đã ban hànhquyết định số 192/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2001 về chế độtài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu Mặc dù vậy quản lý tàichính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu luôn bộc lộ những bất cập lớnnhư về trình độ năng lực cán bộ quản lý, cơ cấu tổ chức bộ máy quản

lý, trình độ thanh kiểm tra trong đơn vị, quyết toán thu chi ngân sách,chi trả tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm… Trước những bấtcập đó tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu luận văn là “Hoàn thiện quản

lý tài chính tại Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh - Thái Nguyên”

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trang 2

- Nghiên cứu nội dung cơ bản về quản lý tài chính đối với cácđơn vị sự nghiệp có thu.

- Phân tích và đánh giá thực trạng của quản lý tài chính tại Đạihọc Kinh tế và quản trị kinh doanh - Thái Nguyên nhằm xác địnhnhững kết quả đạt được và những điểm còn hạn chế

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Đại học Kinh

tế và quản trị kinh doanh - Thái Nguyên

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: quản lý tài chính đối với các đơn vị sựnghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo

- Phạm vi nghiên cứu: quản lý tài chính tại Đại học Kinh tế vàquản trị kinh doanh - Thái Nguyên trong thời gian từ năm 2007 đếnnăm 2010

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tác giả đã sử dụng các phương pháp dựa trên cơ sở phương phápluận chủ nghĩa Duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp tổnghợp, phân tích thực tiễn gắn với phương pháp thống kê, phương phápphân tích, so sánh, điều tra khảo sát

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

- Hệ thống hoá và làm rõ thêm những vấn đề lý luận cơ bản vềquản lý lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vựcgiáo dục, đào tạo

- Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Đại học

Trang 3

Kinh tế và quản trị kinh doanh - Thái Nguyên từ năm 2007 đến 2010nhằm rút ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân dẫn tớiquản lý tài chính của trường chưa hoàn thiện.

- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị góp phần hoàn thiệnquản lý tài chính tại Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh - TháiNguyên

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận,danh mục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý tài chính trong đơn vị sự

nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo

Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính tại Đại học Kinh tế và

quản trị kinh doanh - Thái Nguyên

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Đại học

Kinh tế và quản trị kinh doanh - Thái Nguyên

Trang 4

Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU THUỘC LĨNH VỰC

GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO

1.1 Tổng quan về đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo

1.1.1 Khái niệm

Trang 5

Đơn vị sự nghiệp là đơn vị, cơ sở thuộc lĩnh vực phi sản xuất vậtchất bao gồm các cơ quan quản lý hành chính, quản lý kinh tế, các đơn

vị sự nghiệp (văn hoá nghệ thuật, y tế, giáo dục…), các cơ quan đoànthể, các tổ chức xã hội, các đơn vị lực lượng vũ trang … hoạt độngbằng nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước (NSNN) cấp hay do cấptrên cấp bằng các nguồn khác như học phí, viện phí, các khoản thu từhoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các khoản thu khác

Nói cách khác, đơn vị sự nghiệp là những đơn vị do cơ quan Nhànước có thẩm quyền cho phép thành lập, có tư cách pháp nhân, có tàikhoản, con dấu riêng, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước hoặccung cấp sản phẩm, dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực theo quyđịnh của pháp luật phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hộihoặc bảo đảm an ninh quốc phòng

Đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo là lĩnhvực sự nghiệp tạo ra những sản phẩm đặc biệt vừa mang tính phục vụchính trị - xã hội, vừa mang tính hàng hoá đòi hỏi phải bù đắp chi phí.Với chức năng phục vụ xã hội, sản phẩm của hoạt động sự nghiệp cógiá trị tinh thần vô hạn không thể đo bằng giá trị tiền tệ hữu hình.Những đơn vị tạo ra sản phẩm đó không thể và càng không hạch toánđược lãi, lỗ đơn thuần bởi sản phẩm của nó thuộc chức năng phục vụnhân dân, phục vụ xã hội Để bù đắp phần hao phí đó, các đơn vị sựnghiệp phải thu lại của người hưởng thụ một phần chi phí Chi phí cholĩnh vực sự nghiệp không được trả lại trực tiếp bằng hiệu quả kinh tếnào đó mà được thể hiện bằng hiệu quả xã hội đạt được các mục tiêu

Trang 6

đặt ra của kinh tế vĩ mô như: Chi giáo dục đào tạo nhằm nâng cao dântrí của một quốc gia, chi cho công tác văn hoá xã hội…vv…

1.1.2 Đặc điểm các hoạt động của đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo

Các hoạt động của đơn vị sự nghiệp có thu thộc lĩnh vực giáodục, đào tạo là những hoạt động thực hiện những công việc có lợi íchchung và lâu dài cho cộng đồng xã hội Các hoạt động này không trựctiếp sản xuất ra của cải vật chất, nhưng nó tác động đến lực lượng sảnxuất và quan hệ sản xuất, kết quả của hoạt động ảnh hưởng trực tiếpđến năng suất lao động xã hội Các hoạt động của đơn vị sự nghiệpchủ yếu cung cấp các dịch vụ thoả mãn nhu cầu chung, vì lợi ích cộngđồng của toàn xã hội Các hoạt động của đơn vị sự nghiệp có các đặctrưng cơ bản sau:

* Gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trịtinh thần

Kết quả các hoạt động của đơn vị sự nghiệp chủ yếu tạo ra các “hàng hoá công cộng” ở dạng vật chất và phi vật chất, phục vụ trực tiếphoặc gián tiếp quá trình tái sản xuất xã hội Hàng hoá công cộng thuầntuý với hai đặc điểm “ không loại trừ” và “ không tranh giành” Nóicách khác, đó là những hàng hoá mà không ai có thể loại trừ nhữngngười tiêu dùng khác ra khỏi việc sử dụng nó và tiêu dùng của ngườinày không loại trừ việc tiêu dùng của người khác Hàng hoá côngcộng không thuần tuý là những loại hàng hoá dễ loại trừ và muốn loạitrừ hoặc chỉ có một trong hai khả năng trên Nhờ sử dụng những hànghoá công cộng do các hoạt động của đơn vị sự nghiệp tạo ra mà quá

Trang 7

trình sản xuất của cải vật chất được thuận lợi và ngày càng đạt hiệuquả cao Vì vậy hoạt động của đơn vị sự nghiệp luôn gắn bó hữu cơ vàtác động tích cực đến quá trình tái sản xuất xã hội.

* Các hoạt động của đơn vị sự nghiệp nói chung không nhằmmục đích lợi nhuận trực tiếp

Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm, dịch vụ do các hoạtđộng của đơn vị sự nghiệp tạo ra đều có thể trở thành hàng hoá cungứng cho mọi thành phần trong xã hội Nhưng việc cung ứng nhữnghàng hoá này cho thị trường chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận nhưhoạt động sản xuất kinh doanh Nhà nước duy trì và tài trợ cho hoạtđộng sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị trườngtrước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phốilại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng khi canthiệp vào thị trường Nhờ đó sẽ hỗ trợ cho các ngành kinh tế hoạt độngbình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo nhân lực,thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt những hiệu quảcao hơn, không ngừng nâng cao đời sống, sức khoẻ, văn hoá, tinh thầncủa nhân dân

* Các hoạt động của đơn vị sự nghiệp luôn gắn liền và bị chiphối bởi các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước

Trong kinh tế thị trường, Chính phủ tổ chức, duy trì và đảm bảocác hoạt động của đơn vị sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ pháttriển kinh tế - xã hội Để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội nhấtđịnh, Chính phủ tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gianhư: Chương trình xoá đói - giảm nghèo, chương trình chăm sóc sức

Trang 8

khoẻ cộng đồng, chương trình xoá mù chữ, chương trình dân số kếhoạch hoá gia đình… Những chương trình mục tiêu quốc gia này chỉ

có Nhà nước với vai trò của mình mới có thể thực hiện một cách triệt

để và có hiệu quả Nếu như để tư nhân thực hiện thì với mục đích lợiích kinh tế của riêng mình sẽ hạn chế đến tiêu dùng xã hội và dẫn đến

xã hội không phát triển cân đối được

* Sản phẩm các hoạt động của đơn vị sự nghiệp là sản phẩmmang lợi ích chung và có tính lâu dài

Sản phẩm, dịch vụ do các hoạt động của đơn vị sự nghiệp tạo rachủ yếu là những giá trị về tri thức, văn hoá, phát minh, sức khoẻ, đạođức, các giá trị về xã hội… là những sản phẩm vô hình và có thể dùngchung cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng Nhìnchung đại bộ phận các sản phẩm do hoạt động của đơn vị sự nghiệptạo ra là sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngànhhoặc một lĩnh vực nhất định, mà những sản phẩm đó khi tiêu dùngthường có tác dụng lan toả

1.2 Cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm

1.2.1.1 Khái niệm

Từ “ cơ chế” được dùng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý tư

khoảng cuối những năm 1970, khi chúng ta bắt đầu chú ý đến vấn đềnghiên cứu đến quản lý và cải tiến quản lý kinh tế, với nghĩa như là

Trang 9

những quy định về quản lý Vậy, cơ chế là hệ thống các cách thức và

công cụ qua đó người ta thực hiện quá trình hoạt động của mình.

Cơ chế quản lý là một hệ thống các cách thức, phương thức và

công cụ quản lý mà người ta áp dụng trong những giai đoạn phát triểnkhác nhau của nền sản xuất xã hội nhằm đạt được mục tiêu trongnhững giai đoạn đó

Cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh

vực đào tạo là một hệ thống các cách thức, phương thức và công cụquản lý tài chính thông qua việc vận dụng các chính sách, chế độ; sửdụng hệ thống các công cụ quản lý tài chính và phương pháp thíchhợp, tác động đến các hoạt động tài chính của đơn vị trong những điềukiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu trong từng giai đoạn nhấtđịnh và nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị đó về mặt tàichính

1.2.1.2 Đặc điểm cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp

có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo

* Đặc điểm về mục tiêu quản lý

Mục tiêu của cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp cóthu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo hay mục tiêu cơ chế quản lý của tàichính tư nhân đều nhằm thu được lợi ích cao nhất với chi phí thấp nhất.Tuy nhiên mục tiêu của cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp

có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo cần hướng tới lại khác so vớimục tiêu cơ chế quản lý tài chính tư nhân, đối với tư nhân điều quantâm chủ yếu là lợi ích kinh tế của riêng mình, nhưng đối với đơn vị sựnghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo lợi ích mà đơn vị quan

Trang 10

tâm chính là những giá trị về tri thức, văn hoá, các giá trị về đạo đức xãhội…để từ đó hoà nhập chung vào lợi ích tổng thể của nền kinh tế - xãhội ở tầm vĩ mô.

* Đặc điểm về phạm vi quản lý

Mỗi chủ thể trong xã hội đều có tài chính riêng của mình Cácdoanh nghiệp được coi là những tế bào có khả năng tái tạo và sản sinhmới ra các nguồn tài chính Các hộ gia đình và tổ chức xã hội cũng lànhững tụ điểm vốn quan trọng Vậy cơ chế tài chính trong đơn vị sựnghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo có phạm vi quản lý củariêng mình, và làm thế nào các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vựcgiáo dục, đào tạo kiểm soát được toàn bộ các khoản thu một cách hợp

lý và chi tiêu sao cho có hiệu quả để phục vụ lợi ích của đơn vị cũngnhư toàn xã hội

* Đặc điểm về sử dụng các công cụ quản lý

Cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnhvực giáo dục, đào tạo đều phải dựa vào pháp luật, kế hoạch, hạch toánv.v…Việc sử dụng các công cụ quản lý đó đóng vai trò như một cáncân công lý, đảm bảo tính công bằng hợp lý trong việc phân phối sửdụng các nguồn lực tài chính giữa các loại hình đơn vị sự nghiệp nóichung, nhằm tạo môi trường bình đẳng, cũng như sự phát triển hài hoàgiữa các ngành, các lĩnh vực khác nhau trong khu vực sự nghiệp

Cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnhvực giáo dục đào tạo góp phần tạo hành lang pháp lý cho quá trình tạolập và sử dụng nguồn tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thuthuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo Nó được xây dựng trên quan điểm

Trang 11

thống nhất và hợp lý từ việc xây dựng các định mức, tiêu chuẩn chitiêu đến quy định về cấp phát, kiểm tra kiểm soát quá trình chi tiêunhằm phát huy vai trò của cơ chế quản lý, đạt được những mục tiêu vĩ

mô của nền kinh tế Mặt khác, có chế quản lý tài chính trong đơn vị sựnghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo quy định khung pháp lý

về mô hình tổ chức hoạt động của đơn vị Chính vì vậy việc sử dụngcác công cụ quản lý đòi các cán bộ làm công tác quản lý phải thườngxuyên cập nhật các chính sách mới của Nhà nước, cũng như các vănbản có liên quan, để vận dụng đúng chính sách, và thống nhất trongquá trình chỉ huy hoạt động của đơn vị

1.2.2 Nội dung cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo

Quản lý tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế

xã hội và là khâu quản lý mang tính tổng hợp Quản lý tài chính đượccoi là hợp lý, có hiệu quả nếu nó tạo ra được một cơ chế quản lý thíchhợp, có tác động tích cực tới các quá trình kinh tế xã hội theo cácphương hướng phát triển đã được hoạch định Việc quản lý, sử dụngnguồn tài chính ở các đơn vị sự nghiệp có liên quan trực tiếp đến hiệuquả kinh tế xã hội do đó phải có sự quản lý, giám sát, kiểm tra nhằmhạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khaithác và sử dụng nguồn lực tài chính đồng thời nâng cao hiệu quả việc

sử dụng các nguồn tài chính

Nội dung cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thuthuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo là hoạt động quản lý thu, chi của quỹtài chính Vì vậy nội dung cơ bản của quá trình quản lý tài chính trong

Trang 12

đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo là quá trìnhquản lý thu, chi của đơn vị.

* Lập dự toán thu chi ngân sách

Lập dự toán ngân sách là quá trình phân tích, đánh giá giữa khảnăng và nhu cầu các nguồn tài chính để xây dựng các chỉ tiêu thu - chingân sách hàng năm một cách đúng đắn, có căn cứ khoa học và thựctiễn Có hai phương pháp lập dự toán thường được sử dụng là phươngpháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ và phương pháp lập dự toán cấpkhông Mỗi phương pháp lập dự toán trên có những đặc điểm riêngcùng những ưu, nhược điểm và điều kiện vận dụng khác nhau

Phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ là phương pháp xácđịnh các chỉ tiêu trong dự toán dựa vào kết quả hoạt động thực tế của

kỳ liền trước và điều chỉnh theo tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát dựkiến Như vậy phương pháp này rất rõ ràng, dễ hiểu và dễ sử dụng,được xây dựng tương đối ổn định, tạo điều kiện, cơ sở bền vững giúpcho nhà quản lý trong đơn vị thực hiện việc điều hành mọi hoạt động.Phương pháp lập dự toán cấp không là phương pháp xác định các chỉtiêu trong dự toán dựa vào nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động trong năm kếhoạch, phù hợp với điều kiện cụ thể hiện có của đơn vị chứ không dựatrên kết quả hoạt động thực tế của năm trước Như vậy, đây là phươngpháp lập dự toán phức tạp hơn do không dựa trên số liệu, kinh nghiệm

có sẵn Tuy nhiên, nếu đơn vị sử dụng phương pháp này sẽ đánh giáđược một cách chi tiết hiệu quả chi phí hoạt động của đơn vị, chấmdứt tình trạng mất cân đối giữa khối lượng công việc và chi phí thực

Trang 13

hiện, đồng thời giúp đơn vị lựa chọn được cách thức tối ưu nhất để đạtđược mục tiêu đề ra

Phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ là phương pháptruyền thống, đơn giản, dễ thực hiện và phù hợp cho những hoạt độngtương đối ổn định của đơn vị Trong khi đó, phương pháp lập dự toáncấp không phức tạp hơn, đòi hỏi trình độ cao trong đánh giá, phântích, so sánh giữa nhiệm vụ và điều kiện cụ thể của đơn vị nên chỉthích hợp với những hoạt động không thường xuyên, hạch toán riêngđược chi phí và lợi ích

* Tổ chức chấp hành dự toán thu chi

Chấp hành dự toán là quá trình sử dụng tổng hợp các biện phápkinh tế tài chính, hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu chi ghi trong

dự toán ngân sách của đơn vị thành hiện thực Trên cơ sở dự toánngân sách được giao, các đơn vị sự nghiệp tổ chức triển khai thựchiện, đưa ra các biện pháp cần thiết đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụthu chi được giao đồng thời phải có kế hoạch sử dụng kinh phí ngânsách theo đúng mục đích, chế độ, tiết kiệm và có hiệu quả Để theo dõiquá trình chấp hành dự toán thu chi, các đơn vị sự nghiệp cần tiếnhành theo dõi chi tiết, cụ thể từng nguồn thu, từng khoản chi trong kỳcủa đơn vị

Thực tế cho thấy trong các đơn vị sự nghiệp, nguồn thu thườngđược hình thành từ 2 nguồn đượnc thể hiện qua sơ đồ sau:

* Nguồn NSNN cấp

Nguồn kinh phí cấp phát từ NSNN để thực hiện nhiệm vụ chínhtrị, chuyên môn được giao Đây là nguồn thu mang tính truyền thống

Trang 14

và có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn tài chính cho hoạtđộng của các đơn vị sự nghiệp Tuy nhiên, với chủ trương đổi mớităng cường tính tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp, tỷ trọngnguồn thu này trong các đơn vị sẽ có xu hướng giảm dần nhằm làmgiảm bớt gánh nặng đối với NSNN.

* Nguồn ngoài NSNN

Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp: gồm các khoản thu phí, lệ phíthuộc NSNN theo quy định của pháp luật, theo chế độ được phép để lạiđơn vị Ví dụ: Trong sự nghiệp giáo dục đại học, các khoản thu sựnghiệp gồm thu học phí, thu phí đào tạo chứng chỉ, thu lệ phí tuyển sinhvừa làm, vừa học … Cùng với việc chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tàichính, tỷ trọng nguồn thu này trong các đơn vị sự nghiệp có xu hướngngày càng tăng Điều này đòi hỏi các đơn vị phải tổ chức khai thác cácnguồn thu hợp pháp này nhằm tăng cường năng lực tài chính của đơn vị

Các khoản thu từ nhận viện trợ, biếu tặng, các khoản thu kháckhông phải nộp ngân sách theo chế độ Đây là những khoản thu khôngthường xuyên, không dự tính trước được chính xác nhưng có tác dụng

hỗ trợ đơn vị trong quá trình thực hiện nhiệm vụ

Các nguồn khác như nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng,vốn huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị; nguồn vốn liêndoanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quyđịnh của pháp luật

Với các nguồn thu như trên, đơn vị sự nghiệp có thu được tự chủthực hiện nhiệm vụ thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do

cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Trường hợp cơ quan nhà

Trang 15

nước có thẩm quyền quy định khung mức thu, đơn vị căn cứ nhu cầuchi phục vụ cho hoạt động, khả năng đóng góp của xã hội để quyếtđịnh mức thu cụ thể cho phù hợp với từng loại hoạt động, từng đốitượng, nhưng không được vượt quá khung mức thu do cơ quan cóthẩm quyền quy định Đối với những hoạt động dịch vụ theo hợp đồngvới các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các hoạt động liêndoanh, liên kết, đơn vị được quyết định các khoản thu, mức thu cụ thểtheo nguyên tắc bảo đảm đủ bù đắp chi phí và có tích luỹ.

* Quản lý quá trình thu

- Thu do Ngân sách Nhà nước cấp

Ngân sách nhà nước cấp chi thường xuyên cho công tác đào tạo:Đây là nguồn kinh phí đảm bảo hoạt động thường xuyên thực hiệnchức năng nhiệm vụ đối với đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phầnchi phí hoạt động (sau khi đã cân đối với nguồn thu sự nghiệp), được

cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự toán đượccấp có thẩm quyền giao

Ngân sách Nhà nước chi không thường xuyên cho công tácnghiên cứu khoa học: Đây là nguồn kinh phí thực hiện các nhiệm vụkhông thường xuyên như: Nghiên cứu khoa học và chuyển giao côngnghệ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, các nhiệm vụ do cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền đặt hàng như: điều tra, khảo sát, quy hoạch vv…, cácchương trình mục tiêu quốc gia, đầu tư xây dựng, mua sắm, sửa chữa

và hợp tác quốc tế

- Nguồn thu từ sự nghiệp gồm:

Trang 16

Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí cho đơn vị sử dụng theoquy định của Nhà nước;

Thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn vàkhả năng của đơn vị, cụ thể như: Thu về tư vấn, thiết kế quy hoạch,dịch vụ nông lâm, thuỷ sản, giao thông, công nghiệp…vv…các khoảnthu khác theo quy định của pháp luật

Lãi từ hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng từcác hoạt động dịch vụ

Nguồn viện trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật

- Nguồn khác gồm: Nguồn vay của các tổ chức tín dụng và vốnhuy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị và nguồn vốn tham gialiên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theoquy định của pháp luật

* Quản lý quá trình chi

Chi thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩmquyền giao Chi hoạt động thường xuyên phục vụ cho công tác thuphí, lệ phí và chi cho các hoạt động dịch vụ

Chi không thường xuyên là quá trình chi thực hiện các nhiệm vụkhông thường xuyên như: Khoa học và công nghệ, đào tạo bồi dưỡngcán bộ, đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản, hợp tác quốc tế…

* Quyết toán thu - chi

Quyết toán thu chi là công việc cuối cùng của chu trình quản lýtài chính Đây là quá trình kiểm tra, tổng hợp số liệu về tình hình chấphành dự toán trong kỳ và là cơ sở để phân tích, đánh giá kết quả chấphành dự toán từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho các kỳ tiếp

Trang 17

theo Để có thể tiến hành quyết toán thu chi, các đơn vị phải hoàn tất

hệ thống báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán ngân sách

1.2.3 Sự cần thiết hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị

sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo

Bước vào thiên niên kỷ mới, sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đạihoá, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế toàn cầu đang tạo ra thời cơnhưng cũng không ít thách thức đối với các đơn vị sự nghiệp có thuthuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo Để vượt qua được những thách thức

ấy, mỗi lĩnh vực khác nhau đều phải khắc phục những yếu kém, nhữngbất cập của mình Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần nghiên cứu và vậndụng kinh nghiệm của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giớitrong phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, đổi mới cơ chế quản lý tàichính đối với đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo làmột nội dung quan trọng, tạo điều kiện cho lĩnh vực giáo dục, đào tạophát huy được vai trò đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng được nhu cầuphát triển kinh tế – xã hội của đất nước

Thứ nhất, đổi mới cơ chế tổ chức, quản lý nói chung và cơ chế

quản lý tài chính nói riêng trong các đơn vị sự nghiệp có thu thuộclĩnh vực giáo dục, đào tạo cùng với quá trình xã hội hoá giáo dục, đàotạo hiện nay Huy động mọi nguồn lực đầu tư và tham gia vào hoạtđộng cung ứng dịch vụ này Qua đó, tạo môi trường cạnh tranh để cáctrường buộc phải tự cải tiến cơ chế quản lý, tổ chức hoạt động choriêng mình, phải nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động

để có thể tồn tại trong cơ chế mới

Thứ hai là, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính

Trang 18

hơn nữa cho các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đàotạo đi đôi với tăng cường giám sát, kiểm tra và đánh giá hoạt động củacác đơn vị dựa vào kết quả, chất lượng công việc đầu ra hơn là kiểmsoát đầu vào và can thiệp vào hoạt động tác nghiệp của các đơn vị.

Thứ ba là, đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự

nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo cần được thực hiệnđồng bộ với tăng cường nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và đẩy mạnhnăng lực về quan hệ hợp tác quốc tế của các đơn vị trong toàn ngành

Thứ tư là, Nhà nước thực hiện cơ chế phân bổ ngân sách theo

đầu ra (theo lượng người tốt nghiệp, theo công trình nghiên cứu khoahọc v.v)

Thứ năm là, trong hoàn cảnh ngân sách Nhà nước hạn hẹp, xu

hướng trong tương lai là Nhà nước sẽ đầu tư nhiều hơn cho giáo dụcphổ thông, và tăng nguồn thu sự nghiệp đối với giáo dục đại học buộcnhững nhà quản lý phải tìm ra những biện pháp quản lý đúng đắn nhấtcho đơn vị mình

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo

1.3.1 Nhóm nhân tố chủ quan

1.3.1.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tài chính

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tài chính trong bất kỳ một đơn vịđều rất quan trọng, nó như một thứ dầu mỡ làm bôi trơn mọi hoạtđộng của đơn vị, và nó cũng giống như một cái cân làm thước đo sứckhoẻ của từng đon vị Thông thường trong từng đơn vị thì bộ phận tài

Trang 19

vụ - kế toán là nơi lưu trữ, nắm bắt mọi hoạt động về tài chính trongtoàn đơn vị và bộ phận này được tổ chức thành một phòng riêng biệttrực thuộc trực tiếp vào Ban Giám đốc hoặc Ban Giám hiệu Tuynhiên, hiện nay một số đơn vị bộ phận tài vụ - kế toán vẫn thuộcphòng Tổng hợp hoặc phòng Tổ chức hành chính Cơ cấu tổ chức bộmáy quản lý tài chính sẽ ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp tới cơ chế quản

lý tài chính như: Nếu bộ phận tài vụ - kế toán trong đơn vị trực thuộctrực tiếp và Ban Giám đốc hoặc Ban Giám hiệu và được tổ chức riêngbiệt thì mọi hoạt động tài chính của đơn vị sẽ hoạt động hiệu quả hơn,

bộ phận kế toán sẽ nhận được sự chỉ đạo trực tiếp từ chủ tài khoản vàtrực thuộc trực tiếp như vậy thì bộ phận tài vụ - kế toán sẽ có điềukiện để tham mưu, tư vấn cho chủ tài khoản trong việc quản lý chi tiêu

và điều hành mọi hoạt động của đơn vị phát huy được tính chủ độngtrong quản lý Ngoài ra còn giảm được rất nhiều thủ tục rườm rà trongquản lý, tránh được tình trạng phân cấp, phân quyền nguồn tài chínhkhông tập chung, tính sáng tạo trong công việc giảm dẫn đến việc cơchế quản lý trong tài chính trong đơn vị bị ảnh hưởng

1.3.1.2 Trình độ, năng lực cán bộ quản lý

Con người là nhân tố trung tâm của bộ máy quản lý, là khâutrọng yếu trong việc xử lý các thông tin để đề ra quyết định quản lý.Trình độ cán bộ quản lý là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến tính kịpthời, chính xác của các quyết định quản lý, do đó, nó có ảnh hưởngđến chất lượng hoạt động của bộ máy quản lý, quyết định sự thành bạicủa công tác quản lý nói chung và công tác quản lý tài chính nói riêng

Trang 20

Đối với cơ quan quản lý cấp trên, đội ngũ cán bộ quản lý có kinhnghiệm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có phẩm chất tốt, sẽ cónhững chiến lược quản lý tài chính tốt, hệ thống biện pháp quản lý tàichính hữu hiệu, xử lý thông tin nhanh nhạy, kịp thời, linh hoạt, hiệuquả…

Đối với các đơn vị cơ sở, đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công táctài chính kế toán cũng đòi hỏi phải có năng lực và trình độ chuyênmôn nghiệp vụ, có kinh nghiệm công tác để đưa công tác quản lý tàichính kế toán của đơn vị cơ sở ngày càng đi vào nề nếp, tuân thủ cácchế độ quy định về tài chính, kế toán của Nhà nước, góp phần vàohiệu quả hoạt động của đơn vị

Ngược lại, đội ngũ cán bộ quản lý thiếu kinh nghiệm quản lý,hạn chế về chuyên môn sẽ dẫn đến công tác quản lý tài chính lỏng lẻo,

dễ thất thoát, lãng phí, làm cản trở đến các hoạt động khác của đơn vị

Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý tài chính trongđơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo về cơ bản đãđáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, song vẫn còn nhiều bất cập:

- Nhìn chung đội ngũ cán bộ quản lý tài chính trong đơn vị sựnghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo đáp ứng được yêu cầuquản lý; tuy nhiên, khả năng sử dụng ngoại ngữ và ứng dụng côngnghệ thông tin trong công tác quản lý còn rất hạn chế Đa số chưađược đào tạo bài bản và có hệ thống về công tác quản lý, trình độ vànăng lực điều hành quản lý còn bất cập, tính chuyên nghiệp thấp, chưachủ động trong công việc, không có tính sáng tạo trong công việc, làm

Trang 21

việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân nên chất lượng, hiệu quảcông tác còn nhiều hạn chế.

- Về cơ bản đội ngũ cán bộ quản lý tài chính trong đơn vị sựnghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo có ý thức chính trị,phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn sư phạm cao (do hầuhết là những nhà giáo được bổ nhiệm, điều động sang làm công tácquản lý hoặc kiêm nhiệm trong công tác), có kinh nghiệm trong côngtác quản lý giáo dục Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận cán bộ quản lý

có biểu hiện chạy theo những tiêu cực của kinh tế thị trường, chưa tíchcực, chủ động học tập, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn,nghiệp vụ cho bản thân mình

Công tác sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ quản lý giáo dụccũng còn nhiều khó khăn, bất cập như: chưa giải quyết thoả đáng chế

độ chính sách đối với những nhà giáo được điều động sang làm côngtác quản lý; thu nhập của cán bộ quản lý giáo dục ở các trường cônglập và ngoài công lập có khác biệt lớn; đời sống của phần đông cán bộquản lý giáo dục gặp khó khăn, điều kiện làm việc còn hạn chế nênnhiều người chưa thực sự yên tâm công tác

1.3.1.3 Chế độ kiểm tra, kiểm soát

Chế độ kiểm tra, kiểm soát là một hoạt động không thểthiếu trong quá trình quản lý nói chung và quản lý tài chính nói riêng

Vì, thông qua kiểm tra - kiểm soát, đơn vị quản lý tài chính thu đượcnhững thông tin phản hồi về đối tượng quản lý, giúp cơ quan quản lýnắm bắt kịp thời và chính xác tình hình quản lý tài chính của đốitượng quản lý, giúp cho đối tượng quản lý sửa chữa những thiếu sót,

Trang 22

tăng cường việc thực hiện có hiệu quả các quyết định quản lý tàichính, kịp thời ngăn ngừa những việc làm sai trái, chưa đúng, chưachuẩn hoặc vi phạm pháp luật, chính sách, chế độ tài chính, kế toáncủa đơn vị, tổ chức và công dân Từ đó, góp phần tăng cường phápchế tài chính và giúp cơ quan quản lý xem xét tính đúng đắn của cácquyết định quản lý, thấy được những thiếu sót, khuyết điểm trong tổchức điều hành, những sơ hở trong quản lý để nghiên cứu sửa đổi chophù hợp với mục tiêu tăng cường hiệu lực quản lý nhằm nâng cao hiệuquả sử dụng nguồn vốn do Ngân sách Nhà nước đầu tư cho các hoạtđộng sự nghiệp giáo dục - đào tạo nói riêng và nền tài chính quốc gianói chung.

Hệ thống kiểm soát nội bộ là các quy định và các thủ tục kiểm soát

do một đơn vị xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủpháp luật và các quy định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và pháthiện gian lận, sai sót, nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quảnguồn lực, nguồn tài chính trong toàn đơn vị

Hệ thống kiểm soát nội bộ của một đơn vị bao gồm môi trườngkiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát

Trong đó, môi trường kiểm soát là những nhận thức, quan điểm,

sự quan tâm và hoạt động của lãnh đạo đơn vị đối với hệ thống kiểmsoát nội bộ trong đơn vị Hệ thống kế toán là các quy định về kế toán

và các thủ tục kế toán mà đơn vị áp dụng để thực hiện ghi chép kếtoán và lập báo cáo tài chính Thủ tục kiểm soát là các quy chế và thủtục do Ban lãnh đạo đơn vị thiết lập và chỉ đạo thực hiện trong đơn vị

Trang 23

Trong một đơn vị sự nghiệp có hệ thống kiểm soát nội bộ chặtchẽ, hữu hiệu sẽ giúp cho công tác quản lý tài chính được thuận lợi rấtnhiều Nó đảm bảo cho công tác tài chính được đặt đúng vị trí, đượcquan tâm đúng mức, hệ thống kế toán được vận hành có hiệu quả,đúng chế độ quy định, các thủ tục kiểm tra, kiểm soát được thiết lậpđầy đủ, đồng bộ, chặt chẽ, giúp đơn vị phát hiện kịp thời mọi sai sót,ngăn chặn hữu hiệu hành vi gian lận trong công tác tài chính.

Hệ thống kiểm soát nội bộ không thể đảm bảo phát huy đượctoàn diện tác dụng của nó vì một hệ thống kiểm soát nội bộ dù hữuhiệu tới đâu vẫn có những hạn chế tiềm tàng

1.3.2 Nhóm nhân tố khách quan

1.3.2.1 Đặc điểm, đặc thù của ngành

Đặc điểm hoạt động của ngành là một trong những nhân tố cóảnh hưởng lớn đến cơ chế quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp Vì,giáo dục đào tạo là một ngành rất đặc thù nên các khoản thu, cáckhoản chi cũng có tính chất riêng biệt Do đặc điểm hoạt động của cácđơn vị sự nghiệp khác nhau, dẫn đến cơ chế quản lý tài chính của cácđơn vị khác nhau Ngoài ra, do đặc điểm hoạt động của từng ngànhkhác nhau dẫn đến cách thức và nội dung thu, chi của các đơn vị cũngkhông đồng nhất giống nhau Điều này đòi hỏi trên cơ sở nguyên tắcquản lý chung của từng ngành, từng đơn vị phải đưa ra những cáchthức quản lý và các biện pháp cụ thể sao cho phù hợp với đơn vị mình,đảm bảo cho các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao, sửdụng các nguồn kinh phí chủ động, có hiệu quả và thống nhất trongcông tác quản lý

Trang 24

1.3.2.2 Hệ thống cơ chế, chính sách quản lý tài chính của Nhà nước

* Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước

Hệ thống cơ chế, chính sách quản lý tài chính của Nhà nước lànhân tố tạo nên sự thống nhất trong quản lý, hình thành nên mộtnguyên tắc không thể bỏ qua trong quản lý tài chính công Hệ thống

cơ chế, chính sách quản lý tài chính của Nhà nước tạo nên một hànhlang pháp lý hay một lộ trình thống nhất, giúp cho cơ chế quản lý tàichính của các cơ quan Nhà nước nói chung và Đơn vị hành chính sựnghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo nói riêng thực hiệnđược các mục tiêu, kế hoạch đề ra Một cơ chế, chính sách tài chínhđúng đắn, phù hợp sẽ tạo điều kiện cho công tác quản lý đạt được hiệuquả cao, đáp ứng được các yêu cầu nhiệm vụ

Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước phải tạo ra được môitrường pháp lý cho việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chínhnhằm đáp ứng các yêu cầu hoạt động của đơn vị Nó được xây dựngdựa trên quan điểm định hướng về chính sách quản lý đơn vị sựnghiệp trong từng giai đoạn cụ thể của Nhà nước nhằm cụ thể hoá cácchính sách đó Cơ chế này sẽ vạch ra các khung pháp lý về mô hìnhquản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp, từ việc xây dựng các tiêuchuẩn, định mức, các quy định về lập dự toán, điều chỉnh dự toán, cấpphát kinh phí, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động trọng đơn vị, nhằmphát huy tối đa hiệu quả quản lý vĩ mô gắn với tinh thần tự chủ, tựchịu trách nhiệm của đơn vị Do đó, nếu cơ chế tài chính phù hợp sẽtạo điều kiện tăng cường và tập trung nguồn lực tài chính, đảm bảo sự

Trang 25

linh hoạt, năng động và hữu hiệu của các nguồn lực tài chính, giúpcho đơn vị sự nghiệp thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn được giao.

Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp

có thu có tác động đến chương trình chi tiêu ngân sách quốc gia, ảnhhưởng lớn đến việc thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia vềhoạt động sự nghiệp Vì vậy, cơ chế tài chính đó nếu được thiết lậpphù hợp, hiệu quả sẽ đảm bảo cung ứng đủ nguồn kinh phí cho hoạtđộng chuyên môn, tránh được thất thoát, lãng phí các nguồn lực tàichính, đảm bảo phát huy tối đa hiệu quả, tiền đề vật chất cho việc thựchiện tốt các chương trình quốc gia về hoạt động sự nghiệp

Thêm vào đó, cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước còn có vaitrò như một cán cân công lý, đảm bảo sự công bằng, hợp lý trong việctạo lập và phân phối sử dụng các nguồn lực tài chính giữa các lĩnh vựchoạt động sự nghiệp khác nhau cũng như giữa các đơn vị sự nghiệptrong cùng một lĩnh vực Nhờ đó, các đơn vị sự nghiệp dù hoạt động ởđâu, lĩnh vực nào cũng được quan tâm, tạo môi trường bình đẳng, tạođiều kiện phát triển tương xứng với yêu cầu của xã hội đối với lĩnhvực đó và tiềm lực kinh tế của quốc gia

Bên cạnh đó, cơ chế quản lý tài chính cũng có những tác độngtiêu cực đối với hoạt động của các đơn vị sự nghiệp:

Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước vạch ra hành lang pháp lýcho đơn vị sự nghiệp nhưng nếu các cơ chế này không phù hợp sẽ trởthành hàng rào trói buộc, cản trở đến quá trình tạo lập và sử dụng cácnguồn lực tài chính của các đơn vị sự nghiệp, ảnh hưởng xấu đến kếtquả hoạt động chuyên môn của đơn vị Nếu cơ chế quản lý tài chính

Trang 26

của Nhà nước sơ hở, lỏng lẻo có thể làm hao tổn ngân sách Nhà nước,gây ra thất thoát, lãng phí các nguồn lực tài chính mà không đạt đượccác mục tiêu kinh tế - chính trị - xã hội như đã định.

* Cơ chế quản lý tài chính của Bộ, ngành, doanh nghiệp chủquản

Các đơn vị sự nghiệp nằm trong doanh nghiệp sẽ phải tuân thủtheo cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp chủ quản Do đó,ngoài cơ chế quản lý của Nhà nước, các đơn vị này còn có một cơ chếquản lý tài chính riêng cho những đặc thù của ngành với các quy định

cụ thể, rõ ràng, tránh được những vướng mắc về cơ chế chung khôngphù hợp với đặc điểm hoạt động của đơn vị sự nghiệp

Mặt khác, các doanh nghiệp quản lý các đơn vị sự nghiệp thường

là những doanh nghiệp lớn, có tiềm lực kinh tế mạnh nên nguồn kinhphí do doanh nghiệp chủ quản đài thọ cho đơn vị sự nghiệp thườngnới rộng hơn so với nguồn kinh phí cấp phát từ ngân sách Nhà nước,điều kiện cấp phát kinh phí cũng được nới lỏng hơn nên các đơn vị sựnghiệp có điều kiện về nguồn kinh phí để trang trải cho hoạt động sựnghiệp của mình hơn so với các đơn vị sự nghiệp không nằm trongdoanh nghiệp

Tuy nhiên, các đơn vị sự nghiệp nằm trong doanh nghiệp thường

là các đơn vị hạch toán phụ thuộc nên cơ chế tài chính của đơn vị chủquản áp dụng cho các đơn vị này thường chặt chẽ hơn, ít được quyền

tự chủ hơn về tài chính Các đơn vị này bắt buộc phải tuân thủ cơ chếtài chính của doanh nghiệp chủ quản.Vì vậy, nếu trong điều kiện cơchế, chính sách Nhà nước có nhiều biến động mà cơ chế quản lý tài

Trang 27

chính của doanh nghiệp chủ quản không cập nhật, sửa đổi kịp thời sẽcản trở đến công tác quản lý tài chính và hoạt động chuyên môn củacác đơn vị sự nghiệp.

Chương 2:

THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI

Trang 28

ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH - THÁI

cơ sở sáp nhập hai khoa: Khoa Kinh tế Nông nghiệp thuộc TrườngĐại học Nông Lâm và Khoa Kinh tế Công nghiệp thuộc Trường Đạihọc Kỹ thuật Công nghiệp

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh là một trườngthành viên của Đại học Thái Nguyên, một Đại học vùng đã được Đảng

và Chính phủ quy hoạch phát triển thành Đại học trọng điểm Quốcgia Sự ra đời của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanhnhằm nâng cao quy mô và chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học vàchuyển giao công nghệ trong lĩnh vực kinh tế, quản trị kinh doanh chocác tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng và cả nước nói chung nhằm gópphần thực hiện thắng lợi công cuộc CNH - HĐH đất nước

2.1.2 Chức năng nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh - Thái Nguyên

Trang 29

2.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên

-* Chức năng của Nhà trường: Chức năng của Nhà trường là đàotạo, nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ thuộc lĩnh vựckinh tế và quản trị kinh doanh

* Nhiệm vụ của Nhà trường: Trường Đại học Kinh tế và Quản trịKinh doanh được xác định với những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở các trình độ Cử nhân,Thạc sĩ, Tiến sĩ về Kinh tế, Kế toán và Quản trị Kinh doanh

- Nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ cho các doanhnghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội, các cơ quan quản lý nhà nước vềlĩnh vực kinh tế ở miền núi, trung du phía Bắc và cả nước

- Cung cấp các dịch vụ tư vấn, bồi dưỡng nhằm cập nhật và nângcao kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp cho các nhà quản trị doanh nghiệp,cán bộ quản lý các tổ chức kinh tế - xã hội và các địa phương

- Hợp tác với các trường Đại học khác, các Viện nghiên cứu, các

tổ chức chính phủ, phi chính phủ trong và ngoài nước về các lĩnh vựcđào tạo và nghiên cứu khoa học và triển khai các dự án phát triển

2.1.2.2 Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh - Thái Nguyên

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh là nơi cung cấpcho người học các chương trình đào tạo đại học và sau đại học tiên tiến

về kinh tế và quản trị kinh doanh; nghiên cứu khoa học và chuyển giaonhững kết quả nghiên cứu vào thực tiễn nhằm góp phần phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao và phục vụ cho công cuộc xoá đói giảm

Trang 30

nghèo, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt là ở miền núi

và trung du phía Bắc, trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu

2.1.3 Cơ cấu tổ chức tại Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên

-* Ban giám hiệu: Ban giám hiệu gồm 04 đồng chí, trong đó:

- Hiệu trưởng là người lãnh đạo cao nhất, quản lý Nhà trườngtheo chế độ một thủ trưởng được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đại họcThái Nguyên về toàn bộ hoạt động của Nhà trường, về công tác chínhtrị, tư tưởng của cán bộ, viên chức thuộc Trường Đại học Kinh tế vàQuản trị Kinh doanh

- Một phó hiệu trưởng phụ trách công tác xây dựng cơ bản, quảntrị phục vụ, công tác học sinh sinh viên, công tác bảo vệ an ninh trật

Ban Giám hiệu Đoàn thanh niên

Phòng

Tổng

hợp

Phòng Đào tạo

- KH quan hệ quốc tế

Phòng Công tác HSSV

Phòng TT khảo thí

và đảm bảo chất lượng GD

Phòng Công nghệ

TT và Thư viện

Khoa

Khoa

học

Khoa Kinh tế Khoa

Kế toán

Khoa Quản trị Kinh

Khoa Đào tạo Sau Đại

Phòng thực

Trung tâm hợp tác quốc

Trang 31

(Nguồn: Phòng tổng hợp - Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh)

- Phòng Đào tạo - Khoa học và Quan hệ quốc tế

Chức năng - nhiệm vụ:

Trang 32

Tham mưu cho Hiệu trưởng về công tác quản lý và phát triển đàotạo bậc đại học chính quy, đại học không chính quy, đại học liên thông

từ cao đẳng lên đại học Tổ chức thực hiện công tác quản lý đào tạochính quy, quản lý và phát triển các loại hình đào tạo đại học khôngchính quy Quản lý các hoạt động khoa học công nghệ và chuyển giaokhoa học công nghệ Tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn khoa họckinh tế, quản lý việc biên soạn, in ấn giáo trình, tài liệu học tập, sáchtham khảo thuộc trách nhiệm và thẩm quyền Phát triển và quản lýquan hệ hợp tác quốc tế của Nhà trường phù hợp với luật pháp vàthông lệ quốc tế

- Phòng Công tác Học sinh sinh viên

Chức năng - nhiệm vụ:

Tham mưu cho Hiệu trưởng về công tác chính trị, tư tưởng, vănhoá, xây dựng môi trường giáo dục, hình thành nhân cách phẩm chấtđạo đức xã hội chủ nghĩa, tư tưởng Hồ Chí Minh cho học sinh sinhviên Quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục chính trị tưtưởng cho cán bộ, viên chức, đánh giá rèn luyện học sinh sinh viên

Tổ chức công tác quản lý học sinh sinh viên nội trú, ngoại trú Thựchiện các hoạt động cấp phát bằng khi sinh viên tốt nghiệp Thực hiệnviệc quản lý, điều hành, phục vụ nhu cầu ở, sinh hoạt, học tập rènluyện của học sinh sinh viên nội trú thuộc trách nhiệm và thẩm quyền.Thực hiện công tác giáo dục thể chất, công tác bảo vệ cơ sở vật chất,trật tự an toàn xã hội

- Phòng Thanh tra khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục

Chức năng - nhiệm vụ

Trang 33

Tham mưu cho Hiệu trưởng về công tác thanh tra, khảo thí vàđảm bảo chất lượng Thực hiện thanh tra, giám sát, kiểm tra toàn bộhoạt động đào tạo, kỷ cương nề nếp trong quá trình đào tạo; triển khaicông tác khảo thí; công tác đảm bảo chất lượng của Nhà trường.

- Phòng Thực hành kinh doanh

Chức năng - nhiệm vụ:

Là cơ sở thực hành máy tính phục vụ công tác đào tạo Thựchiện việc bồi dưỡng và ứng dụng tin học trong công tác quản lý, đàotạo và nghiên cứu khoa học Xây dựng và vận hành website của Nhàtrường

- Phòng Công nghệ Thông tin và Thư viện

Quản trị và tổ chức khai thác có hiệu quả hệ thống mạngIntranet/ Internet, cung cấp các dịch vụ thông tin - tư liệu điện tử.Quản trị website và kỹ thuật các phần mềm quản lý khác

Trang 34

Đáp ứng mọi nhu cầu về giáo trình bài giảng và các ấn phẩmkhác phục vụ cho công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và công tácquản lý cuả đơn vị.

- Các khoa đào tạo ( gồm khoa: Kinh tế, Kế toán, Quản trị kinhdoanh)

Chức năng - nhiệm vụ:

Thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoahọc thuộc các chuyên ngành của đơn vị Quản lý công tác chuyên môn

và quản lý sinh viên thuộc trách nhiệm và thẩm quyền

- Khoa đào tạo sau đại học

Chức năng - nhiệm vụ:

Tham mưu cho Hiệu trưởng về công tác quản lý đào tạo và bồidưỡng sau đại học Thực hiện công tác quản lý đào tạo và bồi dưỡngsau đại học thuộc trách nhiệm và thẩm quyền Tham gia cùng các đơn

vị khác thực hiện các công việc khác của Nhà trường gồm: Xét tuyểnứng viên giáo sư, phó giáo sư trong trường; quản lý cán bộ, giảng viêncủa trường đang học sau đại học trong và ngoài nước; quản lý công tácbồi dưỡng sau đại học cho cán bộ, giảng viên trong trường

- Trung tâm liên kết quốc tế về đào tạo và du học

Chức năng - nhiệm vụ

* Chức năng: Trung tâm có chức năng tư vấn cho Hiệu trưởngnhà trường và tổ chức thực hiện các công việc trong lĩnh vực liên kếtquốc tế về đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và tưvấn du học

* Nhiệm vụ:

Trang 35

+ Thực hiện các chương trình liên kết đào tạo với các cơ sở đàotạo của nước ngoài về các bậc học: đại học, thạc sĩ và nghiên cứu sinh.

+ Thực hiện các chương trình đào tạo ngắn hạn quốc tế, bồidưỡng ngoại ngữ và tham quan học tập

+ Thực hiện chương trình hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoahọc và chuyển giao công nghệ

2.1.4 Mục tiêu đào tạo

Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh sẽ trở thành mộttrung tâm đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao khoa học - công nghệ,hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế và quản trị kinh doanh có uytín, ngang tầm với các trường đại học hàng đầu ở trong cả nước vàkhu vực ASEAN

Trường sẽ cung cấp cho người học môi trường giáo dục đại học

và nghiên cứu khoa học tốt nhất, có tính chuyên môn cao, đảm bảocho người học khi tốt nghiệp có đủ năng lực cạnh tranh trên thị trườnglao động trong nước và trong khu vực và có đủ khả năng thích ứng vớimột nền kinh tế hội nhập toàn cầu

2.2 Thực trạng cơ chế quản lý tài chính tại đại học kinh tế và quản trị kinh doanh - Thái Nguyên

2.2.1 Mô hình tổ chức quản lý tài chính

Trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng chínhsách thu – chi tài chính thống nhất: thu – chi qua một đầu mối do bộphận tài vụ - kế toán thuộc Phòng Tổng hợp đảm nhiệm Bộ phận tài

vụ - kế toán thuộc Phòng Tổng hợp có trách nhiệm tham mưu cho Nhà

Trang 36

trường trong công tác quản lý tài chính trên cơ sở phối hợp chặt chẽvới các đơn vị liên quan.

Bộ phận tài vụ - kế toán thuộc Phòng Tổng hợp lập kế hoạch,quản lý và báo cáo quyết toán ngân sách của Nhà trường theo đúngquy định của Nhà nước và các quy định trong quy chế chỉ tiêu nội bộ

do Nhà trường đề ra

Các đơn vị có quyền chủ động trong việc chi các khoản chi đượcnhà trường giao, các đơn vị sử dụng và phải tuân thủ pháp lệnh kếtoán thống kê, thực hiện việc tạm ứng, thanh - quyết toán tại bộ phậntài vụ - kế toán thuộc Phòng Tổng hợp, đồng thời phải tổ chức côngkhai tài chính tại đơn vị mình

Công tác kế toán và quyết toán ngân sách phải được thực hiệnthống nhất theo quy định về chứng từ thu chi ngân sách, mục lục ngânsách Nhà nước, hệ thống tài khoản, số sách, biểu mẫu báo cáo và đốitượng sử dụng ngân sách

Việc chỉnh lý quyết toán ngân sách thực hiện theo quy định củapháp luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành.Việc kiểm tra, thanh tra và xử lý việc chấp hành các chế độ thu chi vàquản lý ngân sách, quản lý tài sản được thực hiện theo đúng các quyđịnh của pháp luật

Như vậy, đội ngũ cán bộ tài chính - kế toán của trường có mộtvai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hiệu quả củaviệc quản lý tài chính Trong khi đó, số lượng cán bộ của bộ phận kếtoán của trường hiện có 8 người, trong đó chỉ có 1 thạc sỹ, 2 chuyênviên chính, 5 cử nhân Xét về thâm niên công tác thì có 2 người đã

Trang 37

làm việc trên 15 năm, còn lại mới chỉ làm việc từ 1 đến 5 năm Qua đócho thấy đa phần đội ngũ cán bộ làm công tác kế toán – tài chính củaTrường đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh còn rất trẻ, kinhnghiệm chưa lâu Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ có một khoảng cáchkhá lớn giữa nhóm đã làm việc lâu năm và nhóm cán bộ trẻ, trongkhoảng vài năm tới sẽ có một sự hẫng hụt lớn do lớp già đã về hưutrong khi trẻ còn non về kinh nghiệm Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộquản lý tài chính của nhà trường chưa trang bị được đầy đủ kiến thức

về tin học, ngoại ngữ để ứng dụng các công cụ tin học vào công tác tàichính - kết toán nên việc quản lý tài chính kế toán vẫn còn nhiều hạn chế

Ngoài ra, Trường Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh là mộttrường mới được thành lập, nên đại bộ phận các cán bộ trong toàntrường đều là những người trẻ tuổi, phát huy được thế mạnh của tuổitrẻ đại bộ phận các cán bộ quản lý về tài chính kế toán trong nhàtrường đều là những chuyên viên được đào tạo bàn bản về quản lý tàichính từ trong nhà trường ra, nên việc thường xuyên cập nhật các kiếnthức, văn bản, chính sách pháp luật mới để bổ sung vào quá trình quản

lý tài chính của đơn vị được diễn ra nhanh chóng và thông suốt, đảmbảo cho quá trình quyết toán thu chi trong toàn đơn vị được diễn ratheo đúng quy định của pháp luật

2.2.2 Nội dung quản lý tài chính

2.2.2.1 Quản lý nguồn thu

* Nguồn tài chính của trường Đại học Kinh tế và quản trị kinhdoanh

Trang 38

Quán triệt nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng về giáodục đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá, trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh đã xác định rõmục tiêu là tiếp tục mở rộng quy mô, hình thức và đa dạng hoá cácloại hình đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo để cung cấp cho tổchức Kinh tế và quản trị kinh doanh những cán bộ có năng lực, phẩmchất, bản lĩnh hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời góp phần đào tạo nhânlực, nâng cao dân trí cho xã hội Trong đó nhiệm vụ đào tạo cán bộKinh tế và quản trị kinh doanh là trọng tâm nhằm trang bị những kiếnthức về kinh tế, chính trị, xã hội có lý luận và là những chuyên giahàng đầu trong lĩnh vực kinh tế - quản trị - tài chính.

Trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh là một trườngmới trải qua một quá trình xây dựng và phát triển chưa lâu, nhưng đếnnay cũng là một trường đại học đa ngành, đa cấp vì vậy nhu cầu về tàichính là rất lớn Trường đã nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhànước, việc đầu tư cũng được tăng lên Hàng năm, ngân sách Nhà nướccấp cho Trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh theo địnhmức, theo quy mô hiện có và các chương trình mục tiêu, các dự án…Đây là nguồn kinh phí chủ yếu để xây dựng Nhà trường Cùng với sựgia tăng Ngân sách nhà nước cấp cho giáo dục – đào tạo, nguồn ngânsách Nhà nước cấp cho Trường Đại học Kinh tế và quản trị kinhdoanh cũng tăng lên hàng năm, thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.1: Nguồn tài chính của Trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh từ năm 2007 – 2010

Đơn vị : triệu n v : tri u ị : triệu ệu ng

đồng

Trang 39

Chỉ tiêu 2007 2008 2009 2010

1 Nguồn thu từ ngân sách

Nhà nước cấp 8.360 9.414 11.462 14.316

Tỷ lệ tăng qua các năm (năm

sau so với năm trước) (%) - 12,61 21,75 24,90

2 Nguồn thu ngoài ngân

Thu từ học phí chính quy 1.232 1.295 1.153 3.526Thu từ học phí phi chính quy 1.927 2.013 2.634 1.777

Tỷ lệ tăng qua các năm

( năm sau so với năm trước)

(%)

- 13,27 18,21 31,57

3 Tổng nguồn tài chính 12.79

0 14.432 17.394 22.121

Tỷ lệ tăng qua các năm

( năm sau so với năm trước) - 12,84 20,52 27,18

(Nguồn: Báo cáo quyết toán tài chính Trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh năm 2007 – 2010)

Qua bảng trên ta thấy, các nguồn thu của trường Đại học Kinh tế

và quản trị kinh doanh đều tăng hàng năm Nguồn tài chính năm 2008tăng 1.642 triệu đồng (tăng 12,84%) so với năm 2007 trong đó nguồnngân sách Nhà nước tăng 1.054 triệu đồng (tăng 12,61%), năm 2009tăng 2.962 triệu đồng (tăng 20,52%) so với năm 2008 trong đó nguồnngân sách Nhà nước tăng 2.048 triệu đồng (tăng 21,75%), năm 2010tăng 4.727 triệu đồng (tăng 27,18%) so với năm 2009 trong đó nguồnngân sách Nhà nước tăng 2.854 triệu đồng (tăng 24,90%)

Trong cơ cấu nguồn tài chính, ngân sách nhà nước giữ vai tròquan trọng cho các hoạt động thường xuyên và cho đầu tư xây dựng

Trang 40

cơ bản, đầu tư trang thiết bị phòng học, thư viện…Trước yêu cầu củaviệc nhanh chóng ổn định giảng đường học tập, nơi làm việc của cán

bộ giảng viên nhà trường và mở rộng quy mô, nâng cao chất lượngđào tạo, lãnh đạo trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh đã cónhiều dự án xây dựng cơ sở vật chất để nhà trường ngày càng pháttriển hiện đại và khang trang hơn

Dưới sự lãnh đạo của Ban Giám đốc Đại học Thái Nguyên, sựgiúp đỡ của Bộ giáo dục - Đào tạo, Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Bộ tàichính bằng nhiều nguồn vốn khác nhau Nhà trường đã nâng cấp vàxây dựng nhiều công trình cơ sở hạ tầng Góp phần cải thiện đời sốngvật chất, tinh thần của cán bộ, giảng viên, sinh viên, làm cho trườngngày một khang trang, xanh - sạch - đẹp, đảm bảo cảnh quan sư phạm,môi trường của một trường Đại học

Bên cạnh nguồn ngân sách Nhà nước thì các nguồn thu khác củatrường cũng tăng đều góp phần cho các hoạt động chăm lo đời sống cán

bộ, giảng viên công nhân viên và sinh viên trong Nhà trường được đẩymạnh tốt hơn Đời sống vật chất, tinh thần của mọi người được cải thiện.Hầu hết, thu nhập của cán bộ, giảng viên, công nhân viên đã được nânglên Các khoa, phòng, bộ phận có nhiều việc làm, tạo thêm nguồn thu, tổchức nghỉ ngơi, tham quan, du lịch Các chế độ, chính sách đối với cán

bộ giảng viên và sinh viên được thực hiện đầy đủ Các hoạt động thể dụcthể thao, văn hoá văn nghệ, các câu lạc bộ sinh viên được đẩy mạnh, bầukhông khí dân chủ được bảo đảm, đoàn kết nội bộ được củng cố và tăngcường

* Nguồn ngân sách nhà nước cấp

Ngày đăng: 08/05/2016, 19:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phan Thanh Bình (2005), Hoàn thiện Quản lý tài chính của trường Đại học Vinh, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học kinh tế Quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Thanh Bình (2005), "Hoàn thiện Quản lý tài chính củatrường Đại học Vinh
Tác giả: Phan Thanh Bình
Năm: 2005
3. Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ, Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 củaChính phủ
4. Bộ Tài chính (1998), Thông tư số93; 94; 98/1998/TT-BTC ngày 14/07/1998 quy định chế độ chi tiêu hội nghị, công tác phí cho cán bộ công chức nhà nước đi công tác trong nước, trang bị, quản lý và sử dụng các phương tiện thông tin, điện thoại, fax, internet,... trong các cơ quan, đơn vị nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính (1998)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 1998
5. Bộ Tài chính (2006), Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/08/2006 về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ- CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính (2006)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2006
6. Chính phủ (2002), Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị hành chính sự nghiệp có thu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2002)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
7. Chính phủ (2005), Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2005)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
8. Chính phủ (2006), Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 25/4/2006 về việc quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2006)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
9. Đỗ Minh Cương - Nguyễn Thị Đoan (1999), Phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục Đại học Việt Nam, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Minh Cương - Nguyễn Thị Đoan (1999), "Phát triển nguồnnhân lực cho giáo dục Đại học Việt Nam
Tác giả: Đỗ Minh Cương - Nguyễn Thị Đoan
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 1999
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), "Văn kiện Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2006
11. Trần Thị Thu Hà (1993), Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách hệ thống giáo dục quốc dân, Luận án Phó Tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thị Thu Hà (1993), "Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lýngân sách hệ thống giáo dục quốc dân
Tác giả: Trần Thị Thu Hà
Năm: 1993
12. Trần Xuân Hải (2000), Giải pháp vốn Đầu tư phát triển sự nghiệp Đào tạo trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học kinh tế Quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Xuân Hải (2000), "Giải pháp vốn Đầu tư phát triển sự nghiệpĐào tạo trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam
Tác giả: Trần Xuân Hải
Năm: 2000
13. Lê Phước Minh (2001), “Vấn đề thu chi trong giáo dục Đại học và một số ý kiến về tạo nguồn”, Tạp chí Giáo dục, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Phước Minh (2001), “Vấn đề thu chi trong giáo dục Đại học vàmột số ý kiến về tạo nguồn”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Lê Phước Minh
Năm: 2001
14. Nguyễn Công Nghiệp (1996), Xây dựng Quy trình lập kế hoạch và cơ chế Điều hành ngân sách giáo dục - Đào tạo, Bộ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Công Nghiệp (1996), "Xây dựng Quy trình lập kế hoạchvà cơ chế Điều hành ngân sách giáo dục - Đào tạo
Tác giả: Nguyễn Công Nghiệp
Năm: 1996
15. Phạm Văn Ngọc (2002), Đổi mới quản lý tài chính đáp ứng mô hình Đại học Quốc gia Hà Nội thực trạng và giải pháp , Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Văn Ngọc (2002), "Đổi mới quản lý tài chính đáp ứng môhình Đại học Quốc gia Hà Nội thực trạng và giải pháp
Tác giả: Phạm Văn Ngọc
Năm: 2002
16. Trần Văn Phong (2002), Nguồn tài chính và quản lý tài chính ở các trường Đại học công lập trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện chính trị Quốc gia Hồ chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Phong (2002), "Nguồn tài chính và quản lý tài chính ởcác trường Đại học công lập trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Trần Văn Phong
Năm: 2002
17. TS. Nguyễn Văn Sáu (2001), Giáo trình Quản lý kinh tế, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS. Nguyễn Văn Sáu (2001), "Giáo trình Quản lý kinh tế
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Sáu
Nhà XB: NxbChính trị Quốc gia
Năm: 2001
18. TS Đinh Văn Sơn (2002), Giáo trình tài chính Doanh nghiệp thương mại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS Đinh Văn Sơn (2002), "Giáo trình tài chính Doanh nghiệpthương mại
Tác giả: TS Đinh Văn Sơn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
19. Nguyễn Anh Thái (2002), Giải pháp tăng cường Quản lý tài chính Đào tạo Đại học của Đại học quốc gia Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học kinh tế Quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Anh Thái (2002), "Giải pháp tăng cường Quản lý tàichính Đào tạo Đại học của Đại học quốc gia Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Anh Thái
Năm: 2002
20. Thủ tướng Chính phủ (1999), Quyết định số 122/1999/QĐ-TTg ngày 18/05/1999 về tiêu chuẩn, định mức sử dụng ô tô trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tướng Chính phủ (1999)
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 1999
21. Thủ tướng Chính phủ (1999), Quyết định số147/1999/QĐ-TTg ngày 05/07/1999 về tiêu chuẩn định mức sử dụng trụ sở làm việc tại các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tướng Chính phủ (1999)
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Mức chi ngân sách Nhà nước bình quân cho 1 sinh viên Trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh từ năm 2007 – 2010 - Thực trạng quản lý tài chính tại đại học kinh tế và quản trị kinh doanh   thái nguyên
Bảng 2.3 Mức chi ngân sách Nhà nước bình quân cho 1 sinh viên Trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh từ năm 2007 – 2010 (Trang 43)
Bảng 2.5: Nguồn thu tại trường của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh từ năm 2008 – 2010 - Thực trạng quản lý tài chính tại đại học kinh tế và quản trị kinh doanh   thái nguyên
Bảng 2.5 Nguồn thu tại trường của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh từ năm 2008 – 2010 (Trang 46)
Bảng   2.7:   Cơ   cấu   chi   nguồn   ngoài   ngân   sách   Nhà   nước   của Trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh từ năm 2008 – 2010 - Thực trạng quản lý tài chính tại đại học kinh tế và quản trị kinh doanh   thái nguyên
ng 2.7: Cơ cấu chi nguồn ngoài ngân sách Nhà nước của Trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh từ năm 2008 – 2010 (Trang 54)
Bảng 2.8: Trích lập và phân phối các quỹ của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh  từ năm 2008 – 2010 - Thực trạng quản lý tài chính tại đại học kinh tế và quản trị kinh doanh   thái nguyên
Bảng 2.8 Trích lập và phân phối các quỹ của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh từ năm 2008 – 2010 (Trang 64)
Bảng 2.9: Chi  khen thưởng tập thể cán bộ công chức - Thực trạng quản lý tài chính tại đại học kinh tế và quản trị kinh doanh   thái nguyên
Bảng 2.9 Chi khen thưởng tập thể cán bộ công chức (Trang 65)
Bảng 2.10: Chi  khen thưởng cá nhân cán bộ công chức - Thực trạng quản lý tài chính tại đại học kinh tế và quản trị kinh doanh   thái nguyên
Bảng 2.10 Chi khen thưởng cá nhân cán bộ công chức (Trang 67)
Bảng 2.11: Chi  khen thưởng khối sinh viên - Thực trạng quản lý tài chính tại đại học kinh tế và quản trị kinh doanh   thái nguyên
Bảng 2.11 Chi khen thưởng khối sinh viên (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w