1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN kinh nghiệm nâng cao chất lượng phân môn tập làm văn lớp 3

18 235 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 517 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giờ tập làm văn học sinh được cung cấp kiến thức về cách làm bài và làm các bài tập nói, viết; xây dựng các loại văn bản và các bộ phận cấu thành văn bản.. Từ đó, tôi đã tìm cách đ

Trang 1

I Phần mở đầu

I.1 Lí do chọn đề tài

Phân môn Tập làm văn là một phân môn có vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh hình thành văn bản nói và viết Đây là một phân môn mang tính trừu tượng trong chương trình Tiếng Việt tiểu học Dạy phân môn Tập làm văn có hiệu quả cao tức là người giáo viên đã xâu chuỗi kiến thức từ các phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu Chính vì thế mà phân môn tập làm văn có tính chất tổng hợp, là kết quả lĩnh hội các kiến thức của môn Tiếng Việt Trong chương trình tiểu học hiện nay, mục tiêu chính của môn Tiếng Việt là hình thành và phát triển cho học sinh các

kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết Đặc biệt ở lớp 3, phân môn tập làm văn rèn cả bốn kỹ năng: nói, nghe, đọc và viết Trong giờ tập làm văn học sinh được cung cấp kiến thức về cách làm bài và làm các bài tập (nói, viết); xây dựng các loại văn bản và các

bộ phận cấu thành văn bản Bên cạnh đó học sinh còn tập kể lại những mẩu chuyện được nghe thầy, cô kể trên lớp Bên canh đó qua từng nội dung bài dạy, phân môn tập làm văn còn bồi dưỡng thái độ ứng xử có văn hoá, tinh thần trách nhiệm trong công việc, bồi dưỡng tình cảm lành mạnh tốt đẹp cho học sinh

Nói và viết là những hình thức giao tiếp rất quan trọng, thông qua đó con người thực hiện quá trình tư duy – chiếm lĩnh tri thức, trao đổi tư tưởng, tình cảm, quan điểm, giúp mọi người hiểu nhau, cùng hợp tác trong cuộc sống lao động Ngôn ngữ (dưới dạng nói - ngôn bản và dưới dạng viết - văn bản) giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển xã hội Chính vì vậy hướng dẫn học sinh nói đúng và viết đúng là hết sức cần thiết Nhiệm vụ nặng nề đó phụ thuộc rất lớn vào việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng

Để thực hiện tốt mục tiêu của môn học, đòi hỏi người thầy phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với khả năng sử dụng ngôn ngữ và tâm lí lứa tuổi học sinh (HS) để giờ học diễn ra tự nhiên, nhẹ nhàng và có hiệu quả Trong giảng dạy giáo viên phải có nghệ thuật sư phạm, biết dẫn dắt, gợi mở đưa học sinh giải quyết các tình huống và thông qua việc

xử lí các tình huống đó học sinh lĩnh hội được kiến thức bài học Đối với phân môn Tập làm văn, để thực hiện được điều đó càng khó hơn Qua thực tế giảng dạy học sinh lớp 3, tôi thấy hầu như học sinh rất lúng túng, chưa biết cách vận dụng để làm các dạng bài Tập làm văn Từ đó, tôi đã tìm cách để hướng dẫn học sinh phương pháp học tập để học tốt phân môn Tập làm văn với dạng bài: “Kể hay nói, viết về

một chủ đề” Từ thực tế vận dụng, tôi tổng hợp thành kinh nghiệm : "Một số biện

pháp hỗ trợ học sinh nhằm nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn lớp 3"

với dạng bài “Kể hay nói, viết về một chủ đề” với hi vọng trao đổi với đồng nghiệp

về các phương pháp giảng dạy phân môn Tập làm văn dạng bài “Kể hay nói, viết về

một chủ đề”, nhằm làm tốt hơn vai trò giảng dạy, giúp học sinh dễ dàng hơn trong khi làm các bài tập dạng này

Trang 2

I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

* Mục tiêu

Việc dạy cho học sinh nắm được cách kể hay nói, viết về một chủ đè có hiệu quả trong phân môn Tập làm văn ở lớp Ba là rất quan trọng Dạy tốt vấn đề này giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết một cách linh hoạt để biết làm bài văn kể hay nói, viết về một chủ đề cho trước có hiệu quả Giúp học sinh mạnh dạn, tự tin và ham thích học văn Vậy mục tiêu nghiên cứu trong đề tài này tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:

- Tìm hiểu các bài nói, viết về một chủ đề có trong chương trình tập làm văn lớp 3

- Thực trạng việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh về phân môn Tập làm văn lớp 3 ở trường tiểu học hiện nay

- Một số biện pháp hỗ trợ học sinh khi lam các bài tập dạng bài Kể hay nói, viết về một chủ đề

* Nhiệm vụ

Nghiên cứu tìm ra một số giải pháp hợp lí nhằm nâng cao hiệu quả giờ học Tập làm văn ở lớp 3 với dạng bài: Kể hay nói, viết về một chủ đề

I.3 Đối tượng nghiên cứu

Học sinh lớp 3 năm học 2011 – 2012 đến năm học 2014 – 2015

I.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu một số biện pháp giúp học sinh có thể làm tốt các bài tập dạng bài

Kể hay nói, viết về một chủ đề trong phân môn Tập làm văn lớp 3

Thời gian thực hiện đề tài bắt đầu thực hiện từ tháng 8 năm 2011 đến nay

I.5 Phương pháp nghiên cứu

1 - Phương pháp nghiên cứu tài liệu, lí luận

2 - Phương pháp phân tích, tổng hợp

3 - Phương pháp điều tra, khảo sát

4 - Phương pháp luyện tập, thực hành

5 - Phương pháp trao đổi, tranh luận

II Phần nội dung

II.1 Cơ sở lí luận

Trang 3

Tiếng Việt lớp 3 được học trong 35 tuần, học kì I có 18 tuần, học kì II có 17 tuần, mỗi tuần học 8 tiết, riêng phân môn Tập làm văn mỗi tuần học sinh được học 1 tiết Các tiết Tập làm văn đều được sắp xếp ở cuối mỗi tuần học, bởi vì đây là phân môn tích hợp của các phân môn khác trong môn Tiếng Việt

Tập làm văn là một trong những phân môn có vị trí quan trọng của môn Tiếng Việt Phân môn này đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức, kĩ năng tổng hợp

từ nhiều phân môn khác như: Học Vần, Tâp viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu…

Để làm được một bài văn học sinh phải sử dụng cả bốn kĩ năng: “ Nghe, nói, đọc, viết “ Phải vận dụng những kiến thức về tiếng Việt, về cuộc sống thực tiễn Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng tạo lập văn bản, trong quá trình lĩnh hội các kiến thức khoa học, góp phần dạy học sinh sử dụng tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt Bài tập làm văn là nơi thể hiện rõ nhất năng lực, kĩ năng, kiến thức của học sinh Vì vậy, Tập làm văn được coi là phân môn có tính tổng hợp, toàn diện, sáng tạo có liên quan mật thiết đến các môn học khác Trên cơ sở nội dung, chương trình phân môn Tập làm văn có rất nhiều đổi mới, nên đòi hỏi tiết dạy Tập làm văn phải đạt được mục đích

cụ thể hơn, rõ nét hơn Ngoài phương pháp của thầy, học sinh cần có vốn kiến thức ngôn ngữ về đời sống thực tế Điều này đòi hỏi phân môn Tập làm văn phải có nhiệm

vụ cơ bản sau: Thứ nhất là giúp cho học sinh sau quá trình luyện tập lâu dài có ý thức nắm được cách viết và cách nói sáng tạo các văn bản theo nhiều phong cách khác nhau Thứ hai là phân môn này góp phần bổ sung kiến thức, rèn luyện tư duy, trau dồi thái độ ứng xử có văn hóa, tinh thần trách nhiệm trong công việc, bồi dưỡng những tình cảm tốt đẹp; qua nội dung bài dạy, hình thành nhân cách cho học sinh Còn nhiều nhiêm vụ khác nữa nhưng tôi chỉ nêu hai nhiệm vụ tôi coi là quan trọng nhất Tóm lại: Dạy phân môn Tập làm văn theo hướng đổi mới phải khích lệ học sinh tích cực, sáng tạo, chủ động học tập, biết diễn đạt suy nghĩ của mình thành ngôn bản, văn bản

II.2 Thực trạng

a Thuận lợi, khó khăn

* Thuận lợi về phía giáo viên

- Đặc trưng phân môn Tập làm văn là hình thành và rèn luyện cho học sinh khả năng trình bày văn bản nói (viết) ở nhiều thể loại khác nhau Để thực hiện mục tiêu

đó, mỗi giáo viên không ngừng học hỏi, cải tiến phương pháp và hình thức tổ chức dạy học để giúp học sinh nắm được kiến thức, nói (viết) được đoạn văn theo yêu cầu

- Giáo viên luôn quan tâm chăm sóc học sinh trong từng tiết học, nghiên cứu nội dung bài dạy, lựa chọn các phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với mỗi đối tượng học sinh

- Qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua bồi dưỡng chuyên môn thường xuyên, giáo viên luôn được tiếp cận với những phương pháp day học đổi mới, phát

Trang 4

huy tính tích cực sáng tạo của học sinh.

* Thuận lợi về phía học sinh

- Ở lứa tuổi học sinh lớp 3, các em rất thích tìm tòi, học hỏi

- Nội dung chương trình môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng rất phong phú Sách giáo khoa kênh chữ rõ ràng, các câu hỏi sát thực; kênh hình được trình bày đẹp phù hợp tâm lí lứa tuổi

- Học sinh đã được làm quen kĩ năng tạo lập văn bản ở các lớp dưới Đây là cơ

sở giúp học sinh học tốt phân môn Tập làm văn ở lớp 3

* Khó khăn về phía giáo viên

- Trong giảng dạy phân môn Tập làm văn, khi rèn kĩ năng nói, viết cho học sinh giáo viên có đầu tư nghiên cứu mục tiêu từng bài dạy, lựa chọn các phương pháp phù hợp với đối tượng học sinh nhưng sự đầu tư chưa sâu, hầu hết chỉ dựa vào sách giáo viên nên hiệu quả môn dạy chưa cao

- Một số đề bài chưa thực sự gần gũi với học sinh như kể về một ngày hội, viết tin thể thao… thiếu thực tế nếu giáo viên chỉ nói suông thì học sinh không hiểu, không nắm bắt được nên hiệu quả chưa cao

- Việc tổ chức giờ học trên lớp của giáo viên chưa phát huy dược vốn ngôn ngữ vốn có của các em cũng như chưa khơi dậy ở học sinh sự mạnh dạn tự tin trong học tập

* Khó khăn về phía học sinh

- Môn tập làm văn là một môn khó, nhiều em còn ngại làm văn, lười suy nghĩ nên ở các giờ học các em còn ngại phát biểu, viết bài sơ sài Cách dùng từ đặt câu chưa đúng, viết đoạn văn còn nghèo ý, chưa có sự sáng tạo Hầu hết học sinh chỉ trả lời hay viết đúng theo câu hỏi gợi ý

Đây là những vấn đề nan giải đòi hỏi người giáo viên phải có biện pháp thích hợp để từng bước nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Tập làm văn

b Thành công, hạn chế

b.1 Đối với học sinh

Khi tôi vận dụng các biện pháp này trong giờ dạy Tập làm văn, học sinh buộc phải có sự tư duy động não suy nghĩ vấn đề mà giáo viên nêu ra, tìm tòi các từ ngữ, hình ảnh phù hợp với chủ đề trong bài nói, viết Học sinh phải sắp xếp ý, hình ảnh phù hợp sau đó sắp xếp câu để thành đoạn văn phù hợp chủ đề Tóm lại biện pháp này giúp học sinh học tập rất tích cực, hiệu quả

- Tiết học diễn ra nhẹ nhàng, tạo hứng thú học tập cho học sinh Qua kiểm tra, chất lượng các bài văn của học sinh nâng lên rõ rệt Bài Tập làm văn dạng Kể hay

Trang 5

nói, viết về một chủ đề đã có những ý tưởng độc lập, sáng tạo, có màu sắc riêng; một

số em còn có những ý tưởng độc đáo, mới lạ Hầu hết học sinh đã biết nói (viết) một đoạn văn ngắn theo chủ đề, diễn đạt khá lưu loát, trôi chảy

- Ở các tiết học Tập làm văn, khi đã làm quen với cách học này, học sinh mạnh dạn, tự tin hơn trong học tập cũng như giao tiếp nhất là đối với những học sinh trung bình và yếu

- Khi vận dụng các giải pháp trên vào dạy Tập làm văn ở lớp 3, giờ học không trầm như trước mà học sinh chú ý học hơn nhiều, qua thực hành giao tiếp cho thấy khả năng hoạt động học tập của học sinh rất tích cực, hiệu quả, chất lượng phân môn Tập làm văn và môn Tiếng Việt nói chung được nâng lên rõ rệt

b.2 Đối với giáo viên

Khi dạy các bài tập dạng này, giáo viên hoàn thành mục tiêu bài dạy, không còn cảm thấy áp lực vì học sinh đã viết được đoạn văn theo yêu cầu dễ dàng hơn

b.3 Hạn chế

Phương pháp này yêu cầu người giáo viên phải tổng hợp được kiến thức từ các phân môn khác trong môn Tiếng Việt, đòi hỏi giáo viên phải có kĩ năng phân tích, tổng hợp, tóm lại phải nắm chắc nội dung chương trình của môn Tiếng Việt lớp 3

c Mặt mạnh, mặt yếu

Giúp cho học sinh nói (viết) được đoạn văn đúng chủ đề theo yêu cầu của đề bài

Học sinh phải nắm được các từ ngữ thuộc chủ đề, mạnh dạn trình bày ý kiến của bản thân

d Nguyên nhân

- Nguyên nhân thành công: Bản thân tích cực tìm tòi học hỏi, nghiên cứu kĩ chương trình, sách giáo khoa và kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm Đặc biệt có sự quan tâm của đồng nghiệp, của lãnh đạo nhà trường trong việc giúp đỡ bản thân trong công tác chuyên môn

- Nguyên nhân hạn chế: Một số giáo viên chưa tổng hợp được kiến thức trong quá trình giảng dạy, chưa thực sự quan tâm đến chất lượng học sinh nói chung và chất lượng phân môn Tập làm văn nói riêng

e Phân tích, đánh giá về các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra

Vậy làm thế nào để thực hiện được mục tiêu dạy học của môn Tập làm văn, khắc phục thực trạng học Tập làm văn như đã nói trên? Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã phát hành bộ sách Hướng dẫn dạy Tiếng Việt lớp 3 dành cho giáo viên Người giáo viên có thể lấy đó làm cơ sở để tham khảo, tiến hành thiết kế bài giảng

Trang 6

Tập làm văn của lớp mình phụ trách Tuy nhiên, sách giáo viên (SGV) khi hướng dẫn dạy dạng bài Kể hay nói, viết về một chủ đề hầu hết chỉ hướng dẫn theo một cách, dẫn đến GV thụ động kiến thức ở SGK, SGV mà ít tìm tòi đọc thêm tài liệu khác liên quan đến giảng dạy đặc biệt là khi dạy Tiếng Việt nên ngôn ngữ của giáo viên còn hạn hẹp, bí từ Khi tổ chức các hoạt động trong giờ học, một số giáo viên chưa phân định được hoạt động nào là trọng tâm nên hình thức tổ chức dạy còn dàn trải, chưa có sự liên kết giữa các hoạt động Một số giáo viên chưa chịu khó suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng các phương pháp dạy học và hình thức dạy học khác nhau vào các tiết dạy mà chỉ giảng dạy theo một quy trình áp đặt rập khuôn đã hướng dẫn trong SGV Một số đề bài trong Sách giáo khoa còn thiếu thực tế, xa rời vốn sống của học sinh Khi làm bài, các em chỉ dựa vào các hình ảnh, tư liệu mà giáo viên cung cấp nên bài viết còn sơ sài, chưa có sự sáng tạo

Do cách tổ chức giờ học còn nhàm chám, rập khuôn nên trong giờ Tập làm văn,

đa số học sinh chỉ trả lời câu hỏi theo gợi ý mà ít chịu tìm tòi các chi tiết, hình ảnh phù hợp chủ đề, dẫn đến nói, viết bài Tập làm văn cho có, lấy lệ

II.3 Giải pháp, biện pháp

a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp

Sử dụng mạng ý nghĩa, bản đồ tư duy để giúp học sinh tìm kiếm và phát triển diễn đạt ý tưởng, giúp cho các em khi làm bài tập làm văn dạng “Kể hay nói, viết về một chủ đề” có thêm vốn từ ngữ, tạo cho các em có sự liên tưởng các chi tiết hình ảnh trong cùng một chủ đề, biết sắp xếp các chi tiết hình ảnh ấy tạo thành một ngôn bản (nói) hay văn bản (viết) Từ đó, có sự mạnh dạn tự tin trong học tập cũng như trong giao tiếp

b Nội dung, cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp

b.1 Nội dung các bài tập làm văn trong Chương trình Lớp 3 dạng “Kể hay nói, viết theo chủ đề”.

16 Nói về thành thị, nông thôn Thành thị và

nông thôn

Trang 7

17 Viết về thành thị, nông thôn Thành thị và

nông thôn

22 Nói, viết về người lao động trí óc Sáng tạo

23 Kể lại một buổi biểu diễn nghệ thuật Nghệ thuật

29 Viết về một trận thi đấu thể thao Thể thao

31 Thảo luận về bảo vệ môi trường Bầu trời và

mặt đất

32 Nói, viết về bảo vệ môi trường Bầu trời và

mặt đất Nội dung các bài tập thuộc dạng bài này nhằm rèn cho học sinh kỹ năng diễn đạt bằng lời nói (viết) về một chủ đề thuộc các chủ điểm của môn học: Nói, viết về thành thị hoặc nông thôn thuộc chủ điểm Thành thị và Nông thôn; Kể về gia đình thuộc chủ điểm Mái ấm; Kể về một buổi thi đấu, kể về lễ hội, …

Xem xét cách triển khai câu hỏi gợi ý ở mỗi đề, chúng ta có thể thấy dạng đề này hầu như là sự kết hợp của nhiều thể loại: miêu tả, tường thuật, thuyết minh và phát biểu cảm nghĩ Trong sách giáo viên, các kiểu đề này chủ yếu được tiến hành theo một trình tự như sau:

- Giáo viên giới thiệu bài:

- Giáo viên hướng dẫn học sinh làm bài:

+ Học sinh đọc và xác định yêu cầu của bài tập

+ GV cho học sinh tìm ý theo hệ thống câu hỏi trong SGK hay hệ thống câu hỏi trong SGV hoặc giải thích cho học sinh cách làm bài

+ Một học sinh kể mẫu và giáo viên nhận xét

- Học sinh tập nói theo tổ (nhóm)

- Đại diện một số nhóm nói trước lớp Cả lớp và giáo viên nhận xét

- Cả lớp viết bài vào vở nếu bài yêu cầu cả nói và viết

Trang 8

Trình tự dạy học như vậy bài nào cũng giống bài nào, dẫn đến sự nhàm chán, thiếu sự sáng tạo và không tích hợp được các phân môn học khác của môn Tiếng Việt

Khi dạy dạng đề này, ngoài phương án được nêu trên (trong sách giáo viên), tôi đã tham khảo một số kinh nghiệm trên mạng internet của đồng nghiệp và của chính bản thân, trước hết là nghiên cứu dạy thật tốt các phân môn khác trong môn Tiếng Việt, sau đó sử dụng mạng ý nghĩa và bản đồ tư duy để giúp học sinh tìm kiếm và phát triển diễn đạt ý tưởng, giúp cho các em khi làm bài tập làm văn dạng

“Kể hay nói, viết về một chủ đề” có thêm vốn từ ngữ, giúp cho các em dựa vào mạng ý nghĩa hay bản đồ tư duy, có thể nói (viết) thành đoạn văn theo yêu cầu đề bài một cách dễ dàng hơn, tạo sự mạnh dạn tự tin trong học tập

b.2 Cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp

b.2.1 Hình thành và phát triển “môi trường tư liệu ở lớp học”

Trước tiên tôi thực hiện hình thành “môi trường tư liệu ở lớp học” để giúp học sinh có điều kiện dễ dàng sử dụng từ ngữ khi sử dung mạng ý nghĩa hay bản đồ tư duy mà tôi trình bày ở phần sau

+ Thu thập và trưng bày các bài văn mẫu của học sinh khá giỏi năm trước

+ Phân tích điểm hay của các bài đọc tiêu biểu cho các thể loại văn bản, giới thiệu thành bộ sưu tập và trưng bày

+ Xây dựng từ điển lớp: Giáo viên đưa ra hoặc hướng dẫn học sinh thu thập danh mục các từ mà các em đã biết theo chủ đề Tập làm văn trong sách giáo khoa + Tập cho học sinh có thói quen quan tâm đến các trường hợp sử dụng từ hay trong khi đọc, kể chuyện hay luyện từ và câu

b.2.2 Sử dụng “Mạng ý nghĩa”:

Sử dụng “Mạng ý nghĩa” như là sử dụng một đồ dùng dạy học, một biện pháp dạy học cụ thể Sử dụng mạng ý nghĩa là cách thức giáo viên tổ chức cho học sinh suy nghĩ diễn đạt một cách chủ động và sáng tạo trong dạy học Tập làm văn Phương pháp này hướng đến việc cá thể hoá tối đa hoạt động nói và viết của học sinh sao cho sản phẩm làm văn của các em vừa bảo đảm được chuẩn mực cơ bản của một thể loại văn bản, vừa thể hiện bản chất cái tôi của mỗi học sinh trên cơ sở khai thác khái niệm và hiểu biết có trước của các em cũng như những ý tưởng và ngôn từ trong các bài đọc theo chủ đề mà các em đã được học trong SGK

*Tiến trình thực hiện phương pháp mạng ý nghĩa:

Hoạt động 1: Tìm hiểu đề

Trong hoạt động này, học sinh định hình cụ thể đối tượng nói hay viết trong trí nhớ để xác định đối tượng đó là ai? Là gì? ở đâu? Lúc nào? vào khung chủ đề Trong trường hợp dùng vật thật hay tranh ảnh thì khung chủ đề cũng chính là chúng

Trang 9

Để thực hiện hoạt động này tôi sử dụng một trong các hình thức sau:

- GV trò chuyện khơi gợi rồi đề nghị học sinh nhắm mắt nghĩ về đối tượng,

- Tạo tình huống khơi gợi rồi đề nghị học sinh nghĩ đến chủ đề hay đề tài

- Kể một mẩu chuyện nhỏ liên quan đến đề bài, kết hợp đặt câu hỏi hướng học sinh đến đề tài

- Dùng tranh ảnh hoăc mẫu vật thật do giáo viên mang đến lớp hay do học sinh

tự sưu tầm

- Cho học sinh tô màu rồi đặt tên cho một hình vẽ nào đó (do giáo viên cung cấp) liên quan đến đề tài

- Sử dụng mô hình (khung ngôi nhà, khung ngôi trường ) Trên nền khung giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ hay viết thêm chi tiết vào

- Sử dụng một đoạn văn mẫu lấy từ bài tập đọc đã học hay từ các bài làm của học sinh

Hoạt động 2: Tìm ý

Học sinh tập trung động não nghĩ về đối tượng đã xác định trong khung chủ

đề và viết ra bất kì những từ ngữ nào liên quan đến đối tượng ấy

Khi tiến hành hoạt động này tôi thực hiện theo các bước sau:

- Sử dụng hệ thống câu hỏi để kích thích và định hướng cho học sinh phát triển ý Cần lưu ý câu hỏi phải có tính chất mở, hướng đến việc khơi gợi kinh nghiệm riêng, vốn sống thực tế của các em Ví dụ đối với văn miêu tả, câu hỏi có thể được triển khai theo hướng mở sau: Em thấy gì? Em nghe gì? Em nghĩ gì? Em cảm thấy gì?

- Đưa ra một khung mạng trong đó cho sẵn vài ý, phần còn lại để học sinh suy nghĩ và đưa thêm ý vào để hoàn thành mạng (khung mạng ý nghĩa có thể được trình bày dưới nhiều hình thức khác nhau tuỳ theo nội dung từng bài : Bông hoa, chùm bong bóng, mạng nhện, một cây với những cành lá

- Đối với học sinh khá giỏi hay học sinh đã quen với việc sử dụng mạng, giáo viên nên để các em tự nghĩ và viết ra các ý mà không cần đưa một hệ thống câu hỏi hoàn chỉnh

- Học sinh viết các ý dưới dạng từ hay cụm từ xung quanh chủ đề Giáo viên tuyệt đối tránh viết chốt lại một số từ về đề bài Cần xoá đi những ý đã được ghi lên bảng trong giai đoạn làm mẫu nghĩa là khi học sinh làm việc cá nhân trong phiếu học tập thì trên bảng chỉ còn lại khung mạng trống

Hoạt động 3: Lập dàn ý : Sắp xếp ý đã có trong mạng

- Hướng dẫn học sinh đánh số thứ tự cho các ý tìm được, lưu ý trình tự chung của thể loại văn đang làm và hướng dẫn có tính chất mở (đoạn văn miêu tả thì lưu ý những chi tiết nào có ý nghĩa giới thiệu chung thì nói trước, ý nào miêu tả chi tiết, cụ

Trang 10

thể thì nói sau).

- Mỗi học sinh xem lại các ý trong mạng và đánh số thứ tự

- Gọi vài học sinh lên thể hiện mạng ý nghĩa của mình đã làm trước lớp để cả lớp theo dõi Ngoài khung mạng làm mẫu, GV vẽ sẵn trên bảng các mạng tương tự

và che chúng lại Sau khi HS đã tìm ý và hình thành mạng ý nghĩa trong phiếu bài tập, giáo viên cho một số em lên thể hiện lại ý của mình vào các khung mạng trên bảng

Hoạt động 4: Học sinh diễn đạt các ý trong mạng ý nghĩa thành bài dưới dạng nói hay viết

- Nếu là bài tập nói, giáo viên hướng dẫn học sinh nhìn mạng ý nghĩa của mình diễn đạt thành câu, thành bài trước lớp hay theo nhóm, cặp, theo nhóm đôi là tốt nhất

- Nếu là bài tập viết, giáo viên hướng dẫn học sinh diễn đạt mỗi từ ngữ xoay quanh mạng ít nhất một câu

Hoạt động 5: Trao đổi, sửa chữa và nhận xét:

- Nếu là bài nói, cho vài nhóm học sinh thể hiện lại trước lớp rồi tổ chức trao đổi nhận xét và rút kinh nghiệm về cách nói phù hợp với yêu cầu của nội dung và thể loại của đề bài

- Nếu là bài viết: Tổ chức cho học sinh đọc sửa chữa bản nháp của mình theo hình thức nhóm/cặp (đổi vở cho nhau sửa chữa) Giáo viên theo dõi giúp đỡ chung Hoạt động 6: Dựa vào bản nháp đã được sửa, học sinh viết lại bài hoàn chỉnh

*Ví dụ minh họa

Ví dụ 1: Đề bài: Nói về quê hương em (BT2-TV3 -Tập1- Tr92)

1 Chuẩn bị:

Phiếu học tập

a Hoàn thành bảng dưới đây

Tên bài đọc Quê hương là Chi tiết làm em xúc động nhất

Giọng quê hương

Quê hương

Đất quý, đất yêu

Vẽ quê hương

Ngày đăng: 08/05/2016, 12:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w