1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong dạy học môn tiếng việt theo mô hình VNEN

25 831 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 3,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa công việc đầu tiên của dạy học môn Tiếng Việt – dạy học sảnsinh lời nói - là tạo ra được động cơ, nhu cầu nói năng, kích thích học sinh thamgia vào cuộc giao tiếp.. Từ những lí d

Trang 1

e Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra 9

e Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu 21 II.4 Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề

Trang 2

Kĩ năng giao tiếp có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của các em sau này.Đặc biệt trong thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước thì xã hội luôncần những con người mới có đầy đủ phẩm chất của người lao động hiện đại: tựtin, năng động, sáng tạo, nhạy bén, chủ động và linh hoạt Vì thế mà việc pháttriển kĩ năng giao tiếp cho học sinh ngay từ bậc học Tiểu học là rất cần thiết vàluôn được cả xã hội quan tâm

Hơn nữa công việc đầu tiên của dạy học môn Tiếng Việt – dạy học sảnsinh lời nói - là tạo ra được động cơ, nhu cầu nói năng, kích thích học sinh thamgia vào cuộc giao tiếp Mà để giao tiếp thành công thì phải có thái độ đúng đắnđối với đối tượng giao tiếp Khi dạy các nghi thức lời nói cũng đồng thời dạycách cư xử đối với mọi người như sự lễ phép, lịch sự trong nói năng Như vậymôn Tiếng Việt đã tạo cho học sinh có sự hiểu biết và tình cảm yêu mến, gắn bóvới thiên nhiên, với con người và vạn vật xung quanh Từ đây mà tâm hồn vànhân cách của các em sẽ được hình thành và phát triển một cách toàn diện

Dạy học hướng vào người học là luận điểm then chốt của lý luận dạy học

hiện đại, là bản chất của đổi mới phương pháp dạy - học Mô hình Trường họcmới tại Việt Nam (VNEN) triển khai được 5 năm đã đạt được những thành tựu

Trang 3

đáng kể Ưu điểm nổi bật của mô hình dạy học này là rèn luyện cho học sinh sự

tự tin, tích cực, bản lĩnh chủ động xử lý các tình huống trong cuộc sống

Từ những lí do trên, tôi quyết định nghiên cứu đề tài “Phát triển kĩ năng

giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong dạy học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN”

để góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2, góp phần nâng caochất lượng học tập, đáp ứng yêu cầu giáo dục hiện nay

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

Nhiệm vụ của đề tài là xây dựng hệ thống các hoạt động và phương phápdạy học nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 để làm tài liệutham khảo cho giáo viên và học sinh khi dạy – học kĩ năng giao tiếp trong mônTiếng Việt 2 theo mô hình VNEN Đề tài hướng tới mục tiêu nâng cao chấtlượng dạy – học môn Tiếng Việt, giúp học sinh lớp 2 phát triển kĩ năng giaotiếp: giao tiếp bằng lời nói qua học tập môn Tiếng Việt, thực hiện tốt các cuộcgiao tiếp trong học tập cũng như trong cuộc sống

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phát triển kĩ năng giao tiếp cho họcsinh lớp 2 trong dạy học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra phỏng vấn

- Phương pháp khảo nghiệm sư phạm

Trang 4

- Phương pháp phân tích mẫu.

- Phương pháp thống kê toán học, tổng hợp

II NỘI DUNG

1 Cơ sở lí luận để thực hiện đề tài

Theo “Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học” thì giao tiếp được định nghĩa là sựthông báo hay truyền đạt thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó Theo đó có thểhiểu giao tiếp là hoạt động giữa hai người hay hơn hai người nhằm bày tỏ vớinhau một thông tin trí tuệ, hay một thông tin cảm xúc nào đó, của một ý muốnhành động hay một ý muốn nhận xét nào đó

Cũng như các hoạt động tâm lí khác, hoạt động lời nói chỉ nảy sinh khi cóđộng cơ nói năng Chính vì vậy công việc đầu tiên của dạy học Tiếng Việt là tạo

ra được động cơ, nhu cầu nói năng, kích thích học sinh tham gia vào cuộc giaotiếp Do đó, nội dung dạy học Tiếng Việt thường gần gũi, thân thiết với họcsinh, từ đó học sinh có hứng thú với những vấn đề xung quanh cuộc sống, thamgia tích cực vào hoạt động giao tiếp

Mỗi cá nhân cần được trang bị tốt các kĩ năng giao tiếp hiệu quả Trongthực tế theo rất nhiều kinh nghiệm quản lí thì một người có khả năng giao tiếptốt thì người đó rất dễ thành công trong công việc và cuộc sống Nói tóm lại, kĩnăng giao tiếp là nghệ thuật, là cách thức biểu lộ tình cảm, trò chuyện,… Kĩnăng giao tiếp là một trong những kĩ năng nền tảng để giúp học sinh nhận thứcđược cái mới, các giá trị sống và hình thành các kĩ năng sống khác như: chia sẻ,hợp tác,…từ đó giúp cho kết quả học tập của các em được nâng lên Vì thế cầnphải quan tâm và giúp đỡ học sinh phát triển đúng hướng, từng bước một trongsuốt chiều dài phát triển nhân cách của học sinh

2 Thực trạng

Qua điều tra phỏng vấn học sinh khối 2 Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi

về kĩ năng giao tiếp đã cho tôi một nhận định chung nhất đó là hầu hết các em

Trang 5

đều thụ động, chưa tự tin, còn rụt rè, nhút nhát và chưa thực sự thể hiện tốt nănglực giao tiếp

a Thuận lợi, khó khăn

* Thuận lợi

- Mô hình VNEN

+ Mô hình VNEN là quá trình tổ chức cho học sinh hoạt động để khámphá và chiếm lĩnh các kiến thức và kỹ năng mới Bản chất quá trình học tập củaVNEN được diễn ra thông qua đối thoại và tương tác lẫn nhau giữa học sinh vớihọc sinh, giữa học sinh với giáo viên và giữa học sinh với cộng đồng

+ Học sinh được học theo mô hình VNEN đã thực sự làm chủ cách học,làm chủ kiến thức, có năng lực ứng xử với thực tế cuộc sống tốt hơn Học sinh

đã tỏ rõ sự mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp

+ Nội dung giáo dục kĩ năng giao tiếp được biên soạn nhiều

- Nhà trường

+ Được sự quan tâm của Ban giám hiệu, của các ban ngành đoàn thể trong

và ngoài nhà trường đã tạo điều kiện cho học sinh được học 2 buổi/ngày nên các

em được tham gia học tập, rèn luyện nhiều ở trường

+ Trường học khang trang, phòng học sáng sủa sạch sẽ, trang bị đầy đủbàn ghế và bảng đen, có thiết bị đồ dùng dạy học

Trang 6

+ Học sinh thích học môn Tiếng Việt Các em cũng dành thời gian để làmcác hoạt động ứng dụng, tương tác với cộng đồng khi ở nhà.

- Phụ huynh học sinh: Phụ huynh học sinh đa phần đã có sự quan tâmchăm lo hơn về việc học hành của con em mình, mua sắm tương đối đầy đủ vở

và đồ dùng học tập, tạo điều kiện thuận lợi cho các em tới trường, thường xuyêngiữ được mối liên hệ với giáo viên chủ nhiệm lớp và nhà trường

* Khó khăn

- Giáo viên

+ Giáo viên còn thụ động, chỉ sử dụng kiến thức ở Tài liệu Hướng dẫn học,

ít tìm tòi đọc thêm tài liệu khác liên quan đến giảng dạy Khi tổ chức các hoạtđộng trong giờ học, giáo viên còn rập khuôn theo Tài liệu hướng dẫn học

- Học sinh

+ Khả năng đọc còn hạn chế nên quá trình tự đọc, làm bài rất khó khăn + Khả năng tư duy, suy luận chưa cao Nhiều khi dùng từ và đặt câu chưađúng, nói câu chưa hoàn thiện Các em còn nhút nhát, thiếu tự tin, vốn từ còn ítnên ảnh hưởng lớn đến hiệu quả khi giao tiếp

b Thành công, hạn chế

* Thành công

Đa số học sinh đã thực hiện được các hoạt động, nói lưu loát, hoàn thànhmục tiêu của tiết học Học sinh trở nên tự tin, mạnh dạn, hứng thú, tích cực hơnđối với những tiết học Tiếng Việt Khi tiến hành các hoạt động, tình huống giaotiếp có vấn đề tôi thấy các em đã có nhiều cách xử lí hay, thú vị và thông minh.Khi giáo viên vận dụng các phương pháp, hình thức dạy học mới thì các em hàohứng, tham gia nhiệt tình vào tiết học Qua đó mà kĩ năng giao tiếp của các emđược hình thành và gắn liền với các bài học gần gũi với thực tiễn cuộc sống Từ

đó giúp học sinh củng cố, khắc sâu kiến thức một cách bền vững, kĩ năng giao

Trang 7

tiếp được phát triển, thái độ học tập có những chuyển biến tích cực, góp phầnnâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt.

* Hạn chế

- Giáo viên thường bị động về thời gian

- Thường chỉ tập trung ở một số đối tượng tích cực, có năng lực nên chưamang lại hiệu quả như mong muốn, nhất là đối tượng học sinh yếu

- Đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị kĩ lưỡng kế hoạch dạy học, lựa chọnnhững nội dung thực sự thiết thực và điều chỉnh được các hoạt động học tập phùhợp với học sinh

- Học sinh:

+ Học sinh thích học các bài có nội

dung giao tiếp, tích cực tham gia các hoạt

động học tập

+ Học sinh thích và tích cực xử lý các

tình huống giao tiếp gần gũi, quen thuộc

với các em

+ Học sinh được thực hành đóng vai

nhiều, thích được đóng vai, nhất là các vai cô giáo, học sinh giỏi,…

Học sinh đóng vai cô giáo

Trang 8

* Mặt yếu

- Về phía giáo viên

+ Đôi khi nội dung điều chỉnh của giáo viên chưa thực sự phù hợp với họcsinh, chưa mang lại hiệu quả như mong muốn

+ Giáo viên chỉ cho học sinh luyện nói theo những nội dung và chủ đề nhưtrong Tài liệu Hướng dẫn học

- Về phía học sinh

+ Tình huống giao tiếp mà học sinh thực hành được xây dựng trong phạm

vi hẹp nên làm giảm tính tích cực, tự nhiên của học sinh khi tham gia giao tiếp + Các hành vi trao lời, đáp lời thường được dạy theo mẫu và yêu cầu họcsinh thực hành theo mẫu nên làm giảm khả năng sáng tạo của học sinh

d Các nguyên nhân, các yếu tố tác động

Có được những thành công trên là nhờ sự chỉ đạo rất kịp thời của các cấplãnh đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, được Phòng Giáo dục và Đào tạo huyệnKrông Ana tổ chức tập huấn cho những giáo viên dạy mô hình VNEN, giáo viênđược dự các chuyên đề tổ chức ở Phòng Giáo dục và Đào tạo, ở trường để mỗigiáo viên học hỏi, rút kinh nghiệm và nắm được tinh thần của Mô hình VNEN

mà thực hiện theo

Bên cạnh đó là nhờ học sinh tích cực học tập, chủ động giao tiếp, sẻ chiavới bạn và chủ động tiếp cận các giải pháp theo hướng tự chủ của bản thân Từ

đó thực hiện theo các giải pháp nên mang lại hiệu quả cao Cuối cùng còn phải

kể đến Hệ thống các tài liệu hướng dẫn mà dự án VNEN đã cung cấp để mỗigiáo viên chủ động nắm bắt nội dung và thực hiện

Để đưa ra được những biện pháp thiết thực khắc phục những hạn chế trên,tôi đã tìm hiểu một số nguyên nhân, đó là:

* Về phía giáo viên:

Trang 9

+ Việc tổ chức các tiết chuyên đề của môn Tiếng Việt về thực hành giaotiếp ở trường Tiểu học chưa nhiều.

+ Giáo viên cho học sinh nói theo câu mẫu làm cho các câu nói của họcsinh thường giống nhau

* Về phía học sinh:

+ Do đặc điểm học sinh lứa tuổi lớp 2: Vốn từ của các em còn ít, chưa vậndụng một cách thành thạo, khả năng đọc còn hạn chế Khả năng tập trung chú ýcủa các em còn chưa được tốt

+ Do phương pháp học tập chưa khoa học: Hầu hết các em học sinh khối

lớp 2 chưa xây dựng được cho mình phương pháp học tập đúng Đa số các emchưa có ý thức chủ động trong việc tự rèn luyện, bởi các em còn ham chơi, chưaquan trọng việc học

* Về phía gia đình

+ Do sự kèm cặp còn lỏng lẻo của gia đình đối với học sinh trong việc họcmôn Tiếng Việt: Thực tế đã cho thấy đối với môn Tiếng Việt thì nhiều gia đình,nhiều bậc phụ huynh cho rằng môn này không quan trọng như học Toán Vậynên việc phát triển kĩ năng giao tiếp trong môn Tiếng Việt không được các bậcphụ huynh chú ý luyện tập ở nhà cho con em mình

e Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra

Dạy kĩ năng giao tiếp chính là dạy học sinh biết giao tiếp phù hợp với vănhóa Việt Nam, biết giao tiếp lịch sự, tế nhị, đạt hiệu quả cao Đa số giáo viênmới xem học sinh đưa ra các lời trao, lời đáp có đúng với các tình huống củahoạt động hay không Khi đánh giá việc thực hiện hoạt động của học sinh cũngchỉ tiến hành một cách chung chung, chưa có tiêu chí cụ thể

Học sinh lớp 2 còn nhỏ tuổi nên vốn từ các em còn ít do đó gặp nhiều khókhăn trong việc giao tiếp Các em còn nhút nhát, thiếu tự tin nên nhiều học sinhkhi được mời nói thì không nói được hoặc không đứng dậy nói trước tập thể

Trang 10

Các câu nói của học sinh chưa lôgic với nhau, còn nói chưa thành câu nên làmcho hiệu quả khi giao tiếp chưa cao Một số hoạt động chưa phát huy được khảnăng sáng tạo của học sinh

Mô hình VNEN là học sinh tự chiếm lĩnh, tự sử lí thông tin sau đó đưa ranhóm thảo luận, tổng hợp kiến thức Người giáo viên chỉ đóng vai trò tổ chức,theo dõi các hoạt động Dẫn đến trong một số hoạt động không thể tránh khỏihọc sinh thực hiện rập khuôn theo mẫu, chưa nhận ra bản chất cũng như mốiquan hệ của các hoạt động trong việc chiếm lĩnh kiến thức

3 Giải pháp, biện pháp

a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp

Giải pháp này hướng đến các mục tiêu:

- Học sinh mạnh dạn trong giao tiếp, nói đúng nội dung cần trao đổi, phùhợp với hoàn cảnh, thái độ lịch sự, lễ phép, biết lắng nghe và chia sẻ với mọingười

- Nâng cao hiệu quả giờ học cho học sinh, nhất là trong các giờ có tổ chứchoạt động giao tiếp

- Phát huy được tính chủ động tích cực của học sinh, đáp ứng mục tiêu xâydựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”

- Mỗi giờ dạy đều đem lại cho học sinh những giây phút thật sự hứng khởiđúng nghĩa

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp

b.1 Một số biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 trongdạy học môn Tiếng Việt

Qua nghiên cứu về lí thuyết giao tiếp cũng như chương trình dạy học nộidung giao tiếp trong môn Tiếng Việt, tôi xây dựng, tổng hợp, khái quát một sốkiểu dạng hoạt động, phương pháp phù hợp với năng lực, trình độ nhận thức của

học sinh lớp 2

Trang 11

b.1.1 Xây dựng đa dạng các dạng hoạt động dạy giao tiếp

b.1.1.1 Dạng hoạt động rèn kỹ năng trao lời và đáp lời

b.1.1.1.1 Cấu trúc của hoạt động

Ví dụ 1: HĐ2/ 3: Quan sát ảnh, đọc mẫu:

M: - Tôi là Lê Ngọc Bích

- Sinh ngày: 12 – 6 - 2003

- Tôi thích vẽ, thích hát

- Tôi muốn trở thành bác sĩ

HĐ3/ 3: Thay nhau tự giới thiệu theo gợi ý:

Tôi là ai?

Tôi là………

Sinh ngày……… ……

Tôi thích………

Tôi muốn trở thành………

(Tiếng Việt 1A – trang 3) Cá nhân học sinh thực hiện hoạt động 2 sau đó trao đổi trong nhóm để hoàn thành hoạt động Nếu chỉ dừng lại ở hoạt động quan sát và đọc mẫu thì học sinh sẽ không thể khám phá bản chất cũng như mối liên quan giữa hoạt động 2 với hoạt động 3

Lúc này giáo viên phải can thiệp để

học sinh biết và hiểu: Đây là hoạt động tự

giới thiệu Để tự giới thiệu về mình cần phải

làm thế nào? Để hoàn thành được hoạt động

2 học sinh cần đọc kĩ mẫu đã cho và áp dụng

vào bản thân để hoàn thành hoạt động 3

Thông qua hai hoạt động, học sinh sẽ giải

quyết được nhiệm vụ và cũng thấy được mối

liên hệ của các hoạt động trong tiết học Học sinh tự giới thiệu

Trang 12

Đối với những hoạt động dạng này, học sinh sẽ dần làm quen sau đó ngàycàng thành thạo cấu trúc của kĩ năng giao tiếp theo mẫu cho sẵn, từ đó có thóiquen vận dụng vào cuộc sống hằng ngày mà không cần mẫu.

b.1.1.1.2 Mục tiêu của hoạt động

Hoạt động phát triển kỹ năng trao lời và đáp lời xung quanh một chủ đềliên quan đến hiểu biết và kinh nghiệm sống của các em, cụ thể đó là các hoạtđộng có yêu cầu trao lời và đáp lời trong các tình huống cụ thể trong cuộc sống.Hoạt động cũng nhằm rèn luyện việc vận dụng các nghi thức lời nói phù hợp vớicác tình huống giao tiếp sẽ diễn ra trong cuộc sống Đối với dạng hoạt động nàythì tôi vận dụng phương pháp phân tích mẫu để thực hiện hoạt động

* Khái niệm phương pháp phân tích mẫu: Phương pháp phân tích mẫutrong dạy học giao tiếp là cách đưa ra những lời nhận xét, đánh giá về các yếu tốgiao tiếp nêu trong mẫu Từ đó đưa ra các lời giao tiếp và lựa chọn những lờigiao tiếp phù hợp nhất với mục đích và hoàn cảnh giao tiếp

* Yêu cầu sư phạm:

+ Mẫu phân tích cần phải điển hình cho hoạt động, có thể rút ra được kếtluận chung về hoạt động sẽ làm

+ Học sinh tự phân tích và tìm ra kiến thức của hoạt động, giáo viên nếucần can thiệp thì chỉ dừng ở mức độ gợi ý

+ Sử dụng kết hợp đồ dùng dạy học để tăng hiệu quả của tiết học

+ Kết hợp với phương pháp đóng vai để học sinh thêm tự tin, mạnh dạnđồng thời hứng thú khi học giao tiếp, giúp học sinh vận dụng kiến thức tốt hơn

Ngày đăng: 08/05/2016, 11:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w