1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số kinh nghệm về việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học tự làm

29 315 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 314 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó không chỉ tích cực hóa về học tập của học sinh mà còn rèn kĩ năng sử dụng thiết bị, đồ dùng trong cuộc sống, rèn luyện thái độ, đức tính kiên trì, tác phong làm việc của những ng

Trang 1

I PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài:

Là Giáo viên THCS tất cả chúng ta ai cũng nắm mục tiêu giáo dục THCS hiện nay Cụthể đối với môn Vật Lý, Hóa học …là bộ môn khoa học tự nhiên.Yêu cầu giáo dục mới là:

HS phải có kiến thức phổ thông cơ bản, tinh giản, thiết thực, cập nhật, làm nền tản để

từ đó có thể chiếm lĩnh những nội dung khác của khoa học tự nhiên và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn Bước đầu hình thành và phát triển được những kĩ năng, phương pháp học tập bộ môn

HS phải biết quan sát, thu thập, sử lí thông tin thông qua nội dung học tập Biết vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề trong học tập và trong cuộc sống

Trên nền tảng kiến thức và kĩ năng đó để hình thành và phát triển các năng lực chủ yếu đáp ứng yêu cầu phát triển con người Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Đặc biệt các kiến thức, kĩ năng của các bộ môn khoa học tự nhiên như Lý, Hóa…

được hình thành trên cơ sở việc học tập qua “làm” Chắc hẳn các giáo viên dạy bộ môn

này đều biết

Chính vì vậy Tôi lựa chon đề tài này nhằm phát huy tính tích cực học tập của Học sinh và lòng nhiệt tình của Giáo viên

Bộ môn Vật Lý là bộ môn thực nghiệm Tư tưởng chủ đạo của các sách giáo khoa Vật

Lý phổ thông là nội dung kiến thức mới được hình thành phần lớn thông qua các thí nghiệm và thực hành Điều đó không chỉ tích cực hóa về học tập của học sinh mà còn rèn

kĩ năng sử dụng thiết bị, đồ dùng trong cuộc sống, rèn luyện thái độ, đức tính kiên trì, tác phong làm việc của những người làm khoa học trong thời đại công nghệ

Việc làm và sử dụng sử dụng thí nghiệm Vật Lý trong xu thế đổi mới giảng dạy, với cách trình bày mới của sách giáo khoa, người giữ trọng trách nhất vẫn là các giáo viên trực tiếp lên lớp.Vì vậy người giáo viên cần tích lũy kinh nghiệm và hình thành ý tưởng

để vận dụng trong những trường hợp cụ thể

Trang 2

Một lí do quan trọng nữa mà Tôi chọn đề tài : “ MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ VIỆC LÀM VÀ SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC TỰ LÀM CẤP THCS” là qua cuộc thi sử dụng

đồ dùng dạy học tự làm cấp tỉnh năm 2013 – 2014 đã để lại cho Tôi nhiều kinh nghiệm

có thể chia sẽ cùng đồng nghiệp.

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:

Trao đổi kinh nghiệm về việc tự làm và sử dụng dụng cụ dạy học sẳn có

Nêu lên được thực trạng về vấn đề một số dụng cụ sử dụng chưa hiệu quả hiện nay.Nguyên nhân dẫn đến những thực trạng đó Biện pháp khắc phục

3 Đối tượng nghiên cứu:

Giáo viên dạy Vật Lý Trường THCS Nguyễn Trãi, trường Buôn Trấp và Tôi

Học sinh lớp 7A2,3; lớp 9A5,6 trường THCS Nguyễn Trãi

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

Các dụng cụ có sẳn trong phòng thí nghiệm.

Bộ thí nghiệm điện học 7 – 9, điện từ học 9 Bộ thí nghiệm máy phát điện đơn giản 9 Giáo viên, học sinh trong trường Nguyễn Trãi, trường Buôn Trấp, trường Durkmăn Phụ huynh trên địa bàn

5.Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp vấn đáp

Phương pháp thí nghiệm

Phương pháp nghiên cứu qua kết quả bài kiểm tra

Trao đổi, giao lưu với giáo viên, học sinh trường bạn

Vận dụng những kiến thức đã học trong nhà trường sư phạm, những kiến thức tích lũy

từ quá trình giảng dạy trực tiếp trên lớp và các kiến thức qua nghiên cứu các tài liệu liên quan nghiên cứu các tài liệu liên quan

Dựa vào kiến thức các giờ dạy, giờ thao giảng, chuyên đề, của các đồng nghiệp Kiến thức qua các buổi thảo luận trao đổi trong tổ chuyên môn

Trang 3

II PHẦN NỘI DUNG:

1 Cơ sở lí luận để thực hiện đề tài:

Đề tài này dựa trên cơ sở lí luận: Quan điểm tư tưởng của Đảng về giáo dục, Tâm lígiáo dục học sinh THCS, tư tưởng Hồ Chí Minh về nghề dạy học Dựa vào việc đổi mớiphương pháp dạy học, đổi mới phương pháp làm và sử dụng dụng cụ thí nghiệm

2 Thực trạng:

a Thuận lợi, khó khăn:

Trường được sự quan tâm của Đảng ủy – HĐND – UBND – địa phương, sự chỉ đạosát sao của Phòng GD&ĐT huyện Krông Ana, của Ban giám hiêụ nhà trường và sự hỗ trợtích cực của các cơ quan ban ngành đoàn thể và toàn xã hội

Được sự kết hợp của công an giao thông, công an xã và sự nhiệt tình của đội ngũcán bộ trường Trường THCS Nguyễn Trãi không ngừng phấn đấu thực hiện nhiệm vụ vànhững chỉ tiêu đề ra

Các lớp Tôi tiến hành nghiên cứu được sự quan tâm cuả phụ huynh, nhà trường vàliên đội, các giáo viên bộ môn, đa số học sinh trong lớp có ý thức đạo đức tốt, có ý chívươn lên trong học tập và rèn luyện đạo đức, có ý thức xây dựng tập thể, tham gia tốtphong trào do đội – trường phát động

Trường THCS Nguyễn Trãi nằm trên địa bàn xã Eana, xã có diện tích tương đốirộng Nên số học sinh nằm rải rác khắp nơi, nhà xa khó khăn cho học sinh trong việc tớitrường Dân ở đây sống chủ yếu bằng nghề nông, một số buôn đồng bào dân tộc thiểu số

có điều kiện kinh tế khó khăn nên phụ huynh chỉ biết mải mê kiếm sống mà không chăm

lo đến việc học tập của các em Một số học sinh học yếu, ham chơi, hay vi phạm nề nếpđạo đức…

Còn về dụng cụ dạy học hiện nay đa số nhiều dụng cụ đã hư hỏng, sử dụng không đạt hiệu quả và một số dụng cụ còn thiếu Đặc biệt bộ dụng cụ không sử dụng được nhiều thí nghiệm và không dạy được nhiều bài Ví dụ như bộ dụng cụ điện từ học của lớp 7,9; bộ dụng cụ quang học 9; bộ dụng cụ máy phát điện lớp 9 Kinh phí để làm ra một đồ dùng dạy học có hiệu quả cao, dạy được nhiều bài nhiều chương là khá lớn và mất nhiều thời gian.

b Thành công, hạn chế:

Trang 4

Khi sử dụng các dụng cụ tự làm và sẳn có một cách hiệu quả Tôi thấy sự hứng thúhọc tập của học sinh nâng cao rỏ rệt và hiệu quả học tập cao Nhưng để đạt được kết quảcao đòi hỏi giáo viên phải hết sức nhiệt tình trong công tác tự làm và sử dụng dụng cụ cósẳn, phải chịu khó tìm tòi, nghiên cứu để làm ra một bộ dụng cụ có chất lượng, sử dụngđược nhiều thí nghiệm và dạy được nhiều bài.

c Mặt mạnh, mặt yếu:

Trường tổ chức triển khai kế hoạch thực hiện các cuộc vận động và phong trào thiđua do ngành phát động tới từng giáo viên và học sinh ngay từ đầu năm Tiến hành tổngkết việc thực hiện các cuộc vận động và phong trào thi đua cuối tháng, cuối kì và cuốinăm

Đưa chỉ tiêu thực hiện các cuộc vận động và phong trào thi đua vào tiêu chí xếploại đối với cán bộ viên chức và học sinh

Tập thể cán bộ viên chức đoàn kết nhất trí cao hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nămhọc đề ra

Trường đã tổ chức cho học sinh hoạt động NGLL, an toàn giao thông và phòngchống các tệ nạn xã hội

Tổ chức cho học sinh các trò chơi dân gian, các lễ hội để lôi kéo học sinh tham giavào các trò chơi lành mạnh

Tổ chức cho cán bộ giáo viên viết sáng kiến kinh nghiệm

Khuyến khích giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy để đổi mớiphương pháp dạy học

Xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng dạy học bằng nhiều phương pháp Lên kếhoạch cho học sinh phụ đạo học sinh yếu kém, bồi dưỡng học sinh giỏi

Với sự nhiệt tình và quan tâm học sinh của giáo viên trong công tác tự làm và

sử dụng dụng cụ có sẳn, phải chịu khó tìm tòi, nghiên cứu để làm ra một bộ dụng cụ

có chất lượng, sử dụng được nhiều thí nghiệm và dạy được nhiều bài.

Giáo viên Vật Lí đã phối hợp với giáo viên bộ môn khác, làm ra một số bộ dụng

cụ dạy học hiệu quả Nâng cao chất lượng dạy và học.

Đặc biệt giáo viên dạy môn Vật Lí đã phát động các em học sinh làm ra một số

đồ dùng đơn giản như: bình chia độ cho bài đo thể tích lớp 6 , làm đàn tam thập lục

Trang 5

cho bài nguồn âm của lớp 7, làm con ve ve bài độ to -cao của âm lớp 7, làm hộp to bằng bìa cứng cho bài thực hành nhận biết ánh sáng đơn sắt lớp 9….

Tuy nhiên việc làm ra bộ dụng cụ dạy học chất lượng còn gặp nhiều khó khăn, cần nhiều thời gian và tiền bạc Và đòi hỏi các cấp các nghành cần vào cuộc, chung tay vì tương lai con em chúng ta Và giáo viên đóng vai trò nồng cốt, cần phải có nhiệt huyết mới tìm ra ý tưởng tốt nhất, phù hợp nhất.

d Các nguyên nhân, các yếu tố tác động:

Một số ít giáo viên bộ môn chưa thực sự quan tâm đến việc làm và sử dụng dụng

cụ thí nghiệm Nên hiệu quả dạy và học học chưa cao Thậm chí dụng cụ có sẳn cũng ít sửdụng, không gây hứng thú và tính tò mò cho học sinh

Sự liên hệ giữa nhà trường và gia đình chưa thật tốt Một số gia đình chưa quantâm lắm đến việc học tập của các em, họ nhận thức về học tập của con cái mình chưa cao,

đi học về không cần kiểm tra sách vở của con, thậm chí họ không biết hôm nay con mình

có đến lớp không, dẫn đến các em học yếu không chú tâm vào bài học cũng như các thínghiệm mà thầy cô làm

Các cấp chưa làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, cung cấp dụng cụ có hiệu quả

sử dụng còn hạn chế, còn sai sót, dẫn đến kết quả thí nghiệm có độ chính xác chưa cao

Một số ít học sinh chưa ý thức được việc tự làm ra đồ dùng cho bản thân mình tựhọc

Chương trình thay sách giáo khoa, đổi mới phương pháp làm và sử dụng thínghiệm một số nội dung còn quá tải, tạo áp lực học tập cho học sinh, các em học yếu lạicàng yếu nên chán học

Do một số giáo viên còn hạn chế về năng lực phương pháp giảng dạy, học sinhchưa hiểu Hay một số không nhỏ giáo viên có đời sống kinh tế khó khăn, phải bươn chảivới những công việc làm thêm để nuôi gia đình nên không có thời gian nhiều đầu tư chobài dạy, và làm ra những sản phẩm dạy học đơn giản mà có hiệu quả, nên học sinh khônghiểu bài

Các nguyên nhân trên ít nhiều ảnh hưởng đến việc dạy học của giáo viên và họcsinh

e Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra:

Trang 6

Công tác giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ quan trọng được Đảng và nhà nước quantâm và xem là quốc sách hàng đầu.

Nhưng càng ngày các dụng cụ càng hư hỏng và sử dụng không hiệu quả Gây ảnhhưởng đến việc dạy và học của nhà trường cũng như chất lượng của học sinh Vì một tiếthọc có thành công hay không, học sinh có hiểu bài hay không là nhờ việc gây hứng thúhọc tập ở học sinh

Krông Ana là một huyện có điều kiện kinh tế tương đối khó khăn, đa số nhân dân ởđây làm nghề nông là chính Dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ lại nhiều Giáo viên vẫn cònnhiều gia đình khó khăn, chưa có thời gian nhiều để đầu tư làm ra bộ dụng cụ tốt

Để làm ra một bộ đồ dùng dạy học cần phải tốn nhiều tiền, mất nhiều thời gian vàcông sức Mà kinh phí của nhà trường thì hạn chế Nên giáo viên chỉ làm bộ đồ dùng khi

có các cuộc thi là chính

Những yếu tố trên đều có ảnh hưởng nhiều đến công tác dạy và học ở các trườngTHCS

3 Giải pháp, biện pháp:

a Mục tiêu của giải pháp,biện pháp:

Để khắc phục tình trạng dạy chay, hoặc sử dụng dụng cụ không mang lại kết quả,không có tính khoa học

Giúp cho huyện nhà nâng cao chất lượng dạy và học nói chung và nâng cao chấtlượng mũi nhọn cũng như các cuộc thi sáng tạo khoa học, hoàn thành chỉ tiêu giáo dụcTHCS

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:

*Đối với Giáo Viên

 Giáo viên cần hiểu các đặc tính kỷ thuật của các thiết bị thí nghiệm:

Mỗi dụng cụ có những đặc tính kỹ thuật khác nhau, nên người sử dụng cần hiểu để sử

lý và sử dụng tốt hơn Trước khi tiến hành một nội dung thí nghiệm, ngoài phương pháp chung thì khâu quang trọng nhất là cần hiểu đặc điểm cấu tạo của dụng cụ

Khi tiến hành thí nghiệm, tức là đang xét trong điều kiện thực Làm thực hành là để hiểu lý thuyết sâu sắc hơn, chứ không đối chọi với lý thuyết Vì vậy trong nhà trường hàng năm có thể phát động thi đua làm đồ dùng dạy học cho các bộ môn Làm đồ dùng

Trang 7

cần phù hợp với nguyên lý khoa học và lý luận dạy học giúp học sinh tiếp thu kiến thức sâu sắc, bền vững và chính xác Phù hợp với việc đổi mới phương pháp dạy học mới, kíchthích hứng thú học tập của học sinh Đảm bảo nguyên tắc, bền chắc … Hình dáng, kết cấu, màu sắc phù hợp, dễ sản xuất, rẽ tiền…

 Phải tích cực hóa thí nghiệm trong dạy học Vật Lý:

Thực hành là tích cực hóa việc tiếp thu kiến thức của học sinh Nên phải gây được hứng thú cho học sinh trong từng bước tiến hành thí nghiệm Mở rộng bài thí nghiệm với các ứng dụng trong đời sống Giáo viên phải hiểu dạy Vật Lý có thí nghiệm thì mới làm sáng tỏ kiến thức một cách đúng đắn, mới làm cho học sinh hiểu được mối quan hệ giữa Vật Lý và Kỹ Thuật, dễ hấp dẫn hơn dạy chay Và nhờ đó phát huy được hoạt động tích cực của học sinh

 Giáo viên cần nắm được các thủ thuật khi thí nghiệm Vật Lý:

Giáo viên cần phải chú ý đến đặc tính kỹ thuật, phải thử nghiệm thí nghiệm trước Và đặc biệt để ý về bố cục của ánh sáng.Cần kiểm tra dụng cụ trước khi làm thí nghiệm Và đôi khi thầy giáo phải cần lợi dụng ưu thế của sân khấu để che đi những lỗi của mình (đó

là những sơ suất không lớn lắm)

 Làm được một số thí nghiệm đơn giản, phù hợp với điều kiện hiện có:

Trong chương trình Vật Lý THCS, ngoài các bài thí nghiệm được chỉ định tối thiểu và

đã có các thiết bị đi kèm, thì rất nhiều nội dung chưa có dụng cụ Điều đó đòi hỏi sự sáng tạo, tích cực của cả giáo viên và học sinh dể tạo ra những dụng cụ phục vụ nội dung bài học Nên hàng năm trường học phát động phong trào tự làm đồ dùng dạy học, đây là hoạt động rất có ý nghĩa đối với giáo viên Vật Lý Làm đồ dùng cần phải chắc chắn, thẩm mỹ

và có độ tin cậy, sử dụng được nhiều nội dung mang tính sáng tạo cao

Chúng ta có thể tự làm một số đồ dùng dạy học, khá đơn giản nhưng hiệu quả giảng dạy tương đối tốt Và nếu sản phẩm tự làm tuy không so sánh được thiết bị mua, nhưng chúng ta sẽ cảm thấy vui, vì đó chính là sự đầu tư suy nghĩ và công sức bỏ ra

*Đối với học sinh:

-Ví dụ như bài thí nghiệm trên máng nghiêng (lớp 8): Giáo viên phải làm cho Học sinh hiểu được với độ dốc của máng nghiêng không lớn lắm, có khi thả bánh xa Mắc xoen

nó không lăn xuống mà lăn ngược lên dốc Vì bên trong của bánh xe khi đúc đã có một

Trang 8

bọt khí lớn làm cho khối lược của một phía nhẹ hơn phía kia tạo nên một mômen quay Nếu phần tạo nên mômen quay nằm sau và có độ lớn đáng kể thì làm cho bánh không lănxuống dốc Nếu Giáo viên không để ý thì khi tiến hành thí nghiệm sẽ rất lúng túng

- Ví dụ xét thí nghiệm của bài Vật Lý 9: Ứng dụng của nam châm Mục I: Loa điện Giáo viên phải làm cho Học sinh nắm được phương pháp tiến hành bài thực nghiệm Bài này thực hiện dưới dạng biểu diễn của thầy với sự tham gia tích cực của Học sinh Theo các bước: Giới thiệu dụng cụ thí nghiêm, mắc mạch điện, đặt tình huống cho Học sinh để chuyển quan sát sang nghe, vì loa điện dùng để nghe Như vậy trong quá trình thí nghiệm,Giáo viên luôn đặt trong các tình huống tích cực, sẽ phát huy tốt bài giảng mà lượng thông tin mà học sinh thu nhận được nhiều, nhưng tiết học lại rất thú vị

- Ví dụ khảo sát đường dặc trưng Vôn- Ampe của điện trở Học sinh cần lưu ý một số

kỹ thuật:

+ Kỹ thuật bố trí dụng cụ trong bài thí nghiệm theo quy tắc: Vào trái ra phải

+ Thủ thuật tiến hành thí nghiệm giả sai số: Nếu lựa chọn R hợp lý và cách thức đóng ngắt mạch điện đúng sẽ giảm sai số của phép đo

+ Thủ thuật thực hiện thí nghiệm để phép tính toán đơn giản không sai số: Có thể dùng thêm biến trở điều chỉnh sao cho giá trị của I là số nguyên để cho giá trị U có thể chia hết khi thực hiện phép tính

+ Thủ thuật xử lý dụng cụ: Tìm những đặc điểm mà dụng cụ có thể gây lỗi hoặc người thực hiện khó khảo sát để có phương án thực hiện dễ thành công nhất

- Giáo viên cùng Học sinh tự làm đồ dùng sau:

+Lực kế lò xo

+Làm chuông điện

+Dụng cụ ứng dụng rơle nhiệt

+Loa điện từ đơn giản

Ví dụ để dạy bài 24, 26 Ứng dụng cưa nam châm, thì thầy và trò có thể làm điện kế đơn giản với các bộ phận :

Giá bằng gỗ, bảng đứng cài then có thể tháo ra được

Ống dây

Lõi sắt

Trang 9

* Giáo viên đặt một số câu hỏi để học sinh trả lời

Trao đổi, nói chuyện với Học sinh về vấn đề tiết học có dụng cụ và tiết học không có dụng cụ

+Về vấn đề làm một số dụng cụ sau:

-Làm đàn tam thập lục cho bài nguồn âm của lớp 7

-Làm con ve ve bài độ to - cao của âm lớp 7

-Làm hộp to bằng bìa cứng cho bài thực hành nhận biết ánh sáng đơn sắc lớp 9 +Về vấn đề sử dụng thí nghiệm như:

Dạy học trích đoạn “Tìm hiểu mối quan hệ giữa hiệu điện thế đặt vào hai đầu dây dẫn

và cường độ dòng điện dòng điện chạy qua dây dẫn đó”(Vật Lí 9)

Mục tiêu của thí nghiệm: Trả lời câu hỏi: “Giữa hiệu điện thế đặt vào hai đầu dây dẫn

và cường độ dòng điện dây dẫn đó có mối quan hệ không và nếu có thì mối quan hệ đó như thế nào?”

Tìm hiểu các dụng cụ thí nghiệm: Nguồn điện, vôn kế, ampe kế, dây dẫn, công tắc Các bước tiến hành thí nghiệm:

Mắc mạch điện gồm nguồn điện, dây dẫn và công tắc, vôn kế đo hiệu điện thế giữa haiđầu dây dẫn, ampe kế đo dòng điện chạy qua dây dẫn

Thay đổi hiệu điện thế và đo cường độ dòng điện

Ghi lại giá trị cường độ dòng điện tương ứng với mỗi giá trị của hiệu điện thế vào bảng

số đã chuẩn bị sẵn

Xử lí kết quả thu được từ TN: Từ bảng số liệu thu được, vẽ đồ thị biểu thị sự phụ thuộccủa cường độ dòng điện chạy qua dây dẫn vào hiệu điện thế giữa hai đầu dây Từ đó rút ra

Trang 10

kết luận về mối quan hệ này Đó chính là nội dung của định luật ôm: “Cường độ dòng điện chạy qua dây dẫn tỉ lệ thuận với hiệu điện thế đặt vào hai đầu dây”.

+Câu hỏi kiểm tra:

Lớp 7: 1.Khi quay con ve ve, cái gì dao động phát ra âm? Quay thế nào âm phát ra trầm bỗng?(TN này bỗ trợ cho C7 của bài học)

Trả lời: Khi quay con ve ve Quay nhanh thì âm phát ra trầm, quay chậm âm phát ra bỗng

2.Trong thí nghiệm sự truyền âm của chất lỏng H 13.3 SGK âm truyền đến tai qua những môi trường nào?

Trả lời:Âm truyền đến tai qua môi trường: rắn, lỏng, khí.

Lớp 9: 1.Vẽ đồ thị biểu thị sự phụ thuộc của cường độ dòng điện chạy qua dây dẫn vào hiệu điện thế giữa hai đầu dây Từ đó rút ra mối quan hệ giữa I và U ?

Trả lời: HS vẽ hình Cường độ dòng điện chạy qua một dây dẫn tỉ lệ thuận với hiệu điện thế đặt vào hai đầu dây dẫn đó.

Sau đây Tôi xin đưa ra một vài bộ đồ dùng dạy học mà Tôi và đồng nghiệp đã tự làm và hiệu quả của nó mang lại:

Trang 11

BỘ THÍ NGHIỆM ĐIỆN HỌC 7 – 9, ĐIỆN TỪ HỌC 9

I Thông tin chung:

Trong thực tiễn giảng dạy bộ môn Vật lí THCS nói chung và bộ môn Vật lí 9 nóiriêng Tôi nhận thấy bộ dụng cụ phòng thí nghiệm phần điện từ học sử dụng chưa hiệu quảlắm ở một số nội dung, có một số dụng cụ không có, gây ảnh hưởng đến hiệu quả dạyhọc, kích thích hứng thú học tập của học sinh chưa cao Để gây hứng thú cho học sinhtrong học tập và giúp học sinh hiểu bài, nhớ bài lâu hơn Tôi quyết định chọn ý tưởng thiết

kế bộ dụng cụ thí nghiệm về “Tác dụng từ của dòng điện” Cải tiến bộ dụng cụ trongphòng thí nghiệm

II Công dụng(chức năng của ĐDDH tự làm):

Bộ dụng cụ này phục vụ giảng dạy cho hầu hết các bài phần điện học, điện từ họccủa lớp 9 và phần điện học của lớp 7 Sau đây tôi xin giới thiệu một vài thí nghiệm cụ thể

Đối với lớp 9:

Bài 22 Tác dụng từ của dòng điện – Từ trường/ trang 61 SGK

Trang 12

Bài 25 Sự nhiễm từ của sắt, thép - Nam châm điện/ trang 68 SGK

Bài 26 Ứng dụng của nam châm điện/ trang 70 SGK

Bài 27 Lực điện từ/ trang 73 SGK

Đối với lớp 7:

Bài 22 Tác dụng nhiệt và tác dụng phát sáng của dòng điện/ trang 60, 61 SGK.Bài 23 Tác dụng từ, tác dụng hóa học sủa dòng điện/ trang 63, 64 SGK

III Quy trình thiết kế đồ dùng dạy học tự làm:

1.Nguyên tắc và cấu tạo:

Đồ dùng dạy học này bao gồm: Nguồn điện, biến trở, công tắc, ampe kế, vôn kế,kim nam châm, nam châm chữ U, la bàn, ống dây có lõi sắt – thép, đinh ghim, ống dây,đoạn dây AB, bóng đèn, dây đồng, dây sắt, bình đựng dung dịch CuSO4 có nắp nhựa gắnhai đầu thỏi than, các đoạn dây dẫn có chiều dài – tiết điện – vật liệu khác nhau, đèn LED,bảng điện đa năng

Công dụng của các bộ phận:

a Nguồn điện: Có tác dụng cung cấp dòng điện để các thiết bị hoạt động

b Biến trở: Dùng để điều chỉnh điện trở của mạch và từ đó điều chỉnh cường độdòng điện

c Công tắc: Dùng đóng ngắt mạch điện

d Ampekế: Đo cường độ dòng điện

e Kim nam châm, nam châm chữ U, la bàn: Phát hiện ra từ trường, để tạo ra từtrường, so sánh góc lệch khi cuộn dây có lõi sắt và không

f Ống dây có lõi sắt – thép, đinh ghim: Để biết từ tính của chúng khi ngắt dòngđiện

g Ống dây, đoạn dây AB: Để biết được khi có dòng điện thì có hiện tượng gì xảy

ra với ống dây ( nghiên cứu hoạt động của loa điện)

h Bảng điện đa năng: Dùng làm giá để lắp ráp các dụng cụ cho tất cả các bài

2 Nguyên vật liệu:

Các chi tiết ở mục III.1 đều gồm 1 chi tiết

Nguyên vật liệu gồm: Đồng, thép, sắt, nhựa, dây dẫn

3 Cách làm:

Trang 13

IV Hướng dẫn, khai thác, sử dụng:

Thí nghiệm 1: Tìm hiểu tác dụng từ của dòng điện lên kim nam châm

Ưu điểm: Dụng cụ của phòng TN do giá đỡ dây dẫn AB thấp phải dùng la bàn, gócnhìn không rõ, học sinh toàn lớp không quan sát được Trong TN của tôi thì dùng kimnam châm thay thế cho la bàn, nên toàn lớp có thể quan sát được hiện tượng kim nam

châm không còn song song với dây dẫn nữa một cách rõ ràng, các em sẽ tập trung vào bài

và hiểu bài hơn

Thí nghiệm 2: Nghiên cứu sự nhiễm từ của sắt, thép

Trang 14

Ưu điểm: Đồ dùng ở phòng TN có kim nam châm Ở TN của tôi dùng một thanhthép treo trên sợi chỉ mảnh, như vậy học sinh cả lớp quan sát được góc lệch của kim nam

châm rõ ràng hơn so với dùng la bàn, các em dễ hình dung và rút ra kết luận

Thí nghiệm 3:

Ưu điểm: TN2 và 3 của phòng TN chỉ có 1 ống dây Nhưng TN của tôi hai ống dâyđược đấu nối tiếp, lực từ sẽ mạnh hơn, gây được hứng thú học tập và tính tò mò của họcsinh

Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ứng dụng của nam châm (hoạt động của loa điện)

Ngày đăng: 08/05/2016, 10:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w