1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Huy động vốn bằng trái phiếu được chính phủ bảo đảm ở việt nam thực trạng và giải pháp

38 155 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 142 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh các loạitrái phiếu do Chính phủ trực tiếp phát hành như tín phiếu, trái phiếukho bạc còn có các công cụ nợ khác được Chính phủ bảo đảm thanhtoán, đó là trái phiếu do các cơ quan

Trang 1

1 Sự cần thiết của chuyên đề nghiên cứu

Trong những năm gần đây, để thực hiện chủ trương khai thác tối

đa các nguồn vốn trong nền kinh tế cho đầu tư phát triển, Chính phủ đãrất chú trọng đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, trong đó cóviệc phát hành các chứng khoán nợ của Chính phủ Bên cạnh các loạitrái phiếu do Chính phủ trực tiếp phát hành như tín phiếu, trái phiếukho bạc còn có các công cụ nợ khác được Chính phủ bảo đảm thanhtoán, đó là trái phiếu do các cơ quan của Chính phủ phát hành để đầu

tư cho các chương trình mục tiêu của Chính phủ và trái phiếu chínhquyền địa phương để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của các địaphương

Việc huy động vốn bằng trái phiếu được Chính phủ bảo đảmtrong thời gian qua bước đầu đã mang lại những ý nghĩa thiết thực,khẳng định hướng đi đúng đắn trong chiến lược tạo vốn phục vụ pháttriển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, vì nhiều lý do nên các công cụ nàychưa phát huy hết vai trò và hiệu quả của nó Hình thức trái phiếu chưa

đa dạng, cơ chế phát hành còn bất cập, quy mô phát hành còn rất hạnchế, chưa đáp ứng được yêu cầu vốn cho đầu tư phát triển kinh tế xãhội của các địa phương và vốn cho các chương trình mục tiêu củaChính phủ

Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, để tiếp tục bổsung và hoàn thiện các công cụ quản lý nhà nước về tài chính, tạo điềukiện phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán, bảo đảm đủ

Trang 2

nguồn lực tài chính cần thiết phục vụ nhu cầu và mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội của các địa phương và nhu cầu vốn thực hiện cácchương trình mục tiêu của Chính phủ trong giai đoạn sắp tới, đòi hỏicông tác huy động vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu được Chínhphủ bảo đảm phải tiếp tục cải tiến và hoàn thiện

Xuất phát từ tình hình trên, học viên đã lựa chọn chuyên đề: " Huy động vốn bằng trái phiếu được Chính phủ bảo đảm ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp" để nghiên cứu Đây là nội dung thuộc phạm

vi nghiên cứu luận văn Thạc sỹ của học viên

2 Mục đích nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng việc huy động vốn bằng trái phiếu đượcChính phủ bảo đảm ở Việt Nam thời gian qua, nêu ra những mặt được,những mặt còn còn tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó

- Đề xuất quan điểm và các giải pháp tăng cường huy động vốnbằng trái phiếu được Chính phủ bảo đảm ở Việt Nam trong thời giantới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của chuyên đề tập trung vàohoạt động phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo đảm tại Việt Nam,gồm có trái phiếu do các cơ quan của Chính phủ phát hành (Quỹ Hỗtrợ phát triển, Ngân hàng Chính sách xã hội) và trái phiếu chính quyềnđịa phương

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 3

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện chuyên đề làphương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểmcủa chủ nghĩa Mác - Lê nin, kết hợp với các phương pháp nghiên cứutruyền thống như: thu thập thông tin, tổng hợp, thống kê, so sánh vàphân tích để nghiên cứu

5 Kết cấu của chuyên đề

Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề chia thành 2 chương:

Chương 1 Thực trạng công tác huy động vốn bằng trái phiếu

được Chính phủ bảo đảm ở Việt Nam giai đoạn 1990 - 2005

Chương 2 Giải pháp tăng cường huy động vốn bằng trái phiếu

được Chính phủ bảo đảm ở Việt Nam trong thời gian tới

CHƯƠNG I THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN BẰNG TRÁI PHIẾU ĐƯỢC CHÍNH PHỦ BẢO ĐẢM Ở VIỆT NAM GIAI

ĐOẠN 1990 - 2005

Trái phiếu được Chính phủ bảo đảm là loại chứng khoán nợ củaChính phủ, do chính quyền địa phương hoặc các cơ quan của Chínhphủ phát hành, có mệnh giá, kỳ hạn, có lãi, xác nhận nghĩa vụ của nhàphát hành đối với người sở hữu trái phiếu; trong trường hợp nhà pháthành không bố trí đủ nguồn thanh toán gốc, lãi được Chính phủ (ngânsách nhà nước) bảo đảm thanh toán

1.1 Khung pháp lý về trái phiếu được Chính phủ bảo đảm

Trang 4

1.1.1 Trái phiếu chính quyền địa phương

Chính quyền địa phương ở Việt Nam bao gồm chính quyền cấptỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, chính quyền quận huyện, thị xãtrực thuộc tỉnh, thành phố và chính quyền xã phường, thị trấn TheoLuật Ngân sách nhà nước (khoản 3 Điều 8), chính quyền cấp tỉnh đượcphép vay vốn thông qua việc phát hành trái phiếu để đầu tư xây dựngcông trình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh bảo đảm,thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5 năm đã được Hội đồng nhândân cấp tỉnh quyết định, nhưng vượt quá khả năng của cân đối củangân sách cấp tỉnh năm dự toán Mức dư nợ từ nguồn vốn huy độngkhông quá 30% vốn đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm của ngân sáchcấp tỉnh Riêng đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh,mức dư nợ từ nguồn vốn huy động không quá 100% vốn đầu tư xâydựng cơ bản hàng năm của ngân sách thành phố

Nghị định 72/CP ngày 26/7/1994 và Nghị định 01/2000/NĐ-CPnăm 2000 của Chính phủ ban hành quy chế phát hành trái phiếu Chínhphủ có quy định hình thức trái phiếu công trình địa phương, theo đó

Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương muốnphát hành trái phiếu để huy động vốn đầu tư cho các công trình cơ sở

hạ tầng tại địa phương phải có phương án huy động và trả nợ vốn vayđược Thủ tướng Chính phủ chấp thuận Việc phát hành được giao choKho bạc Nhà nước thực hiện dưới hình thức đấu thầu qua Ngân hàngNhà nước hoặc bán lẻ trực tiếp qua hệ thống Kho bạc Nhà nước Khobạc Nhà nước tổ chức phát hành trái phiếu và chuyển vốn cho ngânsách tỉnh; khi đến hạn trả nợ ngân sách tỉnh trích tồn quỹ của mình

Trang 5

chuyển cho Kho bạc Nhà nước để thanh toán cho người sở hữu tráiphiếu

Ngày 20/11/2003, Chính phủ ban hành Nghị định 141/2003/NĐ/

CP quy định việc phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu đượcChính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương Từ đây, tráiphiếu chính quyền địa phương được xác định là một loại trái phiếuriêng, tách biệt với trái phiếu Chính phủ Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

có nhu cầu phát hành trái phiếu thực hiện phải lập phương án pháthành trái phiếu trình Hội đồng nhân dân Hội đồng nhân dân tỉnh xemxét, phê duyệt bản kế hoạch và sau đó trình lên Bộ Tài Chính Bộ TàiChính thẩm định, kiểm tra tính khả thi của phương án phát hành, quyếtđịnh phạm vi giới hạn lãi suất của trái phiếu Chính quyền địa phương

so với trái phiếu Chính phủ có cùng thời hạn, sau đó gửi lại cho Uỷban nhân dân tỉnh và Hội đồng nhân dân tỉnh để triển khai phát hành

Uỷ ban nhân dân phát hành trái phiếu sẽ uỷ quyền cho Kho bạc Nhànước hoặc các tổ chức tín dụng trên địa bàn tổ chức việc phát hành vàthanh toán trái phiếu Trái phiếu chính quyền địa phương được pháthành theo các phương thức: đấu thầu qua thị trường chứng khoán hoặcbảo lãnh phát hành hay đại lý phát hành Các phương thức phát hànhnày tương tự như đối với trái phiếu Kho bạc Nguồn vốn huy động từtrái phiếu chính quyền địa phương được hạch toán thu ngân sách cấptỉnh để chi cho mục tiêu đã định và phải bố trí trong cân đối của ngânsách cấp tỉnh để chủ động trả nợ khi đến hạn Trường hợp đến hạnthanh toán nhưng ngân sách cấp tỉnh chưa bố trí được nguồn, Bộ Tài

Trang 6

chính sẽ trích từ nguồn bổ sung từ ngân sách Trung ương cho ngânsách tỉnh để thanh toán trái phiếu.

Với khuôn khổ pháp lý nói trên cho thấy luật pháp Việt Nam đãcho phép chính quyền địa phương được phép phát hành trái phiếu Tuynhiên, do đặc điểm phân công, phân cấp ngân sách nên trái phiếuchính quyền địa phương của Việt Nam có một số điểm khác biệt cơbản với các nước kinh tế phát triển:

- Chỉ chính quyền cấp tỉnh mới được phép phát hành trái phiếuchính quyền địa phương

- Ngân sách nhà nước Việt Nam được quản lý thống nhất, baogồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương Trường hợpnguồn thu từ thuế, phí của ngân sách địa phương không đủ đáp ứngnhu cầu chi thì được bổ sung từ ngân sách Trung ương Vậy có thểkhẳng định nợ của chính quyền địa phương luôn được bảo đảm bằngngân sách quốc gia Hay nói một cách khác, trái phiếu chính quyền địaphương thực chất là loại trái phiếu được Chính phủ bảo đảm, xét vềbản chất cũng là nợ của Nhà nước

1.1.2 Trái phiếu do các cơ quan của Chính phủ phát hành

Nghị định số 72/NĐ-CP ngày 26/7/1994 của Chính phủ chưa cóquy định về việc các cơ quan của Chính phủ được phát hành trái phiếu.Tuy nhiên, tại Nghị định 01/2000/NĐ-CP ngày 13/1/2000 của Chínhphủ thay thế Nghị định 72/CP đã đưa ra hình thức trái phiếu đầu tư,trong đó có mục đích huy động vốn cho Quỹ Hỗ trợ phát triển theo kếhoạch tín dụng đầu tư phát triển hàng năm được Chính phủ phê duyệt

Trang 7

Phương thức phát hành trái phiếu được thực hiện như đối với tráiphiếu kho bạc: bán lẻ trực tiếp qua hệ thống Kho bạc Nhà nước, đấuthầu qua Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, bảo lãnh và đại lý pháthành Khoản vay từ trái phiếu được chuyển cho Quỹ Hỗ trợ phát triển;Quỹ Hỗ trợ phát triển có trách nhiệm quản lý, sử dụng nguồn vốn pháthành trái phiếu theo chế độ quy định và phải đảm bảo nguồn thanhtoán gốc, lãi và phí phát hành trái phiếu đúng hạn

Nghị định 141/2003/NĐ-CP ngày 20/11/2003 thay thế Nghị định01/2000/NĐ-CP đã mở rộng hơn về đối tượng được phép phát hànhtrái phiếu đầu tư Theo Điều 34 Nghị định này, ngoài Quỹ Hỗ trợ pháttriển thì các tổ chức tài chính nhà nước, các tổ chức tài chính, tín dụngđược Thủ tướng Chính phủ chỉ định huy động vốn để đầu tư theochính sách của Chính phủ cũng được phát hành trái phiếu đầu tư Quỹ

Hỗ trợ phát triển, các tổ chức tài chính, tín dụng được chủ động tổchức phát hành trái phiếu đầu tư phù hợp với kế hoạch phát hành báocáo Bộ Tài chính, tiến độ giải ngân vốn vay Phương thức phát hànhtrái phiếu đầu tư là bán lẻ qua hệ thống Kho bạc Nhà nước, đấu thầuhoặc bảo lãnh phát hành Tổ chức phát hành có trách nhiệm thanh toángốc, lãi và chi phí liên quan Ngân sách nhà nước thanh toán một phầnhay toàn bộ lãi trái phiếu hoặc cấp bù chênh lệch lãi suất cho tổ chứcphát hành Theo Nghị định 141/2003/NĐ-CP, trái phiếu đầu tư do các

cơ quan của Chính phủ phát hành vẫn được coi là một loại trái phiếuChính phủ Xét về bản chất, trái phiếu do các cơ quan của Chính phủphát hành không thể coi là trái phiếu Chính phủ mà chỉ là loại tráiphiếu được Chính phủ bảo đảm Đây là một trong những tồn tại cơ bản

Trang 8

về cơ chế phát hành trái phiếu của các cơ quan của Chính phủ hiệnnay.

Cũng trong năm 1994, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã xâydựng phương án huy động vốn xây dựng Nhà máy xi măng Anh Sơn.Nguồn vốn thanh toán được cân đối trong ngân sách tỉnh Việc pháthành trái phiếu giao cho Kho bạc Nhà nước Nghệ An thực hiện trênđịa bàn thành phố Vinh và một số huyện lân cận Mặc dù lãi suất rấthấp dẫn (21%/năm) nhưng do địa bàn phát hành hẹp và điều kiện kinh

tế của dân cư trên địa bàn còn khó khăn nên kết quả phát hành rất hạnchế Trong thời gian gần một năm, số tiền huy động chỉ đạt 7,6 tỷđồng

1.2.1.2 Giai đoạn 1995 - 1999

Trang 9

Từ thực tế phát hành trái phiếu của thành phố Hồ Chí Minh vàtỉnh Nghệ An, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ thể chế hoá cơ chế huyđộng vốn bằng công cụ trái phiếu chính quyền địa phương tại Nghịđịnh số 72/CP ngày 26/7/1994 Cơ chế thông thoáng hơn đã tạo điềukiện cho hàng loạt tỉnh, thành phố sử dụng kênh huy động vốn nàyphục vụ mục tiêu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của địa phương: Dự

án xây dựng nhà máy xi măng liên doanh Phúc Sơn tỉnh Hải Dương;Các công trình cơ sở hạ tầng tỉnh Bình Thuận; Các công trình cơ sở hạtầng của tỉnh Tiền Giang: đường tỉnh 868, đường tỉnh 869, cảng cá MỹTho; Dự án xây dựng mạng lưới điện 35KV cho tỉnh Cà Mau; Côngtrình xây dựng đường Trần Phú nối dài của tỉnh Khánh Hoà; Các côngtrình cơ sở hạ tầng của tỉnh Lào Cai: hệ thống cấp nước Sa Pa, PhốGiang, đường phố mới Sa Pa, Kim Tân Bản Vược

Phương thức phát hành chủ yếu là uỷ thác cho Kho bạc Nhànước tổ chức đấu thầu qua Ngân hàng Nhà nước Thời hạn tín phiếudưới 1 năm, không phù hợp với thời gian thi công và hoàn vốn củamột công trình xây dựng, do đó các tỉnh, thành phố phải liên tục pháthành mới để đáo nợ cũ đến hạn Mặt khác, cơ chế uỷ thác cho Kho bạcNhà nước huy động vốn đã vô hình trung làm cho trái phiếu địaphương không trở thành một loại trái phiếu riêng mà là trái phiếu khobạc (trái phiếu Chính phủ), các nội dung về khối lượng phát hành, mụcđích phát hành của trái phiếu địa phương không được công bố ra côngchúng

Trong giai đoạn 1995 - 1999, tổng khối lượng trái phiếu chínhquyền địa phương đã phát hành là 302 tỷ đồng

Trang 10

1.2.1.3 Giai đoạn 2000 - 2005

Tháng 1/2000, sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số01/2000/NĐ-CP, phương thức phát hành trái phiếu Chính phủ có đổimới Ngoài hình thức bán lẻ qua hệ thống Kho bạc Nhà nước, đấu thầuqua Ngân hàng Nhà nước, còn có các hình thức khác như đấu thầu quaTrung tâm Giao dịch Chứng khoán và bảo lãnh phát hành Nhờ vậy,các chủ đầu tư có điều kiện huy động vốn với thời hạn dài hơn, phùhợp với thời gian thi công các công trình Mặc dù vậy vẫn gặp khókhăn trong quá trình thực hiện vì thị trường vốn và thị trường chứngkhoán mới ở giai đoạn rất sơ khai Từ năm 2000 đến năm 2002 không

có địa phương nào xây dựng phương án huy động vốn bằng phát hànhtrái phiếu chính quyền địa phương

Năm 2003, Uỷ ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh lại tiếp tục

đi tiên phong trong việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phươngtheo các phương thức mới để huy động vốn cho các công trình trọngđiểm thuộc nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Tiềnthu được từ bán trái phiếu chuyển vào ngân sách của thành phố.Nguồn thanh toán gốc và lãi trái phiếu và các chi phí liên quan đếnviệc phát hành được trích từ ngân sách hàng năm của thành phố Trong

3 năm 2003 - 2005, thành phố đã thu được 7.002 tỷ đồng từ phát hànhtrái phiếu chính quyền địa phương

Sau thành phố Hồ Chí Minh, năm 2004, Uỷ ban nhân dân tỉnhĐồng Nai cũng đã huy động được 244 tỷ đồng cho đầu tư phát triểntheo hình thức phát hành trái phiếu chính quyền địa phương Việc phát

Trang 11

hành trái phiếu được uỷ thác cho Quỹ Đầu tư phát triển Đồng Nai thựchiện

Trong năm 2005, thị trường trái phiếu chính quyền địa phương cóthêm sự góp mặt của trái phiếu xây dựng Thủ đô Việc phỏt hành trỏiphiếu nhằm mục đớch huy động vốn đầu tư công trỡnh cầu Vĩnh Tuy.Tổng mức huy động là 1.000 tỷ đồng, trong đó: phát hành trực tiếp quaKho bạc Nhà nước Hà Nội (bán lẻ) là 70 tỷ đồng; phát hành theophương thức đấu thầu qua thị trường chứng khoán tập trung là 80 tỷđồng và phát hành theo phương thức bảo lónh phát hành là 850 tỷđồng Sau 01 thỏng 20 ngày phỏt hành trỏi phiếu xõy dựng Thủ đô, sốthu từ phát hành trái phiếu là 1.092,899 tỷ đồng, vượt 9,2% so với kếhoạch

Tổng hợp chung, trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2005, Uỷban nhân dân các tỉnh, thành phố đã phát hành trái phiếu chính quyềnđịa phương với tổng số vốn huy động là 8.624,2 tỷ đồng; dư nợ đến31/12/2005 là 8.114,8 tỷ đồng

1.2.2 Trái phiếu do các cơ quan của Chính phủ phát hành

Tính đến thời điểm 31/12/2005, chỉ có hai cơ quan được Chínhphủ uỷ nhiệm phát hành trái phiếu để thực hiện các mục tiêu chỉ địnhcủa Chính phủ là Quỹ Hỗ trợ phát triển và Ngân hàng Chính sách xãhội Việt Nam

1.2.2.1 Công tác phát hành trái phiếu của Quỹ Hỗ trợ phát triển

Quỹ Hỗ trợ phát triển là một tổ chức tài chính Nhà nước, đượcthành lập, tổ chức và hoạt động theo Nghị định số 50/1999/NĐ-CP

Trang 12

ngày 8/7/1999 của Chính phủ với chức năng chính là thực hiện chínhsách tín dụng đầu tư phát triển và xuất khẩu của Nhà nước Hoạt độngcủa Quỹ Hỗ trợ Phát triển không vì mục đích lợi nhuận, được Nhànước bảo đảm khả năng thanh toán, được miễn thuế và các khoản phảinộp ngân sách nhà nước.

Triển khai Nghị định 01/2000/NĐ-CP của Chính phủ, từ tháng 12/2001, Kho bạc Nhà nước phát hành 3 đợt trái phiếu theo phươngthức đấu thầu qua Trung tâm Giao dịch Chứng khoán cho Quỹ Hỗ trợphát triển Ngày 14/12/2001, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số135/2001/QĐ-BTC cho phép Quỹ hỗ trợ phát triển được trực tiếp huyđộng vốn trên thị trường tài chính với tư cách là một chủ thể phát hànhđộc lập Đây là một bước phát triển quan trọng đối với trái phiếu do cơquan của Chính phủ phát hành Từ tháng 4/2002, Quỹ hỗ trợ phát triểnphối hợp với Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Trung tâm Giao dịchChứng khoán và các tổ chức bảo lãnh thường xuyên tổ chức các đợtphát hành trái phiếu dưới hai hình thức là bảo lãnh và đấu thầu quaTrung tâm Giao dịch Chứng khoán Trái phiếu chủ yếu có kỳ hạn 5năm 10 năm và 15 năm Tính đến 31/12/2005, tổng khối lượng tráiphiếu Quỹ Hỗ trợ phát triển tự phát hành là 16.338 tỷ đồng, tất cả đềuđược niêm yết để giao dịch trên thị trường chứng khoán tập trung

7-Để bổ sung nguồn vốn tín dụng hỗ trợ xuất khẩu (tín dụng ngắnhạn), từ năm 2002, Quỹ Hỗ trợ phát triển đã phối hợp với Kho bạcNhà nước để đấu thầu tín phiếu ngắn hạn dưới 1 năm qua Ngân hàngNhà nước Nguồn vốn được chuyển cho Quỹ Hỗ trợ phát triển sửdụng, Quỹ có trách nhiệm thanh toán gốc, lãi tín phiếu khi đến hạn

Trang 13

Trong 4 năm 2002 - 2005, Kho bạc Nhà nước đã huy động cho Quỹ

Hỗ trợ phát triển 9.811 tỷ đồng phục vụ cho mục đích tín dụng hỗ trợxuất khẩu, tuy nhiên số thực sử dụng cho mục tiêu này khoảng 3.000

tỷ đồng vì tín phiếu có kỳ hạn 1 năm nên việc phát hành năm sau chủyếu sử dụng để đáo nợ của năm trước

1.2.2.2 Công tác phát hành trái phiếu của Ngân hàng Chính sách xã hội Ngân hàng Chính sách xã hội là một tổ chức tín dụngNhà nước, được thành lập và hoạt động theo Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 4/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chứclại Ngân hàng Phục vụ người nghèo Chức năng chính của Ngân hàngChính sách xã hội là thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối vớingười nghèo, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng chínhsách cần vay vốn để giải quyết việc làm hoặc đi lao động có thời hạn ởnước ngoài và các tổ chức kinh tế, cá nhân hộ sản xuất kinh doanhthuộc các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa Hoạtđộng của Ngân hàng Chính sách xã hội không vì mục đích lợi nhuận,được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, được miễn thuế và cáckhoản phải nộp ngân sách nhà nước, hàng năm được ngân sách cấp bùchênh lệch lãi suất và phí quản lý Trong năm 2005, Ngân hàng Chínhsách xã hội phát hành một đợt trái phiếu, loại kỳ hạn 2 năm, khốilượng huy động được là 30 tỷ đồng Loại trái phiếu này được pháthành trực tiếp qua hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội trên toànquốc, không được niêm yết và giao dịch tại Trung tâm Giao dịchChứng khoán

Trang 14

Như vậy, trong giai đoạn từ năm 2001 năm 2005, Quỹ Hỗ trợ

phát triển và Ngân hàng Chính sách xã hội đã phát hành 26.419 tỷ

đồng trái phiếu, dư nợ đến 31/12/2005 là 19.593 tỷ đồng

Tổng hợp chung, từ 1990 - 2005, tổng khối lượng trái phiếu được

Chính phủ bảo đảm là 35.043 tỷ đồng, dư nợ đến thời điểm

- 1999

Trang 15

1.3.1.1 Kết quả phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo đảm

tuy còn hạn chế nhưng nguồn vốn huy động đã bước đầu mang lại

những ý nghĩa thiết thực, khẳng định hướng đi đúng đắn trong chiến

lược tạo vốn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

- Đối với trái phiếu chính quyền địa phương: trong điều kiện nền

kinh tế đang cần rất nhiều vốn đầu tư, ngân sách nhà nước lại có hạn,

một số địa phương đã biết khai thác có hiệu quả kênh huy động vốn

cho các công trình cơ sở hạ tầng trọng điểm bằng công cụ trái phiếu

chính quyền địa phương Với nguồn vốn huy động được, nhiều công

trình cơ sở hạ tầng đã được xây dựng theo quy hoạch, không chỉ đáp

ứng yêu cầu sản xuất, sinh hoạt, cải thiện môi trường sống mà còn tạo

ra diện mạo đô thị mới Đa số dự án đầu tư từ nguồn trái phiếu công

trình địa phương đã đem lại hiệu quả thiết thực

- Đối với trái phiếu do các cơ quan của Chính phủ phát hành:

Đến hết 31/12/2005, nguồn vốn vốn huy động từ phát hành trái phiếu

chiếm 32% tổng nguồn vốn của Quỹ Hỗ trợ phát triển, góp phần quan

trọng vào việc đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu giải ngân của các dự

Trang 16

án đầu tư, các hợp đồng xuất khẩu và thanh toán các khoản nợ đến hạncủa Quỹ Hỗ trợ phát triển Ngân hàng Chính sách xã hội cũng bắt đầuphát hành đợt trái phiếu tăng vốn đầu tiên với khối lượng khiêm tốn là

30 tỷ đồng Mặc dù lượng vốn huy động được chưa phải là nhiều songđây là bước thí điểm quan trọng, tạo điều kiện đa dạng hoá các công

cụ huy động và tạo điều kiện cho Quỹ Hỗ trợ phát triển, Ngân hàngChính sách xã hội trực tiếp tham gia vào thị trường vốn với tư cách lànhà phát hành độc lập

2.3.1.2 Cơ chế chính sách và phương thức tổ chức quản lý việc phát hành trái phiếu từng bước được cải tiến

Cùng với sự phát triển của thị trường vốn, thị trường chứngkhoán, cơ chế chính sách và phương thức tổ chức quản lý việc pháthành trái phiếu Chính phủ nói chung và trái phiếu được Chính phủ bảođảm nói riêng đã từng bước được cải tiến, tạo điều kiện cho các địaphương, các cơ quan của Chính phủ nâng cao khả năng huy động vốn

- Cơ chế chính sách về trái phiếu được Chính phủ bảo đảm đãđược thể chế hoá và từng bước hoàn thiện cho phù hợp với tình hìnhthực tế

- Cơ chế thẩm định, xét duyệt phương án phát hành trái phiếu đãđược cải tiến theo hướng đơn giản hoá thủ tục hành chính

- Phương thức, kỹ thuật phát hành trái phiếu từng bước được đadạng hoá và cải tiến theo thông lệ quốc tế

- Cơ chế điều hành lãi suất linh hoạt, bảo đảm trong mặt bằng lãisuất chung của nền kinh tế

Trang 17

2.3.1.3 Trái phiếu được Chính phủ bảo đảm góp phần vào việc

đa dạng hoá hoạt động của thị trường chứng khoán trong nước.

Với sự xuất hiện của trái phiếu chính quyền địa phương, trái

phiếu của Quỹ Hỗ trợ phát triển, các nhà đầu tư có thêm cơ hội lựa

chọn bỏ vốn, làm phong phú thêm danh mục đầu tư Mặt khác, việc

trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu của Quỹ Hỗ trợ phát

triển được niêm yết tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán đã góp phần

đa dạng hoá hoạt động của thị trường chứng khoán trong nước

1.3.1.4 Việc quản lý và sử dụng vốn huy động từ trái phiếu được

Chính phủ bảo đảm được thực hiện tương đối chặt chẽ theo cơ chế

quản lý của Nhà nước, đảm bảo an toàn, hiệu quả

1.3.2 Những mặt còn tồn tại

1.3.2.1 Quy mô thị trường trái phiếu được Chính phủ bảo đảm

còn nhỏ bé, mức độ ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội chưa lớn

Tổng dư nợ các loại trái phiếu Chính phủ bảo đảm đến

31/12/2005 là 26.707 tỷ đồng bằng 3,27% GDP, trong khi đó tổng dư

nợ các loại trái phiếu của Chính phủ đến 31/12/2005 chiếm khoảng

10,9% GDP và mức độ tài trợ vốn cho nền kinh tế của khu vực ngân

Trang 18

Với quy mô thị trường như trên cho thấy khối lượng vốn tài trợ

cho nền kinh tế thông qua trái phiếu được Chính phủ bảo đảm còn nhỏ

bé, chưa tương xứng với tiềm năng vốn trong nền kinh tế cũng như

chưa đáp ứng được yêu cầu vốn cho đầu tư phát triển của các địa

phương và vốn cho các mục tiêu quan trọng được Chính phủ chỉ định

1.3.2.2 Các loại trái phiếu được Chính phủ bảo đảm chưa đa

dạng và một số loại chưa có sự phân định rõ ràng với trái phiếu

Chính phủ

- Các loại trái phiếu chính quyền địa phương được phát hành

trong thời gian qua thực chất đều là loại trái phiếu nghĩa vụ chung,

chưa có loại trái phiếu doanh thu

- Theo quy định hiện hành thì trái phiếu do các tổ chức tài chính,

tín dụng Nhà nước phát hành để tài trợ cho các mục tiêu chỉ định của

Chính phủ cũng là trái phiếu Chính phủ Quy định này là không hợp

lý, gây ra băn khoăn, e ngại cho các nhà đầu tư

Trang 19

1.3.2.3 Kỹ thuật và công tác tổ chức quản lý phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo đảm còn nhiều bất cập.

- Một số quy định về phương thức đấu thầu và bảo lãnh pháthành trái phiếu chưa phù hợp

- Việc phát hành trái phiếu còn phân tán, nhỏ lẻ Đến thời điểm31/12/2005 cú 160 loại trỏi phiếu do Quỹ Hỗ trợ phỏt triển phỏt hànhđang niờm yết trờn thị trường Với quỏ nhiều loại trỏi phiếu niờm yếtnhư vậy, cỏc nhà đầu tư khú cú thể nắm bắt diễn biến giỏ của từng loạitrỏi phiếu, mặt khỏc cũng rất khú khăn cho Trung tõm Giao dịchChứng khoỏn, Trung tõm Lưu ký Chứng khoỏn và Quỹ Hỗ trợ phỏttriển trong việc theo dừi, quản lý cỏc loại trỏi phiếu này

- Chưa cú cơ chế thớch hợp để xỏc định giỏ chào bỏn trỏi phiếu.Hiện nay, giỏ chào bỏn trỏi phiếu vẫn được xỏc định trong phạm vi lóisuất trần do Bộ Tài chớnh quy định Cơ chế lói suất trần phỏt huy tỏcdụng trong giai đoạn đầu thị trường chưa phỏt triển nhưng về lõu dài

sẽ làm mất đi tớnh thị trường trong việc xỏc lập giỏ bỏn trỏi phiếu

- Chưa hỡnh thành hệ thống nhà phõn phối sơ cấp đúng vai trũtạo lập thị trường đối với trỏi phiếu được Chớnh phủ bảo đảm Đõy làmột nguyờn nhõn khiến cho thị trường thứ cấp trỏi phiếu được Chớnhphủ bảo đảm đúng băng, tớnh thanh khoản kộm

- Chưa cú một hệ thống thụng tin chớnh thống về thị trường trỏiphiếu được Chớnh phủ bảo đảm, làm cho thị trường thiếu tớnh cụngkhai, minh bạch 1.3.2.4 Tính thanh khoản của trái phiếu được Chính phủ bảo đảm không cao

Ngày đăng: 08/05/2016, 19:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2 Kết quả phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo đảm - Huy động vốn bằng trái phiếu được chính phủ bảo đảm ở việt nam   thực trạng và giải pháp
Bảng 1.2 Kết quả phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo đảm (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w