THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP Đề xuất những giải pháp cụ thể cho việc dạy – học chương trình Chuẩn rất cần sự chia sẻ những thuận lợi, khó khăn và những cách khắc phục kh
Trang 1SangKienKinhNghiem.org Tổng Hợp Hơn 1000 Sáng Kiến Kinh Nghiệm Chuẩn
VẬN DỤNG TÀI LIỆU CHUẨN KIẾN THƯC, KĨ NĂNG THIẾT
KẾ TIẾT ĐỌC – HIỂU VĂN HỌC VIỆT NAM
chuyên môn và các tổ chuyên môn Ngữ văn THPT trong tỉnh
Việc cụ thể hóa nhận thức về Chuẩn vào thiết kế bài dạy và tiến trình tổ
chức các hoạt động dạy – học trên lớp còn nhiều lúng túng càng phát lộ những mâu thuẫn ở không ít GV
Thống nhất việc thiết kế bài dạy – học môn Ngữ văn đã được HĐBM Ngữ văn đặt ra một cách cấp thiết Vì thế, chúng tôi tham gia vào việc giải quyết vấn
đề soạn và dạy Ngữ văn qua sáng kiến Vận dụng tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng
thiết kế tiết Đọc – hiểu văn học Việt Nam trong trường THPT
B THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Đề xuất những giải pháp cụ thể cho việc dạy – học chương trình Chuẩn rất
cần sự chia sẻ những thuận lợi, khó khăn và những cách khắc phục khó khăn của
+ Nội dung ngắn gọn, định hướng được trọng tâm, dễ nhớ, dễ truyền đạt, tạo
mối liên hệ giữa GV và HS tốt hơn Chuẩn bị thi tốt HS thực hành ở nhà nhiều hơn
+ Kiến thức hay, tạo sự đồng bộ, phát huy tích cực
+ Gọn sâu, phù hợp các đối tượng
+ GV không dạy quá tải
+ Bên cạnh đó, trong dự thảo, Bộ GD - ĐT hướng dẫn với những phần kiến
thức được điều chỉnh “không dạy” hoặc “đọc thêm”, những phần kiến thức không yêu cầu HS phải ghi nhớ, các trường không được tổ chức kiểm tra, đánh
V
Trang 2giá Những kiến thức đã lược bỏ cũng sẽ không có trong nội dung đề thi của các kì kiểm tra học kì, cuối năm, kì thi tốt nghiệp THPT…; phát huy chất xám của toàn ngành nhằm thực hiện giảm tải, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, tạo cơ sở quan trọng cho việc đổi mới chương trình – SGK phổ thông vào năm 2015; Tỉ lệ GV dạy có uy tín ngày càng cao, nhiều GV trẻ đã phát huy sở trường và sớm có uy tín trong trường, trong ngành GD – ĐT; Tâm huyết, đức
hi sinh của thầy cô giáo dạy Ngữ văn luôn dành cho các em HS, cho nghề dạy học
+ Thực tế trong chương trình hiện nay có những bài học nội dung ít nhưng dành thời gian nhiều, ngược lại có những bài nội dung nhiều nhưng thời gian
rất ít, vì vậy chủ trương giảm tải đã tháo gỡ được khó khăn này
2) Khó khăn
Thiết kế bài dạy theo Chuẩn có không ít bất lợi
Có những hạn chế khi lập kế hoạch bài dạy do chủ quan từ phía GV Một
số thầy cô giáo hiểu trách nhiệm cá nhân chưa thấu đáo; có những khó khăn từ phía cán bộ quản lí giáo dục; từ phía phân phối chương trình… Nhưng chung quy lại, những khó khăn từ nhiều nguyên nhân là có thực Xin nêu lại một vài thực trạng :
+ Một số GV thiếu tầm xác định và bám sát chuẩn tối thiểu, luôn thụ động
trong cách truyền thụ, không biết “đãi cát tìm vàng” ( ) Hậu quả là người học bị nhồi nhét kiến thức, luôn phải chịu áp lực quá tải
+ Có nhiều GV tích cực suy nghĩ, tìm tòi, cải tiến và đổi mới PPDH với nhiều
cách thức sáng tạo nhưng không được sự hưởng ứng vì đồng nghiệp sợ không sát đáp án thi… sinh ra bất lợi Khi đánh giá một tiết dạy người dự coi trọng tính bài bản của từng bước thực hiện ( Nội dung – nghệ thuật – ý nghĩa văn bản ) mà xem nhẹ khả năng sáng tạo của người dạy Kết cấu bài học theo kiểu kịch “tam duy nhất ( Nội dung – nghệ thuật – ý nghĩa văn bản ) phá vỡ nguyên tắc Đọc – hiểu văn bản nói chung, Đọc – hiểu văn bản theo loại thể nói riêng Thực tế để ứng xử với điều này GV an ủi nhau : dạy cho kịp giờ, tròn bài, đủ ý để an toàn Nhiều giờ đánh giá loại giỏi lại từ cái gọi là tiêu chí này Khoảng cách giữa GV có năng lực thật sự và GV kinh nghiệm còn khiêm tốn
vô hình trung bị xóa nhòa, rút ngắn
+ Khâu biên soạn SGK, phân phối khung chương trình THPT là do Vụ Trung
học quyết định, khâu ra đề thi lại do Cục Khảo thí làm Hai khâu này dường như vẫn chưa tìm được tiếng nói chung”
+ GV chỉ dừng lại ở việc trình bày những kiến thức đơn giản, tối thiểu ( mà
HS dễ dàng tự học ) thì dễ gây hiện tượng nhàm chán, chủ quan ở HS
+ Khái niệm “quá tải” không được diễn giải một cách rõ ràng, nếu không
muốn nói là còn mơ hồ
+ Học Chuẩn không học SGK cũng không đủ, ngược lại học SGK cũng sợ
thiếu kiến thức Nói gì ? Bỏ gì ? Cho ghi thế nào là đủ kiến thức ? Theo chuẩn không thực sự an tâm Khổ vì Chuẩn và sách “đá”nhau
+ Bài soạn theo chuẩn không đủ kiến thức cho HS thi TN THPT
Trang 3+ Sự cố “lệch pha” giữa đáp án và hướng dẫn ôn tập của Bộ Thí sinh trả lời
theo chuẩn đã bị thiếu đơn vị kiến thức trong khi Bộ GD - ĐT yêu cầu GV không “quá lệ thuộc vào SGK” ( mà phải “bám sát Chuẩn kiến thức, kĩ năng” ) Vẫn còn đó nỗi ám ảnh của GV và HS
- Hiện nay, GV dạy Ngữ văn có những bức xúc trong việc thực hiện
chương trình Chuẩn kiến thức, kĩ năng
Bộ GD-ĐT yêu cầu GV bám sát “Chuẩn kiến thức - kĩ năng”, “không quá
lệ thuộc vào SGK” Vậy thế nào là “quá lệ thuộc vào SGK”, trong khi Luật Giáo
dục 2005 đã quy định “Yêu cầu về nội dung kiến thức và kĩ năng quy định trong
chương trình giáo dục phải được cụ thể hóa thành SGK ở giáo dục phổ thông” (
khoản 3, điều 6 )
- Nhiều GV không đồng tình tên gọi của bộ tài liệu này : Đã gọi là tài liệu
Chuẩn, nội dung, kiến thức biên soạn trong đó phải đạt đến độ hoàn hảo, chính xác Những gì trong tài liệu này lại cho thấy chưa đúng như tên gọi thật
sự của nó Thậm chí, GV còn dùng các kiến thức của SGV và nhiều tài liệu
khác để nhặt lỗi và sửa sai cho sách Chuẩn
đó là cơ sở thực tiễn của vấn đề
C NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
I- Cơ sở lí luận
- Chuẩn là những yêu cầu, tiêu chí (gọi chung là yêu cầu) tuân theo những
nguyên tắc nhất định, được dùng để làm thước đo đánh giá hoạt động, công
việc, sản phẩm của lĩnh vực nào đó Đạt được những yêu cầu của Chuẩn là đạt
được mục tiêu, mong muốn của thầy cô giáo
Một trong những lí do khiến GV chưa hiểu về Chuẩn là GV không đọc kĩ
Giới thiệu chung về Chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình giáo dục phổ
thông ở những trang đầu mỗi cuốn tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức
kĩ năng, dẫn đến điều từng được kì vọng thành điều bất an Theo ông Vũ Đình
Chuẩn, Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông, Bộ GD – ĐT thì mục đích của việc
giảm tải lần này là cắt giảm các nội dung quá khó, trùng lặp, chưa thật sự cần thiết đối với học sinh cũng như các câu hỏi, bài tập, đòi hỏi phải khai thác quá sâu kiến thức lý thuyết, để giáo viên và học sinh dành thời gian cho các nội dung khác nhau Tạo thêm điều kiện cho giáo viên đổi mới phương
Trang 4pháp dạy học theo yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông năm học 2011 –
2012 Các Sở sẽ triển khai nội dung tới các trường và hướng dẫn GV thực hiện
Để đảm bảo chương trình, Bộ sẽ phối hợp với các Sở kiểm tra, đánh giá Những phần nào không dạy, đọc thêm sẽ không nằm trong chương trình kiểm tra”
Như vậy, trọng tâm giảm tải đã được lưu ý, ghi chú, sửa chữa, loại bỏ những kiến thức những sai sót, dư thừa trong SGK phát hành trước 2011 GV chỉ cần đối chiếu và thực hiện đúng hướng dẫn để đảm bảo tính thống nhất của chủ trương
- Quan điểm của lãnh đạo ngành giáo dục và các nhà nghiên cứu,
chương trình Chuẩn kiến thức, kĩ năng
- Quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông, ban hành theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ GD -
ĐT Đó là những “ Yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của môn
học, hoạt động giáo dục mà HS cần phải và có thể đạt được…”; “ là cơ sở để biên soạn SGK, quản lí dạy học, đánh giá kết quả giáo dục ở từng môn học và hoạt động giáo dục…” Bộ GD-ĐT không hề chỉ đạo GV phải dạy hết những
nội dung trong SGK, mà cả việc dạy học cũng như kiểm tra, đánh giá đều phải bám sát chương trình Tình trạng GV dạy ôm đồm tất cả những gì ở SGK là do
GV chưa hiểu sâu yêu cầu chương trình, do chất lượng tập huấn GV dạy chương trình mới không đạt hiệu quả và cán bộ quản lí giáo dục các cấp không hướng dẫn rõ ràng, cụ thể cho GV khi triển khai chương trình - SGK mới GV hiểu chưa đúng thì HS cũng như vậy
- Quan điểm giảm tải nêu trên đã định hướng tổng quát về phương
ta đã xây dựng chương trình và viết SGK theo cả ba mức Chuẩn Chúng ta dạy học và kiểm tra đánh giá cũng kết hợp cả ba mức Chuẩn Tùy từng vùng miền, tùy từng lớp học cụ thể, người GV sử dụng phối hợp tỉ lệ ba mức Chuẩn đó sao
cho hiệu quả nhất
Để thực hiện định hướng giảm tải, bản thân GV phải cụ thể hoá, chi tiết hoá, tường minh hoá những nội dung, những căn cứ để dạy học, kiểm tra, đánh
giá chất lượng Phải biết dừng, lướt qua một số đơn vị trí thức và kĩ năng HS đã
thật sự thông hiểu để mở rộng, nâng cao…
Giảng dạy là một nghệ thuật hợp tác GV không cung cấp, nhồi nhét kiến thức có sẵn cho HS mà phải hình dung trước công việc mà thầy cô giáo sẽ tổ chức cho HS học tập trên lớp Điều đó chứng tỏ thầy mới thật sự là “sư”, trò mới được tôn trọng… , hiệu quả tiết dạy mới phát huy tính tích cực
Cần phối hợp các phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học ( HĐBM Ngữ văn Đồng Nai đã hướng dẫn kĩ )… Khai thác sâu phương pháp bình văn,
Trang 5thảo luận nhóm và nêu vấn đề… nhằm phát huy cao nhất phương pháp chủ động, tích cực
II Nội dung và giải pháp cụ thể
1) Xác định đúng mục tiêu bài học
Căn cứ vào Chuẩn kiến thức đã định hướng Ngoài ra cần bổ sung mục tiêu bài dạy – học qua tích hợp giáo dục (KNS, bảo vệ môi trường, giới tính…); tích hợp ba phân môn : Tiếng Việt – Làm văn – Văn học) Tùy từng bài để khéo
léo chọn lựa nội dung tích hợp Mũi tên bắn không trúng đích thường đi xa hơn đích; Bài dạy thường kéo dài nếu mục đích xác định không sát hợp
Mở đầu tiết dạy, GV hỏi HS : Chúng ta học bài hôm nay để đạt được điều
gì ? GV giúp HS phải trả lời được điều này
Khi tự học, HS có thói quen suy nghĩ về mục tiêu bài học để các em xác định được nội dung, cách học bài…
2) GV phải hiểu và cảm bài dạy - học thật sâu
Hiểu đời và hiểu người, có kiến thức thực tế phong phú, chúng ta sẽ dễ dàng thuyết phục HS hơn
Với tư cách bạn đọc, nhất là với tư cách người dạy GV phải sống với tác phẩm bằng toàn bộ tâm hồn, bằng toàn bộ sự hiểu biết của mình qua đó cảm nhận được cái thông điệp thẩm mĩ - ý đồ sáng tạo của nghệ sĩmà nghệ sĩ muốn
gửi đến cho độc giả Chỉ có hiểu biết mới gợi được hiểu biết, chỉ có tình yêu mới
gợi được tình yêu
3) Vai trò của người thầy trong việc dạy học theo phương pháp tích
cực:
Vai trò của GV vô cùng quan trọng trong sự nghiệp đổi mới giáo dục Đó
là vai trò đạo diễn, mặt khác phải quán triệt rõ ý nghĩa của việc dạy học vì bản
chất của dạy học là dạy người khác, hướng dẫn người khác học cái gì và học như thế nào cho có hiệu quả Hơn bao giờ hết, người GV rất cần : phải trang bị
kiến thức và các kĩ năng quản lí chất lượng dạy học như: soạn bài – lên lớp –
chấm bài, đánh giá kết quả học tập của HS – rút kinh nghiệm, cải tiến phương pháp dạy học… theo một lịch trình, hợp lí và hiệu quả Từ đó, họ mới thực sự
trở thành “lực lượng quyết định chất lượng giáo dục” của nhóm, tổ bộ môn, của từng trường học, và rộng hơn, của cả nền giáo dục
Bên cạnh tri thức sâu rộng, người GV ngày nay, khi chuẩn bị cho giờ lên
lớp ở các khâu: soạn bài, nhất thiết phải thiết kế, lựa chọn, tổ chức sắp xếp nội
dung kiến thức và hệ thống phương pháp dạy học sao cho vừa tuân thủ tính chặt
chẽ và logic của tri thức khoa học, vừa đạt những yêu cầu sư phạm phù hợp với các quy luật dạy học và quy luật nhận thức của HS; khi dạy học trên lớp lại phải
tổ chức, thiết kế các tình huống hoạt động giữa thày và trò, tổ chức, điều hành, hướng dẫn, khích lệ, động viên các hoạt động của HS một cách sinh động sao cho các em được làm việc tích cực, được nghĩ, được nói, được thể hiện khả năng
và bản sắc riêng của mình, được tạo nhiều cơ hội nhằm phát triển việc học của
họ
Trang 6Tiến trình đổi mới phương pháp dạy học ngày nay đòi hỏi người GV còn phải kết hợp sử dụng các phương tiện, thiết bị, giáo dục hỗ trợ cho phương pháp dạy học của mình, tổ chức các hình thức, biện pháp kiểm tra nhằm nắm vững kết quả học tập, tu dưỡng Từ đó, đánh giá đúng chất lượng học tập của HS mình dạy, còn phải phát hiện những điểm mạnh, yếu trong cả việc dạy của mình để đề xuất những cải tiến và chương trình rèn luyện
Không cho phép bản thân mình là nguồn tri thức để nhồi vào tâm trí hồn
nhiên của HS GV lâu năm đã từng phát biểu : Thức dậy khát vọng học trò
trong những giờ giảng văn là tạo ra bầu không khí văn chương Đó là một bầu không khí cởi mở dân chủ, bầu không khí đối thoại Bước vào giờ giảng là bước vào một không khí được sẻ chia, được trao đổi, tâm tư, ở đó, thầy và trò bình đẳng với nhau trong quá trình khám phá và sáng tạo Mọi áp đặt, mọi thiên kiến chủ quan, mọi bài xích và thoá mạ sẽ giết chết không khí văn chương Bao nhiêu năm đi dạy, chúng tôi đã kiên nhẫn, đã khuyến khích để lắng nghe được ý kiến từ học trò Một câu hỏi đúng lúc, đúng chỗ, vừa sức; một ánh mắt thiện cảm, một lời động viên khích lệ, một sự chờ đợi không nôn nóng, một sự tranh thủ thêm nhiều ý kiến, một giả định, một nhận xét thoả đáng, đó là những gì ngoài văn chương hết sức cần thiết để nhen lên khát vọng từ học trò vốn dĩ đã nguội lạnh
Văn chương hấp dẫn người đọc bởi tính hình tượng, tính gợi hình gợi cảm của nó Dạy đúng chưa phải là cái đích của môn văn mà còn phải dạy sao cho
có hồn, cho sinh động, cho hay
4) Vấn đề tiến trình tổ chức hoạt động của thầy và trò
Việc thực hiện các bước lên lớp phải thật mềm dẻo Không nhất nhất phải
là 5 bước và phải theo đúng trình tự có tính chất truyền thống
Kiểm tra bài cũ đồng thời kiểm tra việc chuẩn bị bài mới Với lớp yếu, việc kiểm tra bài cũ đầu giờ đối với HS không thuộc bài, thầy bực mình la mắng…
trò hồn kinh phách lạc, giờ học không thể thực hiện theo hướng Vui để học mà
chỉ là nghĩa vụ phải dạy và nghĩa vụ phải học Có thể kiểm tra đan xen vào quá trình dạy một cách khéo léo; có thể kiểm tra vào cuối giờ học
Khi hướng dẫn HS học tại nhà, GV cần gợi ý cách tìm hiểu, phát hiện vấn
đề song song với yêu cầu nắm các đơn vị kiến thức
Ngay cả việc thực hiện từng bước cũng phải linh hoạt về hình thức tổ chức và dung luợng kiến thức truyền thụ vì chương trình và SGK mới đã được thiết kế theo lối dạy và học "động"
5) Tìm hiểu chung cần tinh giản, linh hoạt, có không khí văn chương
Không chờ tới bước Đọc - hiểu văn bản mới thể hiện điều này Giới thiệu tác giả, sách Chuẩn kiến thức, kĩ năng nhấn mạnh ở yếu tố con người và vị trí của tác giả Đó là ý đồ của người viết sách ( Xem lại quan niệm về Chuẩn ) GV không nên cho rằng người viết sách chưa viết đủ kiến thức Phần tiểu sử, con
người; Quan điểm sáng tác; sự nghiệp sáng tác; phong cách tác giả đã có trong tiểu dẫn – sách HS, sách GV, tư liệu tham khảo của thầy cô giáo Theo chúng
tôi, hoạt động này nên tạo điều kiện cho HS thể hiện dưới sự điều khiển của
Trang 7thầy cô giáo HS ghi chép kết hợp gạch chân bằng bút đỏ vào sách GV cần gợi dẫn cho HS
Ví dụ : Tại sao tác giả lại viết văn lãng mạn mà không viết văn hiện thực ? Yếu tố nào thuộc tiểu sử, con người tác giả có tác động tích cực cho việc ra đời tác phẩm (mối quan hệ của các yếu tố quê hương, gia đình, bản thân) Không đặt vấn đề này HS không chịu động não
Phần giới thiệu – phân tích khái quát tác phẩm cần
Xác định thể loại ( Nhận diện đặc điểm thể loại, phân tích vai trò và tác
dụng của thể loại ) Không bỏ sót, không cho là dễ mà lướt qua Tác giả chọn thể
loại không hề ngẫu nhiên GV không nên cho rằng giảm tải thì muốn cắt xén kiến thức thế nào thì cắt
Việc đọc tác phẩm cần hướng dẫn về âm hưởng, tiết tấu và giải thích từ khó, từ có vai trò ngữ pháp nòng cốt, từ Hán – Việt, điển tích, điển cố, hư từ…
có nhiều ý nghĩa trong biểu hiện Giải nghĩa từ và nhóm từ giúp HS mạnh dạn khai thác nghĩa văn cảnh, mạnh dạn phát biểu cảm nhận ngôn từ…
Tìm bố cục của văn bản trong phạm vi nhà trường là cần thiết ( Khác phân tích văn học ngoài nhà trường ) Ví dụ tìm bố cục cho bài thơ trữ tình GV hỏi
HS bài thơ có mấy chặng cảm xúc chính.?
6) Đặc biệt là buớc Đọc – hiểu ( phần phân tích trực tiếp tác phẩm )
GV và HS phải đi sâu vào xác định và phân tích các tín hiệu thẩm mĩ của văn bản văn học bằng một hệ thống câu hỏi
Dạy chuẩn kiến thức, kĩ năng càng phải biết đặt câu hỏi Cũng như việc
thiết lập hệ thống câu hỏi trước khi có chương trình Chuẩn, tránh hỏi để hỏi hay hỏi nhiều câu tái hiện khiến HS tri nhiều mà thức ít Câu hỏi hay là kết quả của
khoa học, nghệ thuật và sư phạm Chú trọng câu hỏi có tính chất vừa sức lại có
sự tạo sức; Câu hỏi trên lớp có quan hệ với câu hỏi trong SGK và trong Thiết kế
… của GV Câu hỏi còn phải phong phú và hấp dẫn và có vấn đề… Hỏi hướng vào các yếu tố của văn bản, yếu tố ngoài văn bản và hỏi về vai trò của người
tiếp nhận Hỏi là quyền, biết hỏi là biến Hỏi là thứ quyền biến trong tay người
thầy
7) Vấn đề bình văn
Cần chủ động bình cái gì, bình như thế nào, kết hợp với giảng ra sao thì mới khai thác cái hay, cái đẹp của nội dung, của nghệ thuật và mối quan hệ giữa nội dung và nghệ thuật HS có hứng thú hay không phụ thuộc vào phương pháp này rất nhiều Qua bình văn các em có hạnh phúc trí tuệ, hạnh phúc thẩm mĩ và biết vận dụng diễn đạt – hành văn khi nói – viết
8) Vấn đề ghi bảng và trình bày thiết kế bài dạy – học
Ví dụ :
1/- Phố huyện lúc chiều tàn
Chiều êm như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng…
Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị… mùi ẩm bốc lên Mấy đứa trẻ con nhà nghèo lom khom nhặt nhạnh…
Mẹ con chị tí dọn hàng
Trang 8 Ngọn đèn Hoa kì vặn nhỏ, leo lét
Sau đó ta phân tích và khái quát bức tranh thiên nhiên; Cách miêu tả ( Nghệ thuật ) => Ý nghĩa phản ánh
Còn ý nghĩa biểu hiện là vấn đề trao đổi và HS tự ghi HS biết cách dạy của
thầy sẽ biết cách ghi bài
(…)
Chúng tôi chia sẻ với tác giả viết Chuẩn kiến thức, kĩ năng ở cách trình bày ( Nội dung - hình thức – ý nghĩa văn bản ) : Vì mục đích đưa ra kiến thức tối thiểu cho HS cấp THPT nên không yêu cầu cao Vì thế, GV cứ nghĩ Chuẩn
kiến thức, kĩ năng là giáo án – Giáo án thì phải kĩ lưỡng cả về nội dung cần đạt,
hoạt động từng phần GV không nhìn thấy khi viết sách tác giả phải thỏa mãn nhiều giới hạn nên cần có kiến thức vừa khách quan, vừa trung dung Và vì thế
ghi theo cấu trúc : Nội dung – Nghệ thuật – Ý nghĩa văn bản để khái quát các
kiến thức
Chúng tôi không chấp nhận khi dạy học lại trói cột GV theo cấu trúc đó,
bởi đứng ở góc độ chuyên môn cấu trúc đó hoàn toàn không khả thi Có chăng chỉ phù hợp với định hướng chuẩn hay ôn tập kiến thức Đó không phải là Thiết
kế của người dạy Nên chăng có thể ghi: Tìm hiểu chung – Đọc hiểu văn bản –
Ghi nhớ
9) Vấn đề đánh giá giờ dạy của GV
Đánh giá hoạt động dạy học không chỉ đánh giá thành tích học tập của HS,
mà còn đánh giá cả quá trình dạy học nhằm cải tiến hoạt động dạy học
Một đến hai tiết dự giờ đánh giá cả quá trình một năm học hoặc hơn thế nữa Vì vậy cần hướng vào tính hiệu quả, nghiệp vụ sư phạm ( Xử lí tình huống ) Một giờ dạy không có hồn nhưng đúng giờ là kém ý nghĩa, nhưng thực tế người dự giờ thường đánh giá cao Trên phiếu đánh giá không thể hiện sự mềm hóa trong đánh giá – nặng về định lượng, nảy sinh sự thiếu công bằng, thiếu thân ái Cũng cần phải công nhận rằng : Tiến hành giờ dạy hoàn hảo cả về kiến thức, kĩ năng, tạo dấu ấn… và đúng thời gian … thì quá tuyệt vời
10) Vấn đề kiểm tra, đánh giá HS
Kiểm tra đánh giá được quan niệm là việc học tập dưới hình thức mới hay
là cách để điểu chỉnh dạy và học… Nói cách khác đó là khâu kiểm soát các yếu
tố đầu ra của quá trình dạy – học Kiểm tra để rút kinh nghiệm lần sau tốt hơn Kiểm tra thường xuyên và định kì theo hướng vừa đánh giá được đúng Chuẩn kiến thức, kĩ năng, vừa có khả năng phân hoá cao ; kiểm tra kiến thức, kĩ năng cơ bản, năng lực vận dụng kiến thức của người học, thay vì chỉ kiểm tra học thuộc lòng, nhớ máy móc kiến thức
GV không tự trói cột mình vào hệ thống câu hỏi và bài tập trong tài liệu
Chuẩn kiến thức, kĩ năng - đã giảm tải, rồi khen chê thiên về sự chủ quan Thầy
cô là nhà sư phạm, nhà nghiên cứu khoa học, nhà tâm lí, ngừơi dạy nghệ thuật
Trang 9phải bổ sung bài tập sau tiết dạy tùy trình độ của đối tác – HS, tùy vùng miền… Thêm một lần nữa, chúng tôi muốn nhắc lại : Đơn vị kiến thức đã tối thiểu thì đừng để thiếu, còn mức độ kiến thức mở rộng, đào sâu… là tùy GV – HS Quả thật HS đã giỏi có thể các em viết chuyên đề đuợc chứ không chỉ trả lời câu hỏi củng cố, mở rộng và nâng cao
11) Vấn đề giáo dục tư tuởng
Vấn đề giáo dục tư tuởng đan xen trong quá trình dạy học Kết hợp khi khai thác thông điệp của tác giả qua chi tiết tiêu biểu, qua điểm sáng nghệ thuật… Không biến cách liên hệ - rút ra bài học theo một công thức Giáo dục tư tưởng của giờ văn khác với giờ giáo dục công dân Vốn dĩ văn chương là nghệ thuật Giáo dục không khéo sẽ tạo sự phản cảm
Ví dụ : Dạy bài Mộ - Hồ Chí Minh trong lúc cả dân tộc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, cần nhận thức : Bác – nhân vật trữ tình trong bài
thơ quả là bậc trí nhân mới có thể quên đi những nỗi đau khổ tột độ của riêng mình để trìu mến từng cánh chim trời, từng đám mây trôi, để nặng tình thương cho một kiếp sống cần lao, hay còn vĩ đại hơn nữa nếu được hiểu rằng – để chia
sẻ với những niềm vui rất đỗi bình thường của người dân mà Bác không hề quen biết…
Biết rằng nói thì dễ, làm thì khó nhưng không khởi động thì sao có chuyển động, chuyển động tích cực Hi vọng gieo lúa thì gặt lúa ( đôi khi phải gặt cỏ ) nhưng gieo cỏ thì không thể gặt lúa
D- KẾT QUẢ THỰC HIỆN
1 HS có học lực trung bình tự tin hơn khi học môn Ngữ văn Thậm chí còn thuộc cả bài dạy và làm được nhiều câu hỏi và bài tập HS khá đã tăng lên kể
cả lớp học yếu
2 Tổ bộ môn Văn không phải bàn luận quá nhiều về việc dạy cái gì ? và dạy
như thế nào cho đúng Chuẩn
3 Việc thi cử đã sát với trọng tâm hơn Công bằng, khách quan hơn
4 Ban giám hiệu bớt phần lo lắng về chất lượng bộ môn
E- BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1 Phải đọc tài liệu Chuẩn thật kĩ mới thực sự hiểu tầm khái quát vấn đề của người viết tài liệu Qua đó thấy độ hàm súc của vấn đề
2 HS sẽ phải chuẩn bị kĩ trước khi học trên lớp vì chủ quan sẽ không cụ thể hóa được bài học GV cũng không thể chủ quan vì thấy bài ghi trong tài liệu ngắn, bởi làm cho bài dạy có chiều sâu và sôi nổi không đơn giản
3 Nên soan bài từ dịp hè mỗi năm may ra mới kịp tiến độ Nước ngoài họ
cũng làm như vậy
4 Trước khi có tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN môn Ngữ văn, GV thường dựa trên hai nguồn chủ yếu sau để xác định mục tiêu bài học : Kết
Trang 10quả cần đạt trong SGK và Mục tiêu bài học trong Sách Giáo viên Nay, khi
đã có tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN môn Ngữ văn, GV cần dựa vào phần Mức độ cần đạt và Trọng tâm kiến thức kĩ năng của tài liệu
này (có đối chiếu với các nguồn trong SGV và SGK) để xác định mục tiêu bài học, tiết học
5 Nhìn chung, giữa các tài liệu này không có sự mâu thuẫn nào cả Tài liệu
Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN môn Ngữ văn cũng được biên soạn trên
cơ sở CT GDPT môn Ngữ văn và đã có đối chiếu, thống nhất với SGK và
SGV Trong trường hợp có sự vênh lệch nhất định nào đó thì Hướng
dẫn thực hiện chuẩn KT-KN môn Ngữ văn chính là căn cứ pháp lý cuối
cùng mà người GV cần phải dựa vào để xác định mục tiêu tiết học, bài học
6 Cũng giống như trên, trước khi tài liệu Hướng dẫn thực hiện Chuẩn
KT-KN môn Ngữ văn ra đời, nhiều GV và cán bộ chỉ đạo chuyên môn chủ yếu
dựa vào phần Trọng tâm bài học (SGV) và Ghi nhớ (SGK) để xác định và
thống nhất những KT-KN căn bản, tối thiểu của bài học, tiết học Tuy nhiên, nội dung KT-KN được trình bày ở các tài liệu trên cũng rất khái quát, gây không ít khó khăn cho GV nhất là khi phải minh định thật chi tiết các đơn vị kiến thức của bài học
7 Sự ra đời của cuốn Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN môn Ngữ văn
giúp GV giải quyết vướng mắc đó, song cũng đòi hỏi người sử dụng phải khai thác tài liệu này thật sự khoa học và sáng tạo Một mặt, cần bám sát
Chuẩn KT-KN, nhất là các mục II Trọng tâm KT-KN và III Hướng dẫn
thực hiện để thiết kế dạy học nhằm đạt được các yêu cầu cơ bản, tối thiểu
của giờ học, tránh lệ thuộc hoàn toàn vào SGK hay cố dạy hết toàn bộ nội dung mà SGV nêu ra dẫn đến thiếu thời gian, quá tải, nặng về thuyết trình Mặt khác, cần căn cứ vào khả năng tiếp thu của HS, vào mục tiêu bồi dưỡng HS năng khiếu để điều chỉnh, bổ sung, dạy vượt chuẩn, trên chuẩn, chứ không cứng nhắc và máy móc chỉ dừng lại ở chuẩn
8 Chuẩn KT-KN, trước hết là “đề cương chi tiết” để người GV xuất phát từ
đó xác định các tri thức cụ thể trong SGK hoặc trong các tài liệu tham khảo Nói cách khác, việc khai thác tri thức nào của bài học trong SGK hay trong tài liệu tham khảo là dựa trên các đơn vị kiến thức đã được nêu ra trong
Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN môn Ngữ văn
F- KẾT LUẬN
1 Để dạy và học theo Chuẩn HS phải làm việc nhiều hơn, nhất định phải
nghiên cứu trước các dữ liệu, từ đó các em tự rút ra kiến thức cho mình
2 GV còn phải nghiên cứu tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN môn
Ngữ văn để xác định những phạm vi KT-KN mà HS cần phải đạt được sau
tiết học Điều này có nghĩa là trong hồ sơ dạy học của mình, kể từ bây giờ, người GV có thêm một công cụ thường trực và đắc lực giúp cho việc dạy học một cách hiệu quả Về phía cơ quan chỉ đạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ chỉ đạo các bộ phận chức năng, NXB Giáo dục nhanh chóng in và phát