1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn khám phá khoa học trong trường mầm non

24 449 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 241 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã từng là giáo viên chủ nhiệm lớp lá thường xuyên tiếp xúc với trẻ, hơn ai hết tôi hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý cũng như khả năng, nhu cầu của trẻ.Việc tìm ra một số biện pháp giúp tr

Trang 1

Phòng giáo dục - đào tạo Krông Ana.

Trường Mẫu giáo Sao Mai

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN KHÁM

PHÁ KHOA HỌC TRONG TRƯỜNG MẦM NON

HỌ VÀ TÊN : ĐỖ PHƯƠNG CHI.

CHỨC VỤ : P.HIỆU TRƯỞNG TRÌNH ĐỘ CMNV: CAO ĐẲNG SƯ PHẠM MẦM NON.

Trang 3

MỤC LỤC

I PHẦN MỞ ĐẦU: 3

I.1 Lí do chọn đề tài 3

I.2 Mục tiêu và nhiệm vụ.: 5

I.3 Đối tượng nghiên cứu: 5

I.4 Phạm vi nghiên cứu 5

I.5 Phương pháp nghiên cứu: 5

II PHẦN NỘI DUNG 7

II.1.Cơ sở lí luận: 7

II.2 Thực trạng……….8

II.3 Giải pháp, biện pháp……… 11

II.4 Kết quả………19

III PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ …… 20

III.1 Kết luận:……….21

III.2 Kiến nghị:……… 22

Trang 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Các trang web giáo dục mầm non

2 Tài liệu BDTX giáo viên mầm non - Nhà xuất bản Giáo

Dục

3 Tâm lý học trẻ em lứa tuổi Mầm non Nguyễn Thị Ánh Tuyết

– NXB Giáo dục 1994

I PHẦN MỞ ĐẦU:

Trang 5

I.1 Lý do chọn đề tài:

Muốn tốt cho sự phát triển của bé về cả thể chất lẫn tinh thần điềucần thiết bạn phải đưa trẻ tiếp cận gần hơn với thế giới khách quan Đó là điều

mà tôi muốn gửi đến bài sáng kiến kinh nghiệm này

Trong chúng ta hẳn ai ai cũng bước qua thời thơ ấu với những cảm xúc,những kỷ niệm khó quên và đặc biệt chúng ta đã trải qua quá trình phát triểntừng bước của tâm sinh lý Hiểu được đứa trẻ muốn gì và cần gì là cả một quátrình đầy khó khăn và nỗ lực

Thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ theo hướng tích hợp

“Hướng vào trẻ, trẻ là trung tâm” Đó là quan niệm mọi tác động giáo dục phải

vì lợi ích của trẻ Trẻ là người khởi xướng các hoạt động, trẻ được khuyếnkhích tham gia vào quá trình giáo dục chứ không thụ động Trẻ được học quachơi, qua khám phá thử nghiệm bằng các giác quan Người lớn giữ vai trò

“trung gian” Tổ chức môi trường, tạo điều kiện cho trẻ hoạt động nhằm pháthuy hứng thú, nhu cầu và năng lực của trẻ

Căn cứ vào đặc điểm khả năng của trẻ cũng như tâm sinh lý các nhànghiên cứu đã chứng minh ở lứa tuổi sơ sinh và hài nhi với trẻ hoạt động vuichơi là những hoạt động đơn giản bất cứ đồ vật nào trẻ cũng chỉ đập, quăng,ném, Sang tuổi nhà trẻ dưới sự hướng dẫn của người lớn trẻ bắt đầu tìm hiểu

và nắm bắt chức năng của các đồ vật và biến nó thành vốn tri thức kinhnghiệm của bản thân làm cơ sở để phát triển tâm lý Hoạt động với đồ vật đãtrở thành hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi này Bước qua tuổi mẫu giáo đặc biệttrẻ phải trải qua giai đoạn rất khó khăn trẻ muốn làm như người lớn song khảnăng của trẻ còn hạn chế đòi hỏi người lớn phải hiểu trẻ mà chúng tôi gọi là

giai đoạn “khủng hoảng tuổi lên 3” để đáp ứng nhu cầu đó xuất hiện hoạt

động vui chơi đóng vai trò chủ đạo “đóng vai theo chủ đề”, vui chơi là hoạtđộng mang tính tự nguyện, mang tính độc lập, mang tính phối hợp và mangtính ký hiệu tượng trưng Trẻ em trí tò mò và nhu cầu muốn tìm hiểu, muốnkhám phá sự vật xung quanh rất lớn mà khả năng của trẻ còn hạn chế Việc

Trang 6

giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách chính xác và trọn vẹn phù hợp với khảnăng và đáp ứng nhu cầu của trẻ thông qua các hoạt động thông thường : tạohình, tác phẩm văn học, mới chỉ đem đến cho trẻ lượng kiến thức rất nhỏ.Nhưng nếu chúng ta đưa trẻ hòa nhập vào thiên nhiên, vào khoa học cuộc sốngtrẻ vừa lĩnh hội kiến thức mà người lớn truyền đạt, bên cạnh đó trẻ còn tự tìmhiểu và vốn kiến thức chính xác hơn, thực tế hơn Phong cảnh bên ngoài giúp

bé biết quan sát và nhận thức thế giới, thông qua những câu hỏi “tại sao? Vìsao lại thế?,…” Thiên nhiên tạo cơ hội để bé hít thở không khí trong lành vàtăng cường vận động, cần thiết cho sự phát triển thể chất cũng như tâm hồn trẻqua các hoạt động như hoạt động ngoài trời Các chuyên gia giáo dục cho rằng,vận động ngoài trời sẽ tăng khả năng chú ý và tư duy sáng tạo cho trẻ Nhờ đó,

bé sẽ giảm được nguy cơ mắc chứng bệnh tăng động giảm chú ý

Đã từng là giáo viên chủ nhiệm lớp lá thường xuyên tiếp xúc với trẻ, hơn

ai hết tôi hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý cũng như khả năng, nhu cầu của trẻ.Việc tìm ra một số biện pháp giúp trẻ khám phá khoa học, hòa nhập với thiênnhiên trong tiết dạy đã có kết quả rất lớn trên trẻ và phát triển toàn diện ở trẻ.Trong quá trình tôi tham gia giảng dạy cũng như đi dự các tiết của giáo viêntrong trường nhìn chung trong các tiết học trong lớp lượng kiến thức mà trẻlĩnh hội được rất trừu tượng và chưa sâu sắc đến trẻ Trẻ tiếp thu còn chậm,chưa thực sự gây hứng thú với trẻ Đồ dùng đồ chơi cô chuẩn bị rất nhiềunhưng vẫn mang tính khô khan cứng nhắc và có phần gò bó đối với trẻ, hạnchế sự tò mò tự tìm hiểu sự phong phú muôn màu muôn vẻ của sự vật

Ngoài ra, với điều kiện ở vùng nông thôn sự vật môi trường xung quanh

đa dạng phong phú rất thuận lợi cho trẻ hòa mình vào thiên nhiên và khám phákhoa học, trẻ có thể tìm hiểu trên đường đi học, xung quang trường, Dựa vào

sự hướng dẫn của người lớn cũng như cách tìm hiểu sự vật mà cô đã hướngdẫn trẻ

Dựa vào thực trạng khó khăn và thuận lợi trên mà tôi đã tích lũy được

Trang 7

“ Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn khám phá khoa học” để mạnh

dạn trình bày trong bản sáng kiến kinh nghiệm này Hi vọng nhận được sự góp

ý của các đồng nghiệp

I.2.Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:

- Mục đích của đề tài: Khảo sát khả năng nhận thức tư duy của trẻ đốivới bộ môn khám phá khoa học trên cơ sở đề ra một số giải pháp, biện phápthích hợp nhằm giúp giáo viên trong quá trình hướng dẫn trẻ môn “Khám phákhoa học” có hiệu quả như: kích thích tính tìm tòi, ham hiểu biết, thích khámphá và phát triển về trí tuệ và ngôn ngữ cho trẻ Thông qua đó nhằm phát huytính tích cực, sáng tạo ở trẻ

- Nhiệm vụ của đề tài: + Tổ chức các hoạt động để trẻ khám phá, trảlời các câu hỏi và giải quyết các vấn đề đặt ra như: Hoạt động tham quan,quan sát, trò chuyện, tìm hiểu qua tranh ảnh, khám phá trực tiếp thông quathực hành, thí nghiệm, lao động

+ Tạo cơ hội, làm tăng sự tò mò, hứng thú, nhằm giúp giáo viên trongtiết dạy tạo nhiều cơ hội học tập và lĩnh hội được nhiều kiến thức mới pháthuy tính sáng tạo, tính tò mò ở trẻ thông qua chương trình mầm non mới

+ Giúp giáo viên tìm ra các giải pháp, biện pháp để tạo được hứng thú

cho trẻ trong giờ hoạt động khám phá khoa học

+ Cùng trẻ trải nghiệm, khám phá, tìm tòi, kích thích sự ham học hỏicủa trẻ, qua việc cho trẻ trải nghiệm trẻ thích tìm hiểu khám phá môi trườngxung quanh Phát triển mạnh mẽ quá trình hình thành nhân cách phát triển tưduy cho trẻ

I.3 Đối tượng nghiên cứu:

- Trẻ mẫu giáo trong trường mầm non

I.4 Phạm vi nghiên cứu:

- Trường Mẫu giáo Sao Mai trong hoạt động Khám phá khoa học vàhoạt động ở mọi lúc mọi nơi của học sinh

I.5.Phương pháp nghiên cứu:

Trang 8

* Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

- Để đề tài này có hiệu quả giúp giáo viên dạy đạt được kết quả caotrong giờ khám phá khoa học tôi đã không ngừng tìm tòi tài liệu trong sáchbáo, tivi, tranh ảnh, chuyện tranh, trên mạng … có những hình ảnh liên quanđến tiết học nhằm gây sự chú ý của trẻ

Quan sát các hoạt động của trẻ

Điều tra thực tế

Nghiên cứu tài liệu

Kiểm tra đánh giá các hoạt động của trẻ

* Phương pháp đàm thoại:

- Hướng dẫn giáo viên trao đổi với phụ huynh về tình hình học tập củatrẻ ở lớp cũng như ở nhà, qua đó giáo viên có điều kiện theo dõi, uốn nắn trẻ.Bên cạnh đó tôi cũng thường xuyên trò chuyện cùng cô giáo và trẻ để nắm bắtđược các nguyên nhân làm cho trẻ không thích học khám phá khoa học và tìm

ra hướng khắc phục

* Phương pháp quan sát:

- Trong các giờ học tiết khám phá khoa học của các lớp tôi luôn quansát và hướng dẫn giáo viên chú ý từng trẻ để uốn nắn, củng cố, rèn luyện thêmcác kỹ năng cho trẻ

* Phương pháp điều tra:

- Vào đầu năm học, tôi đã chủ động kiểm tra, khảo sát, thống kê về hoạtđộng khám phá khoa học để nắm bắt khả năng nhận thức của từng cá nhântrẻ Cụ thể như sau:

STT Kỹ năng quan sát,

khả năng so sánh và phân loại

Số lượng ( 225 trẻ )

Trang 9

* Phương pháp dự giờ :

- Tôi luôn luôn học hỏi đồng nghiệp và thông qua các tiết dự chuyên đề

do Sở GD&ĐT, Phòng GD&DT tổ chức từ đó về trường tôi tổ chức chuyên

đề ở trường, các buổi thao giảng dự giờ… tìm ra các biện pháp để áp dụngphù hợp với trẻ

II.PHẦN NỘI DUNG:

II.1.Cơ sở lý luận để thực hiện đề tài

Đối với giáo dục mẫu giáo, phương pháp giáo dục phải tạo điều kiệncho trẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dướinhiều hình thức, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ Chú trọng đổi mới tổchức môi trường giáo dục nhằm kích thích và tạo cơ hội cho trẻ khám phá, trảinghiệm Kết hợp hài hòa giữa giáo dục trẻ trong nhóm bạn với giáo dục cánhân Tổ chức hợp lý các hình thức hoạt động cá nhân, theo nhóm nhỏ và cảlớp, phù hợp độ tuổi của nhóm/lớp, với khả năng của từng trẻ, với nhu cầu vàhứng thú của trẻ và với điều kiện thực tế Chương trình giáo dục mẫu giáonhằm giúp trẻ phát triển hài hòa về các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ,tình cảm, kỹ năng xã hội, thẩm mỹ, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1

Khi tiếp xúc với trẻ tôi thường bắt gặp những điều bất ngờ ở trẻ như:Tới lớp trẻ lượm một chiếc lá đã bị sâu ăn và hỏi tôi tại sao hôm qua cô dạykhông có là như thế này? Tại sao quả đu đủ nhà con không có hạt? Tại sao conkhông được hái hoa đẹp? Tôi luôn trăn trở và muốn gửi đến bài viết này đểmuốn trải lời câu hỏi tại sao cần phải giáo dục trẻ từ thiên nhiên ngay trongnhững năm đầu đời

Bởi vì, trước hết trẻ sẽ phát triển ý thức về sự tôn trọng và quan tâm đếnmôi trường sống ngay từ khi còn nhỏ Thứ hai, sự tác động tích cực đối vớimôi trường tự nhiên cũng là một phần quan trọng cho sự phát triển sức khỏecủa trẻ Và sự tác động qua lại này cũng nâng cao khả năng học hỏi của trẻ

Trang 10

Trẻ được sống gần gũi với thế giới bên ngoài, điều đó sẽ tuyệt vời hơn nhiềusách vở, từ ngữ.

Thực hiện mục tiêu “Hướng vào trẻ, trẻ là trung tâm” của chương trìnhMầm non mới hiện nay Mọi hoạt động đều hướng vào trẻ và trẻ hoạt độngtích cực giáo viên chỉ giữ vai trò “trung gian” Bản thân tôi đã từng là giáoviên mầm non trực tiếp giáo dục chăm sóc trẻ luôn tìm hiểu, nghiên cứu và đãtìm ra một số biện pháp giúp trẻ khám phá khoa học

* Trẻ độ tuổi lớp chồi (4-5 tuổi) Tư duy trực quan hình tượng của trẻphát triển mạnh Nên trẻ có nhu cầu khám phá mối quan hệ giữa các sự vậthiện tượng Trẻ bước đầu có khả năng suy luận

* Trẻ độ tuổi lớp lá (5-6 tuổi) Trẻ ghi nhớ có chủ định và có khả năngtập trung tốt, bền vững Khả năng tư duy trực quan hình tượng của trẻ pháttriển mạnh mẽ Ở tuổi này xuất hiện tư duy trực quan sơ đồ cụ thể như:

+ Trẻ đi sâu tìm hiểu mối quan hệ sự vật hiện tượng và có nhu cầu tìmhiểu bản chất chung

+ Trẻ bắt đầu lĩnh hội được tri thức ở trình độ khái quát cao và một sốkhái niệm sơ đẳng Trẻ đang bước đầu của quá trình tư duy trừu tượng

+ Trả lời được những câu hỏi vì sao?, tại sao như thế?, làm thế nào?,

- Chính vì vậy đây là thời điểm mấu chốt và quan trọng nhất, thời điểmnày tất cả mọi việc đều bắt đầu: bắt đầu ăn, bắt đầu nói, bắt đầu nghe, nhìn vàvận động bằng đôi chân, đôi tay của mình tất cả những cử chỉ đó đều làmlên nhưng thói quen, kể cả thói xấu , trách nhiệm hình thành nhân cách cho

trẻ tất cả thuộc về cô giáo Mầm non tạo nên nền tảng vững chắc, là chặng

đường khôn lớn của trẻ

Trang 11

học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp cũng như các giáo viên lâu năm Đếnnay bản thân cũng là một phó hiệu trưởng thường xuyên dự và góp ý các tiết

do giáo viên dạy nên chuyên môn tương đối tốt

- Đội ngũ giáo viên nhiệt tình yêu nghề mến trẻ, có khả năng sử dụng

đồ dùng, CNTT vào giảng dạy Phụ huynh đa số quan tâm đến việc học củacon em mình

- Cơ sở vật chất tương đối đảm bảo

* Khó khăn:

- Khả năng chú ý của trẻ còn hạn chế, ngôn ngữ phát triển chưa đồngđều, trẻ phát âm chưa được chuẩn lắm ở học sinh con em đồng bào dân tộcthiểu số

- Số trẻ đến trường hầu hết là chưa qua nhóm lớp nhà trẻ, vốn hiểu biết

về khám phá môi trường xã hội còn hạn chế

b.Thành công, hạn chế:

* Thành công:

- Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã đi thực tế tại các lớp và hiệuquả đem lại sau những lần áp dụng các biện pháp giáo viên đẫ biết cách cungcấp kiến thức phù hợp với từng lứa tuổi, đã đưa trẻ đến vùng phát triển gầnnhất, tạo cơ hội cho trẻ tự trải nghiệm từ đó trẻ rất hứng thú và phấn khởikhi được tham gia hoạt động khám phá khoa học

* Hạn chế:

- Khi vận dụng đề tài này thì phải trải qua thực nghiệm tại các lớp cóhạn chế như: Muốn tiết dạy thành công đòi hỏi phải có sự đầu tư về chuyênmôn lẫn đồ dùng, phải có tranh ảnh thật sinh động hoặc vật thật ngoài ra các

cô còn phải áp dụng CNTT vào tiết dạy để cho trẻ khám phá điều này rất khókhăn bởi hầu như thời gian cô đứng lớp từ sáng tới tối nên rất vất vả trongviệc làm đồ dùng cũng như tìm kiếm hình ảnh cho trẻ khám phá

c.Mặt mạnh, mặt yếu :

* Mặt mạnh:

Trang 12

- Khi giáo viên tiến hành các biện pháp nhằm giúp trẻ hứng thú hơntrong giờ học khám phá khoa học cung cấp cho trẻ thêm những hiểu biết như:

về một số con vật dưới nước, côn trùng khám phá về các sự vật và hiệntượng tự nhiên xung quanh trẻ đã giúp trẻ có khả năng khám phá thế giớixung quanh Thông qua đó trẻ biết diễn đạt và phát triển ngôn ngữ của mình

- Ví dụ: Giáo viên biết cách giúp trẻ biết nhận biết phân biệt được đặcđiểm của một một số loại cá như cá không có vảy, cá có vảy, cá nước ngọt, cánước mặn… và biết được một số hiện tượng trong thiên nhiên như mưa, nắng,nóng… biết thêm được các hoạt động trong đời sống xung quanh trẻ một sốnghề từ đó trẻ đưa vào hoạt động góc một cách dễ dàng, giúp trẻ hình thành

kỷ năng sống

* Mặt yếu :

- Đồ dùng phục vụ tiết dạy chưa đa dạng

- Một số giáo viên chưa thực sự chủ động linh hoạt trong việc tổ chứccác hoạt động cho trẻ khám phá

d Các nguyên nhân, yếu tố tác động

- Một số giáo viên không biết cách khai thác trên mạng dẫn đến không

đủ đồ dùng dụng cụ phục vụ cho tiết dạy hoạt động khám phá khoa học

- Sử dụng đồ dùng dạy học chưa có khoa học, dẫn đến giờ học trẻ ít tậptrung chú ý hiệu quả trên tiết học chưa cao

e Phân tích, đánh giá thực trạng mà đề tài đã đặt ra

- Bản thân luôn học hỏi trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, biết lắng nghe,biết sửa sai, không bảo thủ nên học hỏi được rất nhiều từ bạn bè đồng ngiệp

- Các đồng chí giáo viên được bố trí công tác phù hợp năng lực, giáoviên có tinh thần tự học cao

- Cơ sở vật chất được phòng giáo dục rất quan tâm

- Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã đi thực tế tại các lớp và hiệuquả đem lại sau những lần áp dụng các biện pháp giáo viên đã biết cách cungcấp kiến thức phù hợp với từng lứa tuổi, đã đưa trẻ đến vùng phát triển gần

Trang 13

nhất, tạo cơ hội cho trẻ tự trải nghiệm từ đó trẻ rất hứng thú và phấn khởikhi được tham gia hoạt động khám phá khoa học.

- Giáo viên đa số là giáo viên trẻ có năng lực, tiếp cận những cái haycái mới nhanh để từ đó áp dụng trong quá trình dạy học có hiệu quả cao

- Việc tiếp cận công nghệ thông tin trên mạng, soạn giảng trên máy vitính không thành thạo ở một số giáo viên lớn tuổi

- Các cháu học sinh con em điều kiện khó khăn, gia đình đi làm xakhông quan tâm nên khả năng học tập của trẻ chậm

II.3.Giải pháp, biện pháp:

a.Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:

- Giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và chính xác, khôngmang tính trừu tượng và khô khan

b.Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:

* Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho hoạt động khám phá khoa học:

- Để tạo được hứng thú cho trẻ trong giờ hoạt động “Khám phá khoahọc” tôi chỉ đạo giáo viên thường xuyên tìm tòi từ những tạp chí, họa báo, vậtthật những hình ảnh có màu sắc đẹp, hấp dẫn nhằm kích thích trẻ hoạt độngtích cực hơn

- Hướng dẫn giáo viên cho trẻ được tiếp cận với vật thật nhiều hơn đểtrẻ được sờ, nếm, ngửi… Đặc biệt thường xuyên dạy trẻ trên cương vị thôngtin hiện đại để trẻ được tiếp cận nhiều hơn

Ngày đăng: 08/05/2016, 11:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w