Mà còn tạo cho học sinh có những sáng tạo, những cách giải và kĩ năng khi làm bài tập, đặc biệt làđối với bộ môn Vậy lý lới 6, một bộ môn mới mà các em mới tiếp cận khi lên cấp THCS.Thế
Trang 1MỤC LỤC
I/PHẦN MỞ ĐẦU 2
I.1 Lý do chọn đề tài 2
I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 2
I.3 Đối tượng nghiên cứu 2
I.4 Phạm vi nghiên cứu 2
I.5 Phương pháp nghiên cứu 3
II/ PHẦN NỘI DUNG 3
II.1 Cơ sở lí luận 3
II.2 Thực trạng 3
II.3 Giải pháp thực hiện 6
II.4 Kết quả quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề 15
III PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 16
III.1 Kết luận 16
III.2 Kiến nghị 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 2I/PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 Lý do chọn đề tài
Việc nâng cao chất lượng giáo dục đã đặt ra trong ngành giáo dục nước ta từ lâu
Muốn vậy trong học tập học sinh phải biết kết hợp“Học đi đôi với hành” Việc học sinh biết “Học đi đôi với hành” không những giúp học sinh nắm vững kiến thức Mà còn tạo
cho học sinh có những sáng tạo, những cách giải và kĩ năng khi làm bài tập, đặc biệt làđối với bộ môn Vậy lý lới 6, một bộ môn mới mà các em mới tiếp cận khi lên cấp THCS.Thế nhưng việc học sinh tích cực, tự giác làm bài tập Vật lý còn rất ít, chưa được nhưmong muốn so với yêu cầu môn học Tuy rằng sau các tiết dạy giáo viên luôn dặn dò vànhắc nhở học sinh về nhà làm bài tập trong sách bài tập Nếu cứ tiếp tục như vậy sẽ khôngđáp ứng được những yêu cầu mới của giáo dục
Vậy để làm sao giúp cho học sinh tích cực, tự giác và có các phương pháp làm cácbài tập môn Vậy lý 6 để đạt hiệu quả theo yêu cầu của ngành đã thôi thúc tôi làm đề tàinày Với mong muốn được học hỏi, trao đổi Bên cạnh đó đã qua những năm trực tiếp dạymôn Vật lý 6 ở trường THCS Lê Quý Đôn bản thân đã rút ra một số kinh nghiệm muốnđược mọi người cùng tham khảo
I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của dạy học môn Vật lý THCS nói chung cũng như môn Vật lý 6 nóiriêng không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức lí thuyết cho học sinh mà phải còn
Trang 3bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự giác độc lập suy nghĩ, sáng tạo Không dập khuôn,máy móc, mà phải biết áp dụng lí thuyết vào làm các bài tập Qua đó học sinh sẽ tạo ranhững kiến thức mới nhạy bén, hiệu quả, thiết thực và phù hợp với hoàn cảnh thực tế Tạocho học sinh hứng thú, tiếp thu kiến thức thông qua việc tự giác làm bài tập.
I.3 Đối tượng nghiên cứu.
Đề tài mang phạm khá vi rộng, nhưng đối tượng nghiên cứu trong đề tài của tôi chỉthuộc các lớp Vật lý 6 ở trường THCS Lê Quý Đôn mà tôi trực tiếp giảng dạy
I.4 Phạm vi nghiên cứu.
Môn Vật lý lớp 6 ở trường THCS Lê Quý Đôn
I.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu giúp tôi thực hiện đề tài này là dựa trên những kiến thức,kinh nghiệm, thực tiễn của bản thân qua những năm trực tiếp giảng dạy Vật lý 6 và quaviệc thu thập thông tin phản hồi của học sinh sau những tiết học, qua kết quả của bài kiểmtra thống kê, khảo sát chất lượng, kiểm tra một tiết và kiểm tra học kì, qua sự góp ý củađồng nghiệp, tổ chuyên môn sau những tiết dự giờ, thao giảng, chuyên đề, qua nghiên cứutài liệu tham khảo
II/ PHẦN NỘI DUNG
II.1 Cơ sở lí luận
Cơ sở chính là xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, chủ thể quan trọngcủa quá trình giáo dục vì lứa tuổi học sinh THCS là lứa tuổi có sự thay đổi lớn, chuyểngiao giữa cấp Tiểu học và THPT, lứa tuổi không còn là trẻ con cũng không phải là ngườilớn Nên việc tự giác học và làm bài tập của các em cũng có sự thay đổi
Từ những năm có thay đổi chương trình sách giáo khoa mới đến nay tôi luôn đổimới phương pháp giảng dạy và sau mỗi tiết học luôn nhắc học sinh về làm bài tập nhưngkết quả thu được cũng chưa được như mong muốn qua mỗi năm học và từng lớp học khác
Trang 4nhau Qua đó tôi đã có những phương pháp và ý tưởng để giúp học sinh làm bài Vật lý 6
ở học sinh của trường mình theo yêu cầu đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá
Khó khăn :
Mới chuyển lên lớp 6 cấp THCS và tiếp cận môn học mới là môn Vật lý, cũng nhưthầy cô mới, cách học mới, bạn mới Nên học sinh còn rụt rè, chưa tích cực, tự giác trongcác hoạt động học tập: Phát biểu ý kiến xây dựng bài, trao đổi, thảo luận nhóm, học nhómnên dẫn đến việc tự giác làm bài tập Vật lí chưa cao, mà chỉ mang tính đối phó khi vàocác ngày có kiểm tra 15 phút đầu giờ của ban cán sự lớp Trong lúc kiểm tra bài cũ giáoviên kiểm tra vở làm bài tập của học sinh thì thấy chủ yếu các em chỉ làm các bài tập trắcnghiệm chứ còn các bài tập tự luận thì rất ít làm, hay chỉ làm qua loa: Chỉ ghi phép tính
và kết quả, không có lời giải, lập luận, công thức hay đơn vị Thậm chí có em còn không
có vở làm bài tập
b Thành công, hạn chế
Sau khi vận dụng đề tài này thì thấy đa số các em đã tực giác làm bài tập, trên lớp hăng hái trả lời câu hỏi của giáo viên, bổ sung câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra
Bên cạnh những thàng công đạt được khi áp dụng đề tài này vẫn có một số bài tập
mà một số học sinh vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn như: Học sinh chưa biết phân biệt, phương pháp giải các dạng bài tập do không chú ý nghe giảng, hỗng kiến thức,
Trang 5chưa tích cực thảo luận, hoạt động Thậm chí có một số học sinh không biết thực hiện các phép tính toán cơ bản, đổi đơn vị hay biến đổi công thức.
c Mặt mạnh, mặt yếu
Khi vận dụng đề tài này thì giáo viên trở thành người hướng dẫn, định hướng hoạt động độc lập suy nghĩ, sáng tạo để học sinh tự giác làm bài tập Học sinh hoạt động là chính, không chỉ tự làm bài tập, mà tự trả lời ngay trong tiết học Vật lý có sự hướng dẫn của giáo viên qua các câu hỏi C1,C2,C3, hay phần vận dụng, phần có thể em chưa biết
Tuy vậy vẫn còn một số học sinh chưa tự giác, chưa chịu suy nghĩ làm bài tập, còn lười : Một bài toán giáo viên đã thiết lập ra công thức, yêu cầu thay số, thậm chí đã thay
số và chỉ yêu cầu học sinh tính toán để tìm kết quả mà một số em vẫn không chịu làm
Những hạn chế, yếu kém khi thực hiện đề tài này là đối với những học sinh khôngtích cực, ỉ lại, mất kiến thức cơ bản, không có tính tự giác, chỉ chờ khi nào giáo viên hoặccác bạn giải bài tập xong trên bảng thì chép lại
Trang 6xây dựng Phân phối chương trình cho phù hợp thực tế của từng trường dựa trên khungphân phối chương trình và áp dụng từ tháng 10/2015 Nhưng vận dụng vào hiệu quả ởmột số trường THCS chưa được như mong muốn, học sinh chưa tích cực, tự giác làm bàitập hoặc làm tắt theo kiểu toán học.
Các trường học luôn đổi mới phương pháp dạy - học nhưng chất lượng và hiệu quả
ở một số trường THCS chưa cao, trong đó có trường THCS Lê Quý Đôn Một ngôitrường còn thiếu thốn về cơ sở vật chất và trình độ nhận thức của học sinh không đồngđều đặc biệt là học sinh người đồng bào dân tộc Nên việc học sinh tự giác làm bài tậpcòn ít Muốn nâng cao chất lượng giáo viên cần phải hướng cho học sinh tính độc lập, tựgiác và sáng tạo khi làm bài tập Trong hoạt động học tập về thực chất là tự giác làm bàitập sẽ giúp cho học sinh củng cố được kiển thức Tự giác làm bài tập liên quan trước hếtđến động cơ làm bài tập, động cơ làm bài tập tạo ra hứng thú, hứng thú là tiền đề của tựgiác Hứng thú và tự giác sản sinh ra tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập tạo ra sáng tạo.Tóm lại tính tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, có hứng thú và có động cơ làmbài tập
Tính tự giác, tích cực làm bài tập từ những cấp độ từ thấp đến cao, từ dể đến khó.Bắt chước: Làm theo các bài tập mẫu của giáo viên, của bạn…
Tìm tòi: Độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm những cách giải quyết khác nhau về một vấn đề trong khi làm bài tập
Sáng tạo: Tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu
Giáo viên phải thấy được muốn đạt được mục đích mới trong dạy học Vật lý thìviệc dạy học Vật lý phải được tiến hành thông qua việc làm bài tập của học sinh Học sinhkhông chỉ tiếp thu kiến thức lí thuyết suông mà phải vận dụng vào làm các bài tập Muốnvậy giáo viên phải đặt học sinh vào những tình huống của bài học, của đời sống thực tế Người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách
suy nghĩ của mình Từ đó vừa nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được cách “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu có sẵn, mà được bộc lộ và
phát huy tính sáng tạo và vận dụng vào làm bài tập Việc vận dụng kiến thức lý thuyết vào
Trang 7làm các bài tập thể hiện sự độc lập, tự giác của học sinh cần được thể hiện ở mọi lúc, mọinơi, không chỉ ở sách giáo khoa, sách bài tập mà có thể ở sách tham khảo hoặc báo không những ở trường lớp mà có thể những tình huống, các hiện tượng trong thực tế cuộcsống hằng ngày.
Giáo viên cần phải hướng cho học sinh biết được học tập là phài kết hợp “Học đi đôi với hành” Trong đó hoạt động học tập thực chất là tự nhận thức, đặc trưng ở khả
năng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức
Trong dạy học và hướng dẫn làm bài tập Vật lý THCS nói chung và Vật lý 6 nóiriêng, giáo viên phải phân ra cho học sinh biết và phương pháp làm hai dạng bài tập nàylà: Bài tập định tính và bài tập định lượng
Bài tập định tính là những bài tập mà khi giải, học sinh không cần thực hiện các phép tính phức tạp mà phải sử dụng những phép suy luận lôgic trên cơ sở hiểu rõ bản chấtcủa các khái niệm, định luật Vật lí và nhận biết được những biểu hiện của chúng trong các trường hợp cụ thể Đối với loại bài tập này, việc xác lập lời giải thường gây cho Học sinh nhiều khó khăn vì nó đòi hỏi phải lập luận một cách lôgic, có căn cứ đầy đủ và xác đáng về mặt kiến thức
Bài tập định lượng là những bài tập mà khi giải, học sinh cần thực hiện các phép tính, biến đổi công thức để tình ra kết quả Đối với loại này, việc biến đổi công thức và tính toán thường gây cho học sịnh nhiều khó khăn vì nó đòi hỏi học sinh phải có trí nhớ kiến thức lí thuyết cũ và khả năng tư duy sáng tạo
II.3 Giải pháp thực hiện
II.3.1.Phương pháp làm bài tập định tính
Để làm được tốt các bài toán định tính thì giáo viên cần hướng dẫn học sinh thựchiện như sau:
a Tìm hiểu đề bài, nắm vững giả thiết của bài tập
Yêu cầu học sinh phải đọc kĩ đề bài để tìm hiểu các thuật ngữ chưa biết, tên gọi xác định ý nghĩa Vật lý của các thuật ngữ vật lý, tóm tắt đầy đủ các giả thiết và nêu bật câu hỏi chính của bài tập (cần xác định cái gì? mục đích cuối cùng của bài giải là gì?)
Trang 8b Phân tích hiện tượng
Yêu cầu học sinh nghiên cứu các dữ kiện ban đầu của bài tập (những hiện tượng gì,
sự kiện gì, những tính chất gì ) để nhận biết chúng có liên quan đến những khái niệm nào, quy tắc nào đã học trong Vật lý 6
c Xây dựng lập luận và suy luận kết quả
Có thể phân loại các bài tập định tính theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên về cơ bản ta thường gặp hai dạng, đó là giải thích hiện tượng và dự đoán hiện tượng sẽ xảy ra:
– Đối với loại câu hỏi giải thích hiện tượng, phải thiết lập được mối quan hệ giữa một hiện tượng cụ thể với một số đặc tính của sự vật hay định luật Vật lý, tức là phải thựchiện được phép suy luận lôgic, trong đó cơ sở kiến thức phải là một đặc tính chung của sựvật hoặc định luật Vật lý có tính tổng quát áp dụng vào điều kiện cụ thể của đề bài mà kết quả cuối cùng chính là hiện tượng đã được nêu ra trong đề bài
– Đối với loại câu hỏi dự đoán hiện tượng, trước hết cần phải “khoanh vùng” kiến thức bằng cách căn cứ vào những dấu hiệu ban đầu (các dụng cụ thí nghiệm, dạng đồ thị, cấu tạo vật thể, trạng thái ban đầu của hệ ) để liên tưởng, phán đoán chúng có thể liên quan đến những quy tắc Vật lý nào đã biết Từ những phân tích về diễn biến của quá trình
và việc vận dụng các kiến thức Vật lý liên quan đã tìm được ta có thể dự đoán hiện tượng một cách chính xác
d Kiểm tra kết quả tìm được
Kiểm tra kết quả tìm được thực chất là phân tích kết quả cuối cùng để xem kết quả tìm được có phù hợp với điều kiện nêu ra ở bài tập hay không Đối với các bài tập định tính có nhiều cách để kiểm tra, trong đó hai cách thường dùng là thực hiện các thí nghiệm
có liên quan để đối chiếu với kết luận về dự đoán hiện tượng hoặc đối chiếu câu trả lời với các nguyên lí hay định luật Vật lý tổng quát xem chúng có thoả mãn hay không
Ví dụ: Bài tập 20.6* (Sách BTVL6) Trong một ống thủy tinh nhỏ đặt ngang đã
được hàn kín hai đầu và hút hết không khí, có một giọt thủy ngân nằm ở giữa (hình 20.3) Nếu đốt nóng một một đầu ống thì giọt thủy ngân có dịch chuyển không? Tại sao?
Trang 9Trước khi hướng dẫn tôi kiểm tra bài làm của học sinh thì thấy đa số các em đều làm như sau: Giọt thủy ngân không chuyển, vì ống thủy tinh đã được hàn kín hai đầu và hút hết không khí Hoặc một số học sinh trả lời giọt thủy ngân chuyển động vì ống thủy tinh bị nóng lên giọt thủy ngân chuyển động giống như giọt nước màu trong ống thủy tinhkhi áp tay vào bình cầu ở thí nghiệm hình 20.2 SGK Vật lý 6
Sau khi kiểm tra bài làm của học sinh tôi thấy đa số các em trả lời chưa chính xác hoặc một số em trả lời đúng nhưng chưa giải thích được Nên tôi đưa ra hướng dẫn làm bài tập này như sau:
Hướng dẫn:
Đây là loại bài tập định tính có yêu cầu dự đoán và giải thích hiện tượng xảy ra.Tìm hiểu đầu bài ta thấy: Do có giọt thủy ngân nằm ở giữa mà ống thủy tinh được chia làm hai phần, dung tích ban đầu của mỗi phần là bằng nhau, bên trong mỗi phần là
chân không Chi tiết đáng lưu ý trong đầu bài thuật ngữ “đốt nóng”.
Chỉ riêng việc “đốt nóng” đã có thể đó làm ta liên tưởng đến một loạt các hiện
tượng Vật lý xảy ra như ống thủy tinh và giọt thủy ngân nóng lên bị dãn nở, giọt thủy ngân bị bay hơi
Câu hỏi thứ nhất đặt ra là: Ống thủy tinh và giọt thủy ngân có bị dãn nở không? giọt thủy ngân có bị bay hơi không? Như vậy diễn biến đáng chú ý của hiện tượng là ở haiphần của ống thủy tinh có chứa hơi thủy ngân
Câu hỏi thứ hai đặt ra là: Hơi thủy ngân ở hai phần của ống thủy tinh như thế nào?
Dữ kiện của đầu bài cho biết ngọn nến được đốt nóng một đầu, điều đó làm lộ ra về tác
Trang 10động làm bay hơi thủy ngân về phía đầu kia, có thể kết luận lượng thủy ngân bay hơi về phía đầu kia.
Cuối cùng, căn cứ vào các điều kiện về hơi thủy ngân, thể tích hơi thủy ngân trongống, học sinh dễ dàng liên tưởng đến việc sử dụng kiến thức về sự nở vì nhiệt của chất khí
để suy luận ngay sau khi nung nóng giọt thủy ngân có dịch chuyển Tuy trong ống không
có không khí nhưng lại có hơi thủy ngân Hơi thủy ngân ở một đầu bị hơ nóng lên, nở ra đẩy giọt thủy ngân dịch chuyển về phía đầu kia
e Kết quả khảo nghiệm
II.3.2.Phương pháp làm bài tập định lượng:
Để làm được tốt các bài toán định lượng thì giáo viên cần hướng dẫn học sinh thựchiện như sau:
a Tìm hiểu đề:
Đọc kĩ đề bài
Tìm hiểu ý nghĩa Vật lý của các từ ngữ trong đề bài bằng ngôn ngữ Vật lý
Trang 11Tóm tắt đề bài bằng các kí hiệu Vật lý.
Vẽ hình (nếu cần)
Xác định điều “cho biết” đã cho, điều “phải tìm” ẩn số của bài tập, điều kiện trung gian “cần tìm”.
b Phân tích hiện tượng Vật lý theo đề bài:
Xác định xem hiện tượng đã nêu trong bài tập thuộc phần kiến thức Vật lý nào?khái niệm nào?
Nếu gặp hiện tượng Vật lý phức tạp thì phân tích ra thành những hiện tượng đơngiản Tìm hiểu xem hiện tượng Vật lý diễn biến qua những giai đoạn nào?
c Xây dựng lập luận cho việc giải bài tập
Trình bày có hệ thống, lập luận chặt chẽ, logic để tìm ra mối liên hệ giữa nhữngđiều cho biết và điều phải tìm
Đổi các đơn vị cho phù hợp
Lập các công thức liên quan đến các đại lượng cho biết, đại lượng cần tìm Thựchiện các phép biến đổi để tìm ẩn số là đại lượng Vật lý phải tìm
*Có thể lập luận theo hai phương pháp sau:
Phương pháp phân tích: Bắt đầu từ điều phải tìm (ẩn số) xác định mối liên hệ giữanhững điều cho biết và điều phải tìm và các điều kiện trung gian Tìm mối liên hệ giữacác điều kiện trung gian đã biết
Phương pháp tổng hợp: Từ những điều đã cho biết, xác định mối liên hệ giữanhững điều đã cho biết với các điều trung gian, sau đó tìm mối liên hệ giữa những điềukiện trung gian và những điều phải tìm
d Giải bài tập
Dựa vào các phân tích trên học sinh tìm ra mối liên hệ giữa những điều đã cho biết
và điều phải tìm, học sinh tìm được công thức áp dụng cho việc giải bài tập đó thông qua các công thức đã học:
Ghi lời giải
Sắp xếp công thức và thay số, tính toán, tìm kết quả