1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số giải pháp chuẩn bị kỹ thuật nhằm phòng tránh ngập lụt trong QHXD khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa Thiên Huế

95 474 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 17,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy đề tài “ Nghiên cứu một số giải pháp chuẩn bị kỹ thuật nhằm phòng tránh ngập lụt trong QHXD khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa Thiên Huế” là rất cần thiết và thực sự cấp bách góp phần

Trang 1

MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài

Lũ lụt miền Trung nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng là mộttrong những tai biến tự nhiên, thường xuyên đe dọa cuộc sống của người dân

và sự phát triển kinh tế xã hội trong vùng

Vào những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI thiên tai lũ lụt đã liên tiếpxảy ra Đặc biệt các trận lũ lịch sử vào tháng XI và tháng XII/1999 ước tínhtổn thất nhiều tỷ đồng, làm chết hàng trăm người Lũ lụt đã để lại hậuquả hết sức nặng nề, hàng ngàn hộ dân phải di dời khỏi các vùng sạt lở, ngậplụt, hệ sinh thái môi trường các vùng cửa sông ven biển bị hủy hoại nghiêmtrọng

Lũ lụt Miền Trung có những nét đặc trưng cơ bản: tần suất lớn, trungbình hàng năm có khoảng 3 - 4 trận lũ xuất hiện trên các sông; thờigian truyền lũ rất nhanh, ngập lụt xẩy ra khi có mưa lớn chỉ sau từ 2 đến 8 giờ;thời gian duy trì ngập lụt ngắn; cường suất lũ rất lớn và rất bất ổn định, thayđổi theo từng đoạn sông và từng trận lũ; biên độ lũ cao, thời gian lũ lên rấtngắn gây ra ngập lụt nghiêm trọng

Khu đô thị Chân Mây nằm trong khu vực có điều kiện địa hình phức tạpgồm 3 dạng cơ bản: Địa hình đồi núi phía Nam, đây là địa hình mà nước mưa cóthể đổ về khu quy hoạch rất nhanh Địa hình đồng bằng và các doi cát ven biển,khi có lũ về dễ bị ngập úng Địa hình thấp trũng dọc theo sông Bù Lu, thườngxuyên bị ngập úng khi có lũ và khi mưa lớn

Theo báo cáo thế giới, Việt Nam là một trong các nước hàng đầu sẽ phảichịu tác động mạnh của hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu trong 30 năm tới.Khu đô thị Chân Mây cũng như các rất nhiều các đô thị ven biển khác, hàng nămđều phải gánh chịu các trận lụt, bão lũ gây thiệt hại nghiêm trọng về người và

Trang 2

của Vì vậy đề tài “ Nghiên cứu một số giải pháp chuẩn bị kỹ thuật nhằm phòng tránh ngập lụt trong QHXD khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa Thiên Huế” là rất cần thiết và thực sự cấp bách góp phần bảo vệ cuộc sống an toàn và

phát triển của người dân trong khu vực cũng như góp phần đảm bảo cho khukinh tế phát triển bền vững trong tương lai

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp chuẩn bị kỹ thuật phòng chống ngậplụt

- Giới hạn không gian nghiên cứu: Khu đô thị mới Chân mây, Tỉnh ThừaThiên Huế

- Thời gian: giai đoạn 2010 – 2020

Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, hiện trạng hạ tầng kỹ thuật khu vực nghiên cứu

- Đánh giá hiện trạng ngập úng, ngập lụt khu vực nghiên cứu

- Nghiên cứu các yếu tố thiên tai tác động đến khu vực

- Đề xuất công thức tính toán lũ, công thức tính toán thủy lực nhằm đưa ra cácgiải pháp chuẩn bị kỹ thuật cho khu vực

- Đề xuất một số giải pháp chuẩn bị kỹ thuật nhằm phòng tránh ngập úng,ngập lụt cho khu vực

Trang 3

- Ứng dụng kết quả tính lũ trong việc xác định cao độ nền xây dựng cho khuvực.

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra, khảo sát hiện trạng, thu thập tài liệu

- Phương pháp phân tích, đánh giá các thông tin được thu thập

- Phương pháp tổng hợp, so sánh

- Phương pháp kế thừa có chọn lọc những kết quả đã nghiên cứu về khu đô thịChân Mây

Hướng kết quả nghiên cứu

- Đưa ra được các giải pháp chuẩn bị kỹ thuật phòng tránh ngập lụt, giảm nhẹhậu quả do ngập lụt tại khu đô thị Chân mây, Tỉnh Thừa Thiên Huế

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Nghiên cứu chung các giải pháp chuẩn bị kỹ thuật có tính ứng dụng caotrong cuộc sống, để thuận tiện trong quản lý, hiệu quả trong công tác phòngtránh ngập lụt và giảm thiểu hậu quả do thiên tai, hướng đến mục tiêu xây dựng

và phát triển đô thị bền vững trong tương lai

- Làm ví dụ điển hình cho các khu đô thị có điều kiện địa hình tương tự trong

cả nước

Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan CBKT phòng tránh ngập lụt tại khu đô thị Chân Mây,

tỉnh thừa Thiên Huế

Chương 2: Cơ sở khoa học của công tác CBKT Khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa

Thiên Huế với vấn đề phòng tránh ngập lụt

Chương 3: Đề xuất các giải pháp CBKT nhằm phòng tránh ngập lụt trong

QHXD khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CBKT PHÒNG TRÁNH NGẬP LỤT TẠI KHU

ĐÔ THỊ CHÂN MÂY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

1.1 Giới thiệu Khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên- Huế là một trong 5 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miềnTrung, nằm trên trục giao thông Bắc- Nam, trục hành lang kinh tế Đông- Tây nốiThái Lan- Lào- Myanmar và ở vào vị trí giữa hai trung tâm kinh tế phát triểnnhất của đất nước Khu vực Chân Mây -

Lăng Cô nằm phía Nam tỉnh Thừa Thiên

Huế, là nơi không chỉ được được thiên

nhiên ban cho nhiều ưu đãi với cảnh quan

thiên nhiên đẹp, thảm thực vật phong phú…

mà cũng có nhiều thế mạnh về giao thông,

thuận lợi cho phát triển kinh tế

Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô là

một trong những khu kinh tế động lực của

Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Khu

kinh tế Chân Mây – Lăng Cô có vị trí hết

sức thuận lợi về giao lưu quốc tế cũng như

với các vùng khác trong cả nước: Nằm

giữa hai thành phố lớn là Huế và Đà Nẵng,

giữa hai sân bay quốc tế Phú Bài và Đà Nẵng, có hai cảng biển nước sâu đón

được tàu hàng và tàu du lịch quốc tế cỡ lớn vào cảng Chân Mây, cảng Tiên Sa

Với tầm quan trọng và vị trí chiến lược của khu vực Chân Mây - Lăng Cô,Cảng biển Chân Mây được phân loại là cảng biển loại I (cảng đặc biệt quantrọng) trong hệ thống cảng biển Việt Nam, và là một trong những cảng lớn trongnhóm cảng biển vùng Trung Trung bộ [9]

Hình 1.1 Vị trí khu đô thị Chân Mây( nguồn: Quy hoạch chung Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô)

Trang 5

Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô đang được phát triển từng ngày, để cóđược sự chuẩn bị đầy đủ về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội phục vụ chokhu kinh tế thì việc hình thành khu đô thị mới Chân Mây với đầy đủ các chứcnăng đáp ứng được các nhu cầu của khu kinh tế là vô cùng cần thiết.

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

a) Vị trí và giới hạn khu đất

Vị trí khu vực nghiên cứu nằm ở phía Tây Nam tỉnh Thừa Thiên Huế,thuộc địa phận huyện Phú Lộc, được giới hạn như sau:

- Phía Đông giáp khu công nghiệp và khu phi thuế quan

- Phía Tây giáp dãy núi Phước Tượng

- Phía Nam giáp đường cao tốc quy hoạch

- Phía Bắc giáp núi Vĩnh Phong, khu du lịch Cảnh Dương

Hình 1.2 Quy hoạch khu đô thị Chân Mây (nguồn: Hồ sơ quy hoạch chi tiết xây dựng tỉ lệ 1/2000 Khu đô thị mới Chân mây, tỉnh Thừa Thiên Huế)

Tổng diện tích khu vực nghiên cứu là 3441 ha trong đó:

+) Khu vực quy hoạch 1 có diện tích 2096 ha được quy hoạch là khu đô thị mới

Khu đô thị mới : 2096ha

Khu CN công nghệ cao và

CN sạch:1345 ha

Trang 6

+) Khu vực quy hoạch 2 có diện tích 1345 ha được quy hoạch là khu vực đô thịkết hợp với khu công nghệ cao được quy hoạch là Khu công nghiệp công nghệcao và công nghiệp sạch.[6]

b) Địa hình, địa mạo

*) Đặc điểm địa hình

- Địa hình đồng bằng và các đồi cát ven biển: Địa hình bằng phẳng, códạng lưng rùa, độ dốc nền từ 0,5 %  3 %, là đồng bằng của sông Bu Lu, thoải

về hai hướng: ra sông Bu Lu và ra phía biển

- Địa hình ruộng trũng: Khu vực Chân Mây chủ yếu là khu vực ven sông

Bu Lu, ven sông Mỹ Vân có cao độ nền khu vực thấp từ -0,37m đến +1,7m,chiếm 20%  25% diện tích nghiên cứu [1]

- Địa hình khu vực Chân Mây tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việcxây dựng

Hình 1.3 Địa hình ruộng trũng Hình 1.4 Địa hình bằng phẳng (nguồn: Hồ sơ quy hoạch chi tiết xây dựng tỉ lệ 1/2000 Khu đô thị mới Chân mây, tỉnh Thừa Thiên Huế)

*) Điều kiện khí hậu

Khu vực quy hoạch chịu ảnh hưởng bởi chế độ khí hậu thuỷ văn phức tạpcủa các hình thể thời tiết, nằm trong vùng mưa lớn của tỉnh Thừa Thiên Huế Sau

Ngập úng

Trang 7

đây là các đặc trưng chính :

Nhiệt độ không khí trung bình năm 2008 là 24,2oC

Độ ẩm không khí trung bình năm 2008 là 87.6 %

Số giờ nắng trung bình trung bình trong năm 2008 là 143.7 giờ

Lượng mưa trung bình năm 3400 mm

- Số ngày mưa trung bình: 164ngày

- Lượng mưa lớn nhất năm: 4835mm

- Lượng mưa năm thấp nhất: 2384mm

- Lượng mưa ngày đặc biệt năm 1999 đã lên tới 977,6mm.[1]

Gió Tây (gió Lào) khô nóng: Thịnh hành vào tháng 5  tháng 8 - Nhiệt độ

> 35oC, độ ẩm thấp Tổng số ngày thời tiết khô nóng 34,9 ngày [1]

Bão:

Khu vực Chân Mây hàng năm chịu ảnh hưởng trực tiếp các cơn bão đổ bộvào vùng Thừa Thiên Huế Bão thường gây ra mưa lớn, sạt lở đất nở các sườnnúi và lụt ở ven các sông lớn, nước dâng làm cho các cửa sông không thoát rabiển mà tràn vào trong đất liền 23 km làm cho các cánh đồng ven sông bịnhiễm mặn

Số liệu đo được tại khu vực Chân Mây mực nước dâng trong bão Hmax là2,0m (ở độ sâu 10m), mực nước triều lớn nhất trong bão 1,45m, mực nước trungbình 0,7m, mực nước nhỏ nhất 0,2m

Tần suất số cơn bão đổ bộ vào khu vực Thừa Thiên Huế hàng năm chiếm

Trang 8

8% với cường độ bão và sức gió từng cơn khác nhau

Lượng bốc hơi: Trung bình năm 919mm [1]

* ) Điều kiện thủy văn

Khu vực quy hoạch có hai con sông chính chảy qua:

 Sông Bù Lu

Khu vực Chân Mây chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy văn sông Bù Lu.Sông này có hai nhánh chảy theo hướng Nam Bắc, đổ vuông góc với đoạn nhậplưu sông chính Bù Lu Sông chính có chiều dài rất ngắn, chảy qua xã Lộc Thủy,cuối cùng đổ vào vịnh Chân Mây qua cửa Cảnh Dương (gần Mũi Chân MâyTây)

 Sông Thừa Lưu (sông Chu Mới)

Là sông nhỏ, bắt nguồn từ phía Đông Nam Quốc lộ 1A, đổ vào sông Bù

Lu, lòng sông nhỏ và hẹp, bị bồi lắng, dòng chảy hình thành lớn vào mùa mưa,mùa khô chỉ còn một khe trũng [1]

*) Điều kiện hải văn

Thủy triều vịnh Chân Mây là chế độ bán nhật triều không đều, mỗi ngày 2lần nước lên và 2 lần nước xuống Biên độ triều ít thay đổi, thời kỳ lớn nhất đạttới 6090cm Các thông số đặc trưng như sau:

- Mực nước triều cao nhất + 2,63m

- Mực nước triều tần suất 1% = +1,43m

- Mực nước trung bình cao nhất = + 1,26m

- Mực nước trung bình 0,0m

- Mực nước trung bình thấp nhất = - 0,72m

- Chiều cao sóng trung bình là 0,83m (trong bờ) [1]

c) Địa chất thủy văn , địa chất công trình

*) Địa chất thủy văn

Trang 9

Nước ngầm trong khu vực khá phong phú, cách mặt đất 1÷2m Tuy nhiênnguồn nước này thường bị nhiễm mặn vào mùa khô ở khu vực có cốt nền thấp.

*) Địa chất công trình

Địa chất khu vực Chân Mây-Lăng Cô chủ yếu gồm các hệ Paleozôi,Kainozôi, Mezozôi muôn, Mezozoisơn là trầm tích sông và bồi tích biển Khuvực nghiên cứu quy hoạch không có đứt gãy địa chất đi qua - Địa tầng gồm có

Đá vôi, sét, sét pha, cát, cao lin, cát pha lẫn sỏi sạn và xác động thực vật Nhìnchung khu vực này nền đất có khả năng xây dựng các công trình cao tầng

*) Địa chất vật lý

Theo tài liệu dự báo của Viện Khoa học địa cầu - Khu vực Chân Mây nằmtrong vùng dự báo có động đất cấp 6 Vì vậy khi thiết kế và xây dựng cần phảiđảm bảo an toàn cho các công trình với cấp động đất dự báo nêu trên.[1]

1.1.2 Hiện trạng kinh tế-xã hội

a) Hiện trạng dân cư

Tổng dân số hiện trạng năm 2005, trong Khu kinh tế là 40.658 người baogồm thị trấn Lăng Cô và các xã Lộc Thuỷ, Lộc Tiến, Lộc Vĩnh thuộc huyện PhúLộc, tỉnh Thừa Thiên Huế

Tỷ lệ tăng dân số trung bình toàn Khu kinh tế giai đoạn 2001-2005 là1,22%/năm Trong đó, tỉ lệ tăng tự nhiên là 1,2%/năm, và tăng cơ học là 0,2

%/năm Dân số chủ yếu tăng tự nhiên không có biến động nhiều [25]

(* Ngày 20/12/2002 Chính phủ ra Nghị định số 105/2002/NĐ-CP thànhlập thị trấn Lăng Cô trên cơ sở diện tích tự nhiên của toàn xã Lộc Hải.)

Bảng 1.1 Hiện trạng dân số trong Khu kinh tế (Đơn vị tính: người)

TT Tên xã, thị trấn Năm

2001

Năm2002

Năm2003

Năm2004

Năm2005

Tổng laođộng năm

2005 có

Trang 10

b) Hiện trang lao động trong Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô

Dân cư chủ yếu sản xuất theo các ngành nghề chính là nông nghiệp, đánhbắt và nuôi trồng thủy sản, dịch vụ thương mại (trong đó thị trấn Lăng Cô: dịch

vụ thương mại là 40%, thủy sản là 35% và nông nghiệp là 25%) Dân cư có mứcsống thấp so với mặt bằng bình quân trong tỉnh Trong những năm gần đây, dođược đầu tư một số công trình trọng điểm như cảng nước sâu Chân Mây, nângcấp quốc lộ 1A, xây dựng hầm đường bộ Hải Vân… Số người đến làm việc ởtrong khu vực tăng lên, dịch vụ và mức sống của người dân đã được cải thiện

Dân số trong tuổi lao động có việc làm của khu kinh tế hiện nay khoảng19.662 người chiếm 48,4% dân số, dân định cư tại khu kinh tế lao động chủ yếusản xuất nông ngư nghiệp, một số làm dịch vụ và lao động công nghiệp, xâydựng.[25]

1.1.3 Hiện trạng xây dựng các công trình

a Hiện trạng sử dụng đất

Bảng 1.2 Bảng đánh giá hiện trạng sử dụng đất

Trang 11

(nguồn: Báo cáo thu thập số liệu, tài liệu phục vụ lập Quy hoạch chi tiếtxây dựng Khu đô thị Chân Mây)

b) Hiện trạng xây dựng các cơ sở hạ tầng xã hội

*) Nhà ở:

Hiện trạng nhà ở trong khu vực thuộc các xã chủ yếu là nhà bán kiên cố vànhà tạm Trong đó công trình kiên cố chiếm khoảng 18%; công trình tạm chiếmkhoảng 24% Hiện tại đã và đang xây dựng khu tái định cư Lộc Tiến với tổngmức đầu tư 8,2 tỷ đồng và chuẩn bị đầu tư một số khu tái định cư Lộc Vĩnh, Lập

An phục vụ giải phóng mặt bằng, xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật v.v

*) Công trình công cộng:

- Công trình công cộng tập trung bám dọc theo đường ra bãi biển Cảnh Dươngnhư: Chợ Lộc Vĩnh, UBND xã Lộc Vĩnh, trạm xá Lộc Vĩnh, bưu điện Lộc Vĩnh,Trường cấp I, II Bình An, HTX Bình An Ngoài ra là các cơ sở dịch vụ buôn bánnhỏ dọc QL1A của tư nhân

- Tổng diện tích đất hiện trạng dành cho trường học : 54562m2

- Hiện trạng đất dành cho tôn giáo: Khu vực đất dành cho tôn giáo nằm rải ráckhông tập trung, được giữ nguyên và bảo tồn với tổng diện tích :37023 m2 [1]

1.1.4 Hiện trạng các công trình hạ tầng kỹ thuật

a) Hiện trạng về giao thông

Trang 12

Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô tiếp cận với cả 4 loại hình giao thôngquan trọng, nằm trên đường QL1A và đường sắt thống nhất, gần Cảng hàngkhông quốc tế Phú Bài và cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, cảng nước sâuChân Mây có thể tiếp nhận tàu hàng 30.000 DWT và tàu du lịch cỡ lớn [6]

*) Giao thông đối ngoại

Giao thông hàng không

Sân bay Phú Bài, cách đô thị mới Chân Mây 45km về phía Tây Bắc, đượcThủ tướng Chính phủ phê duyệt trở thành sân bay quốc tế, có đường băng 2800

x 45m Sân bay Đà Nẵng, cách đô thị mới Chân Mây 75km về phía Nam- Sânbay Đà Nẵng là 1 trong 3 sân bay lớn nhất cả nước, đạt cấp 4E theo tiêu chuẩnphân cấp của ICAO, với tổng diện tích 815ha, trong đó khu vực hàng không dândụng là 150ha [6]

Giao thông đường sắt

Tuyến đường sắt thống nhất chạy song song với QL 1A, đến đoạn sát chânnúi rẽ nhánh sang hầm Hải Vân đi Đà Nẵng với khổ đường đơn 1m Đây là tuyếnđường sắt quan trọng của quốc gia, tuy nhiên năng lực thông qua bị hạn chế bởiđoạn tuyến qua đèo Hải Vân có độ dốc khá lớn (i max = 20%), bán kính đườngcong bằng khá nhỏ (Rmin =100m) Ga gần nhất là ga Thừa Lưu và ga Lăng Cô

là các ga nhỏ chỉ cho phép tránh tàu, không đón tiễn hành khách và hàng hoá [6]

Giao thông đường bộ

QL 1A: Chạy qua phía Nam khu kinh tế mới được cải tạo nâng cấp đạt tiêuchuẩn đường cấp III, nền đường rộng 13m, mặt đường rộng 11m, có lề gia cố 1m

3500xe/ngđ [6]

Trang 13

Hình 1.5 Mặt cắt đường quốc lộ 1A hiện trạng (nguồn: Hồ sơ quy hoạch chi tiết xây dựng tỉ lệ 1/2000 Khu đô thị Chân mây, tỉnh Thừa Thiên Huế)

*) Giao thông đối nội khu vực Chân Mây:

Các tuyến đường hiện trạng nội bộ trong khu vực Chân Mây có bề rộng mặt

từ 7.5m đến 10.5m, mặt đường bê tông nhựa, chất lượng tốt

Hình 1.6: Hình ảnh đường nội bộ hiện trạng trong khu vực nghiên cứu [6]

Trang 14

khoảng 150m Nhà máy này lấy nước ở đập Khe Mệ và đập Bo Ghe Nước đượcdẫn từ đập khe Mệ về bể điều tiết bằng hệ thống đường ống dẫn D250 - L4300m

và từ đập Bo Ghe về bể điều tiết bằng đường ống D300 - L2300m Cao độ xâydựng của nhà máy nước Bo Ghe: +55,0m và hệ thống cấp nước theo phương

pháp tự chảy [6]

Mạng lưới đường ống

Khu vực Chân Mây hiện nay có tuyến ống chính 300mm trên QL1A vàtuyến 250mm trên đường nối QL1A với bến cảng số 1 Chân Mây Khu vực xãLộc Vĩnh đã có mạng lưới đường ống phân phối 63- 90

Khu vực Lăng Cô với đường ống cấp nước 150, 100, 80 dẫn tới khuvực làng Chài và dọc đường quốc lộ 1A tới chân cầu Lăng Cô cũ Tổng chiều dàiđường ống cấp nước khoảng 5,0 km [6]

c) Hiện trạng cấp điện

Nguồn điện

Khu vực Chân Mây – Lăng Cô hiện tại đang được cấp điện từ lưới điệnquốc gia 110KV khu vực miền Trung, trực tiếp từ trạm nguồn 110KV Cầu Hai:110/35/22KV –1x25MVA và trạm 110KV Lăng Cô: 110/22KV – 1x25MVA

Lưới điện

Lưới điện cao áp

Trên địa bàn nghiên cứu có các đường dây cao áp sau:

- Đường dây 500KV mạch kép Hà Tĩnh - Đà Nẵng Đây là đường trục cấpđiện lớn của quốc gia

- Đường dây 220KV mạch kép Hòa Khánh – Huế: chiều dài tuyến 80km,dây dẫn ACSR 500 Đây là tuyến nguồn chính cấp điện cho tỉnh Thừa Thiên –Huế, qua trạm 220KV Huế

- Đường dây 110KV mạch kép Hòa Khánh - Lăng Cô - Cầu Hai – Huế:

Trang 15

tiết diện dây AC-185 dài toàn tuyến 96,8Km Đường dây này cấp điện cho 2trạm 110KV trong khu vực thiết kế là trạm Lăng Cô và trạm 110KV Cầu Hai.

Trạm biến áp phân phối

Khu vực Chân Mây – Lăng Cô chủ yếu sử dụng các trạm biến áp phânphối loại treo, có cấp điện áp 22/0,4KV Do đây là khu vực mới phát triển nêncác trạm hạ thế nói chung chưa phù hợp với các quy hoạch định hướng về vị trí,hình thức…

Lưới điện hạ thế 0,4 KV

Lưới điện hạ thế sử dụng lưới điện nổi 380/220V ba pha bốn dây trung tínhnối đất Lưới điện hạ thế trong khu vực nhiều năm nay đã được đầu tư cải tạotừng bước, tuy nhiên còn nhiều khu vẫn là lưới điện tạm, chưa đảm bảo các tiêuchí đô thị

Lưới điện chiếu sáng

Hầu như trên địa bàn Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô chưa có lưới điệnchiếu sáng, riêng tại Thị trấn Lăng Cô mới được đầu tư điện chiếu sáng dọc quốc

lộ 1A đoạn qua thị trấn với đèn chiếu sáng chủ yếu là đèn cao áp Natri, Sodium

có công suất từ 220V-75W [6]

e) Hiện trạng thoát nước thải

Khu vực nghiên cứu hiện nay chưa có hệ thống thoát nước thải.[6]

1.1.5 Đánh giá tổng hợp hiện trạng

a) Thuận lợi

- Địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi cho việc xây dựng đô thị

- Môi trường tự nhiên thuận lợi do khu vực nghiên cứu được bao quanhbởi núi và biển đẹp Nước sông sạch nên môi trường sống và làm việc tốt

- Tài nguyên nước phong phú: có lượng mưa tương đối lớn quanh năm,nên có thể đảm bảo lượng nước sản xuất công nghiệp

Trang 16

- Tiếp cận dễ dàng đường cao tốc, QL1A, cảng, sân bay , có thể thực hiệnvận tải một cách hiệu quả, kinh tế.

- Các khu dân cư hiện trạng và mộ dân sinh nằm dàn trải trong khu vực đã

có kế hoạch di dời, tái định cư phục vụ nhu cầu phát triển khu đô thị

b)Khó khăn

- Tuyến đường QL1, và tuyến đường sắt cắt ngang qua khu vực nghiên cứuquy hoạch đô thị gây cản trở cho việc phát triển giữa 2 khu chức năng (khu đôthị phía bắc và khu công nghiệp cao phía nam)

- Cơ sở hạ tầng chưa được xây dựng (đường, điện, nước, thông tin liênlạc)

- Hàng năm xảy ra các trận lũ lụt tương đối lớn, do công tác phòng chốngcòn yếu kém

- Công nghiệp phụ trợ chưa phát triển

1.2 Ảnh hưởng của thiên tai bão lũ đến khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa Thiên Huế

1.2.1 Những thiệt hại do thiên tai gây ra

Thiên tai là một hiện tượng thiên nhiên gây ra các tổn thất về người và của cảivật chất và làm xáo trộn mạnh các hoạt động của con người trên phạm vi lớn

Dựa trên mức độ thiệt hại, phạm vi ảnh hưởng và tần suất xuất hiện củachúng, có thể xếp các loại thiên tai ở Thừa Thiên Huế theo thứ tự như bảng sau:

Bảng 1.3 Phân loại các nhóm thiên tai ở Thừa Thiên Huế

Tác động mạnh Tác động vừa Tác động nhẹ

Nước dâng Xói lở bờ biển

Trang 17

Lốc tố Xói lở bờ sông

HạnXâm nhập mặn(nguồn: Thiên tai ở Thừa Thiên Huế và các biện pháp phòng tránh tổnghợp, Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Thừa Thiên Huế.)

Lũ lụt là người bạn đồng hành với Thừa Thiên Huế từ khi khai sinh lập điạđến nay Lịch sữ đã ghi nhận: Trong thế kỷ XIX từ năm 1801-1888 ở kinh thànhHuế và vùng phụ cận phải hứng chịu 40 trận lũ lớn, có thể kể một số trận điểnhình sau đây:

-Trận lũ năm 1811 đã tràn ngập Hoàng Cung 3,36m, phá vỡ cửa Tư Dung(Tư Hiền)

-Năm 1818 lũ làm kinh thành Huế ngập sâu 4,2m

-Các trận lũ liên tiếp trong hai năm 1841-1842 làm hơn 700 ngôi nhà bị sập

đổ, lăng Minh Mạng bị hư hại nặng, số lượng người chết rất nhiều

-Trận lũ tháng X năm 1844 đã làm thiệt mạng hơn 1000 người, 2000 ngôinhà bị phá huỷ hoàn toàn, cột cờ ở kỳ đài bị gãy, kinh thành huế ngập sâu 4,2m.-Nhiều trận lũ tiếp theo vào các năm 1848 và 1856 phá huỷ hơn 1000 ngôinhà ở Huế, 2/3 Ngọ Môn bị sụp đổ

Bước sang thế kỷ XX, Thừa Thiên Huế đã nhiều lần bị lũ tàn phá, đáng chú

ý là các trận lũ sau:

- Trận lũ từ 20-26/IX/1953 làm 500 người thiệt mạng, 1290 ngôi nhà bịtrôi, 80% diện tích hoa màu bị mất trắng

- Sau ngày mới giải phóng một trận lũ lớn đã xảy ra ở Thừa Thiên Huế

từ ngày 15-20/X/1975 gây thiệt hại lớn về tính mạng và tài sản của nhân dân

Trang 18

- Từ ngày 28/X đến 1/XI/1983 một trận lũ lớn ở Thừa Thiên Huế đãlàm 252 người bị chết,115 người bị thương, 2100 ngôi nhà bị sập, 1511 ngôi nhà

bị trôi

- Trong trận lũ lịch sử đầu tháng XI/1999 có 352 người chết, 21 ngườimất tích, 99 người bị thương Số nhà bị đổ, bị cuốn trôi là 25.015 cái,1.027trường học bị sụp đổ, 160.537 gia súc bị chết, gia cầm bị chết lên tới 879.676con Tổng thiệt hại 1.761,82 tỷ đồng

Ngay đầu thế kỷ XXI, một trận lũ khá lớn xảy ra từ ngày 25-27/XI/2004 làm

10 người chết, thiệt hại hơn 208 tỷ đồng [21]

1.2.2 Đánh giá ảnh hưởng của thiên tai bão lũ đến khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa Thiên Huế

a Bão và áp thấp nhiệt đới

Từ 1952 đến 2006 khu vực Chân Mây – Lăng Cô đã chịu ảnh hưởng 23 cơnbão và ATNĐ, trung bình hàng năm 0,41 cơn Có nhiều năm liên tiếp không bịảnh hưởng của bão, tuy nhiên có năm lại bị 3 cơn bão liên tiếp ví dụ như cácnăm 1970, 1971 có 3 cơn bão xảy ra trong năm Mùa bão bắt đầu từ tháng 5 kếtthúc vào tháng 11 Thời gian xuất hiện bão nhiều nhất là tháng 9 chiếm 30%, rồiđến tháng 10 chiếm 26% và tháng 11 là 13% Ở khu vực này hầu như không cóbão đổ bộ trực tiếp mà thường chịu ảnh hưởng của bão đổ bộ vào Đà Nẵng, hoặc

đi dọc theo bờ biển hoặc đổ bộ vào các vùng phía bắc Vì vậy bão ở đây thườngyếu hơn các nơi khác Trong số cơn bão ảnh hưởng đến khu Chân Mây- Lăng

Cô trong vòng 55 năm qua có 30% bão cấp 10, 13% đạt cấp 9 và 13% đạt cấp11,12 và có tới 39% là ATNĐ Gío mạnh nhất trong bão có hướng NW-N chiếm42,9%, hướng W-SW chiếm 32,1% và hướng N-NE chiếm 21,4%

Số liệu tính toán cho thấy ở khu vực Chân Mây – Lăng Cô trong vòng 20 năm

Trang 19

xảy ra một trận bão cấp 10 và 50 năm mới có trận bão cấp 11 Trên thực tế, khuvực này đã chứng kiến hai trận bão mạnh cấp 10, cấp 11 là cơn bão CECIL 1985

và cơn bão XANGSANE 2006 gây nhiều tổn thất về người và tài sản Riêng cơnbão XANGSANE đã làm bị thương 8 người, 398 nhà bị sập, hàng nghìn nhà tốcmái, làm hư hỏng nhiều công trình của ngành du lịch, thuỷ lợi, giao thông, thuỷsản, điện lực, thông tin liên lạc, gây tổn thất nặng nề cho ngành nông lâm nghiệp.Tổng thiệt hại ước tính lên tới hàng trăm tỷ đồng [21]

b Ngập lụt

Vì ở khu vực Chân Mây – Lăng Cô không có số liệu quan trắc khí tượng thuỷvăn nên chúng tôi phải căn cứ vào số liệu điều tra vết lũ năm 1998, 1999 vàtrong các đợt khảo sát để phân tích tính toán

Kết quả điều tra cho thấy tình hình ngập lụt của khu vực Chân Mây – Lăng Cô không nghiêm trọng như hạ lưu sông Hương, sông Bồ và sông Ô Lâu vì ở đâysông ngắn, lưu vực nhỏ lại sát biển nên lũ lên nhanh xuống nhanh Hàng năm cáckhu vực thấp ở Chân Mây- Lăng Cô đều bị ngập lụt Thời gian ngập lụt dài mhấtkhoảng 3 ngày ( như lũ năm 1999), ngắn nhất khoảng vài giờ Những trận lụtlớn xảy ra trong những năm qua trên khu vực này là: 1953, 1975, 1985, 1998,

1999, 2004 Do điều kiện địa hình không đồng nhất nên mức độ ngập lụt của cácvùng rất khác nhau và thay đổi theo từng trận lũ

Có bốn khu vực chịu ảnh hưởng của những nguyên nhân khác nhau như sau:

• Khu vực ngập lụt nặng nhất nằm trên lưu vực sông Bù Lu (gồm hai nhánhThừa Lưu và Nước Ngọt) bao gồm xã Lộc Thuỷ và Lộc Tiến do mưa lớn gây ra

lũ lớn Phần thượng nguồn sông Bù Lu phía tây quốc lộ IA bị quốc lộ IA vàđường sắt chắn ngang như một con đê nên khả năng thoát nước kém, làm tăngmức độ ngập Ở đây có những điểm ngập sâu nhất trong khu vực như: ThuỷDương, Thuỷ Xuân, Bà Tơ

Trang 20

• Tương tự như vậy, thôn Phú Hải (xã Lộc Vĩnh) và thôn Tam Vị (xã Lộc Tiến)

bị ngập lụt do ứ nước vì các con đường mới làm (đường đi Cảnh Dương, đường

đi cảng) thoát nước kém Ngoài ra nước từ khu du lịch Làng Xanh chảy qua cũnggây ngập lụt

• Vùng ven biển Cảnh Dương, Cổ Dù, Bình An, khu vực cảng, bãi biển Lăng Côngập lụt do nước dâng trong bão

• Ở khu vực bao quanh đầm Lập An khi có mưa lớn, nước từ các suối trên lưuvực đổ vào đầm làm mực nước đầm dâng cao gây ngập lụt Nơi ngập sâu nhất làHói Dừa, Hói Mít

Theo kết quả tính toán thì lũ năm 1999 tương ứng tần suất 1% (100 năm xuấthiện một lần) và lũ năm 1998 tương ứng tần suất 5% ( 20 năm xuất hiện mộtlần) [21]

c Nước dâng:

Nước dâng là hiện tượng mực nước biển dâng cao hơn mức thuỷ triều bìnhthường khi có bão ảnh hưởng Tuỳ theo cường độ của bão, nước dâng có thể gâythiệt hại ở vùng thấp ven biển Ở khu vực Chân Mây – Lăng Cô nước dâng đãquan sát được là 1,7m trong cơn bão CECIL 1985 và khoảng 1,5 trong cơn bão

số 6 năm 2006 Theo tính toán của Trương Đình Hiển [8], trong chu kỳ khoảng

100 năm sẽ xảy ra nước dâng ở khu vực Chân Mây – Lăng Cô với độ cao 2,0m.[21]

d Lốc tố:

Hàng năm ở khu vực Chân Mây- Lăng Cô chịu ảnh hưởng khoảng 1-2 cơn lốc.Vùng thường bị ảnh hưởng là đầm Lập An ở Lăng Cô và các địa điểm gần khegió trong khu vực Chân Mây như: thôn Phú Hải, Bình An (Lộc Vĩnh) và thôntam Vị (xã Lộc Tiến) Trong những năm qua có những trận lốc tố rất mạnh gâythiệt hại cho huyện Phú Lộc nói chung và khu Chân Mây-Lăng Cô nói riêng

Trang 21

Ngày 28 tháng 12 năm 1991 một cơn lốc với sức gió cấp 10 xảy ra trên địa bànhuyện làm chết 10 người (trong đó khu vực Lăng Cô có 2 người), chìm 22thuyền, phá hỏng nhiều ngư lưới cụ [21]

e Trượt đất:

Với địa hình ba phía có núi với độ dốc lớn bao bọc, lại nằm cạnh trung tâmmưa lớn Bạch Mã nên khu vực Chân Mây- Lăng Cô có nguy cơ trượt lở đất cao.Trong đợt lũ đầu tháng 11 năm 1999 nhiều địa điểm ở đèo Phước Tượng, PhúGia và Hải Vân đã bị trượt lỡ nghiêm trọng Theo kết quả điều tra, trong khu vựcChân Mây có 2 địa điểm có nguy trượt lỡ đất cao là dưới chân núi Thổ Sơn vàPhú Gia (xã Lộc Tiến) với diện tích khoảng 3.000 m2 đe doạ ảnh hưởng 50 hộdân Trên khu vực Lăng Cô những vị trí có nguy trượt lở đất cao là: thượngnguồn Hói Mít, Hói Dừa, trên đèo Hải Vân [21]

f Sạt lở bờ sông, bờ biển:

Dọc theo hai bờ sông Bu Lu tình trạng sạt lỡ bờ sông xảy ra thường xuyên mỗikhi lũ về Chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là hai xã Lộc Vĩnh và Lộc Thuỷ Ở thônCảnh Dương xã Lộc Vĩnh vùng sạt lở dài 1 km, lấn sâu từ 3-20m 78 hộ dân gồm

322 nhân khẩu sống trong vùng nguy cơ sạt lở, trong đó có 37hộ/106 khẩu nằmtrong vùng có nguy cơ cao Ở xã Lộc Thuỷ số hộ chịu ảnh hưởng của sạt lỡ đất

và lũ quét là 450 hộ/2.210 khẩu Tình trạng sạt lở ở Cảnh Dương xảy ra khi xâydựng các hồ nuôi tôm làm cản trở và thay đổi dòng chảy

Ngoài ra, tại cửa sông Bù Lu thôn Cảnh Dương và bãi biển Lăng Cô cũng bịxâm thực mạnh do sóng biển và nước dâng trong bão Rừng phòng hộ chắn sóng

và thảm thực vật bảo vệ bờ biển bị suy kiệt làm tăng cường xâm thực bờ biểnLăng Cô hàng năm Trong cơn bão CECIL năm 1985 khu vực Lăng Cô bị xâmthực sâu vào bờ 15m, sau đó được bồi tụ lại Trong cơn bão số 6 năm 2006 nhiều

Trang 22

công trình bảo vệ bờ biển bị phá huỷ như công trình bờ kè của khách sạn ThanhTâm [21]

g Lũ quét:

Là một trong những vùng có lượng mưa lớn nên lũ quét có thể xẩy ra ở thượngnguồn các sông suối ở khu vực Chân Mây – Lăng Cô Qua điều tra thực tế chothấy có 3 điểm đã xẩy ra lũ quét và có nguy cơ cao là: Hói Mít, Hói Dừa ở bờ tâyđầm Lập An, Thuỷ Yên, Thuỷ Cam ở thượng nguồn sông Nước Ngọt thuộc xãLộc Thuỷ, Thuỷ Dương ,Thuỷ Tụ ở thượng nguồn sông Thừa Lưu thuộc xã LộcTiến Hiện tại có 450 hộ ở xã Lộc Thuỷ và 400 hộ ở xã Lộc Tiến đang sốngtrong vùng có nguy cơ lũ quét cao Năm 2000 lũ quét đã cuốn trôi 50 nhà ở HóiDừa [21]

h Cháy rừng:

Khu Chân Mây- Lăng Cô được bao bọc ở 3 phía là núi và rừng có độ che phủkhá cao Một số công trình được xây dựng gần chân núi nên nguy cơ cháy rừngcũng cần tính đến Hiện tại chưa có số liệu về cháy rừng ở khu vực này [21]

i Sự cố công nghiệp:

Ở khu vực Chân Mây – Lăng Cô khi công nghiệp phát triển thì những sự cốnhư: rò rỉ hoá chất, cháy nổ, đắm tàu, tràn dầu phải được tính đến, nhất là khikho xăng dầu, kho dầu nhựa đường nằm gần cảng Hiện tại, lưu lượng tàu vào racảng biển nước sâu Chân Mây ngày càng nhiều nên khả năng sự cố về đắm tàu

và tràn dầu ngày càng cao Riêng trong năm 2004 đã có một tàu chở dầu bị chìmtrong cảng Chân Mây và một tàu chìm ở ngoài khơi tỉnh Thừa Thiên Huế [21]

Trang 23

động đất ở Thừa Thiên Huế là có thật, động đất có thể đạt 5 độ Richter, tối đa

có thể lên 5,5 độ Richter với tần suất rất hiếm 5,5 độ Richter với tần suất rấthiếm [21]

l Sóng thần:

Theo kết quả tính toán của PGS Ts Vũ Thanh Ca (Viện khí tượng thuỷ văn),Ths.Phạm Quang Hùng (Viện vật lý địa cầu) nếu trường hợp xảy ra động đất ởphía tây Philippin 9 độ Richter thì 2 giờ sau động đất sẽ xảy ra sóng thần tràn tới

bờ biển Việt Nam với độ cao 3-5m [1] Như vậy nguy cơ sóng thần ở bờ biểnViêt Nam nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng là một thực tế, cần đánh giáđúng mức để có giải pháp phù hợp

Trong số những ngành và lĩnh vực chịu tác động của nhiều loại thiên tai là môitrường, du lịch và thuỷ sản

Theo báo cáo hiện trạng môi trường ở khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô [1] thì chất lượng môi trường ở khu vực này nằm trong giới hạn cho phép của tiêuchuẩn môi trường Việt Nam Tuy nhiên, cùng với tốc độ công nghiệp hoá và đôthị hoá và dưới tác động của thiên tai xu thế môi trường có thể bị biến đổi theochiều hướng xấu Từ những đánh giá chung trong bảng 4 có thể rút ra kết luận là:với mức độ khác nhau, hầu hết các loại thiên tai xảy ra ở Lăng Cô đều có ảnhhưởng đến môi trường, trong đó nặng nhất là bão, lụt, sự cố công nghiệp, sạt lởđất

Cũng như lĩnh vực môi trường, ngành du lịch chịu ảnh hưởng của tất cả cácthiên tai với mức độ khác nhau Thiên tai tác động đến du lịch trên những khíacạnh sau:

+ Làm hư hại cơ sở hạ tầng

+ Làm xấu đi môi trường và cảnh quan du lịch

+ Làm giảm sự hấp dẫn của địa điểm du lịch do đó làm giảm lượng khách đến

Trang 24

+ Ảnh hưởng đến các loại hình du lịch nghỉ dưởng, du lịch sinh thái, du lịch biển

và du lịch mạo hiểm

Trong khu vực Chân mây – Lăng Cô thiên tai tác động theo mùa và theo nhữngtần suất khác nhau Bão, nước dâng, lũ quét xảy ra với tần suất nhỏ nhưng gâythiệt hại lớn cho ngành du lịch, như bão Xangsane năm 2006 là một dẩn chứng.Những khu du lịch ảnh hưởng của bão và nước dâng là Cù Dù, Cảnh Dương vàdọc bờ biển từ Chân Mây Đông đến cửa Lăng Cô Bão, nước dâng không chỉgây tổn thất về cơ sở vật chất mà còn tàn phá môi trường, cảnh quan du lịch,rừng phòng hộ ven biển, cản trở các hoạt động của du lịch Thời gian thường xảy

ra bão từ tháng 9 đến tháng 11 Thời kỳ này cần chú ý theo dõi tin thời tiết khithực hiện các tour du lịch lặn biển, khảo sát sinh vật biển, du lịch mạo hiểm, leonúi, tàu lượn

Lũ quét tác động đến khu du lịch Suối Voi, khu đô thị mới Hói Dừa Hói Mít

Lũ có thể gây ngập lụt từ 1,5m – 2,5m có sức tàn phá lớn làm hư hại đường sá vàcác cơ sở du lịch Thời gian thường xảy ra từ tháng 10-11 Thời kỳ chuyển tiếpthời tiết trong tháng 4, tháng 5 và tháng 9 tháng 10 ở Chân Mây – Lăng Côthường xảy ra lốc tố, cần chú ý khi du lịch biển như thuyền buồm, thể thao trênbiển, đầm phá Lũ lụt, sự cố môi trường như tràn dầu, loang dầu, ô nhiểm rácthải, ô nhiểm không khí cũng ảnh hưởng đến môi trường du lịch Khi cảng ChânMây phát triển thì có nguy cơ loang dầu từ khu vực cảng qua bãi tắm CảnhDương và Cù Dù

Đối với khu vực Chân Mây- Lăng Cô thiên tai gây nhiều thiệt hại nhất là bão.Tuy tần suất xuất hiện không lớn ( 20 năm mới xảy ra bão cấp 10, cấp11) nhưngbão kèm theo lũ và nước dâng gây hậu quả nặng nề nhất về kinh tế-xã hội Hầuhết các lĩnh vực trong khu vực đều bị ảnh hưởng nặng nề của bão, nhất là nhàcửa, trường học, trạm y tế, trụ sở uỷ ban và nhiều cơ sở hạ tầng khác mà phải

Trang 25

mất nhiều năm mới khôi phục lại được Ngoài ra có những mất mát không tínhđược thành tiền do bão gây ra Nhiều doanh nghiệp phải ngừng sản xuất nhiềungày, hàng nghìn công nhân phải nghỉ việc, cuộc sống bị ảnh hưởng

Khác với tình hình chung của tỉnh và cả nước là luôn luôn xem lũ lụt là thiêntai nguy hiểm nhất, ở khu vực Chân Mây- Lăng Cô lũ lụt là thiên tai có vị trí thứhai sau bão Điều này được lý giải như sau: Mặc dù nằm trong vùng mưa lớnnhưng lưu vực và sông suối nhỏ, hạ lưu rộng , thoáng lại gần biển nên lũ có lưulượng và cường suất không lớn, lên nhanh, xuống nhanh, gây hậu quả khôngnghiêm trọng Trong quá trình điều tra, khảo sát chưa thu thập thông tin thiệt hại

về người trong lũ lụt Trên bản đồ ngập lụt năm 1999 cho thấy mức ngập sâunhất là 1,5-2,5m trong phạm vi hẹp, còn phần lớn diện tích ngập dưới 1m Tuynhiên, với tần suất xuất hiện hàng năm, lũ lụt gây thiệt hại đáng kể cho cácngành du lịch, thuỷ sản, thuỷ lợi, nông nghiệp và môi trường Nhiều hộ dân đangsống trong vùng nguy cơ sạt lở do lũ lụt gây ra

Khu vực Hói Mít, Hói Dừa và xung quanh đầm Lập An độ sâu ngập lụt khálớn từ 1,5-3,2m nên cần điều tra kỹ để qui định cốt xây dựng phù hợp

Tương tự như bão, nước dâng có tần suất xuất hiện thấp, nhưng rất nguy hiểm Trong cơn bão CECIL 1985 nhiều nhà cửa, tàu thuyền và ngư lưới cụ bị cuốntrôi, nước mặn tràn qua bờ cát vào sâu trong đất liền 1-2km Nhiều người bị chết.Khu vực có nguy cơ cao ảnh hưởng của nước dâng nằm dọc theo bờ biển: Cù

Dù, Cảnh Dương, Bình An, Mỹ An và bãi biển Lăng Cô Dân sống ở khu vựcnày phải sơ tán mỗi khi có bão mạnh Đối với các công trìng kinh tế kỷ thuật thìcảng biển rất nhạy cảm với nước dâng Nếu thiết kế không đảm bảo thì sẽ bịsóng biển phá huỷ Nhiều năm qua, từ khi xây dựng đến nay, cảng biển nước sâuChân Mây vẫn đảm bảo an toàn cần thiết, ngay cả trong cơn bão số 6 mạnh cấp

11, 12

Trang 26

Trong số những thiên tai có mức độ tác động vừa ở Chân Mây-Lăng Cô phải

kể đến là trượt đất, lũ quét, sạt lở bờ sông, bờ biển Những thiên tai này xảy ratrong điều kiện mưa lớn với những tần suất khác nhau gây ra những hậu quảkhác nhau Sạt lở bờ sông, bờ biển tuy không nghiêm trọng như bão, lụt nhưnghàng năm thường xuất hiện làm nhiều hộ dân nằm trong vùng sạt lở có nguy cơmất nhà cửa, đất canh tác gây thiệt hại cho các ngành thuỷ sản, thuỷ lợi, nôngnghiệp, môi trường và du lịch Chỉ tính riêng các thôn nằm dọc sông Bu Lu củahai xã Lộc Vĩnh và Lộc Tiến đã có 528 hộ nằm trong vùng có nguy cơ sạt lở cầnphải di dời Chắc chắn vấn đề này sẽ được giả quyết khi xây dựng khu đô thịmới [21]

Về nguy cơ động đất và sóng thần ở khu vực Chân Mây- Lăng Cô là có thật.Tuy nhiên, theo số liệu điều tra và dự tính thì nguy cơ này không cao Trongthiết kế tính toán các công trình xây dựng, kiến trúc phải tính đến các yếu tố này.Nông lâm nghiệp, thuỷ sản là những ngành nằm trong định hướng phát triển củakhu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô Mục tiêu của ngành nông nghiệp và thuỷ sảntrong khu vực là sản xuất những sản phẩm và đặc sản nông nghiệp và thuỷ sản

có giá trị cao nhằm cung cấp thực phẩm an toàn cho khu kinh tế Chân Mây –Lăng Cô, gắn sản xuất hàng hoá nông nghiệp, thuỷ sản với du lịch

Do điều kiện đất đai thổ nhưỡng chủ yếu là vùng đất cát bạc màu nên nôngnghiệp ở khu vực Chân Mây – Lăng Cô không phát triển Mặt khác, nông nghiệp

ở đây chịu tác động của như lũ, lũ quét, trượt đất nên càng khó khăn hơn Thiệthại chủ yếu đê đập bị trôi, bị vở, kênh mương bị hỏng Trong cơn bão số 6 năm

2006 hai đập ở Hói Dừa, Hói Mít bị trôi, 3 đập khác bị hư hỏng, tổng thiệt hạilên tới 1tỷ 800 triệu đồng

Ngành thuỷ sản ở khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô chủ yếu tập trung vào cácnghề sau: nuôi trồng thuỷ sản, khai thác nhỏ trên đầm phá, khai thác biển, trong

Trang 27

đó số hộ là nghề khai thác biển đông nhất (1245 hộ) tập trung ở An Cư Đông, thịtrấn Lăng Cô Ngành thuỷ sản rất nhạy cảm với bão, nước dâng và lốc, nhất lànghề khai thác biển và trên đầm phá Trong cơn bão năm 1985 ngư dân ở ChânMây – Lăng Cô thiệt hại rất lớn, một số trận lốc trong những năm gần đây cũnggây thiệt hại về người và tài sản của ngư dân

Đối với nuôi trồng thuỷ sản ở thôn Cảnh Dương, xã Lộc Vĩnh và Hói Dừa, HóiMít, thị trấn Lăng Cô thì lũ lụt, sạt lở đất và qua đó là môi trưòng nước có tácđộng mạnh đến diện tích, sản lượng nuôi trồng

1.3 Thực trạng CBKT với vấn đề phòng tránh ngập lụt Khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa Thiên Huế

1.3.1 Thực trạng nền xây dựng

 Khu vực Chân Mây

Có địa hình bằng phẳng, là đồng bằng của sông Bù Lu (2 sông nhánhThừa Lưu và sông Nước Ngọt), có cao độ nền các khu vực như sau:

- Khu vực trung tâm dốc thoải về phía sông Bù Lu, và về phía biển códạng hình lưng rùa, độ dốc nền từ 0,5 % 3%

- Cao độ nền khu vực dân cư từ + 2,7m  +9,5m, chiếm khoảng 40% diệntích khu vực nghiên cứu

- Cao độ nền khu vực ruộng cao từ +2,0m  +2,5m, chiếm 25%  30%diện tích nghiên cứu

 Lưu vực sông Mỹ Vân (sông Chu Mới)

- Khu trũng rừng tràm có cao độ nền thấp trũng từ - 0,37m  +0,75m, diệntích 165 ha

- Khu ruộng cao nằm sát đường ra cảng có cốt từ +1,12m  +2,37m, độdốc nghiêng về phía sông Mỹ Vân, diện tích khoảng 163ha

- Nền đường Quốc lộ IA có cao độ > + 3,5m, không bị ngập lũ

Trang 28

- Khu phía Nam Quốc Lộ IA và đường sắt thoát qua các qua Quốc Lộ IAkích thước D1000mm  D1500mm và chủ yếu thoát qua cầu sông Nước Ngọt,sông Thừa Lưu (2 sông nhánh của sông Bu Lu) và sông Mỹ Vân đổ vào vịnhChân Mây

- Khu vực Chân Mây được chia làm 3 lưu vực chính theo hướng:

+ Lưu vực1: Đổ ra sông Bu Lu, chủ yếu là xã Lộc Thủy và khu phía NamQuốc Lộ IA

+ Lưu vực 2: Sông Mỹ Vân (Chu Mới) ở Phía Nam đô thị Chân Mây, đổ

ra vịnh Chân Mây ( gần mũi Chân Mây Đông)

+ Lưu vực 3: Sát núi Phước Tượng và núi Cảnh Dương đổ trực tiếp rabiển ở vịnh Chân Mây

1.3.3 Đặc điểm bão lũ và thực trạng các giải pháp phòng tránh ngập lụt

Lũ, lụt ở tỉnh Thừa Thiên Huế có những đặc điểm sau đây:

- Mùa lũ: Phù hợp với mùa mưa, mùa lũ chính vụ kéo dài từ tháng x đếntháng XII hàng năm.Tổng lượng dòng chảy trong mùa mưa lũ chiếm 65% tổnglượng dòng chảy năm Ngoài lũ chính vụ còn xuất hiện lũ tiểu mãn trong tháng

V, tháng VI và lũ sớm trong tháng VIII, Tháng IX, lũ muộn trong tháng I [1]

- Số trận lũ: Theo số liệu quan trắc từ 1977-2006 trên sông Hương, trungbình hàng năm có 3,5 trận lũ lớn hơn hoặc bằng mức báo động II, năm nhiều

Trang 29

nhất có 7 trận, năm ít nhất có 1 trận, trong đó có 36% lũ lớn và đặc biệt lớn.Những năm có hiện tượng La Nina số đợt lũ và đỉnh lũ lớn hơn rõ rệt [1]

- Thời gian kéo dài: Phụ thuộc vào tình hình mưa và thuỷ triều, thời gian kéodài trung bình của một đợt lũ khoảng 3-5 ngày, dài nhất 6-7 ngày

- Thời gian truyền lũ: trung bình 5-6 giờ với khoảng cách 51 km từ thượngnguồn (Thượng Nhật) đến hạ lưu (Kim Long)

- Biên độ lũ, cường suất lũ: phụ thuộc vào lượng mưa và cường độ mưa vàhình dạng mặt cắt sông Biên độ lũ giao động troảng 3-5m, cường suất lũ lớnnhất ở vùng núi khoảng 1-2m/h, ở vùng đồng bằng từ 0,5-1m/h

- Lưu lượng lũ: Lưu lượng của trận lũ 1953 là 12.500m3/s và trận lũ đầutháng XI/1999 là 14.000m3/s Tổng lượng nước trên toàn bộ các sông đổ xuống

hạ lưu từ ngày 1-6/XI/1999 là khoảng 307 tỷ m3 làm 90% lãnh thổ vùng đồngbằng ngập sâu trong nước từ 1-4m [1]

Qua những con số thống kê ở trên, có thể thấy lũ lụt là thiên tai cực kỳ nguyhiểm có cường suất lớn, sức tàn phá ác liệt, hàng năm gây nhiều thiệt hại choThừa Thiên Huế nói chung và khu đô thị Chân Mây nói riêng Tuy nhiên cácbiện pháp công trình phòng chống lụt bão lại thiếu nghiêm trọng Các biện phápphòng chống ngập lụt của tỉnh cũng như của khu Chân Mây có kể đến như:

- Xây dựng hệ thống quan trắc và cảnh báo thiên tai từ tỉnh đến địa phươngtrong đó văn phòng BCH PCLB và trung tâm dự báo KTTV làm nòng cốt Trong

hệ thống này có tháp báo bão ven biển và đầm phá, 50 tháp báo lũ trên toàn tỉnh,

4 điểm đo mưa cảnh báo lũ quét, sạt lở đất Từng bước trang bị thông tin liên lạchiện đại, bảo đảm liên lạc thông suốt trong mọi tình huống

- Xây dựng bản đồ ngập lụt theo lũ thiết kế 1%, 5%, 10%

Trang 30

- Điều tra khảo sát các loại thiên tai, lập bản đồ vùng ảnh hưởng của chúng

từ đó xây dựng bản đồ phân vùng nhạy cảm với thiên tai

- Trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng ngập mặn ở ven biển

- Xây dựng đê kè biển để chống sạt lở ở Thuận An, đặc biệt đã sử dụngcông nghệ mới Stapilplage của Pháp tại Hòa Duân Xây dựng các trường học caotầng kiên cố để làm nơi trú ẩn khi có bão lũ Xây dựng nơi trú bão cho tàuthuyền của ngư dân.[1]

1.4 Đánh giá những vấn đề tồn tại trong công tác CBKT phòng tránh ngập lụt trong QHXD Khu đô thị Chân Mây

1.4.1 Những tồn tại trong quy hoạch chiều cao khu đô thị Chân Mây

Phát triển khu đô thị đã làm thu hẹp và làm mất dần các thể tích chứa nước tựnhiên - điều hòa lượng nước ở các vùng thấp, ao hồ, kênh rạch; và quá trình bêtông hóa làm giảm đáng kể diện tích thấm Nhưng khi quy hoạch và phát triển đôthị còn chưa chú ý đúng mức đến cốt san nền và vấn đề thoát nước

Việc quy hoạch chiều cao và quy hoạch thoát nước tại khu đô thị chưa đượcthực hiện một cách bài bản Khi thiết kế quy hoạch chiều cao chỉ căn cứ vào mộtcao độ khống chế là mực nước thủy chiều lớn nhất trong lịch sử (h=2,63m) đểthiết kế tôn nền cho toàn bộ khu đô thị cao hơn cao độ này Như vậy khối lượngtôn nền sẽ là vô cùng lớn và không hợp lý về kiến trúc cảnh quan

Trong hồ sơ đồ án quy hoạch chung đô thị mới Chân Mây đã qui định cốtkhống chế xây dựng tối thiểu cho toàn khu vực là +2,5m là chưa hợp lý Vì khuvực nghiên cứu có địa hình dốc nên cao độ ngập lụt từng khu vực sẽ khác nhau

vì vậy khi quy hoạch chiều cao cần phải tính toán và xác định mực nước ngập lụtcho từng khu vực, từng đoạn sông sau đó sẽ khống chế cao độ theo khu vực Như

Trang 31

vậy sẽ giảm được khối lượng đào đắp và giữ được cảnh quan tự nhiên của khu

đô thị Chân Mây

Trong đồ án quy hoạch khu đô thị Chân Mây chưa đáp ứng được các yêu cầuđối với việc quy hoạch chiều cao:

+ Về kỹ thuật: thiết kế quy hoạch chiều cao cần bảo đảm độ dốc và hướng dốcnền hợp lý để tổ chức thoát nước mưa tự chảy nhanh chómg, triệt để, không gâyngập úng cho đô thị; bảo đảm an toàn, thuận tiện cho giao thông; tạo điều kiệnthuận lợi cho xây dựng công trình ngầm và duy trì phát triển cây xanh trên khuđất xây dựng

+ Về Kiến trúc cảnh quan: quy hoạch chiều cao là một trong những biện phápgóp phần tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan của đô thị và làm tăng giá trịthẩm mỹ trong kiến trúc Vì vậy cần khai thác có hiệu quả các yếu tố địa hìnhđồng thời giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa quy hoạch tổng mặt bằng và quyhoạch chiều cao các bộ phận chức năng của đô thị (nghĩa là phải làm cho địahình diễn đạt kiến trúc một cách đắc lực nhất)

+ Về cân bằng sinh thái: trong quá trình nghiên cứu địa hình phải luôn chú ý đểkhi cải tạo bề mặt địa hình không làm xấu đi các điều kiện địa chất công trình,địa chất thủy văn, hạn chế sự bào mòn đất và ảnh hưởng đến lớp thực vật Cốgắng giữ được trạng thái cân bằng tự nhiên có lợi cho điều kiện xây dựng

1.4.2 Những tồn tại trong quy hoạch thoát nước mặt

Định hướng tiêu thoát nước cho khu đô thị Chân Mây chưa đảm bảo đượcthoát nước nhanh nhất theo hình thức tự chảy là chính, chưa tính đến các yêu tốbiến đổi khí hậu đã được cảnh báo Các lưu vực thoát nước chính và lưu vực phụchưa được phân chia phù hợp với địa hình tự nhiên và các hướng thoát ra sông Định hướng thoát nước khu đô thị Chân Mây chưa được quy hoạch dựa trênnguyên lý cân bằng nước và phát triển bền vững; trong đó, phải tính đếns các đặc

Trang 32

trưng, tiêu chí có liên quan tới thoát nước đô thị như cốt san nền, tỷ lệ diện tíchđất tự nhiên, ao hồ, kênh rạch, xây dựng tiêu chí sinh thái đô thị Khi quy hoạch

hệ thống thoát nước đô thị còn chưa tính đến yếu tố chống ngập

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÔNG TÁC CBKT PHÒNG TRÁNH NGẬP LỤT KHU ĐÔ THỊ CHÂN MÂY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

2.1 Khái quát chung về công tác CBKT cho khu đất xây dựng đô thị

2.1.1 Khái niệm CBKT

Trong thực tế khi quy hoạch đô thị rất khó có thể tìm được một khu đất có cácđiều kiện tự nhiên cũng như các điều kiện khác, đáp ứng được ngay yêu cầu xâydựng Vì vậy người ta phải tiến hành những biện pháp kỹ thuật cần thiết để cảitạo điều kiện tự nhiên của khu đất nhằm thỏa mãn các yêu cầu quy hoạch xâydựng đô thị

Trang 33

Những biện pháp kỹ thuật sử dụng để cải tạo điều kiện tự nhiên phục vụ mục đích quy hoạch, xây dựng đô thị được gọi là chuẩn bị kỹ thuật cho khu đất xây dựng đô thị.

2.1.2 Các biện pháp chủ yếu của công tác chuẩn bị kỹ thuật

Những biện pháp chủ yếu của công tác chuẩn bị kỹ thuật cho khu đất xây dựng

đô thị là:

- Đánh giá và lựa chọn đất xây dựng đô thị: đánh giá mức độ thuận lợi cho xây

dựng của khu đất theo các điều kiện tự nhiên (khí hậu, thủy văn, địa chất côngtrình và địa chất thủy văn);

- Quy hoạch chiều cao: thiết kế cao độ nền xây dựng của các công trình và bộ

phận đất đai của đô thị;

- Thoát nước mặt: tổ chức thoát nước chảy trên bề mặt khu đất xây dựng bao

gồm: nước mưa, nước tưới cây, nước rửa đường, nước do tuyết tan (trong đónước mưa là chủ yếu);

- Hạ mực nước ngầm: làm khô khu đất xây dựng nhằm giảm thiểu ảnh hưởng

đến điều kiện thi công, điều kiện sử dụng của công trình;

- Bảo vệ khu đất khỏi bị ngập lụt: đảm bảo an toàn cho đô thị trước sự đe dọa

của các hiện tượng tự nhiên như lũ lụt, ngập úng, nước dâng…

- Gia cố bờ sông, bờ hồ và các mái dốc, các sân bãi: đảm bảo yêu cầu an toàn,

ổn định và mỹ quan cho đô thị;

- Những biện pháp chuẩn bị kỹ thuật đặc biệt khác: bao gồm phòng và chống các

hiện tượng đất trượt, mương xói, hốc ngầm, dòng bùn đá, động đất

Những biện pháp chuẩn bị kỹ thuật này tùy theo tính chất và những đặctrưng riêng mà được chia làm hai nhóm: những biện pháp chuẩn bị kỹ thuậtchung và những biện pháp chuẩn bị kỹ thuật riêng biệt

Trang 34

Những biện pháp chuẩn bị kỹ thuật chung mang tính chất bắt buộc phải tiếnhành đồng thời trên tất cả các khu đất bao gồm quy hoạch chiều cao và thoátnước mặt.

Những biện pháp chuẩn bị kỹ thuật riêng biệt bao gồm tất cả các biện pháp

kỹ thuật còn lại Tùy theo mức độ phức tạp khác nhau của từng khu đất mà tiếnhành những biện pháp khác nhau.[20]

2.1.3 Vai trò của chuẩn bị kỹ thuật trong quy hoạch xây dựng đô thị

Công tác chuẩn bị kỹ thuật là một trong những nhiệm vụ của hoạt động xâydựng Mục đích của công tác chuẩn bị kỹ thuật là làm tốt hơn điều kiện tự nhiên

và tạo môi trường sống tốt nhất, đó là môi trường nhân tạo lý tưởng, hòa hợp vớimôi trường tự nhiên

Muốn sử dụng một khu đất vào mục đích quy hoạch xây dựng đô thị có hiệuquả thì cần phải đánh giá được các tiềm năng của nó Việc đánh giá điều kiện tựnhiên khu đất đóng một vai trò quan trọng trong quy hoạch xây dựng, nó gópphần cho việc quy hoạch không gian và cảnh quan đô thị một cách hiệu quả nhất.Kết quả đánh giá điều kiện tự nhiên là một trong những cơ sở quan trọng để lựachọn đất xây dựng, xác định cơ cấu chức năng của đô thị và định hướng các giảipháp kỹ thuật xây dựng

Định hướng phát triển không gian đô thị phù hợp với điều kiện tự nhiên sẽhạn chế đến mức tối đa sự tác động vào tự nhiên, bảo tồn giá trị cảnh quan thiênnhiên, đảm bảo các yêu cầu sinh thái môi trường và là cơ sở cho sự phát triểnbền vững

Bên cạnh đó, các biện pháp chuẩn bị kỹ thuật còn đóng vai trò đảm bảo antoàn cho hoạt động của đô thị, góp phần làm tăng thêm giá trị thẩm mỹ trongkhông gian kiến trúc, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi về kỹ thuật cho việc xây

Trang 35

dựng cơ sở hạ tầng và công trình trong đô thị, mang lại hiệu quả kinh tế cao việckhai thác và sử dụng quỹ đất vào mục đích xây dựng [20]

2.2 Cơ sở lý thuyết của các giải pháp CBKT với phòng tránh ngập lụt

2.2.1 Đánh giá và lựa chọn đất xây dựng đô thị

Trong quá trình quy hoạch xây dựng đô thị cần tiến hành đánh giá mức độ thuậnlợi của điều kiện tự nhiên đối với công tác xây dựng đô thị Đánh giá đất theođiều kiện tự nhiên thường được tiến hành ở giai đoạn quy hoạch chung và là cơ

sở giúp các nhà chuyên môn quản lý, lựa chọn đất xây dựng đô thị

Để lập được bản đồ đánh giá đất cần có các tài liệu và bản đồ cần thiết sau:

a) Tài liệu

- Thu thập đầy đủ các tài liệu khí hậu, khí tượng thủy văn, địa chất công trình,địa chất thủy văn và địa hình Tài liệu càng đầy đủ, chính xác sẽ giúp cho việcđánh giá được đúng mức để sử dụng trong quy hoạch xây dựng đô thị

Dựa trên các tài liệu bản đồ kể trên, tiến hành đánh giá đất theo mức độ thuậnlợi, ít thuận lợi và không thuận lợi về điều kiện tự nhiên trong việc sử dụng đểquy hoạch xây dựng đô thị Việc đánh giá được thực hiện theo hai bước:

+ Đánh giá riêng lẻ từng yếu tố

+ Đánh giá tổng hợp tất cả các yếu tố [20]

2.2.2 Các biện pháp bảo vệ khu đất khỏi bị ngập lụt

Các biện pháp bảo vệ khu đất xây dựng khỏi bị ngập lụt bao gồm:

Trang 36

- Đắp đê khoanh vùng

- Tôn cao nền xây dựng

- Tăng cường khả năng thoát nước của lòng sông

- Điều chỉnh dòng nước bằng cắt bớt lưu lượng lũ

a) Đắp đê khoanh vùng

Đắp đê là một biện pháp phổ biến và kinh tế để bảo vệ khu đất khỏi bị ngậplụt Dùng khi một diện tích rộng bị ngập Đắp đê không phải là một vấn đề phứctạp nhưng chính do đắp đê mà sinh ra những vấn đề sau:

- Mực nước ngoài sông cao hơn cốt xây dựng trong đê, do đó thường xuất hiệnmực nước ngầm cao

- Mùa mưa lũ thì cửa xả nước mưa từ khu vực trong đê ra sông thường thấp hơnmực nước sông Do đó phải đóng cống gia cố miệng xả và dùng máy bơm đểbơm nước mưa ra ngoài sông Vậy muốn đắp đê phải nghiên cứu mọi điều kiện

và phải so sánh các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật Đắp đê phụ thuộc vào địa hình, điềukiện thủy văn, điều kiện địa chất công trình và điều kiện kinh tế cùng một số yêucầu khác

Tuyến đê thường chạy ven sông, bao quanh khu vực cần bảo vệ, nên chạy thẳng

để tuyến ngắn Nếu ngoặt thì phải uốn cong một cách nhẹ nhàng tránh các gócnhọn Vạch tuyến đê phải bảo đảm một số yêu cầu sau:

+ Tuyến đê phải phù hợp với quy hoạch Tuyến đê cố gắng thẳng và bao quanhkhu vực cần bảo vệ

+ Vị trí xây dựng đê phải tương đối cao để giảm khối lượng đất đắp

+ Điều kiện địa chất công trình, thủy văn, địa chất thủy văn khu vực tuyến đê điqua phải bảo đảm

+ Nếu cần làm đường trên mặt đê thì đường và tuyến đê phải phù hợp với mạnglưới đường xung quanh

Trang 37

+ Cố gắng chọn tuyến hợp lý để sao cho ít phải di chuyển các công trình hiệntrạng [16]

b) Tôn cao nền xây dựng

Tôn cao nền xây dựng là tiến hành đắp đất lên bề mặt khu đất cần bảo vệ caohơn mực nước tính toán (theo thiết kế) của sông (hồ, biển) để khu đất không bịngập lụt Việc xác định đúng chiều cao lớp đất đắp là rất cần thiết Nó phụ thuộcvào:

- Mức độ quan trọng của khu đất cần bảo vệ

- Chế độ thủy văn của sông hồ

Biện pháp tôn cao nền xây dựng đảm bảo hiệu quả kinh tế cao khi chiều cao vàdiện tích đắp không lớn lắm ( h < 1,5÷2m) và đất có thể lấy ngay xung quanh đóhoặc dùng máy hút bùn dưới lòng sông, hồ mà đắp lên nền xây dựng Biện pháptôn cao nền xây dựng có ưu điểm là không lien quan đến các công trình phức tạpkhác Nhưng nhược điểm là giá thành cao vì mặt đất được đắp lên tối thiểu phảicao hơn mực nước tính toán ở sông với một độ cao dự trữ khoảng 0,5m và phảicao hơn mực nước ngầm khoảng 1,5÷2m (hoặc phải dùng biện pháp hạ mựcnước ngầm) Độ dốc nền tối thiểu phải phải đảm bảo 0,004÷0,005 để nước mặt

tự chảy Như vậy khối lượng đất đắp sẽ lớn Để giảm khối lượng đất đắp người

ta có thể chia thành nhiều mái dốc và tổ chức hệ thống thoát nước mặt ở chỗthấp [16]

Nếu khu đất cần đắp là dải ven sông dùng làm khu công viên, khu nghỉ mát…thì ta có thể xác định đường đỏ lùi vào xa bờ sông hơn, phần ngoài có thể bịngập, phần trong đường đỏ phải đảm bảo độ dốc để xây dựng công trình và thoátnước tự chảy

Trang 38

Qua phân tích trên ta thấy tôn cao nền xây dựng đơn giản, dễ thực hiện, nhưngphải có sự nghiên cứu tính toán để đạt được hiệu quả kinh tế cao, đồng thời đápứng được yêu cầu cảnh quan kiến trúc.

c) Tăng cường khả năng thoát nước của lòng sông

Tăng cường khả năng thoát nước của lòng sông bằng cách:

- Nạo vét bùn làm sạch đáy sông và trên dòng chảy; thu dọn các vật cản dòngchảy

- Đào sâu them lòng sông

- Mở rộng mặt cắt ngang của sông

Tất cả các công việc này nhằm khai thông dòng chảy và tăng khả năng thoátnước của sông Người ta còn gọi biện pháp này là điều chỉnh lòng sông Việcđiều chỉnh này phải thận trọng, phải phối hợp với những biện pháp kỹ thuật bảo

vệ nhằm không gây xói lở bờ sông và phá hoại sự cân bằng tự nhiên của sông

Sự thay đổi mặt cắt ngang và mặt cắt dọc sông thường gây ra những thay đổi lớn

về chế độ dòng chảy

Do vậy chỉ nên tiến hành điều chỉnh lòng sông trên những sông nhỏ có hiệntượng lắng phù sa, bùn cát và có nhiều vật cản trên sông, còn những sông lớn khimuốn dùng biện pháp này phải hết sức thận trọng [16]

d) Điều chỉnh dòng nước bằng biện pháp cắt bớt lưu lượng lũ

Lưu lượng nước trong mùa lũ thường lớn hơn lưu lượng nước cả năm củasông Do đó các lưu vực sông thường hay bị ngập lụt (do mực nước sông caohơn nền đất) Để giảm bớt lưu lượng nước, chống lại những trận lũ người ta tiếnhành cắt bớt phần lưu lượnglũ lớn nhất của sông trong thời kỳ lũ để tập trung vào

hồ chứa Trên sông chỉ cho qua phần lưu lượng không gây ra ngập lụt

Các hồ chứa thường bố trí ở chỗ thấp trũng và ở phía trên khu vực cần bảo vệ

Hồ chứa có thể bố trí ngay trên sông chính hoặc trên sông nhánh, thường nằm

Trang 39

ngoài phạp vi khu đất cần bảo vệ Các hồ chứa này có thể phục vụ cho nhu cầutưới tiêu các khu vực nông lâm nghiệp.

Biện pháp này không chỉ có hiệu quả cao để chống lũ lụt mà còn tạo lên cảnhquan kiến trúc, cải tạo điều kiện vi khí hậu cho đô thị [16]

2.2.3 Quy hoạch chiều cao và thoát nước mưa

a) Quy hoạch chiều cao

*) Khái niệm:

Quy hoạch chiều cao khu đất xây dựng đô thị là nghiên cứu giải quyết chiều cao nền xây dựng của các công trình, các bộ phận đất đai thành phố hợp lý nhất để thỏa mãn các yêu cầu về kỹ thuật và cảnh quan kiến trúc…[20]

*) Mục đích của quy hoạch chiều cao:

Mục đích của quy hoạch chiều cao là biến địa hình tự nhiên của khu đất đang ởdạng phức tạp thành những bề mặt hợp lý nhất nhằm đáp ứng các yêu cầu về kỹthuật xây dựng và quy hoạch kiến trúc Như vậy có nghĩa là trong thiết kế xâydựng đô thị cần phải thiết kế quy hoạch chiều cao, nhưng mức độ giải quyết thìcần phải nghiên cứu thận trọng và tùy thuộc vào hiện trạng địa hình và yêu cầuxây dựng cụ thể [20]

*) Các nguyên tắc thiết kế quy hoạch chiều cao

Nghiên cứ thiết kế quy hoạch chiều cao cho khu đất xây dựng cần phải tuânthủ các nguyên tắc sau:

- Triệt để lợi dụng địa hình tự nhiên, sử dụng đến mức tối đa những mặt tốt củađiều kiện tự nhiên, tận dụng hình dáng địa hình sẵn có, giữ lại những vùng câyxanh và các lớp đất màu nhằm mang lại hiệu quả cao về kiến trúc cảnh quan vàkinh tế Trong thực tế việc san lấp tạo mặt bằng chỉ nên thực hiện ở những khuvực có bố trí công trình xây dựng, các đường phố và sân bãi, còn những khu vựckhác nếu xét thấy có thể thì cố gẵng giữ nguyên hoặc cải tạo nhỏ

Trang 40

- Bảo đảm cân bằng đào đắp với khối lượng công tác đất ít nhất và cự ly vậnchuyển đất là ngắn nhất Nguyên tắc này đạt được hiệu quả kinh tế cao vì giáthành vận chuyển chiếm một tỷ trọng khá lớn trong công tác đất nói chung Do

đó phải thiết kế sao cho khối lượng công tác đất là nhỏ nhất và cố gắng cân bằngđào đắp trong cự lý ngắn nhất

- Thiết kế quy hoạch chiều cao phải được giải quyết trên toàn bộ đất đai đô thịhoặc trong khu đất xây dựng Phải tạo sự lien kết chặt chẽ về cao độ giữa các bộphận trong đô thị, làm nổi bật ý đồ kiến trúc và thuận lợi cho các yêu cầu kỹthuật khác

- Thiết kế quy hoạch chiều cao phải được tiến hành theo các giai đoạn và phảđảm bảo giai đoạn sau tuân thủ sự chỉ đạo của giai đoạn trước [20]

*) Các phương pháp thiết kế quy hoạch chiều cao

Các phương pháp thiết kế quy hoạch chiều cao phụ thuộc vào những điều kiệncủa địa hình tự nhiên và các giai đoạn thiết kế Trong thực tế, tùy theo đặc điểmcủa khu đất các phương pháp thường được sử dụng là:

- Phương pháp mặt cắt

- Phương pháp đường đồng mức thiết kế

- Phương pháp phối hợp [20]

*) Cao độ nền xây dựng tối thiểu của đô thị

Cao độ nền xây dựng tối thiểu của đô thị là cao độ thấp nhất cho phép của nền khu đất sử dụng cho mục đích xây dựng đô thị nhằm đảm bảo cho khu đất xây dựng không bị ngập nước.

Để xác định được cốt xây dựng tối thiểu của đô thị thì nhất thiết phải căn cứvào mức nước ngập của đô thị đó do mưa lũ gây ra Thực tế thì mưa lũ là hiệntượng tự nhiên không thể xác đinh trước được, người ta chỉ có thể tính toán lưu

Ngày đăng: 08/05/2016, 19:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2 Bảng đánh giá hiện trạng sử dụng đất - Nghiên cứu một số giải pháp chuẩn bị kỹ thuật nhằm phòng tránh ngập lụt trong QHXD khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 1.2 Bảng đánh giá hiện trạng sử dụng đất (Trang 11)
Bảng 1.3 Phân loại các nhóm thiên tai ở Thừa Thiên Huế - Nghiên cứu một số giải pháp chuẩn bị kỹ thuật nhằm phòng tránh ngập lụt trong QHXD khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 1.3 Phân loại các nhóm thiên tai ở Thừa Thiên Huế (Trang 17)
Hình 2.5  Sơ đồ quy hoạch không gian mang tính văn hóa [6] - Nghiên cứu một số giải pháp chuẩn bị kỹ thuật nhằm phòng tránh ngập lụt trong QHXD khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa Thiên Huế
i ̀nh 2.5 Sơ đồ quy hoạch không gian mang tính văn hóa [6] (Trang 51)
Hình 2.4  Sơ đồ mạng lưới không gian công cộng [6] - Nghiên cứu một số giải pháp chuẩn bị kỹ thuật nhằm phòng tránh ngập lụt trong QHXD khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa Thiên Huế
i ̀nh 2.4 Sơ đồ mạng lưới không gian công cộng [6] (Trang 51)
Bảng 3.3 Lưu lượng lũ tại các điểm trên sông Nước Ngọt (nguồn: tác giả) - Nghiên cứu một số giải pháp chuẩn bị kỹ thuật nhằm phòng tránh ngập lụt trong QHXD khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 3.3 Lưu lượng lũ tại các điểm trên sông Nước Ngọt (nguồn: tác giả) (Trang 75)
Bảng 3.5 Lưu lượng lũ tại các điểm trên sông Bù Lu (nguồn: tác giả) - Nghiên cứu một số giải pháp chuẩn bị kỹ thuật nhằm phòng tránh ngập lụt trong QHXD khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 3.5 Lưu lượng lũ tại các điểm trên sông Bù Lu (nguồn: tác giả) (Trang 76)
Bảng 3.6  Bảng tổng hợp các yếu tố thủy lực tạ các điểm trên sông Nước Ngọt (nguồn: tác giả) - Nghiên cứu một số giải pháp chuẩn bị kỹ thuật nhằm phòng tránh ngập lụt trong QHXD khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 3.6 Bảng tổng hợp các yếu tố thủy lực tạ các điểm trên sông Nước Ngọt (nguồn: tác giả) (Trang 79)
Bảng 3.7  Bảng tổng hợp các yếu tố thủy lực tại các điểm trên sông Thừa Lưu (nguồn: tác giả) - Nghiên cứu một số giải pháp chuẩn bị kỹ thuật nhằm phòng tránh ngập lụt trong QHXD khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 3.7 Bảng tổng hợp các yếu tố thủy lực tại các điểm trên sông Thừa Lưu (nguồn: tác giả) (Trang 79)
Bảng 3.8  Bảng tổng các yếu tố thủy lực tại các điểm trên sông Bù Lu (nguồn: - Nghiên cứu một số giải pháp chuẩn bị kỹ thuật nhằm phòng tránh ngập lụt trong QHXD khu đô thị Chân Mây, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 3.8 Bảng tổng các yếu tố thủy lực tại các điểm trên sông Bù Lu (nguồn: (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w