Trong phạm vi của bản điều lệ UCP 500 thuật ngữ “tín dụngchứng từ ”, “thư tín dụng dự phòng”, có nghĩa là bất cứ một sự thoảthuận nào, dù cho có được, hoặc mô tả như thế nào mà theo đó m
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Sau hơn mười năm đổi mới nền kinh tế nước ta đang khởi sắc và thuđược những thành tựu đáng kể Từ nền kinh tế khép kín chuyển sang nền kinh
tế mở với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Việt Nam đã và đang hộinhập vào nền kinh tế thế giới Với chính sách đối ngoại mềm dẻo đã thu hútđược lượng vốn đầu tư lớn từ nước ngoài tận dụng thế mạnh trong nước.Thực
tế đã chứng minh không một quốc gia nào phát triển trong sự tách biệt với thếgiới bên ngoài Sự giao lưu buôn bán giữa các nước là một xu hướng tất yếuquốc tế hoá nền kinh tế Sự phát triển của thương mại quốc tế như là chất keodính gắn kết các quốc gia lại với nhau trong sự phát triển thống nhất cuả nó.Thương mại quốc tế ngày nay đã vượt qua không gian thời gian tạo nhữngluồng dịch chuyển hàng hoá, tiền tệ để cân bằng cung cầu
Thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng quan trọng nhất quyết định hiệuquả của quá trình trao đổi Nó là mắt xích không thể thiếu trong cỗ máythương mại quốc tế Với nhiều hình thức thanh toán đa dạng phù hợp với từnggiai đoạn phát triển và tình hình cụ thể Ngày nay phương thức thanh toán thưtín dụng đang được sử dụng phổ biến Trong chu trình thanh toán ấy ngânhàng thương mại đóng vai trò là trung gian thanh toán hộ Ngân hàng thươngmại là chất xúc tác giúp quá trình thanh toán diễn ra nhanh chóng, hiệu quả
Nó là chất dầu bôi trơn cỗ máy thanh toán quốc tế hoạt động nhịp nhàng vàkhông mệt mỏi
Là một ngân hàng thương mại quốc doanh phục vụ đối ngoại có uy tínnhất trên điạ bàn thành phố Hải Phòng, chi nhánh Ngân hàng Ngoại thươngHải Phòng luôn được biết đến trong lĩnh vực tài trợ ngoại thương, thanh toánxuất nhập khẩu, kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh ngân hàng Hội nhập vàonền kinh tế thế giới, các mối giao lưu thương mại ngày càng mở rộng đòi hỏicác ngân hàng thương mại Việt Nam phải phát triển các dịch vụ của mình đặcbiệt là thanh toán xuất nhập khẩu Từ thực trạng không ít rủi ro đã xảy ra gâythiệt hại cả về tài chính và uy tín của ngân hàng trong thanh toán quốc tế đặc
Trang 2biệt là thanh toán thư tín dụng Vì thế nghiên cứu phòng tránh rủi ro để nângcao hiệu quả trong thanh toán thư tín dụng đã trở thành mối quan tâm xuyênsuốt quá trình hoàn thiện và phát triển của mỗi ngân hàng vì mục tiêu an toàn
và lợi nhuận
Qua thời gian thực tập ở ngân hàng Ngoại thương Hải Phòng em đãnghiên cứu và mong muốn góp phần nhỏ bé của mình nhằm nâng cao hiệuquả hoạt động thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán L/C nói riêng nên
em chọn đề tài: “Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng Ngoại thương Hải Phòng”
cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình
Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức
thanh toán tín dụng chứng từ
Chương II:Cơ sở lý luận về rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức
thanh toán tín dụng chứng từ
Thực trạng rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
tại ngân hàng Ngoại thương Hải Phòng
Chương III: Giải pháp hạn rủi ro trong thanh toán thư tín dụng tại ngân hàng
Ngoại thương Hải Phòng
Do những hạn chế về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn, thời gian thựctập không nhiều nên chuyên đề không thể tránh khỏi những thiếu sót Emmong nhận được sự góp ý của thầy cô cũng như các bạn quan tâm đến vấn đềnày Để hoàn thiện chuyên đề em xin chân thành cảm ơn thầy giáo: thạc sỹTrần Đăng Khâm, các thầy cô trong khoa và các cán bộ của ngân hàng Ngoạithương Hải Phòng đã giúp em hoàn thành chuyên đề này
Trang 3CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG
CHỨNG TỪ
1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ
1.1.BẢN CHẤT CỦA THANH TOÁN QUỐC TẾ
Cùng với xu hướng toàn cầu hoá, thương mại quốc tế ngàycàng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗiquốc gia Mỗi quốc gia đều có đặc điểm riêng về tự nhiên, kinh tế,
xã hội tạo nên lợi thế tương đối của quốc gia đó trong việc xuấtkhẩu hàng hoá.Do đó phân công lao động quốc tế ra đời một cáchkhách quan và ngày càng sâu sắc Điều đó đòi hỏi các nước phảitham gia vào quá trình hợp tác và trao đổi quốc tế
Thanh toán quốc tế là khâu không thể thiếu được trong thươngmại quốc tế Thanh toán quốc tế quốc tế thực hiện tốt là cơ sở thúcđẩy hoạt động xuất nhập khẩu phát triển Thanh toán trong nội bộquốc gia đã phức tạp, thanh toán quốc tế còn khó khăn hơn rất nhiều
do ảnh hưởng của các yếu tố tiền tệ, tín dụng, sự khác biệt về ngônngữ, tập quán Chính vì vậy, khi nền kinh tế thị trường phát triểnthì thanh toán quốc tế sẽ ngày càng phức tạp, điều đó đòi hỏi cácngân hàng thương mại cũng như các bên tham gia phải hiểu rõ bảnchất của thanh toán quốc tế, đồng thời tuân thủ một cách nghiêm túctrên nguyên tắc “bình đẳng - cùng có lợi”
Như vậy, thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chitrả về tiền tệ phát sinh từ quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tíndụng giữa các tổ chức kinh tế quốc tế, giữa các hãng, các cá nhâncủa các nước khác nhau để thúc đẩy một chu trình hoạt động trong
Trang 4lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng các hình thức chuyển tiền hay bù trừtrên các tài khoản tại ngân hàng
1.2.VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ
Thương mại quốc tế đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử pháttriển kinh tế của loài người Từ thế kỷ thứ V, ở Châu Âu đã hìnhthành những đội buôn bán lớn vận chuyển hàng hoá giữa các lục địa
Ở Châu Á, “con đường tơ lụa” nổi tiếng đã góp phần không nhỏ vào
sự giao lưu kinh tế, văn hoá giữa phương Đông và phương Tây Tuynhiên, với điều kiện bấy giờ việc trao đổi mua bán trên phạm viquốc tế một mặt có thể đem lại khoản lợi nhuận lớn, mặt khác có thểgây ra những tổn thất đáng kể do cướp bóc Một trong những điềuphiền toái nhất đối với các thương nhân là việc thanh toán Chính tạithời điểm này nghiệp vụ thanh toán hộ của ngân hàng ra đời Nhữngngân hàng có quan hệ chặt chẽ với nhau sẽ đứng ra thanh toán chokhách hàng của mình dựa trên các chứng từ do thương nhân xuấttrình
Ngày nay, các ngân hàng không chỉ làm nhiệm vụ thanh toán
hộ cho khách hàng của mình mà còn đóng vai trò là nhà tư vấn, giámsát, bảo vệ Hoạt động ngoại thương cần đến sự can thiệp trợ giúp về
kỹ thuật và tài chính của ngân hàng Trong nền kinh tế, ngân hàngthương mại đóng vai trò là trung gian tài chính Nó cung cấp cácphương tiện thanh toán cho nền kinh tế, đứng ra làm trung gianthanh toán giữa các doanh nghiệp Thông qua đó, ngân hàng có thểgiám sát được các hoạt động thu chi của doanh nghiệp, kiểm soátđược các giao dịch, thanh toán của các doanh nghiệp, các đơn vị sảnxuất, kiểm soát được các chiến dịch rửa tiền nhằm ngăn chặn cáchoạt động phi pháp trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ
Trang 5Trong thanh toán quốc tế, ngân hàng thương mại có vai trò hếtsức quan trọng, là người bạn đáng tin cậy của các nhà xuất nhậpkhẩu Nó đem lại sự trợ giúp đa dạng cho khách hàng, giúp họ đảmbảo lợi nhuận đồng thời hạn chế rủi ro Vai trò của ngân hàngthương mại trong thanh toán quốc tế là điều kiện đảm bảo an toàncho các bên tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, là chất xúc tác chothương mại quốc tế phát triển
1.3 CÁC PHƯƠNG THỨC CHỦ YẾU TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ
Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thứcnhận trả tiền trong giao dịch, mua bán ngoại thương giữa người nhậpkhẩu và người xuất khẩu Mỗi phương thức thanh toán đều có ưuđiểm và nhược điểm khác nhau Vì vậy việc lựa chọn phương thứcthanh toán thích hợp phải được hai bên thoả thuận bàn bạc và ghivào hợp đồng mua bán ngoại thương Việc lựa chọn phương thứcthanh toán nào cũng phải xuất phát từ người mua là nhập hàng đúng
số lượng, chất lượng và đúng thời hạn, từ yêu cầu của người bán làthu hồi tiền nhanh và đầy đủ
Tại ngân hàng thương mại các phương thức thanh toán được sửdụng chủ yếu gồm
1.3.1 PHƯƠNG THỨC GHI SỔ (OPEN ACCOUNT)
Đây là phương thức thanh toán mà qua đó đơn vị xuất khẩu khicung ứng hàng hoá dịch vụ thì ghi nợ cho bên nhập khẩu vào mộtcuốn sổ riêng của mình và việc thanh toán các khoản nợ này đượcthực hiện trong từng thời kỳ nhất định Phương thức này ngân hàngkhông tham gia là người mở tài khoản và thực thi thanh toán
Trang 6- Ưu điểm: Phương thức này có lợi cho người mua bởi người
mua có thể mua chịu hàng và chỉ thanh toán thường xuyên trong mộtthời kỳ nhất địng (6 tháng, 1 năm)
- Nhược điểm: Phương thức này chỉ áp dụng trong không gian
hẹp là thanh toán nội địa và người mua, người bán thực sự tin cậynhau
1.3.2 PHƯƠNG THỨC CHUYỂN TIỀN (REMITTANCE)
Đây là phương thức thanh toán mà trong đó khách hàng (ngườitrả tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất địnhcho người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằngphương tiện chuyển tiền mà khách hàng yêu cầu Các phương tiệnnày là Séc, Điện vàThư
- Ưu điểm: Là phương tiện thanh toán đơn giản, thuận tiện,
thanh toán trực tiếp giữa bên mua và bên bán, ngân hàng chỉ giữ vaitrò trung gian
- Nhược điểm: Việc thanh toán dựa vào thiện chí của người
mua, do đó bên bán dễ bị bên mua chiếm dụng vốn trong thanh toán.Phương thức chuyển tiền thường được sử dụng trong việc thu phímậu dịch, các chi phí liên quan đến xuất nhập khẩu như phí vậnchuyển, bảo hiểm
1.3.3 PHƯƠNG THỨC NHỜ THU (COLLECTION OF PAYMENT)
Đây là phương thức thanh toán trong đó người bán sau khi đãhoàn thành nghĩa vụ giao hàng, hoặc cung ứng dịch vụ cho kháchhàng thì tiến hành uỷ thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ởngười mua trên cơ sở hối phiếu mà người bán lập ra Phương thứcnhờ thu bao gồm:
Trang 7- Nhờ thu phiếu trơn (clean collection): là phương thức trong
đó người bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứvào hối phiếu do mình lập ra, còn chứng từ gửi hàng thì gửi thẳngcho khách hàng không qua ngân hàng
Phương thức này chỉ áp dụng khi người bán và người mua phảitin cậy lẫn nhau hoặc có quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc làchi nhánh của nhau, việc thanh toán chi phí có liên quan đến xuấtnhập khẩu hàng hoá
Nhược điểm của phương thức này là không đảm bảo quyền lợicho người bán vì việc thanh toán tách rời khỏi việc nhận hàng vì vậyngười mua có thể nhận hàng mà không chịu thanh toán hoặc thanhtoán chậm trễ Trường hợp hối phiếu đến sớm hơn chứng từ ngườibán phải trả tiền ngay trong khi không biết việc giao hàng có đúnghợp đồng không
- Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection) : là phương
thức thanh toán trong đó người bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộtiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu và bộ chứng từ gửi hàng.Ngân hàng chỉ giao bộ chứng từ cho người mua với điều kiện ngườimua trả tiền hối phiếu hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu Tuỳ theođiều kiện trả tiền mà phương thức này chia làm hai loại:
+ Nhờ thu trả tiền đổi chứng từ (Documentary againstpayment-D/P) phương thức này chỉ sử dụng khi người bán trả tiềnngay
+ Nhờ thu chấp nhận đổi chứng từ (Documentary againstacceptance- D/A) phương thức này chỉ áp dụng trong trường hợpmua chịu
So với trường hợp nhờ thu phiếu trơn phương thưc này đảmbảo hơn vì ngân hàng thay mặt cho người bán khống chế bộ chứng
Trang 8từ Tuy nhiên ngân hàng chỉ có trách nhiệm là trung gian thu hộ tiền
mà không có trách nhiệm gì về việc trả tiền của người mua cũng nhưkiểm tra bộ chứng từ Phương thức này chỉ áp dụng trong trườnghợp hàng bán lần đầu, hàng ứ đọng, khó tiêu thụ, thu cước phí vậntải
1.3.4.PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ (LETTER CREDIT)
Đây là phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng phổ biếnnhất hiện nay Với những đặc điểm của phương thức thanh toán này
nó bảo vệ được quyền lợi của cả người mua lẫn người bán Nội dungcủa phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được thực hiện theo
“quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ - UCP dophòng thương mại quốc tế ban hành -ICC”
Trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ ngân hàngkhông những là trung gian thu hộ và chi hộ mà còn là người đại diệncho nhà nhập khẩu thanh toán cho bên xuất khẩu
Việc đảm bảo quyền lợi cho cả nhà nhập khẩu lẫn xuất khẩutrong quan hệ thương mại đòi hỏi phải nắm vững các nghiệp vụthanh toán tín dụng chứng từ
2.PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
2.1.KHÁI NIỆM CỦA TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
Tuỳ theo thói quen và thông lệ của từng nước mà tín dụngchứng từ được gọi với nhiều tên khác nhau như: L/C, tín dụng chứngtừ,thư tín dụng tín dụng thư, tín dụng thương mại, thư tín dụngthương mại Đến nay từ thông dụng nhất là “tín dụng chứng từ”(Documentary credit) vì nó thể hiện đúng nhất ý nghĩa tín dụng kèmchứng từ
Trang 9Trong phạm vi của bản điều lệ UCP 500 thuật ngữ “tín dụngchứng từ ”, “thư tín dụng dự phòng”, có nghĩa là bất cứ một sự thoảthuận nào, dù cho có được, hoặc mô tả như thế nào mà theo đó mộtngân hàng (ngân hàng phát hành) hoạt động theo yêu cầu và theo chỉthị của một khách hành (người yêu cầu phát hành thư tín dụng) hoặcnhân danh chính mình:
- Thanh toán tiền theo lệnh của một người thứ ba (người hưởnglợi) hoặc phải chấp nhận và trả tiền cho các hối phiếu do ngườihưởng lợi ký phát
- Uỷ quyền cho một ngân hàng khác tiến hành thanh toán hoặcchấp nhận trả tiền các hối phiếu đó
- Uỷ quyền cho một ngân hàng khác đến chiết khấu khi cácchứng từ quy định được xuất trình phù hợp với các điều khoản, điều
lệ của thư tín dụng
Như vậy phương thức tín dụng chứng từ là một cam kết thanhtoán có điều luật của ngân hàng (ngân hàng mở L/C - issuing bank)cho người bán hàng (người hưởng lợi - beneficiary)
Theo yêu cầu của người mua (applicant) để trả ngay hoặc đợitới mội thời điểm xác định trong phạm vi thời hạn đã xác định vàcăn cứ vào các chứng từ đã quy định phù hợp với các điều luật củaL/C
2.2.CÁC BÊN THAM GIA THANH TOÁN
- Người xin mở thư tín dụng (the applicant for the credit): làngười mua,người nhập khẩu hàng hoá, người mở thư tín dụng
- Ngân hàng mở thư tín dụng (issuing bank) là ngân hàng đạidiện cho người nhập khẩu còn gọi là ngân hàng phát hành
Trang 10- Người hưởng lợi (beneficiary) là người bán, người xuất khẩuhay bất cứ người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định.
- Ngân hàng thông báo (advising bank) là ngân hàng đượcngân hàng phát hành yêu cầu thông báo cho nhà xuất khẩu về việc
C hay là một ngân hàng khác do bên xuất khẩu yêu cầu
- Ngân hàng được chỉ định (nominated bank) là ngân hàngđược ngân hàng phát hành chỉ định để thực hiện việc thươnglượng, chiết khấu hay thanh toán L/C Lúc đó ngân hàng đóngvai trò là ngân hàng chiết khấu (negotiating bank) hoặc ngânhàng thanh toán (paying bank)
- Ngân hàng hoàn trả (reimbursing bank) là một ngân hàngđược ngân hàng mở L/C hoặc ngân hàng xác nhận chỉ địnhthay mình trả tiền
- Ngân hàng chiết khấu (negotiating bank) là ngân hàng đượcngân hàng được ngân hàng mở L/C cho phép đứng ra mua hốiphiếu hay thương lượng chứng từ do người bán ký phát chongân hàng.Tuỳ theo quy định của L/C mà ngân hàng chiết khấuthường là ngân hàng thông báo hoặc là ngân hàng thứ ba nào
đó do ngân hàng mở L/C quy định
Trang 11- Người được chuyển nhượng là người nhận các quyền vànghĩa vụ do người hưởng lợi chuyển.
Trong thực tế nghiệp vụ tín dụng chứng từ không nhấtthiết phải có các bên như đã nêu ở trên
Trang 122.3.QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ THANH TOÁN THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
(2)
(6) (2)
(7)
(1) (9) (10) (8) (5)
(3) (4)
Trình tự tiến hành
(1) Người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng phục vụ mình yêu cầu mở thư tín dụng cho nhà xuất khẩu hưởng
- Hai bên mua bán có sự thống thất về các điều khoản của thư tín dụng, bao gồm thanh toán phí ngân hàng và phương thức gửi thư tín dụng cho người hưởng
- Hai bên thống nhất về các yêu cầu của người hưởng về ngân hàng mở thư tín dụng, ngân hàng thông báo, ngân hàng xác nhận, ngân hàng thương lượng, ngân hàng thanh toán (nếu có)
Ngân h ng màng m ở
thư tín dụng
Ngân h ng thông àng m báo thư tín dụng
Người nhập khẩu
(người mở L/C)
Người xuất khẩu (người hưởng lợi)
Trang 13(2) Ngân hàng sẽ lập một thư tín dụng và thông qua ngân hàng củamình ở nước người nhập khẩu thông báo về việc mở thư tín dụng vàthư tín dụng đến người xuất khẩu.
(3) Khi nhận được thông báo này, ngân hàng thông báo sẽ thôngbáo cho người xuất khẩu toàn bộ nội dung thông báo về việc mở thưtín dụng và khi nhận được bản gốc thư tín dụng thì chuyển ngay chongười xuất khẩu sau khi đã kiểm tra tính chân thực của thư tín dụng.(4) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụngthì tiến hành giaohàng, nếu có điều khoản nào đó trong thư tín dụng chưa thoả mãn thìtiến hành đề nghị ngân hàng mở thư tín dụng và nhà nhập khẩu sửađổi, bổ xung thư tín dụng cho phù hợp hợp đồng
(5) Sau khi giao hàng người xuất khẩu tiến hành lập bộ chứng từthanh toán theo yêu cầu của thư tín dụng, xuất trình thông qua ngânhàng thông báo hoặc một ngân hàng nào đó được chỉ định trong thưtín dụngđể yêu cầu thương luợng, chiết khấu hay gửi chứng từ chongân hàng mở thư tín dụng
(6) Ngân hàng này sẽ kiểm tra chứng từ, làm thủ tục đòi tiền theochỉ thị của thư tín dụng và gửi chứng từ cho ngân hàng mở thư tíndụng
(7) Ngân hàng mở thư tín dụng kiểm tra bộ chứng từ và trong vòng
7 ngày kể từ ngày nhận chứng từ phải thông báo cho ngân hàngthông báo (hoặc ngân hàng được chỉ định) về việc chấp nhận thanhtoán hay không Nếu chứng từ phù hợp với thư tín dụng thì tiến hànhtrả tiền cho người xuất khẩu Nếu chứng từ không phù hợp ngânhàng từ chối thanh toán và trả toàn bộ chứng từ cho người nhậpkhẩu
Trang 14(8) Ngân hàng thông báo (hoặc ngân hàng được chỉ định) tiếnhành thanh toán cho người xuất khẩu hoặc trả lại bộ chứng từ chongười xuất khẩu.
(9) Ngân hàng mở thư tín dụng đòi tiền người nhập khẩu và chuyển
bộ chứng từ hàng hoá cho người nhập khẩu chỉ sau khi người nhậpkhẩu thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán
(10) Người nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp vớithư tín dụng thì trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền cho ngân hàng mởthư tín dụng theo thoả thuận hoàn trả đã kí, nếu không phù hợp cóquyền từ chối trả tiền
2.4.CÁC LOẠI THƯ TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
2.4.1 Thư tín dụng không thể huỷ bỏ (irrevocable letter of credit)
- Là loại thư tín dụng sau khi được mở thì ngân hàng mở L/Ckhông được sửa đổi, bổ sung, hoặc huỷ bỏ trong thời gian hiệu lựccủa nó, trừ khi có sự thoả thuận của tất cả các bên tham gia giaodịch
- Một L/C không ghi IRREVOCABLE thì vẫn được coi làkhông huỷ bỏ được Thư tín dụng không thể huỷ bỏ được áp dụngrộng rãi trong thanh toán quốc tế
2.4.2.Thư tín dụng không thể huỷ bỏ có xác nhận (Confirmed
irrevocable letter of credit)
- Là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ, được một ngân hàngkhác đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C
- Nếu người hưởng lợi không tin tưởng vào khả năng tài chínhcủa ngân hàng mở L/C thì có quyền yêu cầu ngân hàng khác đứng raxác nhận, đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng mở L/C
Trang 152.4.3 Thư tín dụng không thể huỷ ngang miễn truy đòi
(irrevocable without recource letter of credit)
- Là loại thư tín dụng mà sau khi nhà xuất khẩu đã đượctrả tiền thì ngân hàng mở L/C không có quyền đòi lại trong bất cứtrường hợp nào
- Khi dùng loại L/C này người xuất khẩu phải ghi lên hốiphiếu miễn truy đồi người ký phát và trong L/C cũng phải ghi nhưvậy L/C miễn truy đòi được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốctế
2.4.4 Thư tín dụng giáp lưng (Back to Back lettet of credit)
Loại L/C thường được nhà xuất khẩu áp dụng để thanh toántiền hàng cho nhà cung cấp hàng cho mình để xuất khẩu Trongtrường hợp này, người xuất khẩu dùng L/C do nhà nhập khẩu mở đểthế chấp mở một L/C cho người hưởng lợi khác với nội dung gầngiống nội dung như L/C ban đầu, L/C mở lần sau gọi là L/C giáplưng
Về cơ bản L/C gốc và L/C giáp lưng giống nhau nhưng có một
số điểm khác nhau
Người thụ hưởng (người xuất khẩu) L/C gốc lại là người xin
mở L/C giáp lưng
Số chứng từ của L/C giáp lưng phải nhiều hơn L/C gốc
Kim ngạch L/C giáp lưng phải nhỏ hơn L/C gốc, khoản chênhlệch này do người trung gian hưởng dùng để trả tiền chi phí mở L/Cgiáp lưng và phần hoa hồng của họ
2.4.5 Thư tín dụng ứng trước điều khoản đỏ (Advanced letter of credit, Red clause letter of credit)
Trang 16Loại thư tín dụng này gọi là điều khoản đỏ, vì điều khoản banđầu được viết bằng mực đỏ để lưu ý tính chất riêng biệt của loại thưtín dụng này
Theo nguyên tắc của thư tín dụng ứng trước và theo yêu cầucủa người mở L/C, ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhậnphải ứng trước tiền cho người thụ hưởng trước khi họ xuất trình cácchứng từ hợp lệ trong thời hạn ấn định Thông thường ngân hàngphục vụ người thụ hưởng đứng ra bồi hoàn khoản tiền ứng trướcnày
2.4.6 Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving letter of credit)
Thư tín dụng tuần hoàn là loại L/C không thể huỷ bỏ, sau khi
sử dụng xong đã hết hiệu lực thì nó lại tự động có giá trị như cũ cứnhư thế nó tuần hoàn cho đến khi nào tổng giá trị hợp đồng đượcthực hiện
Thư tín dụng tuần hoàn cần ghi ngày hết hạn hiệu lực cuốicùng, số lần tuần hoàn và giá trị tối thiểu của mỗi lần đó
2.4.7 Thư tín dụng dự phòng (Stand by letter of credit)
Là loại L/C quy định việc hoàn lại số tiền của thư tín dụngtrong trường hợp nhà xuất khẩu không thực hiện đúng các quy địnhnhư trong thư tín dụng đó
Người mở L/C dự phòng là nhà xuất khẩu, ngân hàng phục vụnhà xuất khẩu là ngân hàng phát hành L/C dự phòng L/C dự phòngđược sử dụng như một phương thức bảo đảm hợp đồng
2.4.8 Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable letter of credit)
Là loại L/C không được huỷ bỏ và quy định quyền đượcchuyển nhượng toàn bộ hay một phần số tiền của L/C cho một haynhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên
Trang 17Thư tín dụng chuyển nhượng phải ghi chú “chuyển nhượng”
và chỉ được phép chuyển nhượng một lần Người được chuyểnnhượng có thể ở trong nước hay nước ngoài Chi phí chuyển nhượng
do người ra lệnh chuyển nhượng chịu Việc chuyển nhưọng L/Ckhông có nghĩa là hợp đồng mua bán cũng được chuyển nhượng
2.4.9 Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal letter of credit)
Trong phương thức mua bán hàng đổi hàng, hai bên phải kývới nhau một hợp đồng mua bán có tổng giá trị hàng hoá trao đổivới nhau bằng nhau Mục đích của trao đổi hàng đổi hàng là giá trị
sử dụng của hàng chứ không phải là tiền tệ mặc dù phần chênh lệch
có thể được thanh toán bằng tiền
Do không thể loại trừ khả năng rủi ro khi một trong hai bênkhông thực hiện hợp đồng Vì vậy hai bên thống nhất sử dụng thưtín dụng đối ứng cho nhau hưởng L/C đối ứng là loại L/C chỉ cóhiệu lực khi L/C đối ứng với nó được mở
2.5 ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA THANH TOÁN THƯ TÍN DỤNG
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thứcthanh toán quốc tế được sử dụng ngày càng nhiều do những thuậnlợi mà nó mang lại cho cả người mua và người bán Tuy nhiênkhông có phương thức thanh toán nào là hoàn hảo cả, thanh toán thưtín dụng vẫn còn tồn tại một số nhược điểm Sau đây là các ưunhược điểm của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ:
2.5.1 Đối với người bán
Đảm bảo việc thanh toán vì có ngân hàng mở đứng ra camkết, việc thanh toán không còn phụ thuộc vào thiện chí của ngườimua
Trang 18Được ngân hàng khống chế bộ chứng từ không sợ mất quyền
sở hữu về hàng hoá hay tốn chi phí vận chuyển hàng nếu làm đúngyêu cầu của thư tín dụng
Tuy nhiên nhà xuất khẩu phải lựa chọn loại thư tín dụng nàođảm bảo quyền lợi của mình nhiều nhất, đồng thời phải kiểm tra kỹcác điều khoản trong L/C có phù hợp với hợp đồng đã thoả thoảthuận hay khôngvà khả năng của mình có đáp ứng được các yêu cầuthoả thuận hay không, để đảm bảo lập bộ chứng từ phù hợp với L/C.Nhà xuất khẩu có thể nhận được tài trợ xuất khẩu của ngânhàng
2.5.2 Đối với người mua
Có thể tận dụng đựoc tín dụng của ngân hàng, đó là điều thiếtyếu trong kinh doanh quốc tế vì với khoảng cách vận chuyển xa thì
sẽ bị đọng vốn nếu phải ký quỹ toàn bộ giá trị của L/C
Được ngân hàng kiểm tra giúp bộ chứng từ
Đảm bảo được hàng hoá mà mình ký hợp đồng đúng số lượng
và chất lượng, thời hạn giao hàng v.v
Tuy nhiên người mua phải thận trọng khi làm đơn xin mở L/C,phải đưa ra những điều kiện vừa để cho người bán có thể thực hiệnđược vừa phải đảm bảo được quyền lợi của mình Ngoài ra khôngtránh được trường hợp người mua bị người bán gian lận lập bộchứng từ khống để thanh toán
2.5.3 Đối với ngân hàng
Mở rộng nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng tăng thu nhập,nâng cao trình độ nghiệp vụ của các bộ ngân hàng
Trang 19Thông qua nghiệp vụ của ngân hàng sẽ góp phần giúp đỡ cáckhách hành xuất nhập khẩu của mình đồng thời thúc đẩy quá trìnhthanh toán quốc tế được phát triển.
Tuy nhiên trong phương thức thanh toán L/C, ngân hàng chỉ cóthể khống chế về mặt hình thức chứng từ, mà không thể kiểm soátđược tính chất pháp lý hay tính chân thực của các loại chứng từ đó.Hơn nữa việc thanh toán diễn ra tương đối phức tạp bởi sự tham giacủa nhiều bên, quá trình thanh toán tỷ mỉ và máy móc
Tóm lại phương thức thanh toán tín dụng chứng từ đảm bảođược quyền lợi của người bán, mua trong quá trình hoạt động kinhdoanh xuất nhập khẩu và nâng cao vai trò của ngân hàng trong hoạtđộng thanh toán quốc tế
3 RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
3.1 KHÁI NIỆM VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Có rất nhiều quan niệm về rủi ro như: “rủi ro là những bất trắcgây ra mất mát, thiệt hại”, “rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đếnviệc xuất hiện một biến cố không mong đợi ” Nhưng nói chungmọi quan điểm đều thống nhất “rủi ro là những biến cố xảy ra ngoài
ý muốn, sự hiểu biết, dự tính của chủ thể và đem lại những hậu quảxấu” rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong mọi lĩnh vực của đờisống nhất là trong lĩnh vực ngân hàng
Lý luận và thực tiễn đã minh chứng rằng rủi ro trong hoạt độngkinh doanh của ngân hàng là nhiều nhất, nó xảy ra theo nhiều hìnhthức, cường độ khác nhau do các nguyên nhân sau:
Trang 20+ Thứ nhất: tiền là nguyên liệu chính tạo ra sản phẩm của ngânhàng, một thứ nguyên liệu độc tôn không thể thay thế Nguyên liệunày chịu tác động của nhiều nhân tố như kinh tế, chính trị, xã hội,tâm lý, chiến tranh, thiên tai Khi một trong các yếu tố này thay đổithì hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng thay đổi theo.
+ Thứ hai: ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính cóchức năng chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn, thoả mãn nhucầu vốn cho đầu tư phát triển Chính vì vậy ngân hàng phải đảm bảotrả đủ lãi và gốc cho người gửi tiền khi đến hạn Nếu ngân hàngkhông ước tính trước được nhu cầu rút tiền của người gửi tiền, thìmột trong các biện pháp để hoàn trả gốc và lãi cho người gửi là thuhồi các món đã cho vay trước hạn và điều này khiến cho các khoảncho vay gặp phải rủi ro, nhiều khách hàng không trả được nợ chongân hàng
+ Thứ ba: ngân hàng là tổ chức kinh tế chịu sự quản lý vĩ môcủa nhà nước theo hành lang hẹp
Nhà nước can thiệp vĩ mô trong nền kinh tế thị trường Trongngành ngân hàng chịu sự quản lý hẹp hơn của Chính phủ thông quacác công cụ, chính sách của Nhà nước, những quy định, nghị định,pháp lệnh của Ngân hàng Nhà nước Do vậy mỗi khi có sự điềuchỉnh của Chính phủ hoặc Ngân hàng Nhà nước thì ngân hàng gặpkhông ít khó khăn thậm chí còn gánh chịu cả tổn thất trong hoạtđộng kinh doanh của mình
+ Thứ tư: ngân hàng là tổ chức tài chính có quan hệ mật thiếtvới mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân Bất kỳ một
sự thay đổi nào của các thành phần kinh tế cũng tác động phản ứngdây truyền tới ngân hàng
Trang 21Như vậy, do đặc thù hoạt động kinh doanh Ngân hàng Thươngmại nên rủi ro đối với ngân hàng là rất lớn, nó không những gây tổnhại đến ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốcdân Vì vậy nhận thức đúng đắn và đầy đủ về rủi ro trong kinhdoanh ngân hàng là một vấn đề thiết yếu để từ đó đưa ra các biệnpháp hạn chế rủi ro cho Ngân hàng thương mại.
3.2.RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO
PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, thông qua ba nghiệp vụchính là nghiệp vụ nợ, nghiệp vụ có, nghiệp vụ trung gian, ngânhàng thương mại phải đối mặt với nhiều rủi ro Những rủi ro nàyluôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau và liên hợp tạo thành một “dâytruyền ” đe doạ đến lợi ích của ngân hàng
Trong thanh toán quốc tế, do phạm vi rộng lớn và bao gồmnhiều đối tượng tham gia nên rủi ro có thể xuất hiện tại nhiều thờiđiểm gây ra các thiệt hại không nhỏ cho các bên Thông thường khirủi ro xảy ra thì người chịu thiệt hại lớn nhất là các nhà xuất, nhậpkhẩu Bề ngoài, ngân hàng thương mại với vai trò là trung gian cungcấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng, thu được một mức lợinhuận ổn định mà dường như không phải chịu bất kì một loại rủi ronào Nhưng trên thực tế lại không phải như vậy Hoạt động thanhtoán quốc tế tuy chỉ đóng góp một phần thu nhập nhỏ trong tổng lợinhuận của ngân hàng nhưng khi xảy ra rủi ro thì tác hại của nó gây
ra không thua kém tác hại của các hoạt động nghiệp vụ khác Rủi rotrong thanh toán quốc tế đối với ngân hàng thương mại có thể lànhững mất mát thiệt hại xảy ra do không thu hồi được vốn, phát sinhnhững khoản chi phí không cần thiết hay là những yếu tố làm giảm
uy tín của ngân hàng Trong môi trường kinh doanh cạnh tranh khắc
Trang 22nhiệt như hiện nay tất cả những điều đó trở thành những vật cảnkhông nhỏ cho quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Trong thanh toán quốc tế, tín dụng chứng từ là phương thứcthanh toán có tính ưu việt nhất Tuy nhiên trách nhiệm của ngânhàng trong thanh toán L/C là rất lớn và rủi ro dễ xảy ra Tín dụngchứng từ được hiểu là một phương thức thanh toán quốc tế, mặt kháccũng có thể coi đây là một loại tín dụng ngắn hạn của các ngân hàngthương mại Vì vậy rủi ro là yếu tố tiềm ẩn nhưng cũng có thể bộcphát bất cứ lúc nào trong quá trình hoạt động của ngân hàng Nhưvậy muốn quản lý được rủi ro thì người ta phải phân loại rủi ro, tìm
ra nguyên nhân và biểu hiện của rủi ro, từ đó có giải pháp ngăn ngừa
Các cuộc khủng hoảng kinh tế làm giảm cán cân thanh toán củaquốc gia bị mất cân bằng dẫn đến đồng nội tệ bị mất giá mạnh so vớiđồng ngoại tệ làm cho khả năng chi trả của người mua giảm
Trang 23Ngoài ra các nước đang trong thời kỳ khủng hoảng thì uy tíncủa ngân hàng mở bị giảm.Vì vậy trong quan hệ thanh toán buộc họphải qua một ngân hàng xác nhận và ký quỹ 100% giá trị L/C.
3.3.2 Rủi ro tỷ giá hối đoái
Tỷ giá là đơn vị đo lường giá trị đồng tiền này so với đồng tiềnkhác.Trong thanh toán quốc tế thừơng sử dụng ngoại tệ mạnh để đolường giá trị của hàng hoá
Rủi ro tỷ giá xảy ra khi có sự biến động của tỷ giá hối đoái giữađồng tiền tính toán và đồng tiền thanh toán
Xét về tác động trực tiếp
Khi doanh nghiệp nhập khẩu nộp nội tệ ký quỹ mở L/C và yêucầu ngân hàng bán ngoại tệ để thanh toán Nếu ngân hàng khôngthực hiện việc trao đổi ngay đến khi đồng nội tệ giảm giá như vậyngân hàng phải bù vào mức giảm đó
Khi doanh nghiệp ký quỹ bằng ngoại tệ do vay của chính ngânhàng Ngân hàng có thể phải mua lượng ngoại tệ từ khách hàngkhác Đến hạn thanh toán mà tỷ giá giảm ngân hàng thu được mộtkhoản lợi, nếu tỷ giá tăng dẫn đến rủi ro cho ngân hàng
Xét tác động gián tiếp
Do mức trượt giá của đồng nội tệ so với ngoại tệ mạnh nên khinhập hàng về, nếu là mặt hàng có giá bán cạnh tranh không thể tăngđược và nếu tỷ lệ ký quỹ không bù đắp được tỷ lệ trượt giá thì rủi ro
có thể xảy ra với ngân hàng khi nhà nhập khẩu không nhận hàng vàkhông thanh toán bộ chứng từ
3.3.3 Rủi ro tín dụng
Trang 24Một cách khái quát, rủi ro tín dụng là rủi ro không thu được nợđến khi hết hạn Rủi ro tín dụng không giới hạn ở hoạt động cho vay
mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác củangân hàng như: các hoạt động bảo lãnh, cam kết, chấp nhận tài trợngoại thương, chiết khấu
Ngay từ tên gọi của mình, thanh toán tín dụng chứng từ đã thểhiện một số hoạt động mang tính chất tín dụng ở trong đó Các rủi rotín dụng thường xảy ra với ngân hàng mở L/C và gây thiệt hại vậtchất lớn nhất trong tất cả các loại rủi ro có thể xảy ra
Đối với ngân hàng phát hành
Rủi ro tín dụng đối với ngân hàng phát hành là việc không thuđược hoặc không thu được đầy đủ từ nhà nhập khẩu số tiền có giá trịbằng giá trị số tiền mà ngân hàng đã bỏ ra thanh toán cho nhà xuấtkhẩu Các trường hợp xảy ra rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng thế chấp hàng nhập khẩu:
Rủi ro này xảy ra như sau: nhà nhập khẩu xin mở L/C nhưng khingân hàng thanh toán cho nhà xuất khẩu và lấy chứng từ gửi hàng,nhà nhập khẩu không lấy chứng từ để lĩnh hàng và dĩ nhiên là khôngtrả tiền cho ngân hàng Rủi ro xảy ra khi ngân hàng cho khách hàngvay ký quỹ mở L/C cũng như thanh toán hàng nhập khẩu mà bảođảm cho vay lại là chính lô hàng đó Ngân hàng phải bán lô hàng đó
và luôn bị lỗ vì các lý do:
+ Ngân hàng không phải là nhà kinh doanh nhập khẩu
+ Hàng nhập khẩu có khi phải chế biến mới bán được
+ Nếu là thực phẩm, ngân hàng lỗ nhiều hơn vì dễ bị giảm chấtlượng
Rủi ro tín dụng bảo lãnh L/C trả chậm
Trang 25Cần phải hiểu chữ tín dụng theo nghĩa rộng, nó không chỉ làkhoản tiền mà ngân hàng cho khách hàng vay mà bao gồm cả tíndụng bằng chữ ký (uy tín) Trong trường hợp mức ký quỹ nhỏ hơn100% ngân hàng thực chất không cung cấp cho khách hàng mộtkhoản tín dụng nào cả mà chỉ cho khách hàng vay sự tín nhiệm củamình Lời hứa trả tiền của ngân hàng thay cho lời hứa của nhà nhậpkhẩu Rủi ro tín dụng xảy ra nếu nhà nhập khẩu không thanh toántiền hàng khi đến hạn cho ngân hàng.
Đối với ngân hàng xác nhận
Hoạt động tín dụng còn thể hiện trong mối quan hệ giữa ngânhàng xác nhận và ngân hàng mở thư tín dụng Trong trường hợpngân hàng mở thư tín dụng là ngân hàng nhỏ, ít có danh tiếng hoặc
ít có giao dịch với ngân hàng thông báo Nói cách khác, ngân hàngxác nhận đã cung cấp tín dụng cho ngân hàng mở L/C
Rủi ro xảy ra đối với ngân hàng xác nhận là khi không nắmvững được năng lực tài chính của ngân hàng mở đã vội xác nhậntheo yêu cầu của họ để rồi cuối cùng ngân hàng xác nhận phải lấytrách nhiệm thanh toán thay cho ngân hàng mở do ngân hàng mởthiếu thiện trí hay mất khả năng thanh toán, thậm chí bị phá sản
Đối với ngân hàng chiết khấu và ngân hàng hoàn trả thì rủi rotín dụng xảy ra khi không thu được khoản tiền mà trước kia đã thanhtoán hoặc đã chiết khấu cho nhà nhập khẩu
Đối với ngân hàng thông báo
Ngân hàng thông báo đôi khi đóng vai trò của cả ngân hàng xácnhận, ngân hàng chiết khấu Rủi ro tín dụng cho ngân hàng thôngbáo khi cho vay tài trợ xuất khẩu mà không thu hồi được vốn Ngoài
ra trong nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro.Trường hợp ngân hàng phát hành không chịu trả tiền cho ngân hàng
Trang 26thông báo mặc dù nhà nhập khẩu đã thanh toán tiền rồi Trường hợpnày ít xảy ra tuy nhiên để đảm bảo an toàn ngân hàng chỉ thông báovới ngân hàng mở quen biết, có uy tín hoặc phải ký quỹ.
3.3.4 Rủi ro đạo đức
Đây là rủi ro do nhà xuất khẩu có hành vi lừa đảo Nhà xuấtkhẩu giả mạo chứng từ mà ngân hàng không phát hiện ra đã thanhtoán cho họ Ngân hàng thông báo còn gặp phải rủi ro khi chiết khấu
bộ chứng từ giả Bộ chứng từ được lập mà không có quan hệ muabán hàng thực sự Đây là sự đồng loã của cả người nhập khẩu vàxuất khẩu để lừa ngân hàng Nếu như nhà xuất khẩu là một tổ chức
ma, hoặc bị phá sạn thì nhà nhập khẩu sẽ chịu rủi ro trong trườnghợp này Tuy nhiên do nhà nhập khẩu không đủ khả năng tài chínhbồi thường cho ngân hàng mở và cuối cùng ngân hàng là người gánhchịu hậu quả
3.3.5 Rủi ro kỹ thuật
Đây là loại rủi ro thường gặp nhất trong thanh toán thư tíndụng Rủi ro này tuy gây thiệt hại về vật chất không lớn nhưng ảnhhưởng đến chất lượng và uy tín của ngân hàng trong việc cung cấpdịch vụ cho khách hàng Các rủi ro kỹ thuật xảy ra thường donguyên nhân chủ quan xuất phát từ phía ngân hàng không hành độngtheo đúng UCP 500 Trong quan hệ thanh toán tín dụng chứng từ cácbên tham gia phải tuân thủ theo quy tắc và thực hành thống nhất vềtín dụng chứng từ của phòng thương mại quốc tế (ICC) giới thiệulần đầu tiên trên thế giới 1983 Ấn phẩm mới nhất hiện nay là UCP
500 có hiệu lực từ ngày 01/01/1994 Ngoài ra các ngân hàng phảituân theo quy tắc thống nhất về hoàn trả tiền giữa các ngân hàngtheo tín dụng chứng từ (URR)
Rủi ro kỹ thuật đối với ngân hàng mở L/C
Trang 27Theo UCP 500, ngân hàng mở được miễn trách nhiệm thanhtoán nếu bộ chứng từ có lỗi Tuy nhiên, nếu ngân hàng mở khônghành động theo đúng những quy định tại điều 13 UCP 500 thì ngânhàng mở gặp rủi ro trên chính bộ chứng từ có lỗi đó Đó là trườnghợp:
Thông báo từ chối nhưng không nói rõ sự bất hợp lệ của chứng
từ, hoặc những bất hợp lệ này bị ngân hàng chiết khấu phủ nhậnhoặc trở lên không có giá trị
Thông báo những bất hợp lệ và từ chối chứng từ vượt qúa 07ngày làm việc của ngân hàng
Đã chuyển giao chứng từ cho người mở hoặc làm mất, khôngtrả lại chứng từ cho phía nhà xuất khẩu nguyên vẹn như khi họ xuấttrình hoặc không giao chứng từ cho bên thứ ba do phía xuất trình chỉđịnh
Ngoài ra ngân hàng mở còn gặp phải rủi ro lớn đối với nhànhập khẩu do không tiến hành thẩm định một cách kỹ lưỡng tìnhhình tài chính của đơn vị xin mở L/C, nhất là những khách hàngquan hệ lần đầu Khi đơn vị nhập khẩu làm ăn thua lỗ liên tục màngân hàng không hay biết Khi đó ngân hàng mở vẫn phải thanh toáncho người bán trong khi không thu hồi được vốn từ phía người mua
Rủi ro kỹ thuật đối với ngân hàng thông báo
Theo điều 7 UCP 500 quy định “ngân hàng ngân hàng thôngbáo phải có sự cẩn thận cần thiết để kiểm tra tính xác thực của L/C
mà họ thông báo” Vì vậy rủi ro cho ngân hàng khi thông baó phảimột L/C giả (hoặc một tu chỉnh L/C không có hiệu lực) Ngân hàng
sẽ chịu rủi ro khi quyết định không thông báo L/C mà gửi quyết địnhcủa mình cho ngân hàng mở biết một cách chậm trễ
Trang 28Ngoài ra khi ngân hàng gửi đi một bộ chứng từ sai sót màkhông phát hiện ra do lỗi của ngân hàng thì ngân hàng sẽ chịu rủi ro
do việc tu chỉnh chứng từ và thanh toán chậm Ngay cả khi ngânhàng thực hiện đúng chức trách của mình thì những rủi ro do sai sótcủa người bán cũng ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng trongthanh toán quốc tế
3.3.6 Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là những thiệt hại ngân hàng gánh chịu khikhông có đủ tiền mặt đáp ứng nhu cầu rút tiền và vay tiền của kháchhàng Đối với các quốc gia mà đồng tiền của họ không được ưa thích
sử dụng trong thanh toán quốc tế thì người ta phải sử dụng ngoại tệmạnh Đôi khi ngân hàng không đủ dự trữ ngoại tệ đáp ứng nhu cầucủa nhà nhập khẩu trong thanh toán quốc tế Vì vậy thanh toán chậmcho nhà xuất khẩu làm giảm uy tín của ngân hàng, đôi khi còn bịphạt vì trả chậm
3.4.NGUYÊN NHÂN GÂY RA RỦI RO THANH TOÁN THƯ TÍN DỤNG
3.4.1.Nguyên nhân khách quan
Môi trường tự nhiên - kinh tế -xã hội
Ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp, các thành phần kinh
tế khác trong nền kinh tế đều hoạt động trong một môi trường kinh
tế -xã hội chung Môi trường KT-XH có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạtđộng của ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp Nếu môitrường KT-XH ổn định sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạtđộng hiệu quả, tăng khả năng thanh toán cho ngân hàng Ngược lạikhi môi trường kinh tế có nhiều biến động sẽ ảnh hưởng lớn đến tình
Trang 29hình kinh doanh của các doanh nghiệp Và như vậy ngân hàng sẽ gặprủi ro khi khách hàng làm ăn thua lỗ đến mất khả năng thanh toán.Điều kiện tự nhiên chính là các nguyên nhân gây ra rủi ro bấtkhả kháng cho ngân hàng như thiên tai, dịch hoạ
Nguyên nhân xuất phát từ phía khách hàng
Từ nền kinh tế ngoại thương độc quyền, khép kín buôn bán vớicác nước XHCN đến hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu Cácdoanh nghiệp Việt Nam có cơ hội thử sức trên thương trường quốc
tế rộng lớn Trong khi đối thủ là nhà buôn chuyên nghiệp nướcngoài có kinh nghiệm lâu năm, nên họ khó tránh khỏi những bỡ ngỡhụt hẫng Đó là sự hiểu biết hạn chế về thông lệ quốc tế, luật phápquốc tế cũng như luật pháp của các nước đối tác Thêm vào đó là sựthiếu các chuyên gia giỏi trong lĩnh vực pháp luật, kỹ thuật, nghiệp
vụ thanh toán Theo điều tra của cơ quan đại diện cho cộng đồng cácdoanh nghiệp Việt Nam, có tới 70% số giám đốc doanh nghiệp vừa
và nhỏ chưa qua đào tạo chính quy về nghiệp vụ ngoại thương Thếnhưng có tới 80-85% số đó tham gia hoạt động kinh doanh xuất nhậpkhẩu Nền kinh tế có nhiều đợn vị kinh doanh XNK là đáng khuyếnkhích, nhưng mặt trái của nó là nhiều doanh nghiệp chưa trang bị kỹ
đã vội vã nhảy vào cuộc thì chuyện vấp ngã là khó tránh khỏi Thựclực tài chính của doanh nghiệp còn quá yếu kém, hoạt động kinhdoanh chủ yếu bằng vốn vay ngân hàng Do vậy khi kinh doanh,buôn bán với nước ngoài bị lừa đảo, thua lỗ liên quan trực tiếp tớingân hàng Trong kinh doanh ngoại thương các doanh nghiệp ViệtNam thường thanh toán bằng thư tín dụng mà nghĩ rằng như vậy làtuyệt đối an toàn Nhưng trên thực tế nhiều doanh nghiệp đã phải trảgiá cho các điều kiện lập lờ trong hợp đồng ngoại thương cũng nhưtrong thư tín dụng Chính vì vậy ngân hàng là trung gian thanh toán
bị vạ lây
Trang 30Một nguyên nhân nữa dẫn đến rủi ro cho ngân hàng là kháchhàng cố tình lừa đảo Khách hàng ở đây bao gồm cả nhà xuất khẩu
và nhập khẩu Vấn đề ở đây là đạo đức kinh doanh của khách hàng,
họ đã nắm được điểm yếu của thanh toán thư tín dụng là việc thanhtoán tách rời khỏi hàng hoá mà chỉ căn cứ vào chứng từ Đối tác cóthể bằng hình thức tinh vi lập bộ chứng từ giả mà ngân hàng khôngthể phát hiện ra tính xác thực của nó
Môi trường pháp lý
Trong thanh toán quốc tế luôn chứa đựng những rủi ro, nhữngtranh chấp và nó tỷ lệ thuận với sự hoà nhập ngày càng nhiều, càngrộng, càng sâu vào nền mậu dịch khu vực và quốc tế Trong nhữngnhân tố quan trọng gây ra rủi ro là sự thiếu trung thực hay lường gạtcủa khách hàng Do vậy luật pháp của mỗi quốc gia cần phải cónhững Nghị địng cụ thể điều chỉnh mối quan hệ này trong sự tươngquan hợp lý với thông lệ quốc tế Ví dụ: Bộ luật Dân sự của Cộnghoà liên bang Nga quy định khá nhiều điều khoản liên quan đến giaodịch thư tín dụng tương quan với thông lệ quốc tế UCP 500 ỞTrung Quốc người ta cho phép toà án địa phương có quyền ra lệnhtạm ngừng thanh toán thư tín dụng khi người cung cấp thư tín dụng
có khiếu nại
Môi trường pháp lý có thể gây ra rủi ro cho ngân hàng khi chínhsach luật thay đổi hoặc hệ thống luật chưa hoàn thiện, cách thức thihành chưa đảm bảo thời gian, tính nghiêm minh và còn nhiều kẽ hởcho các doanh nghiệp lợi dụng Trong thanh toán quốc tế sự khácbiệt về luật pháp giữa các nước cũng là nguyên nhân gây ra tranhchấp, rủi ro cho ngân hàng
3.4.2 Nguyên nhân chủ quan
Trang 31Đây là nguyên nhân xuất phát từ chính ngân hàng, là mắt xíchnối liền giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu Ngân hàng thươngmại không những đem lại sự thoả mãn về lợi ích cho các bên mà còntạo ra cho mình một khoản thu nhập đáng kể Tuy nhiên do những sơsuất không đáng có mà gây thiệt hại tới uy tín và lợi nhuận trongkinh doanh.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trongthanh toán thư tín dụng xuất phát từ chính cán bộ ngân hàng chuyênmôn nghiệp vụ hạn chế Trước khi mở L/C cho khách hàng thì ngânhàng phải thẩm định tính pháp lý của doanh nghiệp Khi tiến hànhviệc ký quỹ, miễn giảm ký quỹ, cho vay thanh toán hàng nhập ,ngân hàng phải xem xét kỹ tình hình tài chính của doanh nghiệpcũng uy tín và mối quan hệ với ngân hàng Tuy nhiên kết quả thẩmđịnh không phải lúc nào cũng chính xác do thông tin không cânxứng Vì vậy cán bộ ngân hàng ngoài khả năng phân tích tài chínhdoanh nghiệp còn phải có sự hiểu biết về kinh tế nói chung để dựđoán khả năng thanh toán của khách hàng Ngoài ra có những trườnghợp cán bộ ngân hàng thông đồng với khách hàng đưa ra những phântích giả hoặc không làm đúng như qui trình nghiệp vụ Vì vậy tạonên sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đến với ngân hàng
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một quy trìnhthanh toán bao gồm nhiều công đoạn phức tạp và tỉ mỉ Trong đóngân hàng với chức năng là trung gian thanh toán phải chịu tráchnhiệm với những sai sót mà mình gây ra Một trong những rủi ro phổbiến trong thanh toán thư tín dụng là rủi ro kỹ thuật Do ngân hàngkhông kiểm tra kỹ nội dung L/C có phù hợp với hợp đồng XNK haykhông, không kiểm tra sự hợp lý tương đối của bộ chứng từ Dẫnđến sự chậm trễ trong thanh toán ảnh hưởng tới khách hàng và uy tín
Trang 32của ngân hàng Nguyên nhân của tình trạng trên là sự thiếu tinh thầntrách nhiệm, trình độ chuyên môn của cán bộ ngân hàng.
Ngoài ra chính sách tín dụng của ngân hàng cũng là nguyênnhân gay ra rủi ro Ví dụ như chính sách cho vay ồ ạt không quantâm đến an toàn khoản vay mà chú trọng quá đến lợi tức thu được
3.5 CÁC BIỂU HIỆN NHẬN BIẾT RỦI RO THANH TOÁN THƯ TÍN DỤNG
Các rủi ro trong thanh toán thư tín dụng luôn luôn tiềm ẩn trongsuốt quá trình thời gian thanh toán Các biểu hiện để nhận biết rủi ronày thể hiện ở trước, trong và sau khi thực hiện thanh toán L/C Cónhững biểu hiện rất dễ nhận biết, tuy nhiên có những biểu hiện cầnphải có những kiến thức chuyên môn mới phát hiện ra được
Trong thanh toán hàng nhập khẩu, ngân hàng thương mại vớichức năng là ngân hàng mở L/C Để quyết định có mở L/C chokhách hàng ngân hàng phải xem xét kỹ tình hình tài chính của doanhnghiệp Với một doanh nghiệp mà tình hình tài chính có vấn đề thì
đó là dấu hiệu đầu tiên cho biết rủi ro thanh toán thư tín dụng có thểxảy ra Chất lượng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp nhập khẩu làbiểu hiện để ngân hàng nhận biết rủi ro có thể xảy ra hay không Vớinhững doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng đang có nhu cầulớn trong nước cũng như có thị trường tiêu thụ rộng thì khả năngthanh toán cao và rủi ro đối với ngân hàng thấp Ngoài ra quan hệgiữa khách hàng và ngân hàng từ trước cũng là nguyên tố nhận biếtrủi ro Đặc biệt với những khách hàng giao dịch lần đầu thì rất khóthẩm định được thiện chí của khách hàng
Khi nhà nhập khẩu đã nhận hàng hoá từ cảng về rồi thì biểuhiện nhận biết rủi ro là khách hàng trì hoãn việc thanh toán, cũngnhư kiếm cớ bộ chứng từ có lỗi để thanh toán chậm
Trang 33Trong thanh toán hàng xuất khẩu, rủi ro có thể xảy ra với nhữngL/C được mở bởi ngân hàng chưa có quan hệ thanh toán tín nhiệm,cũng như tình hình tài chính kém mà chưa có xác nhận của ngânhàng uy tín Với những L/C trả chậm kèm theo những điều khoảnquy định về đòi tiền rắc rối(ngân hàng trả tiền không phải là ngânhàng mở) là dấu hiệu của rủi ro thanh toán L/C có thể xảy ra.
Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro thanh toán L/C
Khi nhà nhập khẩu vì lý do nào đó không thanh toán cho ngânhàng khi đến hạn, thì buộc ngân hàng phải trích tiền trong tài khoảntiền gửi của khách để thanh toán Nếu trong tài khoản tiền gửi không
đủ thì ngân hàng phải cho vay bắt buộc với lãi xuất quá hạn hiệnhành Người ta có thể xem xét mức độ rủi ro thanh toán thư tín dụngqua chỉ tiêu:
Tỉ lệ cho vay bắt buộc/ tổng giá trị thanh toán
Khoản cho vay bắt buộc này sẽ có hai khả năng xảy ra: kháchhàng thanh toán cả gốc và lãi quá hạn, còn lại khách hàng không cókhả năng thanh toán do làm ăn thua lỗ, phá sản do vậy ngân hàngphải chịu khoản rủi ro tín dụng này Chỉ số sau phản ánh phản ánhthực sự tổn thất thanh toán thư tín dụng:
Tỉ lệ tổn thất = Tổng giá trị tổn thất / Tổng giá trị cho vay bắt buộc (Tổng giá trị thanh toán)
Đây là chỉ tiêu phản ánh những tổn thất mà ngân hàng có thểgặp phải Chính vì vậy việc nhận biết các biểu hiện của rủi ro thanhtoán L/C và việc đo các chỉ tiêu phản ánh rủi ro là công việc khôngkém phần quan trọng trong việc quản lý rủi ro thanh toán L/C củangân hàng
Trang 343.6.BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG THANH TOÁN THƯ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Quản lý rủi ro thanh toán thư tín dụng là công việc thườngxuyên và thiết yếu trong quá trình kinh doanh của ngân hàng Đểhạn chế được rủi ro và tránh những tổn thất lớn thì ngân hàng phảikiểm soát được những rủi ro Rủi ro thanh toán L/C là điều khôngtránh khỏi, có những rủi ro ngân hàng ngân hàng có thể kiểm soátđược và những rủi ro ngân hàng không thể kiểm soát được (rủi robất khả kháng) Đối với rủi ro bất khả kháng, các ngân hàng chỉchống đỡ bằng cách lập quỹ dự phòng tài chính Khả năng dự phòngcao, tính chủ động chống đỡ càng lớn
- Để phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng của các ngân hàngthương mại thường tiến hành thẩm định kỹ lưỡng trước khi cho vay.Các cán bộ ngân hàng phải xem xét tình hình tài chính của doanhnghiệp, khả năng tạo lợi nhuận cũng như phương án kinh doanhtrước khi cho vay nhập khẩu hàng hoá Khi còn chưa tin tưởng vàokhách hàng ngân hàng chỉ cho vay mở thư tín dụng bằng vốn tự cóvới mức kí quỹ 100% mà không cho vay để mở thư tín dụng Chovay phải có đảm bảo để sử lý các khoản nợ quá hạn mà khàch hàng
có vật đảm bảo các ngân hàng thường có bộ phận quản lý nợ khóđòi, quá hạn hoặc bán nợcho các công ty mua bán nợ của ngânhàng
- Để hạn chế rủi ro thanh toán, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cácngân hàng thương mại thường có kế hoạch xác định cầu ngoại tệ từ
đó tìm biện pháp đáp ứng nhu cầuđó như đi vay của ngân hàng nhànước, của các tổ chức tín dụng khác, mua của các tổ chức kinh tế vànhận gửi tiết kiệm của nhân dân
- Rủi ro tỉ giá tác động đến các ngân hàng thương mại tương đốilớn do sự bất ổn định của giá trị đồng tiền, đặc biệt là các quốc gia
Trang 35đang bị khủng hoảng tài chính tiền tệ, bất ổn định chính trị Vì vậycác ngân hàng thương mại hạn chế rủi ro này bằng việc tham gia hợpđồng kì hạn, hợp đồng tương lai
- Để hạn chế rủi ro kỹ thuật các ngân hàng thương mại khôngngừng nâng cao nghiệp vụ của cán bộ thanh toán cũng như tinh thầntrách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng Ngân hàngkiểm tra kỹ L/C trước khi gửi tới ngân hàng nước ngoài Kiểm tra kỹ
bộ chứng từ nhận được sau đó mới thông báo cho người xuất khẩuĐương đầu với rủi ro là điều không thể thể tránh khỏi khi hướngđến các mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận Muốn thu được lợi nhuận thì
phải quản lý hoặc hạn chế được rủi ro Có ba biện pháp mang tính nguyên tắc thường áp dụng để giảm mức rủi ro: đa dạng hoá, chuyển rủi ro, tìm kiếm thêm các thông tin về các chọn lựa và hậu quả
- Đa dạng hoá: có nghĩa là hướng hoạt động thanh toán thư tíndụng đến đa dạng loại hình L/C, khách hàng, thị trường XNK Màcác hậu quả của hoạt động thanh toán đó không liên quan chặt chẽvới nhau Như vậy đã hạn chế được rủi ro không hệ thống Đa dạnghoá càng thuận lợi khi khoản thanh toán khác hướng và hậu quả cóquan hệ đối nghịch
- Chuyển rủi ro: khi gặp các hoạt động nhiều rủi ro nhưng cũng
có nhiều lợi nhuận, nhà kinh doanh có thể hạn chế rủi ro bằng cáchchuyển rủi ro cho các chủ thể khác có khả năng chịu đựng rủi ro(như công ty bảo hiểm) bằng cách mua bảo hiểm hoặc chung lưnggánh chịu rủi ro hoặc bán rủi ro Biện pháp này hiệu quả đặc biệtvới rủi ro tín dụng Các ngân hàng thương mại chuyển rủi ro bằngcác hình thức mua bảo hiểm cho vay, cho vay đồng tài trợ, bán rủi
ro cho các công ty mua nợ, các trung gian tài chính khác
Trang 36- Tìm kiếm thêm thông tin về khách hàng các quyết định dựa trên
sự thiếu thông tin hoặc thông tin không cân xứng sẽ dẫn đến hậu quảnghiêm trọng Nếu ngân hàng nắm bắt được nhiều thông tin vềkhách hàng về thị trường thì có thể hạn chế được rủi ro
4 Ý NGHĨA CỦA VIỆC HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
Rủi ro trong kinh doanh là điều khó thể tránh khỏi đối vớidoanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường đặc biệt là hoạtđộng của ngân hàng thương mại Rủi ro trong thanh toán thư ríndụng là một trong những rủi ro nằm trong nghiệp vụ trung gian củangân hàng Tuy thiệt hại của nó không lớn bằng rủi ro tín dụng trongnghiệp vụ của ngân hàng nhưng nó gây phản ứng “dây truyền” đếnnhiều đối tượng tham gia thanh toán Ngân hàng thương mại đóngvai trò là chất xúc tác kết nối thúc đẩy sự phát triển của hoạt độngXNK Ngày nay xu hướng các nhà XNK thanh toán thư tín dụngngày càng lớn do những ưu việt mà phương thức này mang lại Tuynhiên đã có không ít những rủi ro xảy ra gây tổn thất cho cả ngânhàng và nhà XNK Vì vậy việc quản lý và hạn chế rủi ro trong thanhtoán thư tín dụng có ý nghĩa rất thiết thực Ngoài việc giảm nhữngtổn thất không đáng có trong thanh toán L/C còn tăng khả năng cạnhtranh và uy tín của các ngân hàng để thu hút khách hàng giao dịch.Quản lý rủi ro nói chung quyết định sự tồn tại và phát triển của ngânhàng thương mại
Trang 37CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC
TẾ THEO PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HẢI
là một chi nhánh thuộc hệ thống NHNT VN, thực hiện một số nghiệp
vụ đối ngoại tại chỗ là thanh toán tiểu ngạch giữa Hải Phòng vớiHồng Kông, Trung Quốc và thanh toán tiền ký ngân của các hãngtàu biển nước ngoài tới cảng Hải Phòng
Thi hành quyết định của Hội đồng Chính phủ tháng7/1969, Chinhánh nghiệp vụ Ngân hàng Cảng Thành phố được thành lập Về mặtđối ngoại vẫn là CN NHNT Hải Phòng thuộc hệ thống NHNT VN và
có con dấu riêng, nhưng về mặt tổ chức chịu sự lãnh đạo của NHNT
VN Phòng quản lý ngoại hối được sát nhập với chi nhánh nghiệp vụNgân hàng Cảng
Mặc dù mạng lưới giao dịch với Ngân hàng nước ngoài tuy cònhạn hẹp nhưng Ngân hàng đã mở rộng quan hệ thanh toán với nhiều
Trang 38nước trên thế giới, chủ yếu là Liên Xô và các nước Đông Âu cũ Nétnổi bật trong giai đoạn này là Chi nhánh đã đảm nhiệm toàn bộ khâuthanh toán cho các đầu mối Công ty cấp I làm nhiệm vụ tiếp nhậnhàng nhập và dưới sự lãnh đạo trực tiếp của NHNT VN Chi nhánh
đã cùng với công ty VOSCO ký kết các văn bản thực hiện thuê địnhhạn và cho vay mua hàng loạt tàu biển góp phần đưa năng lực tàubiển nước ta lên hàng chục vạn tấn, ngang tầm với một số công tyvận tải biển quốc tế lúc bấy giờ
Do nhu cầu chi viện cho chiến trường miền Nam ngày càng lớn
và khẩn trương, trong những năm đầu của thập kỷ 70, mật độ tàubiển trong nước và nước ngoài vào cảng Hải Phòng tăng lên nhiềuchi nhánh đã đáp ứng nhu cầu vốn cần thiết cho các ngành cung ứngtàu biển để cấp tốc dầu, nước ngọt, lương thực, thực phẩm và cácdịch vụ khác cho các tàu Công tác thanh toán tiền ký ngân của cáchãng tàu biển và thu đổi ngoại tệ cho các sĩ quan, thuyền viên tàunước ngoài cũng được phục vụ kịp thời Hoạt động của chi nhánh đãgóp phần tăng trưởng XNK của Thành phố với đầy đủ ý nghĩa là mộtThành phố cảng lớn nhất nước ta
Sau khi thống nhất Tổ quốc (1975), sự nghiệp khôi phục đấtnước, xây dựng CNXH là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàndân Trong sự phát triển nhanh chóng của hệ thống NHNT VN đểthực hiện các mục tiêu kinh tế, ngày 27/12/1976 Tổng Giám đốcNHNT VN đã ra Quyết định số 143/NHQĐ thành lập Chi nhánhNHNT TP Hải Phòng và chi nhánh chính thức hoạt động từ ngày01/01/1977
Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6-1986,năm 1987 là năm có nhiều đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế, đổimới về chính sách tiền lương, giá cả, từng bước xoá bỏ cơ chế tậptrung, quan liêu bao cấp chuyển mọi hoạt động của nền kinh tế sang
Trang 39hạch toán kinh doanh XHCN Từ khi có nghị định 53/HĐBT ngày26/3/1988 và Quyết định 35 Tổng giám đốc NHNN VN, đến khi cóhai Pháp lệnh Ngân hàng 1990, Chi nhánh đã là một ngân hàngchuyên kinh doanh thực hiện cơ chế quản lý thống nhất toàn hệthống VCB Thời kỳ này đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ trongtoàn hệ thống Ngân hàng từ mô hình một cấp sang mô hình hai cấp.Những chính sách lãi suất thay đổi cơ chế quản lý nguồn vốn, sửdụng vốn mới hình thành Quyết định 43/HĐBT về xoá bỏ tỷ giá kếttoán nội bảng sang hạch toán nguyên tệ đã có tác động tích cực đếnhoạt động kinh doanh của chi nhánh.
Nhằm thực hiện, thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
10 năm 1991-2000, kế hoạch 5 năm 2001-2005 và hoà nhập nhanhchóng với cơ chế thị trường, tập thể CBCNV đã cố gắng quyết tâmcao, tập trung trí tuệ với tinh thần chủ động sáng tạo, đề ra nhữngchiến lược kinh doanh thích hợp như chính sách khách hàng, chínhsách lãi suất, tỷ giá ngoại tệ, đổi mới công nghệ ngân hàng, công táccán bộ để hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao.Hai mươi lăm năm xây dựng và trưởng thành là một quá trìnhđổi mới toàn diện cả về tổ chức, con người và cơ sở vật chất kỹthuật, công nghệ Những năm đầu thành lập, cơ sở vật chất còn hạnhẹp, phương tiện làm việc giao dịch còn thô sơ nghèo nàn, số cán bộcông nhân viên chỉ có 30 người, thì nay số CBCNV lên tới 80 ngườivới chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, được trang bị phương tiệnlàm việc hiện đại đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế Từ chỗ chỉ có 48
tổ chức kinh tế mở tài khoản giao dịch nay đã có tới 431 đơn vị giaodịch tiền gửi, tín dụng, thanh toán và có tới 9376 cá nhân mở tàikhoản giao dịch tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu thanh toán.Khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng tăng lênđáng kể, năm 1990 chỉ đạt 1960 tỷ đồng thì năm 2000 đã đạt 6498 tỷ
Trang 40đồng và năm 2001 lên đến 8250 tỷ đồng về tổng giá trị thanh toánkhông dùng tiền mặt.
Công tác thanh toán đối ngoại cũng được mở rộng, khi mớithành lập Chi nhánh chỉ quan hệ với hơn 40 nước thì nay đã có giaodịch đại lý với trên 100 nước trên thế giới về thanh toán, khoá mãđiện, mẫu chữ ký Do mở rộng quan hệ giao dịch nên chi nhánh đãthực hiện việc thanh toán tiền hàng XNK đa dạng và hiện đại hơnnhư mở thư tín dụng trả tiền ngay, chả chậm, chuyển tiền điện tử,nhờ thu chứng từ đều đảm bảo nhanh chóng, thuận lợi an toàn chokhách hàng Vì vậy mà uy tín của chi nhánh ngày càng được nângcao
Công tác huy động vốn ngày càng tăng trưởng qua các năm vớitốc độ tăng bình quân trên 10% Vốn huy động chủ yếu là ngoại tệ,hiện nay vốn huy động 194 tỷ đồng và 73,8 triệu USD tăng 12 lần vềVND và tăng 7 lần về ngoại tệ quy USD Với nguồn vốn huy độnglớn chi nhánh luôn đáp ứng mọi nhu cầu của nền kinh tế
Công tác tín dụng ngày càng mở rộng tới các thành phần kinh
tế, các ngành nghề kinh doanh Trước đây chỉ cho vay bằng đồng
VN với các doanh nghiệp nhà nước thì nay cho vay mọi thành phầnkinh tế Với doanh số cho vay năm 2001 là 505 tỷ đồng và 35,8 triệuUSD tăng gấp 10 lần về VND và 3 lần về ngoại tệ so với năm 1990
Dư nợ cho vay đạt 133,7 tỷ đồng và 8,6 triệu USD tăng 12 lần vềVND và hơn 2 lần về ngoại tệ với năm 1990
Hoạt động kinh doanh mua bán ngoại tệ góp phần ổn định giá
cả, giảm bớt tình trạng căng thẳng về ngoại tệ Nghiệp vụ kinhdoanh ngoại tệ với khối lượng mua được ngày càng tăng từ 3,6 triệuUSD năm 1990 đến 76,7 triệu USD năm 2001