Email Văn bản Video Nhắn tin Điện thoại hình Fax giá thấp Đo từ xa Truyền lệnh từ xa Truyền số liệu Điện thoại v"tuyến Data Faxcimile Telex Điện thoại Điện báo B-ISDN HDTV Thông b
Trang 1Thứ nhất là do cuộc cách mạng công nghệ thông tin theo hướng phù hợp với
nhu cầu của thị trường nhằm tạo ra các dịch vụ chất lượng tốt hơn, tiện hơn với giá thành rẻ hơn
Thứ hai là sự thay đổi trong môi trường kinh doanh của các nhà khai thác viễn
thông nói riêng và sức ép phát triển của tiến trình tự do hóa thương mại toàn cầu
Cuộc cách mạng trong lĩnh vực công nghệ thông tin đang diễn ra với tốc độ rất nhanh với sự ra đời của nhiều công nghệ mới, các ứng dụng mới, các dịch vụ và sản phẩm mới Từ đó làm phát sinh xu thế hội tụ của công nghệ viễn thông, phát thanh truyền hình và tin học Các hệ thống viễn thông ngày nay được phổ biến rộng rãi qua việc tăng trưởng nhanh của các mạng thông minh và các mạng thông tin máy tính tốc
độ cao Các mạng lưới hiện đại, cập nhật có đủ khả năng truyền các tín hiệu thoại, văn bản, dữ liệu, hình ảnh tĩnh và động đến bất cứ nơi nào trên thế giới Cuộc cách mạng trong lĩnh vực công nghệ thông tin đang làm chuyển biến toàn bộ thế giới, đưa nhân loại bước vào kỷ nguyên mới: kỷ nguyên của “Nền kinh tế thông tin - The Global Information Economy" hay là "Xã hội thông tin - The Global Information Society”
Viễn thông không chỉ đơn thuần là phương tiện, môi trường truyền tin, mà nó luôn giữ vai trò kép:
Thứ nhất bản thân viễn thông là những sản phẩm và dịch vụ thương mại
Thứ hai quan trọng hơn, nó là môi trường thuận lợi để thực hiện việc trao đổi
các sản phẩm và dịch vụ khác
Việc định hướng phát triển xây dựng và mở rộng mạng lưới là một vấn đề cần thiết và rất khó khăn nhất là khi chúng ta đang ở giai đoạn phát triển như vũ bão cả về công nghệ lẫn dịch vụ
Trang 2Điện thoại
Điện báo
Điện thoại v"tuyến Data Faxcimile Telex
Điện thoại
Điện báo
áp dụng ISDN Ngân hàng tại nhà
Điện thoại thẻ
Điện thoại miễn phí
Voice bank Biểu quyết từ xa
Tự động phân phối cuộc gọi
Email Văn bản Video Nhắn tin
Điện thoại hình Fax giá thấp
Đo từ xa Truyền lệnh từ xa Truyền số liệu
Điện thoại v"tuyến Data
Faxcimile Telex
Điện thoại
Điện báo
B-ISDN HDTV Thông báo Vi deo Video tương tác Dịch vụ đa phương tiện
Tự dịch ngoại ngữ
Điện thoại bỏ túi Phân biệt tiếng nói Truyền số trực tiếp
Điện thoại di động số Mạng thông tin cá nhân Nhắn tin quốc tế Mua hàng từ xa
Đặt báo tại nhà Chuyển thư từ xa Fax màu
áp dụng ISDN Ngân hàng tại nhà
Email Văn bản Video Nhắn tin
Điện thoại hình Fax giá thấp
Đo từ xa Truyền lệnh từ xa Truyền số liệu
Điện thoại v"tuyến Data
Faxcimile Telex
13.1.1 Sự phát triển các dịch vụ viễn thông nói chung và dịch
vụ thông tin đường sắt
a) Sự phát triển các dịch vụ viễn thông nói chung
Hình 13.1: Xu hướng xuất hiện của các loại hình dịch vụ
Trang 3Trong tương lai nhu cầu dịch vụ của khách hàng sẽ ngày càng đa dạng và phong phú Sẽ có nhiều loại hình dịch vụ mới bên cạnh các dịch vụ truyền thống Đó có thể là: dịch vụ thoại và phi thoại; dịch vụ tải tin, dịch vụ viễn thông và dịch vụ bổ sung; dịch vụ băng hẹp và dịch vụ băng rộng; dịch vụ băng tần theo yêu cầu; dịch vụ quảng bá và dịch vụ tương tác
Có thể tóm tắt sự xuất hiện các loại hình dịch vụ theo thời gian như hình vẽ: (Xu hướng xuất hiện các dịch vụ viễn thông theo thời gian)
Cùng với sự đa dạng của dịch vụ thì kèm theo nó là nhu cầu đối với việc phân bố băng tần và tốc độ truyền dẫn cũng hết sức khác nhau Do vậy cần tạo cho mạng khả năng thích ứng linh hoạt và mềm dẻo đối với mọi loại hình dịch vụ, đó chính là mục tiêu của việc triển khai ISDN và tiến tới B- ISDN
Cũng có thể chia loại hình dịch vụ theo từng loại khách hàng Từ đó thấy được nét đặc thù, nét chung cho từng nhóm đối tượng để phân tích, tìm hiểu nhu cầu và đưa
ra chiến lược thích hợp Xét một cách khái quát nhất thì có thể chia khách hàng thành 3 nhóm: dân cư, công cộng và hành chính thương mại với nhu cầu dịch vụ viễn thông như sau: Trong tương lai nhu cầu dịch vụ của khách hàng sẽ ngày càng đa dạng và phong phú Sẽ có nhiều loại hình dịch vụ mới bên cạnh các dịch vụ truyền thống Đó
có thể là: dịch vụ thoại và phi thoại; dịch vụ tải tin, dịch vụ viễn thông và dịch vụ bổ sung; dịch vụ băng hẹp và dịch vụ băng rộng; dịch vụ băng tần theo yêu cầu; dịch vụ quảng bá và dịch vụ tương tác
Có thể tóm tắt sự xuất hiện các loại hình dịch vụ theo thời gian như hình vẽ: (Xu hướng xuất hiện các dịch vụ viễn thông theo thời gian)
b) Sự phát triển các dịch vụ viễn thông trong đường sắt
Trong hệ thống đường sắt, mạng thông tin cần được sử dụng để đảm bảo:
- Trao đổi thông tin tiếng nói và số liệu giữa bộ phận trực tiếp điều hành chạy tàu (trung tâm điều độ) với người sử dụng trực tiếp các thiết bị kỹ thuật dùng để tổ chức chạy tàu tại các ga (trực ban ga), cũng như với lái máy và trưởng tàu cùng nhân viên trên các đoàn tàu các mệnh lệnh về điều khiển chạy tàu
- Trao đổi thông tin tiếng nói và số liệu giữa trực ban ga và các chức danh liên quan đến tổ chức và đảm bảo an toàn chạy tầu trong khu ga như gác ghi, chắn
- Trao đổi thông tin tiếng nói và số liệu về đặt chỗ và bán vé giữa các nhà ga và trung tâm bán vé liên quan
- Trao đổi thông tin tiếng nói và số liệu giữa các bộ phận trong những đơn vị chuyên môn liên quan đến việc cung cấp và bảo dưỡng sức kéo, năng lượng, toa
xe, cầu đường, thông tin tín hiệu, dịch vụ, an ninh
- Trao đổi thông tin hành chính (không liên quan trực tiếp đến việc tổ chức chạy tàu) giữa thành viên của những đơn vị trong ngành
Trang 4- Trao đổi các thông tin về tình hình chạy tàu phục vụ nhu cầu tìm kiếm thông tin của hành khách
- Trao đổi thông tin giữa hành khách đang đi trên tàu với mặt đất bằng cách kết nối với mạng điện thoại công cộng
- Phục vụ đường truyền dẫn thông tin điều khiển đoàn tàu
- Tổ chức các cuộc điện thoại hội nghị đa điểm thoại hoặc thoại kết hợp truyền
ảnh
Các mạng thông tin kể trên cần được kết nối với nhau và thông qua các cửa thông tin nối với mạng điện thoại công cộng để đảm bảo hình thành mạng thông tin hoàn chỉnh thống nhất hỗ trợ việc tổ chức chạy tàu tốc độ cao hiệu quả nhất và nhanh chóng chẩn đoán/khắc phục các sự cố về chạy tàu nếu chúng xuất hiện
Từ phân tích yêu cầu trên cũng như tham khảo mô hình thông tin của đường sắt các nước, các loại hình dịch vụ thông tin cần được triển khai phục vụ chạy tàu gồm có:
Các dịch vụ truyền thoại và truyền số liệu, bao gồm:
• Các dịch vụ thoại, telefax
• Dịch vụ hội nghị đa điểm truyền thoại và truyền hình
• Các dịch báo gọi khẩn cấp
• Tín hiệu đường ngang
Các dịch vụ đảm bảo công tác an toàn:
• Các dịch vụ giám sát bằng màn hình
• Các dịch vụ báo cháy
• Các dịch vụ an ninh
• Các dịch vụ kiểm soát truy nhập
• Các dịch vụ giám sát cầu và cửa hầm
• Các dịch vụ giám sát môi trường
Các dịch vụ cung cấp thông tin cho hành khách:
• Các dịch vụ thông tin đại chúng (Public address systems)
Trang 5• Các dịch vụ thông tin du lịch và quảng cáo
• Các hiển thị chỉ dẫn liên quan đến thông tin đi, đến của các đoàn tàu
sự phát triển của công nghệ bán dẫn và kỹ thuật xử lý thông tin
• Sự hội tụ giữa viễn thông, tin học và phát thanh truyền hình khởi đầu với sự phát triển của công nghệ tổng đài SPC tiếp đó là sự phát triển ngày càng rộng của hệ thống quản lý mạng lưới, các cơ sở dữ liệu phân tán và sự phát triển cấu trúc dựa trên nguyên tắc hệ thống mở
• Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ quang tạo ra được các đường truyền dẫn tốc độ cao nhưng giá thành lại giảm Sự kết hợp của các xu hướng công nghệ nêu trên tạo ra sự thay đổi căn bản của công nghệ truyền dẫn, chuyển mạch, truy nhập, truyền số liệu, thông tin vệ tinh, thông tin di động và quản
lý mạng
• Công nghệ truyền dẫn số chủ yếu tập trung vào việc nâng cao hiệu quả của các hệ thống truyền dẫn quang Với băng tần gần như vô tận (200 THz) sợi quang có thể đáp ứng mọi nhu cầu về băng thông Hiện nay công nghệ quang học theo hai hướng ghép kênh quang theo bước sóng WDM và khuyếch đại quang sợi đã mở ra triển vọng lớn cho công nghệ truyền dẫn Người ta đã có thể tạo ra tuyến hàng ngàn km tốc độ cao mà không cần trạm lặp
• Công nghệ chuyển mạch: công nghệ chuyển mạch 64 Kb/s hiện nay không thỏa mãn nhu cầu phát triển mạng băng rộng (B-ISDN) trong tương lai Để có thể triển khai B-ISDN người ta đã lựa chọn ATM làm giải pháp ATM – Phương thức chuyển giao không đồng bộ – là hệ thống truyền thông phân chia đều các loại dịch vụ, sắp xếp vào các tế bào ATM với chiều dài xác định
và chuyển chúng đi nhờ kỹ thuật ghép kênh phân chia theo thời gian không
đồng bộ – ATDM Kỹ thuật ATM đáp ứng tốt các dạng băng tần và các dạng lưu lượng khác nhau
• Công nghệ truy nhập, do những nhu cầu ngày càng lớn về các dịch vụ tiên tiến cũng như chất lượng dịch vụ yêu cầu ngày càng cao mà người ta phải không ngừng cải tiến nhằm nâng cao tốc độ cho mạng truy nhập Có rất nhiều
Trang 6biện pháp được áp dụng để đạt được điều này và một xu hướng tất yếu là thay thế mạng cáp đồng bằng mạng cáp quang, tiến tới việc triển khai cáp quang
đến tận thuê bao Ngoài ra, giải pháp truy nhập vô tuyến cũng tỏ ra rất hiệu quả đối với một số vùng đặc biệt
• Công nghệ truyền số liệu: Nhờ áp dụng công nghệ mới mà tốc độ truyền dẫn của mạng truyền số liệu cũng được nâng cao Xu hướng Frame Relay (chuyển tiếp khung) đã mở ra triển vọng tạo được các đường truyền số liệu có tốc độ đến 45 Mb/s Và khi công nghệ ATM được triển khai trên mạng thì tốc
độ truyền số liệu còn được nâng cao hơn nữa
• Công nghệ thông tin vệ tinh: Hiện nay các dịch vụ thoại truyền số liệu truyền hình chủ yếu là sử dụng vệ tinh địa tĩnh (GEO) Trong thời gian tới thế hệ vệ tinh quỹ đạo thấp và trung bình (LEO và MEO) sẽ được triển khai còn GEO
được phát triển theo hướng tạo ra các tuyến dự phòng cho các hệ thống cáp quang biển LEO và MEO đang được phát triển nhằm phủ sóng toàn cầu với
xu hướng nâng cấp từ khả năng cung cấp các dịch vụ băng hẹp lên khả năng cung cấp các dịch vụ băng rộng đến 2 Mb/s cho các dịch vụ đa phương tiện di
động
• Công nghệ thông tin di động: Mặc dù vẫn tồn tại các hệ thống thông tin di
động Cellular kỹ thuật Analog (ví dụ như AMPS) nhưng do những nhược
điểm cố hữu của chúng mà người ta đã tiến tới triển khai hệ thống thông tin
di động số Hệ thống số đầu tiên sử dụng kỹ thuật đa truy nhập theo thời gian TDMA là hệ thống GSM Ngoài ra, một công nghệ phát triển rất mạnh hiện này là công nghệ CDMA cho thông tin di động ở thế hệ này - các hệ thống thông tin di động có xu thế hòa nhập thành một tiêu chuẩn duy nhất (IMT - 2000) và có khả năng phục vụ ở tốc độ bit lên đến 2Mb/s
• Công nghệ quản lý mạng: các mạng viễn thông trên thế giới ngày càng hiện
đại, đa dịch vụ với quy mô lớn, sử dụng nhiều thiết bị của các hãng khác nhau Mỗi hãng cung cấp sử dụng hệ thống quản lý khác nhau với giao thức, giao diện kết nối và cấu trúc cơ sở dữ liệu cũng khác nhau Điều này gây khó khăn và phức tạp trong việc quản lý điều hành tập trung Nhằm đáp ứng các dịch vụ đa năng, tương thích với đa số hệ quản lý của các nhà sản xuất, ITU
đã đưa ra các Khuyến nghị về tiêu chuẩn mạng quản lý viễn thông TMN
Các xu hướng phát triển trên đây cho thấy công nghệ viễn thông hiện nay về cơ
bản dựa trên các thành tựu kỹ thuật số Bước phát triển tiếp theo sẽ là dựa trên công nghệ quang, công nghệ chuyển mạch băng rộng và công nghệ tin học
13.2 Lựa chọn công nghệ
13.2.1 Công nghệ thông tin số
3 Công nghệ truyền dẫn phân cấp số đồng bộ SDH:
Trang 7Công nghệ SDH (Synchronous Digital Hierachy: phân cấp số đồng bộ) là một thế
hệ truyền dẫn mới trên thế giới ngày nay SDH tạo ra một cuộc cách mạng trong các dịch vụ thông tin Viễn thông, thể hiện một kỹ thuật tiên tiến có thể đáp ứng rộng rãi các yêu cầu của các thuê bao, người khai thác cũng như các nhà sản xuất thỏa mãn các yêu cầu đặt ra cho ngành Đường sắt trong thời đại mới, khắc phục các nhược điểm
của PDH mà chúng ta đang sử dụng trên mạng lưới ngày nay
- Tốc độ bit trên 140 Mb/s lần đầu tiên được chuẩn hóa trên toàn thế giới
- Mã truyền dẫn cho tín hiệu quang được tiêu chuẩn hóa tương thích các thiết bị của nhà sản xuất
- Cấu trúc khối: tốc độ bit và cấu trúc khung của cấp cao hơn được tạo thành từ tốc
độ bit và cấu trúc khung của luồng cơ bản cấp thấp hơn do đó việc tách/ghép luồng thông tin dễ dàng hơn
- Có trang bị kênh riêng cho giám sát, quản lý, đo thử hoặc điều khiển trong phần Mạng Quản Lý
- Tất cả các tín hiệu PDH có tốc độ thấp hơn 140 Mb/s đều có thể được ghép truyền dẫn vào cấp SDH thấp nhất là STM-1 có tốc độ 155.2 Mb/s
- SDH tạo ra chuẩn quang nên cho phép sử dụng lẫn nhau giữa các thiết bị của các hãng khác nhau trong cùng một hệ thống truyền dẫn
Tuy còn có những nhược điểm nhất định về dung lượng, kết nối, quản lý nhưng công nghệ SDH vẫn tỏ ra có hiệu quả hơn hẳn công nghệ PDH và nó được khẳng định
là một công nghệ tiên tiến hiện đại áp dụng rộng rãi trên khắp thế giới trong thời gian dài
13.2.2 Công nghệ truyền dẫn sợi quang
ưu điểm của cáp sợi quang:
+ Khoảng cách truyền dẫn lớn:
Sợi quang có các tiêu hao truyền dẫn thấp hơn và băng tần truyền dẫn rộng hơn so với cáp đồng Điều này có nghĩa là hệ thống cáp quang có thể gửi đi nhiều dữ liệu hơn với khoảng cách lớn hơn do vậy làm giảm số lượng sợi và giảm số lượng trạm lặp cần thiết dẫn đến giảm số lượng thiết bị và các phần tử hợp thành, giảm giá thành và sự phức tạp của hệ thống
+ Sự miễn nhiễu ngoài:
Một đặc tính quan trọng đặc biệt của cáp quang có liên quan tới tính cách điện tự nhiên của chúng Điều này cấp cho cáp quang tính miễn nhiễu điện từ từ bên ngoài (EMI), như vậy sự cảm ứng từ ngoài vào do các sóng điện từ trên các sợi kim loại và do sấm sét là không có Đồng thời tín hiệu truyền trên cáp quang cũng không gây nhiễu ra ngoài
+ Tính cách điện:
Trang 8Do sợi cáp quang được chế tạo từ thủy tinh là chất điện môi nên không phải lo lắng về sự chạm đất, chạm chập nhau giữa các sợi, xuyên âm rất thấp, và các vấn đề về thiết bị giao tiếp là đơn giản Cáp quang không gây nên đánh lửa điều này cũng làm lôi cuốn việc sử dụng cáp quang để không gây nguy hiểm cho môi trường
+ An toàn cho tín hiệu:
Bằng việc sử dụng cáp quang, một mức độ cao của số liệu có thể cáng đáng được,
ở đó tín hiệu quang được tiếp xúc tốt với môi trường dẫn sóng Do vỏ bọc sợi quang là không thấu quang nên khó tiếp xúc được với tín hiệu truyền lan trong sợi Điều này làm lôi cuốn dùng cáp quang trong các ứng dụng mà ở đó tin tức quan trọng được bảo
đổi phân nhóm của mạng số liệu và trao đổi dòng điện của mạng điện thoại, có đặc
điểm kết nối và trao đổi số liệu, là kỹ thuật khá hoàn thiện với các đặc điểm sau:
- Về bản chất là kỹ thuật trao đổi phân nhóm nhanh chóng, nhưng độ dài phân chóm cố định (53 byte)
- áp dụng phương thức dùng lặp không đồng bộ, phân phối chiều rộng băng theo hai trạng thái động, mức độ sử dụng nguồn tài nguyên mạng cao; có thể hỗ trợ tải trọng của các nghiệp vụ khác nhau trong cùng một thời gian, cùng GoS (chất lượng phục vụ)
- Với phương thức phân phối chiều rộng băng linh hoạt, có thể đáp ứng được yêu cầu trước mắt và tương lai, nhất là nghiệp cụ camera;
- Theo nguyên tắc trao đổi kiểu phân bố, có thể thực hiện cho bất cứ kết cấu mở rộng
Tuy nhiên, ATM cũng có những khuyết điểm sau:
- Tốc độ tổng đài ATM được sử dụng tại các tuyến chính hiện nay chỉ đạt tới 622 Mb/s, khó khăn cho việc nâng cấp và mở rộng dung lượng hệ thống
- Việc thực hiện kỹ thuật phức tạp
- ATM không thể xử lý tốt việc trao đổi thoại và dùng lặp, nên cần phải lắp đặt hệ thống nghiệp vụ thoại trên cơ sở mạng ATM
Trang 9vệ và Ring tự khôi phục lại; hỗ trợ sự truyền dẫn của nghiệp vụ IP, hiệu suất truyền dẫn nghiệp vụ IP cao; với độ tiêu chuẩn truyền dẫn quốc tế hoàn toàn, tiện lợi cho việc đo thử và giữ gìn
Tuy nhiên, trực tiếp sử dụng thiết bị SDH cho thông tin giao thông đường sắt còn tồn tại những vấn đề như sau:
- Chỉ có thể cung cấp cho thuê bao kênh thông tin với tốc độ cố định, chứ không thể thực hiện thống kê dùng lặp;
- Giao diện đơn nhất, chỉ có giao diện tiêu chuẩn E1/E3/STM-1;
- Khi truyền dẫn nghiệp vụ băng hẹp (thoại, số liệu, âm tần băng hẹp), cần phải tăng thêm thiết bị nối vào;
- Không có giao diện Camera và Lan trực tiếp, cần phải tăng thêm thiết bị bên ngoài có liên quan
- Chỉ cung cấp được băng rộng truyền dẫn 3KHz cho nghiệp vụ tần âm phát thanh trong giao thông đường sắt, khó đảm bảo được hiệu quả phát thanh
- Khi sử dụng phương thức số truyền dẫn hình, cần phải có băng rộng với khối lượng lớn
c Phương án MSTP
Để đáp ứng được yêu cầu phát triển nhanh chóng của Internet và xây dựng mạng Lan ITU và nhiều nhà cung cấp thiết bị đều đã tiến hành cải tiến và mở rộng chức năng cho hệ thống truyền dẫn SDH truyền thống, làm cho hệ thống có nhiều chức năng như: tiếp vào, truyền dẫn và trao đổi nghiệp vụ TDM, nghiệp vụ ATM, nghiệp vụ Ethernet và nghiệp vụ hình, loại mạng truyền dẫn mới này được gọi là (Multi-Service Transport platform) MSTP, tức là hệ thống truyền dẫn đa nghiệp vụ
MSTP có những đặc điểm sau đây:
- Trên cơ sở SDH, MSTP không những có kết cấu tổ mạng phong phú và chức năng bảo vệ, giúp cho LAN truyền thống không bị hạn chế về địa bàn, đồng thời còn
có độ tin cậy cấp viễn thông
Trang 10- Trên cơ sở SDH đã tăng thêm chức năng nhiều cấp của tốc độ, làm cho hệ thống
có giao diện với nhiều loại tốc độ n*2MBPs, đáp ứng được yêu cầu truyền dẫn trực tiếp
của nghiệp vụ camera và nghiệp vụ LAN
- Hỗ trợ việc phân chia VLAN và ID Tagged VLAN bằng cổng, và hỗ trợ sự cách
ly của thuê bao
- Hỗ trợ các loại giao thức và CFP
- Hỗ trợ chức năng khống chế lưu lượng
MSTP có thể thực hiện truyền dẫn nghiệp vụ số liệu của Ethenet và Camera, tuy
nhiên vẫn còn một số khuyết điểm sau:
- Các card xử lý Ethernet của thiết bị MSTP cần phải thực hiện tra hỏi địa chỉ
MAC cho các nghiệp vụ, cùng với sự gia tăng của các nút trên đường Ring, tốc độ tra
hỏi địa chỉ MAC sẽ bị chậm lại, như vậy tính năng xử lý sẽ bị suy giảm một cách rõ
rệt
- áp dụng phương thức chiếu sáng PPP hoặc ML-PPP trong việc truyền dẫn nghiệp
vụ số liệu, hiệu suất chiếu sáng thấp, như vậy sẽ gây lãng phí lớn cho băng rộng, nhất
là trong quá trình truyền dẫn nghiệp vụ Camera lãng phí băng rộng một cách rất nhiều
- Không thể cung cấp dịch vụ với nhiều đẳng cấp và đảm bảo chất lượng cho các
thuê bao trên cơ sở Ethernet, chủng loại dịch vụ thuộc loại không liên kết, không đảm
bảo được chất lượng cung cấp từ đầu này đến đầu kia
- Về mặt giao diện, khi truyền dẫn thoại, âm tần băng rộng và số liệu (với vận tốc
thấp hơn 64 Kbit/s, N*64 Kbit/s hoặc 64 Kbit/s), vẫn tăng thêm thiết bị nối vào
d Phương án truyền dẫn OTN
ONT (mạng truyền dẫn mở) cũng là một loại hệ thống truyền dẫn thích hợp với
mạng chuyên dụng, và cũng đã sử dụng phổ biến cho các công trình Metro và đường
sắt nhẹ trên quốc tế, chủ yếu có những đặc điểm sau:
- Thực sự thực hiện được nhất thể hoá thoại, số liệu và hình ảnh, nhất thể hoá việc
truyền dẫn và nối vào nhỏ, và nhất thể hoá băng rộng với băng hẹp
- Hạt băng rộng nhỏ, phân bố băng rộng theo nhu cầu thực tế, có thể tận dụng tài
nguyên mạng;
- Sử dụng kết cấu mạng kiểu phân bố, tổ chức mạng một cách linh hoạt, tiện lợi
cho việc nâng cấp và mở rộng dung lượng;
- Có giao diện phong phú; các loại giao diện âm tần tiêu chuẩn, giao diện âm tần
băng rộng, giao diện số E1/T1/E3, RS-232, RS-422, RS-485, 10 Base-TX, v.v…
- Các loại thiết bị có thể trực tiếp nối vào OTN, mà không cần thiết bị nối vào
- Hỗ trợ phát thanh đa điểm như tín hiệu thoại, hình ảnh
- Có chức năng tự khôi phục lại, độ tin cậy cao;
Trang 11- Sử dụng kỹ thuật thu gọn hình ảnh số MJPEG, có thể cung cấp hình ảnh giám sát
khống chế rõ ràng v.v…
- Quản lý tiện lợi, rất thích hợp cho các nghiệp vụ tổng hợp Metro nối vào, và tiến
hành truyền dẫn một cách trong suốt
- Hệ thống quản lý tập trung có thể trực tiếp quản lý đến các cổng độc lập
- Các loại tín hiệu trực tiếp dùng lặp chiếu sáng đến ván OTN, các thiết bị với tốc
độ khác nhau có thể chồng chất lên cùng một cái mạng để thực hiện
- Tất cả các thiết bị có thể hỗn hợp với nhau một cách tự do
- Việc truyền dẫn một loại tín hiệu sẽ không ảnh hưởng đến truyền dẫn các loại tín
hiệu khác
- Chi tiêu thấp (<2%)
Khuyết điểm của OTN:
Là sản phẩm độc quyền, kết cấu lặp bên trong, đẳng cấp vận tốc và giao diện
đường quang không phù hợp tiêu chuẩn quốc tế, và giá thành tương đối cao
13.3.1.2 Lựa chọn phương án kỹ thuật hệ thống truyền dẫn
MSTP và OTN về mặt công năng nó có thể đáp ứng rất tốt các yêu cầu về truyền
dẫn, nhưng OTN chỉ có công ty SIEMEN cung cấp kỹ thuật và thiết bị, mà chi phí mở
rộng của hệ thống là tương đối cao Xét đến tính hoàn thiện của công năng và tính
thành thực của sản phẩm bản báo cáo này kiến nghị sử dụng hệ thống truyền dẫn
MSTP
Xét đến mạng truyền dẫn phải đáp ứng phải đáp ứng được yêu cầu phát triển các
chuyên nghành giao thông đường sắt nhẹ sau này và yếu tố của mức sử dụng băng
rộng, sử dụng hệ thống truyền dẫn quang 622 M băng rộng hoàn toàn có thể đáp ứng
được nhu cầu của các thuê bao hiện tại và sự phát triển trong tương lai
Mạng sợi quang của phương án này do thiết bị của trung tâm điều khiển và các
điểm Ga dọc trên tuyến đường này (bao gồm cả Depot) tổ thành Thiết bị quản lý mạng
của hệ thống nàyđặt tại trung tâm điều khiển, để hoàn thành các nhiệm vụ như: giám
sát điều khiển và sử lý sự cố cho mạng truyền dẫn sợi quang
Kết cấu mở rộng mạng thời kỳ đầu của công trình này sử dụng kết cấu mạng Ring
Phương thức bảo vệ mạch vòng sử dụng kết cấu mạch vòng đảo kênh đơn hướng hai sợi
(phương thức dự phòng 1+1) Đồng thời để nâng cao độ tin cậy của thiết bị tại điểm
Ga, tiến hành dự phòng nóng dự trữ đối với các bộ phận quan trọng của thiết bị
Việc luân lưu Ring có thể bảo vệ cho nghiệp vụ trên toàn mạng, còn dự phòng
nóng dư cho thiết bị làm cho các ga và các tiếp điểm có khả năng chống đơn điểm mất
hiệu quả, thông qua hai phương diện bảo vệ: thiết bị và mạng lưới, sẽ đảm bảo được sự
thông suốt của hệ thống truyền dẫn
Trang 12SDH MUX
SDH MUX
Tín hiệu SDH
Luồng nhánh
SDH MUX
Tín hiệu SDH
Luồng nhánh
Tuyến đường này lắp đặt hai đường cáp quang đơn mode 48 sợi, cấu thành kênh
dự trữ vật lý cáp quang
a Giải pháp truyền dẫn cáp quang
a.1 Cấu trúc mạng truyền dẫn
Hiện tại, trên thế giới đang sử dụng các cấu trúc mạng truyền dẫn sau:
* Cấu trúc điểm nối điểm
Cấu trúc điểm nối điểm được sử dụng như đối với kỹ thuật truyền dẫn cận đồng bộ
PDH thông thường Việc lựa chọn cấu trúc này sẽ có hiệu quả đối với tuyến có dung
lượng lớn vì cấu trúc này chủ yếu để ghép nhiều luồng nhánh thành luồng có tốc độ
cao Cấu trúc này có sơ đồ như hình vẽ:
* Cấu trúc xen tách kênh (xâu chuỗi tuyến tính)
Cấu trúc xen tách kênh có sơ đồ như hình vẽ 2
Về mặt nguyên tắc dùng kỹ thuật truyền dẫn cận đồng bộ PDH cũng có thể tạo nên
cấu trúc này, tuy nhiên nó đòi hỏi nhiều thiết bị ghép kênh với các cấp khác nhau Hơn
nữa chỉ có kỹ thuật truyền dẫn phân cấp số đồng bộ SDH mới cho phép việc thay đổi
phân bố lưu lượng
* Cấu trúc kiểu trung tâm
Cấu trúc này tạo nên một điểm trung tâm hay đầu mối của mạng cáp sợi quang
Đây cũng là cấu trúc đặc thù của kỹ thuật truyền dẫn phân cấp số đồng bộ SDH, vì
dùng một thiết bị SDH có thể nối với rất nhiều điểm khác nhau bằng các sợi quang
khác nhau, trong khi đó để làm được điều này kỹ thuật truyền dẫn cận đồng bộ PDH
đòi hỏi phải có rất nhiều các thiết bị đầu cuối quang
Cấu trúc kiểu mạng trung tâm có sơ đồ như hình vẽ 13.4
Trang 13Hình 13.4:Cấu trúc kiểu trung tâm.
SDH MUX
Luồng nhánh tín
hiệu quang
Luồng nhánh tín hiệu điện
ADM
ADM
A
D M
A
D M
Hình 13.5:Mạng vòng một hướng
DB
Trên cơ sở các cấu trúc mạng cơ bản trên, kỹ thuật SDH cho phép tạo nên nhiều
cấu trúc mạng phức tạp khác nhau như cấu trúc mạng hình sao, cấu trúc hình lưới, cấu
trúc mạng đa vòng
* Cấu trúc mạng vòng
Cấu trúc mạng vòng có thể coi như là một trường hợp đặc biệt của cấu trúc xen
tách kênh khi mà hai điểm đầu và cuối của chuỗi các thiết bị xen tách kênh này trùng
nhau
Mạng vòng là mạng truyền dẫn mà các đoạn ghép được ghép lại với nhau thông
qua các nút mạng là các bộ tách xen ADM (Add and Drop Multiplexer) để tạo thành
vòng tròn Cấu trúc mạng này có ưu điểm là dung lượng lớn, tốc độ cao và có khả năng
tự phục hồi khi nút mạng và đường dây bị sự cố mà không cần có sự can thiệp của quản
lý mạng bên ngoài do đó lưu thoại luôn được duy trì
a.2 Cấu trúc phân lớp
Đối với mạng viễn thông đường sắt, mạng truyền dẫn sẽ được phân làm 02 lớp:
- Lớp đường trục: kết nối các Trung tâm thông tin với nhau, sử dụng các thiết bị
truyền dẫn STM-4/16 tương ứng với tốc độ truyền dẫn 622 Mbit/s, có khả năng nâng
cấp lên 2,5 Gbit/s, truyền các thông tin đường trục
- Lớp truy nhập: sử dụng các thiết bị STM-1/4, tốc độ tương ứng 155 Mbit/s, có
khả năng nâng cấp lên tốc độ 622 Mbit/s để truyền tải các thông tin chuyên dụng cho
đường sắt
a.3 Vấn đề an toàn mạng lưới
Trang 14Đối với mạng truyền dẫn trong Viễn thông nói chung và đặc biệt đối với các mạng
truyền dẫn đường trục chính (Backbone) ngoài vấn đề bảo đảm các yêu cầu về chỉ tiêu
chất lượng truyền dẫn, chúng còn phải đáp ứng được một vấn đề cực kỳ quan trọng đó
là bảo đảm tính liên tục của thông tin được truyền đưa trên mạng Do vậy khi thiết kế,
xây dựng các mạng truyền dẫn vấn đề bảo vệ mạng và cơ chế phục hồi mạng khi xảy ra
sự cố phải được xem xét, phân tích và đầu tư một cách thỏa đáng nhằm bảo đảm an
toàn mạng lưới, đáp ứng được các yêu cầu về dịch vụ ngày một cao
Việc triển khai kỹ thuật phân cấp số đồng bộ vào mạng viễn thông có những ảnh
hưởng to lớn tới các vấn đề bảo vệ mạng Nhờ vào các khả năng của kỹ thuật này trong
quản lý, công nghệ thiết bị xen tách kênh ADM, thiết bị nối chéo số DXC và cấu trúc
bộ ghép mà mạng được thiết kế có khả năng tự phục hồi với độ tin cậy cao, tín hiệu
được bảo vệ có hiệu quả
a.4 Lựa chọn thiết bị
a Môi trường truyền dẫn
Các sợi quang sử dụng loại cáp 48 sợi quang đơn mốt, bước sóng công tác 1550nm
theo tiêu chuẩn G.652 của ITU-T
Các chỉ tiêu kỹ thuật của sợi quang đơn mốt:
Đường kính trường mode (ứng với bước sóng 1550 nm): 10.5 àm ± 1 àm
Hệ số suy hao với bước sang 1550 nm (thông thường): ≤ 0.19 dB/km
Các thiết bị truyền dẫn sử dụng trên sợi quang phải đáp ứng được các tiêu chuẩn
kỹ thuật G.957 của ITU-T và tiêu chuẩn ngành TCN 68-173: 1998 Căn cứ vào khoảng
cách giữa các Trung tâm thông tin và giữa các ga, lựa chọn thiết bị truyền dẫn:
Trang 15- Đối với tốc độ 155,52 Mbit/s sử dụng loại S-1.2
- Đối với tốc độ 622,08 Mbit/s sử dụng loại L-4.2
Bảng 13.1: Chỉ tiêu giao diện quang cho hệ thống STM-1 = 155,52 Mbit/s
không sử dụng khuếch đại quang
Đường truyền, giữa điểm S và R
- Dải suy hao, dB
- Độ nhạy thu (tại BER = 10-10), dBm
- Mức quá tải (tại BER = 10-10), dBm
- Độ thiệt thòi luồng quang cực đại, dB
- Phản xạ cực đại của bộ thu đo tại
Bảng 13.2: Chỉ tiêu giao diện quang cho hệ thống STM-4 = 622,08 Mbit/s
không sử dụng khuếch đại quang
1280-
1480-1580
1480-1580
Trang 1610
- Mặt nạ hình mắt của tín hiệu Qui định trong bảng 13.13
Đường truyền, giữa điểm S và R
- Dải suy hao, dB
20 -25
10-24
NA
20 -25
10-24
24 -27
10-24
NA
20 -25
Phần thu ở điểm R
- Độ nhạy thu (tại BER = 10-10), dBm
- Mức quá tải (tại BER = 10-10), dBm
- Độ thiệt thòi luồng quang
≤ -28
≥ -8
1 -14
≤ -28
≥ -8
1 -27
≤ -28
≥ -8
1 -14
Mạng truyền dẫn sợi quang khi tính toán thiết kế cần phải đáp ứng được các yêu
cầu kỹ thuật sau:
- Tỷ số lỗi bit của hệ thống phải < 10-11,
- Có khả năng nâng cấp và mở rộng dung lượng,
- Tận dụng tối đa quỹ suy hao của hệ thống,
- Cự ly thông tin (khoảng cách giữa các trạm) tính toán phải lớn hơn cự ly thông
tin thực tế,
Xem hình vẽ Sơ đồ mạng thông tin cáp quang
Trang 17Cấp 1 (tham khảo sơ cấp)
Đồng bộ mạng SDH là một trong những yếu tố quan trọng, cần thiết và mang tính
bản chất Đồng bộ mạng cho phép tất cả đồng hồ đang hoạt động trong mạng được
định nhịp theo cùng một đồng hồ chủ sơ cấp, trên cơ sở đó cung cấp chất lượng thông
tin cao trên vùng rộng lớn với cấu hình mạch đơn giản, tốc độ trượt thấp nhất
Đồng bộ mạng SDH nghĩa là thực hiện mạng phân cấp số đồng bộ trong đó mọi
nút mạng và thiết bị thuộc mạng được điều khiển hoạt động theo một đồng hồ chủ
chung Các tín hiệu số trên đường truyền, đã được mã hoá và xử lý tồn tại dưới dạng
xung số, giữa các nút mạng do đó yêu cầu mọi nút và đường nối phải hoạt động cùng
nhịp với sai biệt có thể loại bỏ
Phân cấp đồng bộ mạng SDH là cách tổ chức các cấp đồng bộ trong mạng (4 cấp
theo ITU-T) điều này phụ thuộc vào cấu hình mạng thực tế, dự báo phát triển mạng,
khả năng tài chính và cách thức tối ưu hóa mạng
Theo những Khuyến nghị liên quan của ITU-T, số cấp đồng bộ phân chia trong
mạng không lớn hơn 4 với nguồn đồng bộ tương ứng là sơ cấp, trung chuyển, cục bộ và
kết cuối (phần tử mạng) ANSI cũng có các cấp Stratum 1, 2, 3, 4 với độ chính xác
tương đương
Phân cấp đồng bộ nhằm mục đích phân chia tín hiệu đồng bộ đến từng phần tử nhỏ
nhất thuộc mạng với độ chính xác yêu cầu Ngoài ra còn nhằm các mục đích khác như:
Giảm chi phí đồng bộ mạng, tạo thuận lợi cho đồng bộ, quản lý, khai thác mạng
Hình 13.6: Phân cấp đồng bộ
Quy tắc đồng bộ là các đồng hồ cấp thấp không được trở thành tham khảo cho
đồng hồ cấp cao hơn Việc lựa chọn tuyến đồng bộ cần chú ý:
+ Ngắn, thuận lợi cho cung cấp, giám sát đồng bộ, giảm thiểu ảnh hưởng từ truyền
dẫn tín hiệu trên tuyến
Trang 18+ Không lập vòng trao đổi định thời, tránh tích lũy liên tiếp các sai lỗi dẫn đến mất
đồng bộ mạng
+ Chỉ lấy tham khảo định nhịp từ các đồng hồ cấp cao
Ngoài đồng hồ sơ cấp và Stratum 1, cấp cao nhất của phân cấp đồng bộ có thể lấy
từ nguồn tín hiệu GPS với chất lượng và độ chính xác tương đương
3 Phương thức đồng bộ mạng SDH
Đồng bộ mạng SDH bao gồm đồng bộ phần tử mạng, đồng bộ thông tin số truyền
giữa hai nút mạng Đồng bộ phần tử mạng thực hiện phân chia tín hiệu định nhịp từ
một nguồn chính đến các nút, phần tử Thông tin số truyền giữa hai nút mạng được
đồng bộ với hoạt động định nhịp phía thu và phía phát nhờ các phương pháp đồng bộ
bit, khe thời gian và đồng bộ khung Tín hiệu số lưu chuyển giữa hai nút mạng có thể
được đồng bộ nhờ tín hiệu định thời theo phương thức vòng hồi quy (loopback) hay tín
hiệu định nhịp lấy từ mạng phân phối định thời Về mặt cấu trúc, mạng đồng bộ bao
gồm hệ thống đường số truyền dẫn thông tin và hệ thống nút tái tạo đồng hồ tham
khảo
Việc lựa chọn phương án và cấu hình đồng bộ phụ thuộc tình hình thực tế từng
mạng viễn thông Các yếu tố cần xét gồm:
• Cấu trúc mạng và độ tin cậy của hệ thống truyền dẫn, chuyển mạch, khả năng
thu nhận đồng bộ của thiết bị
• Tương lai phát triển mạng lưới, các dịch vụ trên mạng
3 Nguồn đồng hồ đồng bộ mạng SDH
Nguồn đồng hồ đồng bộ mạng SDH có vai trò quyết định đến toàn bộ hoạt động
của mạng mà trước tiên là vấn đề đồng bộ mạng Độ chính xác, vị trí chức năng đồng
hồ trong mạng, cách thức cung cấp xung tín hiệu định thời cũng như yêu cầu tín hiệu
đầu ra được xem xét chặt chẽ nhằm tạo ra một mạng đồng bộ hóa (synchronization
network) đủ khả năng đáp ứng hoạt động dẫn hướng trong mạng SDH
Độ chính xác phân chia nguồn đồng hồ mạng thành 4 cấp phản ánh độ ổn định tần
số và rung pha yêu cầu trong điều kiện chạy tự do so với nguồn tần số tham khảo ban
đầu Độ chính xác của các cấp đồng hồ cho trong bảng sau
Bảng 13.3 : Độ chính xác của các cấp đồng hồ
Cấp chính xác Độ chính xác tối thiểu Độ ổn định lưu giữ
1 (tham khảo sơ cấp) ± 1,0 *10-11 Không áp dụng
Trang 19* Hệ thống định vị toàn cầu (GPS-Global Positioning System)
Hệ thống định vị toàn cầu GPS là một nhánh của khoa học đo đạc không gian được
sử dụng cho phát tín hiệu định thời chuẩn cung cấp đến các mạng viễn thông Có thể
coi GPS như một loại nguồn sơ cấp tuân thủ theo những yêu cầu chất lượng cho đồng
hồ tham khảo sơ cấp tương tự PRC
GPS bao gồm phần không gian (vệ tinh GPS có chức năng truyền sóng dùng cho
định vị, dẫn đường, hoa tiêu, cung cấp thông tin định nhịp), phần mặt đất (thiết bị mặt
đất để giám sát, điều khiển hoạt động của vệ tinh cũng như nâng cấp tín hiệu sóng) và
phần người sử dụng (trạm thu nhận thụ động thông tin từ vệ tinh GPS) GPS cho phép
việc mất hiệu lực của PRC trong mạng không gây ảnh hưởng lớn đến đồng bộ toàn
mạng, hoạt động mạng
* Đồng bộ phần tử mạng SDH
Phương thức đồng bộ phần tử mạng phụ thuộc nguồn đồng hồ vào ra tại nút, bao
gồm các loại hình: đồng bộ đường, đồng bộ ngoài, xuyên qua, đồng bộ vòng và chạy tự
do
+ Đồng bộ đường: tách tín hiệu đồng hồ từ tín hiệu quang thu và dùng trong bộ
xen tách kênh để đồng bộ tín hiệu quang 2 hướng phát Tất cả tín hiệu nhánh đồng bộ
được kết cuối nhờ ADM Chất lượng đồng bộ phụ thuộc độ ổn định tần số tín hiệu
quang thu
+ Đồng bộ ngoài: dùng một nguồn đồng hồ độc lập với đồng hồ nội, thường là
BITS/SSU hay đồng hồ cấp trung chuyển trở lên Nguồn này cũng độc lập với tín hiệu
quang và tín hiệu nhánh
+ Đồng bộ xuyên qua: áp dụng cho trạm lặp, tín hiệu quang thu được dùng để
đồng bộ tín hiệu quang phát cùng hướng, Mỗi hướng cần một nguồn đồng hồ riêng,
không cần ESI do không yêu cầu đồng bộ ngoài
Trang 20+ Chạy tự do: đồng hồ nội dùng định thời tín hiệu hướng phát và có ảnh hưởng
trực tiếp đến các đồng hồ khác trong mạng
+ Đồng bộ vòng: dùng cho giá NE đầu cuối, một dạng của đồng bộ đường, tín hiệu
tách từ đầu vào được dùng để đồng bộ cho hướng phát ngược lại và tín hiệu nhánh
a.6 Hệ thống quản lý mạng truyền dẫn
* Các yêu cầu về quản lý mạng SDH
Trước tình hình số lượng các dịch vụ trên mạng lưới và lưu lượng dịch vụ tại các
tổng đài và các thiết bị ngày càng gia tăng thì việc yêu cầu một hệ thống quản lý có
khả năng giám sát, thay đổi cấu hình mềm dẻo, linh hoạt và thuận tiện trong khai thác
là hết sức cần thiết
Các yêu cầu về hệ thống quản lý SDH là hết sức lớn lao nhằm đáp ứng được các
nhu cầu mà hệ thống cận đồng bộ chưa đáp ứng được Đó là:
+ Khả năng địa chỉ hóa các phần tử mạng NE tại vị trí được chỉ định
+ Các phần tử mạng được yêu cầu đối với các thông báo định tuyến giữa các điểm
phù hợp với thông tin điều khiển đồng thời các phần tử mạng có khả năng thông báo
các thông tin quản lý định tuyến
+ Việc kết nối các thông tin quản lý nội bộ được định dạng thông thường từ các
kênh thông tin gắn được gắn vào (ECC)
+ Hệ thống quản lý mạng SDH phải có khả năng giám sát thay đổi cấu hình mềm
dẻo linh hoạt và khai thác thuận tiện
* Hệ thống quản lý mạng SDH
Hệ thống quản lý mạng SDH được yêu cầu phải cung cấp các chức năng quản lý
và điều khiển đối với các phần tử mạng SDH và đối với việc truyền thông tin trên
mạng Phần mềm quản lý không chỉ thuận tiện với việc quản lý mạng, giao tiếp với
người vận hành, giao tiếp với bên ngoài mà phải có khả năng linh hoạt, dễ dàng mở
rộng và cập nhật thông tin mới
* Các chức năng của hệ thống quản lý SDH:
Việc giám sát, điều hành mạng phân cấp số đồng bộ được thực hiện trên cơ sở
phần mềm của hệ thống quản lý Phần mềm sẽ là thuận tiện đối với việc quản lý mạng
và giao tiếp với bên ngoài mạng đồng thời linh hoạt mềm dẻo dễ dàng cập nhật thông
tin mới Hệ thống quản lý mạng phân cấp số đồng bộ phải cung cấp các khả năng quản
lý và điều khiển đối với các phần tử mạng và cả việc truyền đưa thông tin trên mạng
phân cấp số đồng bộ Chức năng của hệ thống quản lý SDH được qui định bởi ISO và
ITU-T bao gồm: Quản lý kênh điều khiển gắn vào ECC (Embeded Control Chanel),
Quản lý lỗi (giám sát cảnh báo, kiểm tra), quản lý cấu hình, giám sát thực hiện, quản lý
an toàn
Trang 213 Quản lý kênh điều khiển gắn vào - ECC:
Kênh điều khiển gắn vào ECC (Embeded Control Chanel) là kênh điều hành logic
giữa các phần tử mạng SDH Việc điều khiển các phần tử mạng SDH trong quá trình
truyền dẫn chúng ta phải quản lý kênh điều khiển gắn vào
3 Quản lý cấu hình :
Quản lý cấu hình là tập hợp các hoạt động phục vụ cho sự điều khiển về vật lý,
điện và lập bảng kiểm kê logic nhằm thực hiện sự bổ sung, xử lý các cấp bậc, chuyển
đổi
Quản lý cấu hình được xem như trung tâm xử lý của quản lý mạng Tất cả các
phần khác như quản lý lỗi, thực hiện, an toàn, chứng từ thanh toán được cung cấp bởi
các chi tiết cấu hình từ quản lý cầu hình
3 Quản lý lỗi:
Là các hoạt động để duy trì các điều kiện bình thường tại mức dịch vụ mạng Các
hoạt động này đảm bảo độ khả dụng cao bằng cách khởi động các chức năng điều
khiển khi thấy cần thấy
Các lỗi cuộc gọi, bản tin giám sát, cảnh báo về các vấn đề trong phần tử mạng và
các phương tiện phương tiện truyền dẫn có thể được ghi nhận phát hiện và đánh dấu
3 Quản lý thực hiện
Quản lý thực hiện là các hoạt động đòi hỏi tiếp tục đánh giá các bộ chỉ thị của điều
hành mạng, xác minh các mức dịch vụ đang được duy trì đồng thời nó cung cấp sự
duy trì cơ sở dữ liệu, mô hình cho quản lý lỗi
Mục đích quản lý thực hiện là quản lý giám sát và cải thiện các đặc tính của hệ
thống Thu thập dữ liệu thống kê để cho phép quy hoạch mạng lâu dài và dự đoán sự
phát triển trong tương lai gần
3 Quản lý an toàn:
Quản lý an toàn là cài đặt các chức năng đảm bảo bảo vệ mạng và các thành phần
của nó ở mọi khía cạnh như kết nối mạng, truy nhập dịch vụ truyền thông tin trong một
mạng
An toàn vật lý là các yêu cầu đặc trưng đầu tiên để an toàn hệ thống vì nó liên
quan đến ngôi nhà đặt thiết bị
An toàn thâm nhập liên quan tới khả năng quản lý cho người sử dụng khác nhau và
duy trì sự thâm nhập khi hệ thống có sự cố Nó thực hiện các việc quản lý các mặt mà
để cho phép hoặc ngăn cản sự thâm nhập trái phép từ bên ngoài An toàn thâm nhập
còn liên quan đến các cấu trúc lớp Các lớp phía trên có khả năng thực hiện tất cả chức
năng của lớp phía dưới