1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp thuộc thông tấn xã việt nam

140 261 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 502,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Trao quyền tự chủ rộng hơn cho đơn vị sự nghiệp Phỏngvấn ông Huỳnh Quang Hải, Vụ trưởng Vụ hành chính sự nghiệp, BộTài chính, http://WWW.mof.gov.vn, ngày 09/03/2006 + Hội thảo “ Chương

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hòa nhập với xu hướng chuyển sang nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa và chủ trương xã hội hóa dịch vụ công,các đơn vị sự nghiệp ở Việt nam không còn đơn thuần thực hiện chỉtiêu kế hoạch Nhà nước giao mà còn tự tổ chức cung ứng dịch vụcho xã hội Nguồn tài chính của các đơn vị này không chỉ do ngânsách nhà nước cấp mà từng đơn vị đều khai thác thêm các nguồn thu

từ hoạt động dịch vụ cho xã hội Trong những năm gần đây, số thu từhoạt động cung ứng dịch vụ không chỉ là nguồn thu bổ sung mà cònchiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng nguồn kinh phí của đơn vị.Tuy nhiên, nhiều đơn vị sự nghiệp vẫn còn lúng túng trong việc quản

lý và sử dụng nguồn vốn này Gần đây, Chính phủ đã ra Nghị định10/2002/NĐ-CP ngày 16.1.2002 về chế độ tài chớnh ỏp dụng cho đơn

vị sự nghiệp có thu, trong đó đã quy định tạm thời quy chế quản lý tàichính các đơn vị sự nghiệp theo hướng tự chủ, nhưng trên thực tếviệc triển khai Nghị định này còn gặp không ít khó khăn

Thông tấn xã Việt nam (TTXVN), với tư cách là một đơn vị

sự nghiệp, cũng nằm trong tình trạng như thế Mặc dù trong nhữngnăm vừa qua, công tác quản lý tài chính của TTXVN đã đạt đượcmột số kết quả nhất định, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đề ra,song cơ chế quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp của TTXVNhiện cũng bộc lộ những hạn chế, khiếm khuyết Để góp phần làmcho công tác quản lý tài chính của TTXVN ngày càng tốt hơn, phù

Trang 2

hợp hơn với tiến trình đổi mới của đất nước trong điều kiện hội

nhập kinh tế thế giới và khu vực, đề tài: “Đổi mới quản lý tài chính

ở các đơn vị sự nghiệp thuộc Thông tấn xã Việt Nam” được chọn

làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Chuyển các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước sang hoạt độngtheo cơ chế quản lý phù hợp với kinh tế thị trường là lĩnh vực vấpphải nhiều lúng túng ở nước ta Mặc dù từ đầu những năm 90 Đảng

và Nhà nước ta đã có chủ trương xã hội hóa một phần các dịch vụcông của Nhà nước, nhưng quá trình xã hội hóa diễn ra chậm chạp.Gần đây, với việc ban hành Nghị định số10/ 2002/CP Nhà nước ta

đã thể hiện quyết tâm đổi mới trong quản lý các đơn vị hành chính,

sự nghiệp Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực nàycòn rất ít, mới chỉ có một số công trình đề cập đến ba góc độ sau:

* Bàn về chủ trương xã hội hóa các dịch vụ công của nhànước Điển hình cho các công trình nghiên cứu này là:

+ Mở rộng hơn nữa quyền tự chủ đối với các ĐVSN (HuỳnhThị Nhân, Tạp chí tài chính số 1 năm 2005)

+ Mở rộng quyền chủ động tài chính cho các đơn vị sử dụngngân sách (Vĩnh Sang, Tạp chí Tài chính số 8 năm 2005)

+ Cơ chế tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu,(http://WWW caicachhanhchinh.gov.vn, ngày 14/10/2004)

+ Cơ chế khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính thu(http://WWW caicachhanhchinh.gov.vn, ngày 14/10/2004)

Trang 3

*Quá trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị

sự nghiệp đã được thực hiện trong một số năm gần đây Tuy nhiên,các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này còn ít, mới chỉ có một sốbài phân tích, bình luận trên tạp chí, một số luận văn, luận án nghiêncứu về quản lý tài chính Chẳng hạn như:

+ Thủ trưởng đơn vị được quyền tự chủ về kinh phí quản lýhành chính (Báo Đầu Tư ra ngày 20/03/2006)

+ Một số vấn đề về đổi mới lĩnh vực sự nghiệp (Đỗ Quốc Sam,

http:// WWW.irv.moi.gov.vn, ngày 2/03/2006)

+ Trao quyền tự chủ rộng hơn cho đơn vị sự nghiệp (Phỏngvấn ông Huỳnh Quang Hải, Vụ trưởng Vụ hành chính sự nghiệp, BộTài chính, http://WWW.mof.gov.vn, ngày 09/03/2006)

+ Hội thảo “ Chương trình đổi mới cơ chế quản lý tài chínhđối với các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp cônggiai đoạn 2004-2005” Bộ Tài chính phối hợp với Dự án VIE01/024/B-Bộ Nội vụ tổ chức với các Bộ ngành Trung ương và cácđịa phương (http://WWW.mof.gov.vn)

+ Mỗi năm chuyển khoảng 20% - 25% số đơn vị sự nghiệpsang tự chủ tài chính (Xuân Quang, http://WWW.mpi.gov.vn)

Các công trình này chủ yếu bình luận về tính đúng đắn củachủ trương xã hội hóa trên các mặt tăng quy mô và chủng loại dịch

vụ, nhất là dịch vụ y tế và giáo dục, tăng ý thức trách nhiệm củacông dân và các đơn vị trong cung cấp, lựa chọn, kiểm soát và trả

Trang 4

phí theo chất lượng dịch vụ, tăng tính cạnh tranh và sức ép buộc cácđơn vị sự nghiệp của Nhà nước phải cải thiện hoạt động của mình Một số công trình cũng phân tích những yếu kém khi triển khai thựchiện chủ trương xã hội hóa dịch vụ công.

*Bàn về thực trạng đổi mới cơ chế quản lý, nhất là đổi mới cơchế quản lý tài chính, ở các đơn vị sự nghiệp của nhà nước theohướng mở rộng quyền tự chủ tài chính cho cơ sở Có thể kể ra một

số công trình đã công bố về lĩnh vực này như:

- Luận văn thạc sĩ của Hoàng Ngọc Tuấn về đề tài: “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quá trình quản lý tài chính tại Trung tâm dịch

Trong khuôn khổ quản lý tài chính của TTXVN, cũng đã cómột số công trình nghiên cứu nhưng mang tính kỹ thuật và báo chí.Riêng nghiên cứu về đổi mới quản lý tài chính ở các đơn vị sựnghiệp thuộc TTXVN hiện vẫn chưa có công trình nào nghiên cứumột cách hệ thống

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 5

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là đổi mới quản lý tài

chính ở các đơn vị sự nghiệp thuộc TTXVN Vì TTXVN là một đơn

vị sự nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước, trong nó lại bao gồmnhiều đơn vị trực thuộc, nên đổi mới quản lý tài chính ở các đơn vị

sự nghiệp thuộc TTXVN bao hàm nhiều nội dung phức tạp như đổimới quản lý tài chính của Nhà nước với tư cách chủ sở hữu đối vớiTTXVN, đổi mới quản lý tài chính của Văn phòng TTXVN đối vớiđơn vị trực thuộc và đổi mới quản lý tài chính của từng đơn vị trựcthuộc TTXVN … Do khuôn khổ hạn chế nên luận văn chỉ tập trungnghiên cứu quản lý tài chính của Văn phòng TTXVN và của đơn vịtrực thuộc Cơ chế, chế độ quản lý tài chính của Nhà nước đối vớiTTXVN được giới hạn trong các văn bản có giá trị thi hành hiệnnay

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ khảo sát các đơn vị trong

nước của TTXVN, không đề cập đến quản lý tài chính các đại diện

ở nước ngoài Thời gian khảo sát chủ yếu tập trung trong giai đoạn

5 năm trước và sau năm 2006

4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn củaquản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp thuộc TTXVN, trên cơ sở

đó đề xuất một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính ở các đơn vị

sự nghiệp của TTXVN trong thời gian tới

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

Trang 6

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận của quản lý tài chính ở các đơn vị

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế phổbiến như phương pháp phân tích, tổng hợp dựa trên các số liệuthống kê có sẵn và tự điều tra, kết hợp với so sánh, hệ thống hóa,

mô hình hóa nhằm rút ra các kết luận và đề xuất cần thiết

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết về quản lý tài chính ởcác đơn vị sự nghiệp phù hợp với điều kiện xây dựng nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

- Đưa ra được bức tranh về thực trạng quản lý tài chính ở cácđơn vị sự nghiệp thuộc TTXVN trên cơ sở chế độ quản lý của Nhànước hiện hành

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm đổi mới quản lý tàichính ở các đơn vị sự nghiệp thuộc TTXVN trong thời gian tới

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,luận văn được kết cấu thành 3 chương, 9 tiết

Trang 7

1.1.1.1 Khái niệm hoạt động sự nghiệp

Trong xã hội, con người tạo ra và tham gia vào nhiều hoạtđộng khác nhau như sản xuất ra của cải để nuôi sống mình, tự nhậnthức thế giới và giáo dục cho thế hệ sau những tri thức và kỹ năngmình đã tích lũy được, nghiên cứu và tìm cách chữa bệnh cho mình,rèn luyện thể lực và giải trí…Các Mác, và sau này là các học trò vàngười kế tục Người, đã quan niệm xã hội gồm nhiều tầng cấu trúc,trong đó quá trình tạo ra của cải vật chất là cơ sở hạ tầng, bên trên

nó là kiến trúc thượng tầng chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học,tinh thần…Khi xây dựng mô hình xã hội chủ nghĩa hiện thực, các lýluận gia của các nước xã hội chủ nghĩa đã coi các hoạt động sảnxuất là hoạt động kinh tế, các hoạt động của bộ máy nhà nước làhành chính và các hoạt động giáo dục, nghiên cứu, y tế, văn hóa,nghệ thuật là hoạt động sự nghiệp Hơn nữa, trong mô hình kinh tế

xã hội chủ nghĩa thời bao cấp, ngoài các cơ sở sản xuất và thươngmại quốc doanh bao trùm quá trình tái sản xuất xã hội, Nhà nước

Trang 8

còn thành lập các cơ sở cung cấp dịch vụ giáo dục, y tế, nghiêncứu…Để phân biệt chức năng và cơ chế hoạt động của các loại hìnhđơn vị cơ sở như thế, Nhà nước gọi các hoạt động sản xuất vàthương mại là hoạt động kinh tế, các hoạt động nghiên cứu, giáodục, y tế, thể dục thể thao, nghệ thuật… là các hoạt động sự nghiệp.

Từ đó cho đến nay thuật ngữ hoạt động sự nghiệp được sử dụngthường xuyên trong các văn bản pháp lý về quản lý của Nhà nước.Tuy nhiên, về mặt lý luận, chưa có công trình nào đưa ra định nghĩa

1.1.1.2 Đặc điểm hoạt động sự nghiệp

Hoạt động sự nghiệp có những đặc trưng cơ bản sau:

Trang 9

Thứ nhất, hoạt động sự nghiệp có xu hướng cung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ có tính chất của hàng hóa công cộng hoặc hàng hóa khuyến dụng.

Kết quả của hoạt động sự nghiệp chủ yếu là học vấn, kỹ nănglao động của nhân dân, các giá trị văn hóa, khoa học, nghệ thuật khóđánh giá được giá trị kinh tế bằng tiền, nhưng có ý nghĩa tăng hiệuquả kinh tế xã hội chung, tăng năng lực sản xuất của quốc gia, tăngchất lượng sống của nhân dân, tăng phúc lợi xã hội, tạo hiệu ứngtích cực cho các lĩnh vực khác, lợi ích đem lại không chỉ cho ngườihưởng thụ trực tiếp mà còn cho những người khác … Nhiều sảnphẩm của các đơn vị sự nghiệp có giá trị sử dụng tăng thêm khi tăngngười sử dụng mà không tăng chi phí như phát thanh, truyền hình…Theo ý kiến của nhà kinh tế được giải thưởng Nôben J Stieglits,nhà nước cung cấp hàng hóa công cộng sẽ có lợi hơn tư nhân [14,tr.170-173]

Hơn nữa, trong xã hội hiện đại, để đảm bảo công bằng và tiến

bộ xã hội, Nhà nước nên cung cấp nhiều hàng hóa công cộng Bởi

vì, nhờ sử dụng những hàng hóa công cộng do hoạt động sự nghiệptạo ra mà quá trình sản xuất của cải vật chất được thuận lợi vàngày càng đạt hiệu quả cao hơn Hoạt động sự nghiệp giáo dục,đào tạo, y tế, thể dục thể thao đem đến tri thức và bảo đảm sứckhỏe cho lực lượng lao động, tạo điều kiện cho lao động có chấtlượng ngày càng tốt hơn; hoạt động sự nghiệp khoa học, văn hóathông tin mang lại những hiểu biết của con người về tự nhiên, xã

Trang 10

hội, tạo ra những công nghệ mới phục vụ sản xuất và đời sống Nếu không có sự cung cấp của Nhà nước, nhiều người không có

cơ hội hưởng thụ những loại hàng hóa, dịch vụ đó

Thứ hai, hoạt động sự nghiệp không nhằm mục đích thu lợi nhuận trực tiếp.

Trong nền kinh tế thị trường, một số sản phẩm, dịch vụ dohoạt động sự nghiệp tạo ra có thể trở thành hàng hóa đem lại thunhập cho đơn vị cung cấp Song do nhiều nguyên nhân, chẳng hạnnhư nếu trao đổi theo nguyên tắc thị trường thì nhiều người không

có khả năng tiêu dùng hoặc không khuyến khích tiêu dùng đủmức…, trong khi đó mở rộng tối đa sự tiêu dùng các loại hàng hóa

đó có ý nghĩa vừa làm tăng năng lực sản xuất của đất nước, vừa cógiá trị tiến bộ và công bằng Chính vì thế, Nhà nước cần tổ chứccung ứng hoặc duy trì các tài trợ để các hoạt động sự nghiệp cungcấp những sản phẩm, dịch vụ không thu tiền hoặc thu tiền chỉ đểhoàn một phần chi phí, không nhằm thu lợi nhuận Ngoài ra, khicung cấp các dịch vụ sự nghiệp không theo nguyên tắc thương mạibình thường, Nhà nước hướng đến mục tiêu phân phối lại thu nhập

và tăng phúc lợi công cộng

Tuy nhiên, xét về mặt quản lý vi mô, Nhà nước mong muốncác đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ sự nghiệp phải hoạt động cóhiệu quả, có nghĩa là hoạt động với chi phí tối thiểu Do đó, các biệnpháp khoán kinh phí hay buộc các đơn vị sự nghiệp phải hạch toán

Trang 11

thu chi không phải là giải pháp tăng thu lợi nhuận như các biện phápquản lý doanh nghiệp, mà đơn thuần chỉ là giải pháp quản lý khuyếnkhích đơn vị sự nghiệp chủ động phát huy hết mọi năng lực củamình để tiết kiệm chi phí.

Thứ ba, hoạt động sự nghiệp luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội và ngân sách của Nhà nước.

Trong kinh tế thị trường, các hoạt động sự nghiệp cũng làcông cụ để Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xãhội, nhất là các chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chươngtrình dân số, kế hoạch hóa gia đình, chương trình phát triển giáodục, chương trình phát triển văn hóa Những chương trình mục tiêuquốc gia chi phối hoạt động sự nghiệp nằm trong tổng thể chiếnlược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung

Hơn nữa, nhu cầu về các sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp của xãhội thì nhiều vô hạn, trong khi đó nguồn tài chính của Nhà nướcgiành cho các hoạt động này lại bị hạn chế bởi ngân sách nhà nướccũng như mối quan hệ với các nhu cầu chi tiêu khác của Nhà nước.Chính vì thế, cung sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp luôn thấp hơn nhucầu và việc xác định phải cung cấp các loại sản phẩm, dịch vụ sựnghiệp với quy mô bao nhiêu luôn là vấn đề hóc búa của các Nhànước

Thứ tư, sản phẩm của các hoạt động sự nghiệp có tính ích lợi chung và lâu dài.

Trang 12

Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu lànhững giá trị về tri thức, văn hóa, phát minh, sức khỏe, đạo đức, cácgiá trị về xã hội Đây là những sản phẩm thường mang lại lợi ích chonhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng Nhiều sản phẩm

sự nghiệp có tác dụng lâu dài như các phát minh khoa học, các giá trịvăn hóa, trình độ học vấn, kỹ năng lao động…

Nhìn chung, đại bộ phận các sản phẩm do hoạt động sự nghiệptạo ra là sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong mộtngành hoặc một lĩnh vực nhất định, những sản phẩm đó khi tiêudùng thường có tác dụng lan toả và vựcđược sử dụng đi, sử dụng lạinhiều lần

1.1.1.3 Phân loại hoạt động sự nghiệp

Hoạt động sự nghiệp trong xã hội rất đa dạng, phong phú và

có thể phân loại chúng theo nhiều tiêu thức khác nhau

- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, các hoạt động sự nghiệp đượcchia thành:

+ Sự nghiệp kinh tế: Là hoạt động sự nghiệp nhằm phục vụtrực tiếp hoặc gián tiếp cho yêu cầu sản xuất kinh doanh, đảm bảocho các ngành kinh tế hoạt động bình thường, thuận lợi

+ Sự nghiệp văn hóa xã hội (gọi tắt là sự nghiệp văn xã): Làcác hoạt động phục vụ cho các yêu cầu phát triển của xã hội về vănhóa, sức khỏe và các nhu cầu về đời sống tinh thần của nhân dân

- Căn cứ vào đặc điểm nguồn tài chính đảm bảo cho hoạt động

sự nghiệp, hoạt động sự nghiệp được chia thành:

Trang 13

+ Hoạt động sự nghiệp không có thu: Là hoạt động do Nhànước đảm bảo hoàn toàn nhu cầu tài chính Những hoạt động nàythường là những hoạt động cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho xãhội, phạm vi tiêu dùng rộng rãi và chỉ có Nhà nước mới có thể thựchiện một cách hiệu quả nhất Thuộc về những hoạt động này gồm cócác hoạt động về văn hóa tuyên truyền, giáo dục tiểu học, đào tạo,khoa học, y tế cho người nghèo, đảm bảo xã hội,

+ Hoạt động sự nghiệp có thu: Là những hoạt động mà nguồntài chính đảm bảo vừa do Nhà nước cung cấp, vừa do người tiêudùng đóng góp một phần dưới dạng phí, lệ phí Những hoạt độngnày thường là những hoạt động cung cấp các dịch vụ có tác độngtrực tiếp đến quá trình sản xuất và đời sống mà người tiêu dùng cóthể trả tiền do họ thấy ngay hiệu quả sử dụng dịch vụ, hoặc là họmuốn nhận được những dịch vụ có phí phân biệt theo chất lượng

- Căn cứ vào tính chất hoạt động của chúng, hoạt động sựnghiệp được chia thành:

+ Hoạt động sự nghiệp thường xuyên: Là những hoạt độngđược tổ chức và duy trì hoạt động liên tục và xã hội luôn luôn cónhu cầu tiêu dùng sản phẩm dịch vụ của nó, bất luận điều kiện kinh

tế xã hội trong từng giai đoạn như thế nào Thuộc về hoạt động sựnghiệp thường xuyên là các hoạt động về giáo dục tiểu học, đào tạo,khoa học, y tế, văn hóa …

Trang 14

+ Hoạt động sự nghiệp không thường xuyên: Là những hoạtđộng sự nghiệp để thực hiện các chương trình cụ thể của Nhà nướctrong một giai đoạn nhất định.

1.1.1.4 Vai trò của hoạt động sự nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Trong thời đại ngày nay, một nước giầu hay nghèo, lạc hậuhay phát triển không phải chỉ phụ thuộc vào khối lượng hàng hóa tưnhân mà người dân có được do trao đổi trên thị trường, mà còn phụthuộc vào khối lượng phúc lợi xã hội mà họ được hưởng, trong đó

có các sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp cung cấp Hơnnữa, tiềm năng phát triển nhanh hay chậm trong tương lai của mộtnước không những do số lượng lao động, tài nguyên thiên nhiên vàvốn đã tích lũy được quyết định, mà chủ yếu là do khả năng pháthuy tiềm năng sáng tạo của con người chi phối Tiềm năng sáng tạonày nằm trong các yếu tố cấu thành con người về trình độ văn hóa,tri thức khoa học, thể lực, tâm hồn, đạo đức lối sống, thị hiếu, thẩm

mỹ, giao tiếp của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng… Đa phần yếu

tố cấu thành tiềm năng sáng tạo của con người do hoạt động sựnghiệp cung cấp trong quá khứ, hiện tại và tương lai

Hoạt động sự nghiệp là động lực to lớn giúp dân tộc bảo tồn

và phát triển văn hóa, truyền thống, các giá trị đạo đức… Nghịquyết Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X đã

Trang 15

khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mụctiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội” [13].

Hoạt động sự nghiệp đóng vai trò động lực cải cách, đổi mới,phát triển giáo dục - đào tạo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4(khóa VII) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (khóa VIII) củaĐảng ta đã khẳng định quan điểm khoa học công nghệ cùng vớigiáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu trong phát triển đất nước

Thể dục - thể thao là một bộ phận quan trọng trong chính sáchphát triển khoa học xã hội của Đảng và Nhà nước ta nhằm bồidưỡng và phát huy nhân tố con người, góp phần tích cực nâng caosức khoẻ, thể lực, giáo dục nhânnhân cách, đạo đức lối sống lànhmạnh, làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân,nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của các lựclượng vũ trang Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa VII) củaĐảng ta đã khẳng định “Sức khỏe là vốn quý của mỗi con người vàcủa toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc” [11] Hoạt động sự nghiệp có vai trò quan trọngtrong lĩnh vực này

1.1.2 Đơn vị sự nghiệp

1.1.2.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam

Trong nền kinh tế-xã hội, để thực hiện các hoạt động sự nghiệp cần có các tổ chức tiến hành các hoạt động đó, các tổ chức này được gọi là đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) Tuy nhiên, theo ngôn ngữ

Trang 16

quen dùng ở Việt Nam, ĐVSN thường phải là các cơ quan của Nhànước.

“Chương trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơquan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công giai đoạn 2004-2005”, ban hành theo Quyết định số 08/2004/QĐ-TTg ngày15/01/2004 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định: ĐVSN là mộtloại hình đơn vị được Nhà nước ra quyết định thành lập, thực hiệnnhiệm vụ chuyên môn nhất định nhằm thực hiện các mục tiêu kinh

tế - xã hội do Nhà nước giao trên lĩnh vực quản lý, thực hiện cáchoạt động sự nghiệp Đó là đơn vị thuộc sở hữu nhà nước, hoạtđộng trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, văn hóa, thông tin,nghiên cứu khoa học, y tế, không theo nguyên tắc hạch toán kinhdoanh [24]

ĐVSN thuộc khu vực phi lợi nhuận, sự chi tiêu của các đơn vịnày, theo con mắt của các nhà quản lý tài chính nhà nước, mất đi,không thu hồi lại được vốn gốc, mặc dù các đơn vị này vẫn tínhkhấu hao tài sản cố định Trong quá trình hoạt động, các ĐVSNđược Nhà nước trang trải kinh phí đáp ứng nhu cầu chi tiêu từ ngânsách nhà nước hoặc được bổ sung từ các nguồn khác

Đặc điểm hoạt động của các ĐVSN là rất đa dạng, bắt nguồn

từ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và vai trò của Nhà nước trongnền kinh tế thị trường Mục đích hoạt động của các ĐVSN là phục

vụ lợi ích cộng đồng, xã hội, đất nước Trong quá trình cung cấphàng hóa và dịch vụ công cho xã hội, các ĐVSN được phép tạo lậpnguồn thu nhập nhất định thông qua các khoản thu phí và các khoản

Trang 17

thu từ cung ứng dịch vụ do Nhà nước quy định để trang trải cáckhoản chi tiêu Quản lý tài chính ĐVSN phải tuân thủ theo nhữngquy định pháp lý của Nhà nước Tùy theo đặc điểm tạo lập nguồnthu của các ĐVSN, Nhà nước áp dụng cơ chế tài chính thích hợp đểcác ĐVSN thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình Phù hợpvới xu hướng cải cách khu vực công trong bối cảnh hội nhập, Nhànước thực hiện chính sách đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối vớicác ĐVSN theo hướng nâng cao quyền tự chủ tài chính nhằm nângcao chất lượng dịch vụ công phục vụ xã hội.

ĐVSN có những đặc điểm khác với cơ quan hành chính Cơquan hành chính là những tổ chức cung cấp trực tiếp các dịch vụhành chính công cho người dân khi thực hiện chức năng quản lýNhà nước của mình Các dịch vụ hành chính công được cung cấptheo luật định, với chất lượng đồng nhất cho mọi người tiêu dùng vàđược chi trả trực tiếp bằng ngân sách nhà nước Dịch vụ hành chínhcông là chức năng của cơ quan hành chính Nhà nước, là trách nhiệm

và nghĩa vụ của bộ máy Nhà nước với nhân dân và chỉ có Nhà nước(chứ không có một tổ chức tư nhân nào khác) có đủ thẩm quyềnthực hiện chức năng đó Nhà nước với tư cách là một tổ chức côngquyền phải có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ này cho nhân dân, cònngười dân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước dưới hình thức thuế.Như vậy, quan hệ trao đổi các dịch vụ hành chính công không phảnánh quan hệ thị trường, mà phản ánh quan hệ nghĩa vụ của Nhànước và phương tiện thực hiện nghĩa vụ do xã hội công dân cung

Trang 18

cấp Người sử dụng dịch vụ có thể trả một phần hoặc không phải trảtiền cho việc sử dụng dịch vụ đó, nhưng phải đóng thuế để chi trảcho chúng Chính vì vậy cơ quan hành chính chỉ được tự chủ tàichính trong phần kinh phí ngân sách nhà nước cấp (cơ chế khoánchi), không được tự do mở rộng dịch vụ và nguồn thu Dịch vụ vànguồn thu là cố định theo luật.Trong khi đó, dịch vụ của ĐVSNcung ứng có thể cạnh tranh với khu vực tư nhân và cung ứng theonhu cầu nên các đơn vị này được phép khai thác và mở rộng nguồnthu từ các hoạt động sự nghiệp của mình Đặc điểm khác biệt nàycho phép ĐVSN có thể hoạt động theo nguyên tắc tự chủ tài chính.

ĐVSN có những điểm khác với loại hình doanh nghiệp Trongkinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tuân thủ nguyên tắc hạch toánkinh doanh, hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận bằng cách tự bù đắp

đủ chi phí và có lãi Doanh nghiệp phải hoạt động theo quy luật thịtrường ĐVSN không hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường vàkhông coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của mình

Lĩnh vực sự nghiệp tạo ra những sản phẩm đặc biệt vừa mangtính phục vụ chính trị-xã hội, vừa mang tính hàng hóa đòi hỏi phải

bù đắp chi phí Với chức năng phục vụ xã hội, sản phẩm của hoạtđộng sự nghiệp không thể đo bằng giá trị tiền tệ hữu hình Nhữngđơn vị tạo ra sản phẩm đó không thể và càng không hạch toán được

lỗ lãi đơn thuần bởi sản phẩm của nó thuộc chức năng phục vụ nhândân, phục vụ xã hội Mặt khác, mỗi sản phẩm này đều mang trong

nó giá trị đã hao phí để tạo ra nó Để tái sản xuất giản đơn, các

Trang 19

ĐVSN phải thu lại từ ngân sách nhà nước và từ chi trả của ngườihưởng thụ.

Hiệu quả hoạt động của ĐVSN không đơn thuần đo đếm bằngtiền, mà thường được tính bằng các giá trị phi tiền tệ Chính vì thế,việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các ĐVSN thường khó khăn

1.1.2.2 Các loại hình đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam

Có rất nhiều tiêu thức để phân loại ĐVSN

* Căn cứ vào vị trí, ĐVSN được phân loại thành:

- ĐVSN ở Trung ương là những ĐVSN trực thuộc Chính phủnhư TTXVN, Đài Phát thanh Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam,các bệnh viện, trường học, các nhà xuất bản quốc gia…

- ĐVSN ở địa phương như đài phát thanh truyền hình ở địaphương, các bệnh viện, trường học, do địa phương quản lý,

* Căn cứ vào từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp cụ thể, ĐVSNbao gồm:

- ĐVSN giáo dục, đào tạo

- ĐVSN y tế (Bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân)

- ĐVSN văn hóa, thông tin

- ĐVSN phát thanh, truyền hình

- ĐVSN dân số-trẻ em, kế hoạch hóa gia đình

- ĐVSN thể dục, thể thao

- ĐVSN khoa học công nghệ, môi trường

- ĐVSN kinh tế (Duy tu, sửa chữa đê điều, trạm trại, )

- Đơn vị sự nghiệp khác

* Căn cứ vào nguồn thu thì ĐVSN được chia thành hai loại:

Trang 20

- Đơn vị sự nghiệp không có thu: Là đơn vị được Nhà nướccấp toàn bộ kinh phí để đảm bảo hoạt động của đơn vị và kinh phíđược cấp theo nguyên tắc không hoàn lại trực tiếp.

- ĐVSN có thu gồm hai loại:

+ ĐVSN có thu tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thườngxuyên: Là đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp ổn định, bảođảm được toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhànước không phải cấp kinh phí cho hoạt động thường xuyên cho đơnvị

+ ĐVSN có thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt độngthường xuyên: Là đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệpnhưng chưa tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên,ngân sách nhà nước phải cấp một phần chi phí cho hoạt độngthường xuyên của đơn vị

1.1.3 Quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

1.1.3.1 Khái niệm quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường nước ta

Quản lý là yêu cầu tất yếu để đảm bảo sự hoạt động bìnhthường của mọi quá trình và hệ thống kinh tế, xã hội, văn hóa, chínhtrị có sự tham gia tự giác của nhiều người Thực chất của quản lý làthiết lập và thực hiện hệ thốngcác phương pháp và biện pháp khácnhau của chủ thể quản lý để tác động một cách có ý thức tới đốitượng quản lý nhằm đạt tới kết quả nhất định

Trang 21

Quản lý bao gồm nhiều phương diện như quản lý công nghệ,quản lý thương mại, quản lý nhân sự, quản lý tài chính…Quản lý tàichính là hoạt động của chủ thể quản lý trong lĩnh vực tài chínhnhằm sử dụng nguồn tài sản dưới hình thái tiền, giấy tờ có giá củamột đơn vị, tổ chức vừa đảm bảo cho đơn vị, tổ chức hoạt động bìnhthường, vừa đảm bảo cho nguồn tài chính sử dụng tiết kiệm và sinhlợi nhiều nhất.

Chủ thể quản lý tài chính ĐVSN gồm cơ quan nhà nướcchuyên trách, bộ phận quản lý tài chính trong ĐVSN

* Quản lý tài chính ĐVSN từ phía Nhà nước (với tư cách chủ

sở hữu và cơ quan quản lý hành chính của Nhà nước) Tùy theo tổchức bộ máy nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, có các cơquan nhà nước trực tiếp quản lý tài chính ĐVSN khác nhau Hiệnnay, cơ quan chuyên trách quản lý tài chính các ĐVSN ở trung ương

là Bộ Tài Chính, Bộ chủ quản, ở địa phương là Sở Tài chính và Sởchủ quản

Mục tiêu của Nhà nước trong quản lý tài chính các ĐVSN là

đề ra chính sách, chế độ, quy chế hoạt động tài chính phù hợp vớiluật pháp và chức năng, nhiệm vụ của ĐVSN

* Quản lý tài chính ở ĐVSN

Chủ thể quản lý tài chính là các bộ phận chuyên trách về tàichính trong các ĐVSN Thông thường, đó là bộ phận kế toán-tài vụ.Nếu trong ĐVSN còn có các đơn vị độc lập có tư cách pháp nhânthì đơn vị trực thuộc đó cũng tiến hành quản lý tài chính trong đơn

vị mình Mục tiêu quản lý tài chính của ĐVSN là sử dụng đúng mụcđích, đúng chế độ nhà nước và tiết kiệm nguồn tài chính của mình

Trang 22

1.1.3.2 Vai trò của quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường nước ta

Quản lý tài chính là một trong những hoạt động quản lý quantrọng của bất kỳ một tổ chức nào trong điều kiện kinh tế thị trường.Bởi vì, tài chính biểu hiện tổng hợp và bao quát hoạt động của đơn vị.Thông qua quản lý tài chính, chủ thể quản lý không chỉ kiểm soátđược toàn bộ chu trình hoạt động của đơn vị mà còn đánh giá đượcchất lượng hoạt động của chúng Tài chính còn biểu hiện lợi ích củacác chủ thể tham gia và liên quan đến đơn vị Thông qua quản lý tàichính, chủ thể quản lý sử dụng được công cụ kích thích lợi ích mộtcách hữu hiệu

Quản lý tài chính ở các ĐVSN cũng có vai trò quan trong nhưthế Ngoài ra, do hoạt động của các ĐVSN rất đa dạng, tham gia trongnhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và theo đuổi không chỉ mụctiêu riêng, mà còn phục vụ mục tiêu chung của toàn xã hội nên quản

lý tài chính khá phức tạp, thường được quy định cụ thể cho từngngành Trong điều kiện kinh tế thị trường, yêu cầu về chất lượng dịch

vụ công và hiệu quả hoạt động của các ĐVSN là những vấn đề cònmang tính phức tạp hơn nữa Bên cạnh các khoản chi của ngân sáchnhà nước đối với các ĐVSN, các đơn vị này còn có nguồn thu nhập từchi trả của dân cư Quản lý tốt tài chính của ĐVSN không những gópphần làm giảm bớt các khoản chi sự nghiệp của ngân sách nhà nước,

mà còn khuyến khích cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho xã hội vớichi phí tiết kiệm

Trang 23

Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính ở các ĐVSN liên quantrực tiếp đến hiệu quả kinh tế - xã hội và chi tiêu đóng góp của nhândân Do đó, nếu tài chính của các ĐVSN được quản lý, giám sát,kiểm tra tốt, sẽ góp phần hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêucực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chínhcông, đồng thời nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài chínhcủa đất nước.

Ngoài ra, quản lý tài chính các ĐVSN còn cung cấp thông tin

để tái cơ cấu hoạt động cung cấp dịch vụ văn hóa, giáo dục, y tế, thểdục thể thao… trong tương quan với sự cạnh tranh của khu vực tưnhân

1.2 MỤC TIÊU, NGUYÊN TẮC VÀ NỘI DUNG QUẢN

LÝ TÀI CHÍNH Ở CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP

1.2.1 Mục tiêu quản lý tài chính ở đơn vị sự nghiệp

Việc quản lý tài chính ĐVSN nhằm đạt tới các mục tiêu:

- Làm cho ĐVSN hoạt động có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu đòihỏi ngày càng cao của xã hội

- Tạo động lực khuyến khích các ĐVSN tích cực, chủ động tổchức hoạt động hợp lý, xác định số biên chế cần có, sắp xếp, tổ chức

và phân công lao động khoa học, nâng cao chất lượng công việc nhằm

sử dụng kinh phí tiết kiệm

- Nêu cao ý thức trách nhiệm, tăng cường đấu tranh chống cáchiện tượng tiêu cực trong sử dụng tài chính

Trang 24

- Tạo điều kiện để công chức phát huy khả năng, nâng caochất lượng công tác và tăng thu nhập vật chất cho cá nhân và tậpthể.

1.2.2 Nguyên tắc quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp

- Nguyên tắc hiệu quả: Là nguyên tắc quan trọng hàng đầu

trong quản lý tài chính nói chung và trong quản lý các ĐVSN nóiriêng Hiệu quả trong quản lý tài chính thể hiện ở sự so sánh giữakết quả đạt được trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hộivới chi phí bỏ ra Tuân thủ nguyên tắc này là khi tiến hành quản lýtài chính các ĐVSN, Nhà nước cần quan tâm cả hiệu quả về xã hội

và hiệu quả kinh tế Mặc dù rất khó định lượng hiệu quả về xã hội,song những lợi ích đem lại về xã hội luôn được đề cập, cân nhắcthận trọng trong quá trình quản lý tài chính công Nhà nước phải cânđối giữa việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu trên cơ sở lợi ích củatoàn thể cộng đồng, những mục tiêu chính trị quan trọng cần phảiđạt được trong từng giai đoạn nhất định với định mức chi hợp lý.Hiệu quả kinh tế là tiêu thức quan trọng để các cá nhân hoặc cơquan có thẩm quyền cân nhắc khi xem xét các phương án, dự án hoạtđộng sự nghiệp khác nhau Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế là hainội dung quan trọng phải được xem xét đồng thời khi hình thành mộtquyết định hay một chính sách chi tiêu ngân sách liên quan đến hoạtđộng sự nghiệp

Trang 25

- Nguyên tắc thống nhất: Là thống nhất quản lý tài chính

ĐVSN bằng những văn bản luật pháp thống nhất trong cả nước.Thống nhất quản lý chính là việc tuân theo một khuôn khổ chung từviệc hình thành, sử dụng, thanh tra, kiểm tra, thanh quyết toán, xử lýnhững vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện quản lý thu,chi tài chính ở các ĐVSN Thực hiện nguyên tắc quản lý này sẽ đảmbảo tính công bằng, bình đẳng trong đối xử với các ĐVSN khácnhau, hạn chế những tiêu cực và rủi ro trong hoạt động tài chính,nhất là những rủi ro có tính chất chủ quan khi quyết định các khoảnthu, chi

- Nguyên tắc tập trung, dân chủ: Là nguyên tắc quan trọng

trong quản lý tài chính đối với các ĐVSN thụ hưởng ngân sách nhànước Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý tài chính ĐVSNđảm bảo cho các nguồn lực của xã hội được sử dụng hợp lý cả ở quy

mô nền kinh tế quốc dân lẫn quy mô ĐVSN

- Nguyên tắc công khai, minh bạch: ĐVSN là tổ chức công

nên việc quản lý tài chính các đơn vị này phải đáp ứng yêu cầuchung trong quản lý tài chính công, đó là công khai, minh bạchtrong động viên, phân phối các nguồn lực xã hội, nhất là nguồn lực

về tài chính Bởi vì tài chính công là đóng góp của xã hội Thựchiện công khai, minh bạch trong quản lý sẽ tạo điều kiện cho cộngđồng có thể giám sát, kiểm soát các quyết định về thu, chi tài chínhcông, hạn chế những thất thoát và đảm bảo tính hợp lý trong chi tiêucủa bộ máy nhà nước

Trang 26

1.2.3 Nội dung quản lý tài chính ở đơn vị sự nghiệp

1.2.3.1 Quản lý nguồn thu

* Các nguồn thu tài chính ở ĐVSN:

Tài chính của các ĐVSN hình thành từ các nguồn sau:

- Nguồn thu từ ngân sách nhà nước: Đặc điểm của nguồn ngânsách là Nhà nước cấp phát theo dự toán xác định cho những nhiệm

vụ, chương trình mục tiêu đã được duyệt Để có được nguồn kinhphí ngân sách cấp, các đơn vị phải thực hiện tốt công tác lập kếhoạch, dự toán theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, các vănbản đặc thù cho từng ngành, từng lĩnh vực, quy chế được duyệt củađơn vị

- Nguồn thu có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước (được phép

để lại đơn vị từ các nguồn thu theo chế độ): các khoản thu từ quyêngóp, tặng, biếu không phải nộp ngân sách nhà nước theo chế độ

- Nguồn thu do dân cư chi trả: là nguồn thu của các ĐVSN dongười nhận dịch vụ đóng góp Nguồn này gồm các khoản sau:

+ Các khoản phí: Phí thực chất là giá cả của hàng hóa, dịch vụ

mà người tiêu dùng phải trả cho người cung cấp khi được hưởng cáchàng hóa, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra Nói cách khác, đây

là khoản tiền mà người tiêu dùng phải trả trực tiếp cho người cungcấp Tùy tính chất và mục đích sử dụng của từng loại hàng hóa, dịch

vụ cụ thể mà Nhà nước quy định mức phí ĐVSN được phép thu

Phí thường được thu trong các lĩnh vực: Văn hóa-thông tin,giáo dục-đào tạo, khoa học công nghệ, y tế, giao thông vận tải, nông

Trang 27

nghiệp, hải sản, lao động thương binh xã hội , ví dụ như học phí,viện phí, thủy lợi phí, phí bảo vệ môi trường,

+ Các khoản thu sự nghiệp: Thông qua các hoạt động sựnghiệp, các đơn vị ứng dụng sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ vănhóa, thông tin, khoa học, thể thao, y tế tạo ra nguồn thu Thu sựnghiệp gồm các khoản thu trong các lĩnh vực sau:

 Thu sự nghiệp giáo dục, đào tạo: Thu hợp đồng giảng dạynghiệp vụ chuyên môn khoa học kỹ thuật, thu từ kết quả hoạt độngsản xuất và ứng dụng khoa học của các trường trung học chuyênnghiệp, dạy nghề, các trường cao đẳng, đại học

 Sự nghiệp y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình: Thu viện phí,thu dịch vụ khám chữa bệnh, thực hiện các biện pháp tránh thai; thubán các sản phẩm đơn vị ứng dụng khoa học sản xuất để phòngchữa bệnh (như các loại vắc xin phòng bệnh, )

 Sự nghiệp văn hóa-thông tin: Thu dịch vụ quảng cáo, thu bánsản phẩm văn hóa như bản tin, tạp chí; thu từ hoạt động biểu diễncủa các đoàn nghệ thuật

 Thể dục-thể thao: Thu tiền bán vé từ hoạt động thi đấu, biểudiễn thể dục, thể thao, thu hợp đồng dịch vụ thể thao như thuê sânbãi, dụng cụ thể dục thể thao,

 Sự nghiệp nghiên cứu khoa học, công nghệ, môi trường: Thubán các sản phẩm từ kết quả hoạt động sản xuất, nghiên cứu, thửnghiệm, thu dịch vụ khoa học, bảo vệ môi trường, thu hợp đồngnghiên cứu khoa học trong và ngoài nước

Trang 28

 Sự nghiệp kinh tế: Thu từ dịch vụ đo đạc bản đồ, điều trakhảo sát, quy hoạch nông lâm, thiết kế trồng rừng, thu dịch vụ khítượng thủy văn, dịch vụ kiến trúc, quy hoạch đô thị,

+ Các khoản thu khác

* Yêu cầu đối với quản lý nguồn thu:

- Quản lý toàn diện từ hình thức, quy mô đến các yếu tố quyếtđịnh số thu Bởi vì tất cả các hình thức, quy mô và các yếu tố ảnhhưởng đến số thu đều quyết định số thu tài chính làm cơ sở cho mọihoạt động của ĐVSN Nếu không quản lý toàn diện sẽ dẫn đến thấtthoát khoản thu, làm ảnh hưởng không chỉ đến hiệu quả quản lý tàichính, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của ĐVSN

- Coi trọng công bằng xã hội, những người có điều kiện, hoàncảnh và mức thu nhập như nhau phải đóng góp như nhau Đây là thểhiện yêu cầu công bằng chung cho mọi hoạt động của Nhà nước

- Thực hiện nghiêm túc, đúng đắn các chính sách, chế độ thu

do cơ quan có thẩm quyền ban hành ĐVSN không được tự ý đặt racác khoản thu cũng như mức thu

- Quản lý các nguồn thu theo kế hoạch, đảm bảo thu sát, thu

đủ, tổ chức tốt quá trình quản lý thu, đồng thời đề ra các biện pháp

tổ chức thu thích hợp

- Đối với các đơn vị được sử dụng nhiều nguồn thu phải cóbiện pháp quản lý thu thống nhất nhằm thực hiện thu đúng mụcđích, thu đủ và thu đúng kỳ hạn

* Quy trình quản lý thu.

Trang 29

Quy trình quản lý thu ở các ĐVSN được tiến hành theo từngnăm kế hoạch qua các bước sau:

- Xây dựng kế hoạch dự toán thu

- Thực hiện kế hoạch thu theo dự toán

- Quyết toán các khoản thu

* Khi xây dựng kế hoạch dự toán thu phải dựa vào các căn cứsau:

+ Phải dựa vào nhiệm vụ chính trị, xã hội được giao cho đơn vịcũng như các chỉ tiêu cụ thể, từng mặt hoạt động do cơ quan có thẩmquyền thông báo

+ Các văn bản pháp lý quy định thu như các chế độ thu doNhà nước quy định

+ Số kiểm tra về dự toán thu do cơ quan có thẩm quyền thôngbáo

+ Kết quả phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán thucủa các năm trước (chủ yếu là năm báo cáo) và triển vọng của cácnăm tiếp theo

* Thực hiện kế hoạch thu theo dự toán: Dự toán thu là căn cứquan trọng để tổ chức thực hiện thu Trong quá trình thu, đơn vịphải thực hiện thu đúng đối tượng, thu đủ, tuân thủ các quy định củaNhà nước để bảo đảm hoạt động của đơn vị mình

* Quyết toán các khoản thu: Cuối năm, đơn vị phải giải quyếtnhững vấn đề còn tồn tại trong khâu tổ chức thu nộp, sau đó tổnghợp, đánh giá tình hình chấp hành dự toán thu đã được giao, rút ra

Trang 30

những kinh nghiệm cho việc khai thác nguồn thu, công tác xây dựng

dự toán và tổ chức thu nộp trong thời gian tới, nộp báo cáo cho cơquan quản lý cấp trên

1.2.3.2 Quản lý quá trình sử dụng tài chính

* Các khoản chi của ĐVSN:

ĐVSN được phép chi các khoản sau:

- Chi hoạt động thường xuyên của đơn vị theo chức năng,nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao:

+ Chi cho người lao động: Chi tiền lương, tiền công; cáckhoản phụ cấp lương; các khoản trích bảo hiểm y tế, bảo hiểm xãhội, kinh phí công đoàn theo quy định,

+ Chi quản lý hành chính: Vật tư văn phòng, dịch vụ côngcộng, thông tin liên lạc, công tác phí, hội nghị phí, thuê mướn,

+ Chi hoạt động nghiệp vụ

+ Chi mua sắm tài sản, sửa chữa thường xuyên tài sản; khoảnkinh phí này được sử dụng để mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồilại giá trị sử dụng cho những tài sản cố định đã bị xuống cấp

+ Chi khác: Chi tiếp khách, mua bảo hiểm phương tiện,

- Chi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước,cấp Bộ, ngành; Chương trình mục tiêu quốc gia; chi thực hiện nhiệm

vụ đặt hàng của Nhà nước; chi vốn đối ứng thực hiện các dự án cóvốn nước ngoài theo quy định

- Chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nướcquy định

Trang 31

- Chi đầu tư phát triển: chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, muasắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản, chi thực hiện các dự án đầu tưtheo quy định.

- Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyềngiao

- Các khoản chi khác: các ĐVSN có thu còn có các khoản chihoạt động tổ chức thu phí; chi hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ(kể cả chi nộp thuế, trích khấu hao tài sản cố định)

* Yêu cầu đối với quản lý chi:

- Đảm bảo nguồn tài chính cần thiết để các ĐVSN hoàn thànhcác nhiệm vụ được giao theo đúng đường lối, chính sách, chế độ củaNhà nước Để thực hiện yêu cầu này đòi hỏi các đơn vị cần xác lậpthứ tự ưu tiên cho các khoản chi để bố trí kinh phí cho phù hợp

- Quản lý các khoản chi phải đảm bảo yêu cầu tiết kiệm vàhiệu quả Tiết kiệm là một nguyên tắc hàng đầu của quản lý tàichính Nguồn lực luôn có giới hạn nhưng nhu cầu không có giớihạn Do vậy trong quá trình phân bổ và sử dụng nguồn lực khanhiếm phải tính toán sao cho chi phí thấp nhất, kết quả cao nhất

Hoạt động sự nghiệp diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng vàphức tạp Nhu cầu chi của ĐVSN luôn gia tăng với tốc độ nhanhtrong khi khả năng huy động nguồn thu có hạn nên cần phải tiếtkiệm, thực hiện hiệu quả trong quản lý tài chính các ĐVSN

Để đạt được tiêu chuẩn tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý cáckhoản chi của các ĐVSN cần phải quản lý chặt chẽ từ khâu xây

Trang 32

dựng kế hoạch, dự toán, xây dựng định mức, thường xuyên phântích, đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện chi tiêu, trên

cơ sở đó đề ra các biện pháp tăng cường quản lý chi đối với cácĐVSN

* Nội dung quản lý chi tài chính ở ĐVSN:

Trong thực tiễn, các ĐVSN có nhiều biện pháp quản lý cáckhoản chi tài chính khác nhau, nhưng các biện pháp quản lý chungnhất là:

- Thiết lập các định mức chi Định mức chi vừa là cơ sở đểxây dựng kế hoạch chi, vừa là căn cứ để thực hiện kiểm soát chi củacác ĐVSN Các định mức chi phải được xây dựng một cách khoahọc Từ việc phân loại đối tượng đến trình tự, cách thức xây dựngđịnh mức phải được tiến hành một cách chặt chẽ và có cơ sở khoahọc Các định mức chi phải bảo đảm phù hợp với loại hình hoạtđộng của từng đơn vị

Các định mức chi phải có tính thực tiễn tức là phải phản ánhmức độ phù hợp của các định mức với nhu cầu kinh phí cho cáchoạt động Chỉ có như vậy, định mức chi mới trở thành chuẩn mựccho quản lý kinh phí

- Lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các loại hoạt động hoặc theonhóm mục chi sao cho với tổng số chi có hạn nhưng khối lượngcông việc vẫn hoàn thành và đạt chất lượng cao Để đạt được điềunày phải có phương án phân phối và sử dụng kinh phí khác nhau

Trang 33

Trên cơ sở đó lựa chọn phương án tối ưu cho cả quá trình lập dựtoán, phân bổ và sử dụng kinh phí.

- Xây dựng quy trình cấp phát các khoản chi chặt chẽ, hợp lýnhằm hạn chế tối đa những tiêu cực nảy sinh trong quá trình cấpphát, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát chi của các cơ quan

có thẩm quyền

- Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra và kiểm toán nhằmngăn chặn những biểu hiện tiêu cực trong việc sử dụng nguồn kinhphí của Nhà nước, đồng thời qua công tác này phát hiện những bấthợp lý trong chế độ, chính sách nhằm bổ sung hoàn thiện chúng

* Quy trình quản lý chi tài chính ở các ĐVSN:

* Lập dự toán chi: Lập dự toán chi là khâu khởi đầu và quantrọng trong quản lý chi ngân sách nhà nước, nó có ý nghĩa quyếtđịnh đến chất lượng và hiệu quả của khâu chấp hành, kế toán vàquyết toán chi ngân sách nhà nước Khi lập dự toán cần dựa trênnhững căn cứ sau:

- Chủ trương của Nhà nước về duy trì và phát triển các hoạtđộng sự nghiệp trong từng giai đoạn nhất định Dựa vào căn cứ này

sẽ giúp cho việc xây dựng dự toán chi tài chính ở ĐVSN có một cáinhìn tổng quát về những mục tiêu, nhiệm vụ mà đơn vị phải hướngtới trong năm, từ đó xác lập được các hình thức, phương pháp phânphối nguồn vốn vừa tiết kiệm, vừa đạt hiệu quả cao

- Dựa vào các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, đặcbiệt là các chỉ tiêu có liên quan trực tiếp đến việc cấp phát kinh phí

Trang 34

chi ngân sách nhà nước kỳ kế hoạch cho các ĐVSN Đây chính làviệc cụ thể hóa các chủ trương của Nhà nước trong từng giai đoạnthành các chỉ tiêu cho kỳ kế hoạch Khi dựa trên căn cứ này để xâydựng dự toán chi phải thẩm tra, phân tích tính đúng đắn, hiện thực,tính hiệu quả của các chỉ tiêu thuộc kế hoạch phát triển kinh tế-xãhội Trên cơ sở đó có kiến nghị điều chỉnh lại các chỉ tiêu kế hoạchcho phù hợp.

- Dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể đáp ứng cho nhucầu chi tiêu thường xuyên kỳ kế hoạch Muốn dự đoán được khảnăng này, ĐVSN phải dựa vào cơ cấu thu ngân sách nhà nước kỳbáo cáo và mức tăng trưởng của các nguồn thu kỳ kế hoạch, từ đóthiết lập mức cân đối tổng quát giữa khả năng nguồn kinh phí vànhu cầu chi ngân sách nhà nước

- Kết quả phân tích, đánh giá tình hình quản lý và sử dụngkinh phí chi ngân sách nhà nước kỳ báo cáo sẽ cung cấp các thôngtin cần thiết cho việc lập dự toán

Quá trình lập dự toán chi ngân sách Nhà nước được tiến hànhtheo các bước cơ bản sau:

Thứ nhất, căn cứ vào dự toán sơ bộ về thu, chi ngân sách nhà

nước kỳ kế hoạch để xác định các định mức chi tiêu tổng hợp dựkiến ngân sách sẽ phân bổ cho mỗi đối tượng Trên cơ sở đó hướngdẫn các đơn vị tiến hành lập dự toán kinh phí Bước này còn đượcgọi là xác định và giao số kiểm tra từ cơ quan tài chính hoặc cơquan chủ quản cho ĐVSN

Trang 35

Thứ hai, dựa vào số kiểm tra và văn bản hướng dẫn lập dự

toán kinh phí, các đơn vị dự toán tiến hành lập dự toán kinh phí củamình để gửi đơn vị dự toán cấp trên hoặc cơ quan tài chính Căn cứvào mức độ phân cấp về chi ngân sách nhà nước, cơ quan tài chính

ở mỗi cấp có nhiệm vụ xét duyệt, tổng hợp dự toán kinh phí các đơn

vị trực thuộc để hình thành dự toán chi ngân sách trình cơ quan cóthẩm quyền xét duyệt

Thứ ba, căn cứ vào dự toán chi ngân sách nhà nước đã được cơ

quan có thẩm quyền thông qua, cơ quan tài chính sau khi xem xét điềuchỉnh lại cho phù hợp sẽ chính thức phân bổ dự toán chi ngân sáchnhà nước cho mỗi đơn vị

* Chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước: Chấp hành dự

toán chi ngân sách nhà nước là khâu thứ hai trong chu trình quản lýngân sách nhà nước Trong quá trình sử dụng tài chính theo dự toáncần dựa trên những căn cứ sau:

+ Dựa vào định mức chi được duyệt của từng chỉ tiêu trong dựtoán Đây là căn cứ mang tính quyết định nhất trong chấp hành dựtoán chi ngân sách nhà nước

+ Dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể dành cho nhu cầuchi ngân sách nhà nước trong mỗi kỳ báo cáo Chi thường xuyêncủa ngân sách nhà nước luôn bị giới hạn bởi khả năng huy động củacác nguồn thu Mặc dù các khoản chi thường xuyên đã được ghitrong dự toán nhưng khi số thu không đảm bảo vẫn phải cắt giảm

Trang 36

một phần nhu cầu chi tiêu Đây là một trong những giải pháp thiếtlập lại sự cân đối giữa thu và chi ngân sách nhà nước trong quá trìnhchấp hành dự toán.

+ Dựa vào các chế độ, chính sách chi ngân sách nhà nước hiệnhành Đây là căn cứ mang tính pháp lý cho công tác tổ chức chấphành dự toán chi ngân sách nhà nước, bởi lẽ tính hợp lý của cáckhoản chi sẽ được xem xét dựa trên cơ sở các chính sách, chế độcủa Nhà nước đang có hiệu lực thi hành Để làm được điều đó cácchính sách, chế độ phải phù hợp với thực tiễn

Để đạt được mục tiêu cơ bản của việc tổ chức chấp hành dựtoán chi ngân sách nhà nước, ĐVSN phải đảm bảo phân phối, cấpphát và sử dụng nguồn vốn hợp lý, tiết kiệm, thông qua áp dụng cácbiện pháp sau:

- Trên cơ sở dự toán chi ngân sách đã được duyệt và các chế

độ, chính sách hiện hành, cơ quan chức năng phải hướng dẫn cụ thể,

rõ ràng cho các đơn vị thi hành

- Tổ chức các hình thức cấp phát vốn thích hợp với mỗi loạihình đơn vị, mỗi loại hoạt động và nguồn kinh phí hoạt động, trên

cơ sở đó quy định rõ trình tự cấp phát nhằm tạo cơ sở pháp lý choviệc thống nhất thực hiện

- Hướng dẫn các đơn vị thực hiện tốt chế độ hạch toán kế toán

áp dụng cho các đơn vị, sao cho sự hình thành nguồn kinh phí và sửdụng kinh phí phải được hạch toán đúng, đủ, chính xác và kịp thời

Trang 37

Trên cơ sở đó đảm bảo việc quyết toán kinh phí được nhanh, chínhxác, đồng thời cung cấp các tài liệu có tính chuẩn mực cao cho các

cơ quan có thẩm quyền xét duyệt

- Cơ quan tài chính phải thường xuyên xem xét khả năng đảmbảo kinh phí cho nhu cầu chi ngân sách nhà nước để có biện phápđiều chỉnh kịp thời nhằm thiết lập lại thế cân đối mới trong qua trìnhchấp hành dự toán

- Thường xuyên kiểm tra, giám sát tình hình nhận và sử dụngkinh phí tại mỗi đơn vị sao cho mỗi khoản chi tiêu đảm bảo theo dựtoán, đúng định mức tiêu chuẩn của Nhà nước, góp phần nâng caotính tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý chi ngân sách

* Quyết toán chi ngân sách nhà nước:

Quyết toán chi ngân sách nhà nước là khâu cuối cùng trongchu trình quản lý chi tài chính Đó là quá trình kiểm tra, rà soát,chỉnh lý lại các số liệu đã được phản ánh sau một kỳ chấp hành dựtoán để phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán, rút ra nhữngkinh nghiệm và bài học cần thiết cho kỳ chấp hành dự toán tiếptheo Bởi vậy, trong quá trình quyết toán các khoản chi ngân sáchphải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:

- Lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời cho các

cơ quan có thẩm quyền xét duyệt theo chế độ quy định

- Số liệu trong báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, trungthực Nội dung các báo cáo tài chính phải theo đúng nội dung ghi

Trang 38

trong dự toán được duyệt và theo đúng mục lục ngân sách nhà nướcquy định.

- Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán các cấp trướckhi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải có xácnhận của Kho bạc nhà nước đồng cấp và phải được cơ quan Kiểmtoán nhà nước kiểm toán

- Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán không được đểxảy ra tình trạng quyết toán chi lớn hơn thu

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP

1.3.1 Chế độ quản lý tài chính công

1.3.1.1 Luật Ngân sách nhà nước

Để quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, nâng cao tínhchủ động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trongviệc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước, củng cố luật tài chính,

sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả ngân sách và tài sản của Nhà nước,tăng tích lũy nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh

tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo quốc phòng, anninh, đối ngoại , cần quản lý ngân sách nhà nước theo luật Phùhợp với yêu cầu đó, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Ngân sáchnhà nước năm 1997 Sau đó, tại Khóa họp XI, Kỳ họp thứ hai năm

Trang 39

2002 Quốc hội đã bổ sung và tiếp tục hoàn thiện Luật Ngân sáchnhà nước

Từ khi có Luật Ngân sách nhà nước mọi khoản chi ngân sáchnhà nước, trong đó có chi cho ĐVSN, đều phải tuân theo Luật.Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tậptrung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản

lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm

Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phân bổngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước

Theo Luật Ngân sách nhà nước, các đơn vị sử dụng ngân sáchnhà nước phải lập, chấp hành, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, quyếttoán ngân sách nhà nước theo các quy định thống nhất trong cảnước Ngoài ra, việc sử dụng ngân sách nhà nước phải đúng mụcđích và theo mục lục mà Luật đã quy định

Nhờ có Luật Ngân sách nhà nước, quản lý tài chính trong cácĐVSN trở nên minh bạch hơn, ổn định trong thời gian đủ dài để cácđơn vị thụ hưởng ngân sách có điều kiện tìm phương án sử dụngngân sách hiệu quả, kích thích tính tự chủ của ĐVSN nhiều hơntrước trong tìm kiếm lợi ích từ tiết kiệm chi ngân sách nhà nước, tạo

cơ chế kiểm tra, giám sát của Nhà nước và cơ quan ngôn luận đốivới việc sử dụng ngân sách nhà nước Tuy nhiên, do luật Ngân sáchnhà nước của ta còn chưa thực sự hoàn thiện, nhiều quy định còncứng nhắc, ví dụ như quy định phải sử dụng ngân sách theo mục lụcngân sách, quy định ngân sách cấp dưới thuộc ngân sách cấp trên,…

Trang 40

đã hạn chế quyền tự chủ của đơn vị cơ sở trong sử dụng ngân sáchhiệu quả Ngoài ra, muốn cải tiến quản lý tài chính ở các ĐVSNphải chờ sự thay đổi của Luật Ngân sách nhà nước nên thường chậmchạp.

1.3.1.2 Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước

Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước là toàn bộ các chínhsách, chế độ chi tài chính thống nhất trong các cơ quan nhà nước màcác ĐVSN phải tuân thủ Trong cơ chế quản lý tài chính của Nhànước, các công cụ về định mức chi tiêu, danh mục được phép chitiêu, quy trình xét duyệt và cấp ngân sách, phân cấp quản lý chi tàichính công có vai trò quan trọng Thông qua cơ chế quản lý tàichính, Nhà nước kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng các nguồn lực tàichính công trong các ĐVSN Chính vì thế, cơ chế quản lý tài chínhcủa Nhà nước là cơ sở, nền tảng của quản lý tài chính trong cácĐVSN Tính chất tiến bộ hay lạc hậu của cơ chế quản lý tài chínhcủa Nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý tài chính trong cácĐVSN

Một mặt, cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước tạo ra môitrường pháp lý cho việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chínhnhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động của đơn vị Nó được xây dựng dựatrên quan điểm định hướng về chính sách quản lý ĐVSN trong từnggiai đoạn cụ thể của Nhà nước nhằm cụ thể hóa các chính sách đó

Cơ chế này sẽ vạch ra các khung pháp lý về mô hình quản lý tài

Ngày đăng: 08/05/2016, 19:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2002), Thông tư số 25/2002/TT-BTC ngày 21 tháng 3 năm 2002 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16 tháng 1 năm 2002 về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính (2002)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2002
4. Bộ Tài chính (2003), Thông tư số 50/2003/TT-BTC ngày 22 tháng 5 năm 2003 hướng dẫn các đơn vị sự nghiệp có thu xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ theo quy định tại Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính (2003)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2003
5. Bộ Tài chính (2004), Thông tư số 03/2004/TT-BTC ngày 13 tháng 1 năm 2004 hướng dẫn kế toán các đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện luật ngân sách nhà nước và khoán chi hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính (2004)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2004
6. Bộ Tài chính, Văn bản pháp quy, Tập 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính," Văn bản pháp quy
7. Bộ Tài chính, Văn bản pháp quy, Tập 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính," Văn bản pháp quy
8. Bộ Tài chính, Văn bản pháp quy, Tập 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính," Văn bản pháp quy
9. Chính phủ (2002), Nghị định số 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 16 tháng 1 năm 2002 về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2002)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) "Nghị quyết Hội nghị BanChấp hành Trung ương lần thứ 4 khóa VII
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 2 khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), "Nghị quyết Hội nghị BanChấp hành Trung ương lần thứ 2 khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 1996
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), "Văn kiện Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
14. Joseph E.Stiglitz (1995), Kinh tế học công cộng, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Joseph E.Stiglitz (1995), "Kinh tế học công cộng
Tác giả: Joseph E.Stiglitz
Nhà XB: Nxb Khoa họcvà kỹ thuật
Năm: 1995
21. Thông tấn xã Việt Nam (2003), Báo cáo quyết toán tài chính năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tấn xã Việt Nam (2003)
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Năm: 2003
22. Thông tấn xã Việt Nam (2004), Báo cáo quyết toán tài chính năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tấn xã Việt Nam (2004)
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Năm: 2004
23. Thông tấn xã Việt Nam (2005), Báo cáo quyết toán tài chính năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tấn xã Việt Nam (2005)
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Năm: 2005
24. Thủ tướng Chính phủ (2004), Chương trình đổi mới quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công giai đoạn 2004-2005” ban hành kèm theo Quyết định số 08/2004/QĐ-TTg ngày 15.1.2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tướng Chính phủ (2004), "Chương trình đổi mới quản lý tàichính đối với các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vịsự nghiệp công giai đoạn 2004-2005
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2004
25. Thủ tướng Chính phủ (2004), Chương trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp công giai đoạn 2001-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tướng Chính phủ (2004)
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2004
27. Viện khoa học Tài chính, Đổi mới quản lý chi tiêu công cộng ở Việt nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện khoa học Tài chính
28. WWW.caicachhanhchinh.gov.vn 29. WWW.mof.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: WWW.caicachhanhchinh.gov.vn"29
10. Chính phủ (2002), Nghị định số 82/2002/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ “Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thông tấn xã Việt Nam&#34 Khác
15. Giáo trình Quản lý tài chính Nhà nước (2002), Nxb Tài chính, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tổng hợp chi sự nghiệp của TTXVN [21]; [22]; [23] - Đổi mới quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp thuộc thông tấn xã việt nam
Bảng 2.1 Tổng hợp chi sự nghiệp của TTXVN [21]; [22]; [23] (Trang 85)
Bảng 2.2: Nguồn thu của các Đơn vị sự nghiệp thuộc Thông tấn xã Việt Nam [21]; [22]; [23] - Đổi mới quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp thuộc thông tấn xã việt nam
Bảng 2.2 Nguồn thu của các Đơn vị sự nghiệp thuộc Thông tấn xã Việt Nam [21]; [22]; [23] (Trang 92)
Bảng 2.3: Tổng hợp chi sự nghiệp của các ĐVSN thuộc TTXVN [21]; - Đổi mới quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp thuộc thông tấn xã việt nam
Bảng 2.3 Tổng hợp chi sự nghiệp của các ĐVSN thuộc TTXVN [21]; (Trang 94)
Bảng 2.4 : Cơ cấu các khoản chi thường xuyên của các ĐVSN [21]; - Đổi mới quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp thuộc thông tấn xã việt nam
Bảng 2.4 Cơ cấu các khoản chi thường xuyên của các ĐVSN [21]; (Trang 95)
Bảng 2.5: Tổng hợp thu, chi của các ĐVSN [21]; [22]; [23] - Đổi mới quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp thuộc thông tấn xã việt nam
Bảng 2.5 Tổng hợp thu, chi của các ĐVSN [21]; [22]; [23] (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w