1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận đẩy mạnh tiêu chuẩn hóa các công ty tàu việt nam trong quá trình hội nhập

190 133 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, với đặc điểm là một ngành có nhiều yếu tố kỹ thuật, nhiều công đoạn, đòi hỏi sự kết hợp nhịp nhàng chuẩn xác, các giải pháp cần phải thực hiện đồng bộ, trong đó cần đặc biệt

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia có lợi thế quan trọng để phát triển kinh tế biển Về

tự nhiên, Việt Nam có bờ biển dài, vùng biển đặc quyền rộng , hơn nữa, vị trí địa lý của nước ta có tính chiến lược, nằm trên luồng giao thương quốc tế chủ yếu của thế giới Do vậy, kinh tế biển luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng, không ngừng phát huy vai trò quan trọng trong tiến trình tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước Để tiếp tục phát huy các tiềm năng của biển trong thế kỷ XXI, Hội nghị lần thứ tư ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã thông qua “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, nhấn mạnh mục tiêu tổng quát đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh Như vậy, trong điều kiện hiện nay, một yếu tố để hiện thực hóa Chiến lược biển Việt Nam là phát triển ngành công nghiệp đóng tàu một cách hiệu quả Khi đó, ngành công nghiệp đóng tàu có thể góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển như vận tải biển, đánh bắt và nuôi trồng hải sản, dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn… cũng như các hoạt động khai thác liên quan đến biển như khai thác thủy hải sản, dầu khí… tạo thành một tổng thể chặt chẽ, đảm bảo sự phát triển của nền kinh tế, đảm bảo chủ quyền biển đảo của Việt Nam

Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới WTO, sự cạnh tranh từ các đối thủ rất khốc liệt trong khi Nhà nước không thể tiếp tục trợ cấp và cũng không có khả năng trợ cấp do tiềm lực ngân sách còn hạn chế, lợi thế về nhân công giá rẻ đang dần yếu đi, và quan trọng nhất là ngành công nghiệp phụ trợ còn non kém do không có một thị trường đủ lớn Để ngành công nghiệp đóng tàu có thể phát triển bền vững, chúng ta chỉ có thể lựa chọn tập trung đầu tư vào chất lượng, không chỉ chất lượng sản phẩm mà cả chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cần tìm ra phương thức kết hợp lợi thế vốn có của mình là lao động rẻ với công nghệ tiên tiến của nước ngoài, mở rộng thêm cơ hội và phương thức đầu tư cho các đối tác nước ngoài, từ đó thúc đẩy sự chuyển giao công nghệ và phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ

Bên cạnh đó, với đặc điểm là một ngành có nhiều yếu tố kỹ thuật, nhiều công đoạn, đòi hỏi sự kết hợp nhịp nhàng chuẩn xác, các giải pháp cần phải thực hiện đồng

bộ, trong đó cần đặc biệt quan tâm tới giải pháp tăng cường công tác tiêu chuẩn hóa tại các công ty đóng tàu của Việt Nam vì việc áp dụng nghiêm túc các tiêu chuẩn vào quá trình sản xuất và quản lý đóng tàu là một trong những công cụ hiệu quả để nâng cao chất lượng Bên cạnh đó, với các đặc điểm của ngành đóng tàu nêu trên, tiêu chuẩn hóa giữ một vai trò quan trọng đối với những hoạt động thực tiễn cũng như các định

Trang 2

hướng phát triển trong tương lai Công tác tiêu chuẩn hóa được tiến hành dựa trên kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật và vận dụng các kinh nghiệm thực tiễn không những giúp các công ty thuộc các loại hình sản xuất kinh doanh khác nhau hoạt động có nề nếp, hiệu quả mà còn tạo tiền đề cho các công ty này phát triển hài hòa và tạo điều kiện hợp tác thuận lợi trong mọi lĩnh vực giao lưu thương mại trên phạm vi khu vực và quốc tế Công tác tiêu chuẩn hóa trong các công ty đóng tàu bao gồm hoạt động xây dựng, công bố và áp dụng tiêu chuẩn và tiêu chuẩn hóa đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý đóng tàu

Từ những năm 60 của thế kỷ trước, Nhà nước ta đã coi trọng và chỉ đạo thực hiện công tác tiêu chuẩn hóa trong lĩnh vực đóng tàu nói riêng và trong mọi hoạt động của nền kinh tế nói chung Tuy nhiên, vào thời kỳ đó, hoạt động tiêu chuẩn hóa chỉ được thực hiện theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, làm theo mệnh lệnh mà không bắt nguồn từ nhu cầu thực tế Công tác tiêu chuẩn hóa chủ yếu phục vụ yêu cầu quản lý của các cơ quan nhà nước mà chưa thu hút được sự tham gia rộng rãi và thực sự của các doanh nghiệp Do vậy, công tác tiêu chuẩn hóa chỉ được thực hiện hời hợt, không được đánh giá, sửa đổi thường xuyên, các tiêu chuẩn lạc hậu và chỉ mang tính hình thức, không phát huy được vai trò đối với sự phát triển kinh tế Mặt khác, vai trò của công tác tiêu chuẩn hóa cũng không được nhận thức đầy đủ, mọi người cho rằng tiêu chuẩn hóa chỉ là vấn đề mang tính kỹ thuật đơn thuần mà bỏ qua vai trò của tiêu chuẩn hóa, đặc biệt là tiêu chuẩn hóa công ty, đối với kinh tế, quản lý và pháp luật Công tác tiêu chuẩn hóa trong các công ty đóng tàu Việt Nam cũng không khác so với bối cảnh chung lúc

đó, các tiêu chuẩn được ban hành không được áp dụng vào thực tế, chủ yếu tồn tại trên giấy tờ, ít hài hòa với các tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, công tác tiêu chuẩn hóa ít được quan tâm, đầu tư manh mún, bộc lộ những hạn chế yếu kém về quản lý sản xuất, chất lượng sản phẩm và hoạt động không có lãi

Đến năm 2006, khi luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật được ban hành, công tác tiêu chuẩn hóa đã thay đổi từ tư duy đến tổ chức và phương pháp thực hiện Công tác tiêu chuẩn hóa được thực hiện theo hệ thống xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, có sự chia sẻ trách nhiệm giữa Nhà nước và doanh nghiệp Các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân bước đầu tự nguyện tham gia vào quá trình xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và tự chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm, hàng hóa của mình

Đối với các công ty đóng tàu, trong bối cảnh mở cửa nền kinh tế để phát triển và hội nhập, công tác tiêu chuẩn hóa công ty cũng đã có những bước đầu đổi mới nhưng chưa thực sự khởi sắc, vẫn còn một số điểm bất cập như:

- Hệ thống tiêu chuẩn còn lạc hậu, kém hiệu quả và chưa theo kịp trình độ phát triển của công nghệ đóng tàu, chưa đáp ứng được các yêu cầu từ khách hàng

Trang 3

- Các quy định về xây dựng, ban hành và áp dụng tiêu chuẩn trong các công ty đóng tàu chưa được thực hiện nghiêm túc, chưa thành hệ thống đầy đủ, đồng bộ, tỷ lệ hài hòa với tiêu chuẩn khu vực và quốc tế chưa cao

- Công tác tiêu chuẩn hóa chưa nhận được sự quan tâm thích đáng

Như vậy, ngành công nghiệp đóng tàu đang đứng trước thách thức về chiến lược phát triển đã được Đảng, Nhà nước xác định, nhưng đây cũng là cơ hội để ngành công nghiệp đóng tàu tự vươn lên, phát triển thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn

Trong bối cảnh này, giải pháp hữu hiệu cho các công ty đóng tàu Việt Nam là tập trung nâng cao chất lượng, giảm chi phí thông qua các công cụ quản lý, cách thức

tổ chức đóng tàu và áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện đại hay nói cách khác là thực hiện tốt công tác tiêu chuẩn hóa trong các công ty đóng tàu Khi đó, những lợi ích thiết thực cho mỗi công ty sẽ được đảm bảo, một mặt thúc đẩy nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, góp phần vào sự tăng trưởng bền vững, tạo thế cạnh tranh cho sản phẩm, bảo vệ môi trường, các lợi ích cộng đồng khác; mặt khác góp phần thuận lợi hóa thương mại, hạn chế và tiến tới xóa bỏ các rào cản kỹ thuật không cần thiết đối với thương mại quốc tế trong ngành đóng tàu Tuy nhiên, để có thể làm tốt công tác tiêu chuẩn hóa tại các công ty đóng tàu Việt Nam, chúng ta cần phân tích đánh giá thực trạng hoạt động xây dựng, công bố, áp dụng tiêu chuẩn trong các công ty đóng tàu, từ

đó làm rõ những điểm yếu kém và đưa ra cách thức thực hiện phù hợp

Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hóa ở các công ty đóng tàu Việt Nam trong tiến trình hội nhập” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình

2 Mục đích nghiên cứu của luận án

- Hệ thống hóa và góp phần phát triển các vấn đề lý luận chủ yếu của tiêu chuẩn hóa công ty, cụ thể: Nội dung các nguyên tắc của tiêu chuẩn hóa công ty; các tiêu chí đánh giá sự phát triển của tiêu chuẩn hóa công ty; các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu chuẩn hóa của công ty

- Phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra ưu điểm/thành tích và hạn chế/ khuyết điểm trong hoạt động tiêu chuẩn hóa của các công ty đóng tàu, nguyên nhân của các hạn chế, khuyết điểm đó

- Đề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hóa của các công ty đóng tàu Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Trang 4

Luận án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tế về công tác tiêu chuẩn hóa

để từ đó nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tiêu chuẩn hóa công ty và xây dựng các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển tiêu chuẩn hóa công ty; đánh giá thực trạng và

đề xuất các giải pháp để đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hóa tại các công ty đóng tàu Việt Nam trong tiến trình hội nhập

- Phạm vi nghiên cứu:

Về thời gian: Nghiên cứu, đánh giá dựa trên những dữ liệu điều tra từ 2006 – 2013, qua đó đề ra biện pháp thúc đẩy hoạt động tiêu chuẩn hóa của các công ty đóng tàu cho đến năm 2015 - 2020

Về không gian: Nghiên cứu, khảo sát điều tra được tiến hành tại 25 công ty

đóng tàu có quy mô vừa và lớn của Việt Nam

4 Lưu đồ nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Lưu đồ nghiên cứu

Các bước trong nghiên cứu của tác giả được mô tả tổng quát như hình dưới đây:

(Nguồn: Tác giả đề xuất)

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tiếp cận theo hướng từ nghiên cứu phần cơ

sở lý luận, đánh giá thực trạng sau đó đề xuất các giải pháp đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hóa nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cho các công ty đóng tàu của Tổng công

ty công nghiệp tàu thủy Các giải pháp này được được xây dựng từ việc khảo sát, phân tích những ưu điểm và hạn chế trong hoạt động thực tế của công tác tiêu chuẩn hóa về

tổ chức quản lý và điều hành sản xuất tại các công ty đóng tàu Việt Nam kết hợp với việc so sánh với một số mô hình của các công ty đóng tàu tiên tiến trên thế giới

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận chung là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tác giả đã thực hiện tổng hợp các phương pháp sau: Phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp kế thừa; phương pháp chuyên gia; phương pháp thống kê và so sánh; phương pháp điều tra, thu thập và xử lý thông tin

Trang 5

i) Phương pháp tổng hợp và phân tích:

Được sử dụng trong quá trình hoàn thiện luận án Kết quả từ quá trình xử lý dữ liệu được diễn giải và phân tích chi tiết Các giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hóa cho các công ty đóng tàu ở Việt Nam cũng được đề xuất dựa trên các kết

quả của quá trình phân tích và tổng hợp nêu trên

ii) Phương pháp kế thừa:

Luận án sử dụng có tính kế thừa các tài liệu, tư liệu, kết quả nghiên cứu của các công trình trong nước và ngoài nước để khái quát và hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác tiêu chuẩn hóa, cung cấp thông tin nền tảng phục vụ triển khai nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp nhằm đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hóa ở các công ty đóng tàu Việt Nam

iii) Phương pháp chuyên gia:

Những vấn đề nghiên cứu trong phạm vi luận án sẽ được tham vấn ý kiến đóng góp của lãnh đạo các công ty đóng tàu, các nhà quản lý chuyên ngành và các chuyên gia kỹ thuật hoạt động trong các lĩnh vực tiêu chuẩn hóa Trên cơ sở đó, tác giả tiến hành tổng hợp, sàng lọc thông tin định tính nhằm tham chiếu với các kết quả phân tích thống kê, đồng thời xây dựng định hướng các giải pháp phát triển công tác tiêu chuẩn hóa ở các công ty đóng tàu Việt Nam

iv) Phương pháp thống kê và so sánh:

Phương pháp này được sử dụng để minh họa cho việc phân tích, tác giả sử dụng các nguồn số liệu cả sơ cấp lẫn thứ cấp Khi thực hiện phương pháp thống kê so sánh, tác giả đã sử dụng hệ thống số liệu theo chuỗi thời gian về công tác tiêu chuẩn hóa của

các công ty đóng tàu điển hình để so sánh và đưa ra nhận định thực tế

v) Phương pháp điều tra, thu thập, xử lý thông tin:

Điều tra theo phiếu: Thông tin của các công ty đóng tàu đại diện được thu thập

bằng cách sử dụng phiếu điều tra Tác giả đã tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với đại diện các công ty để thu thập các thông tin cần thiết phục vụ cho các nội dung nghiên cứu của luận án Cụ thể:

+ Phiếu điều tra: Để thực hiện nghiên cứu, tác giả đã xử lý và phân tích số liệu điều tra trên cơ sở các phiếu thu thập thông tin từ các công ty đóng tàu Tác giả đã gửi phiếu điều tra cho 25 công ty đóng tàu thuộc Tổng công ty công nghiệp tàu thủy và các công ty đóng tàu ngoài Tổng công ty với tổng số 150 phiếu Tổng số phiếu thu về 130

phiếu, tổng số phiếu hợp lệ và đầy đủ thông tin để phân tích 120 phiếu, số phiếu

này đủ lớn để xử lý số liệu và phân tích (tương ứng với mỗi doanh nghiệp khảo sát

có 4 quan sát) Vì liên quan đến hoạt động xây dựng tiêu chuẩn tại các công ty đóng tàu tập trung tại nhiều phòng/ ban khác nhau Do đó đối tượng gửi phiếu điều tra

Trang 6

trong một công ty đóng tàu gồm: Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật, Trưởng phòng

kỹ thuật, Trưởng phòng thiết kế công nghệ, Trưởng phòng kiểm soát chất lượng

+ Công cụ điều tra và phương pháp tính toán: Công cụ điều tra được nghiên cứu

phân tích thành 4 vấn đề theo mẫu phiếu điều tra, chủ yếu thu thập các thông tin về hoạt động chuyên môn tiêu chuẩn hóa của các công ty đóng tàu như công tác xây dựng, áp dụng, ban hành, quá trình kiểm tra và đào tạo việc thực hiện tiêu chuẩn Phương pháp tính toán: Tác giả dùng phương pháp thống kê, lập bảng và sử dụng phần

mềm SPSS để xử lý số liệu

Thu thập tài liệu: Tác giả đã tiến hành nghiên cứu khai thác các văn bản quy

phạm pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, báo cáo tổng kết, kết quả các đề tài khoa học đã nghiên cứu về tiêu chuẩn hóa và các bài báo khoa học đăng ở các tạp chí chuyên ngành liên quan làm cơ sở khoa học cho việc vận dụng tại các công ty đóng tàu Việt Nam

Điều tra phỏng vấn: Để thu thập các thông tin định tính, tác giả tiến hành

phỏng vấn các đại diện lãnh đạo của từng công ty đóng tàu, trên cơ sở đó rút ra các vấn

đề trọng tâm của doanh nghiệp (bao gồm cả hiện trạng, nhu cầu và định hướng về công tác tiêu chuẩn hóa) Cụ thể: tổ chức thực hiện 20 cuộc phỏng vấn sâu với đại diện các công ty đóng tàu (gồm 10 cuộc phỏng vấn sâu đối với đại diện các công ty đóng tàu thuộc Tổng công ty công nghiệp tàu thủy và gần 10 cuộc phỏng vấn sâu đối với đại diện các Công ty đóng tàu Quốc phòng)

Báo cáo luận án tại Hội thảo khoa học: Nhằm tham chiếu và làm rõ hơn các

kết quả thu thập thông tin, đồng thời tranh thủ các ý kiến của chuyên gia, các cán bộ quản lý các cấp ngành, ngày 13/11/ 2014 tại tỉnh Phú Thọ, tác giả đã báo cáo luận án

tại hội thảo “Phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ”, thành phần hội thảo

gồm có sự tham gia của đại diện một số doanh nghiệp điển hình, một số chuyên gia và nhà quản lý Thông qua hội thảo, tác giả đã xác định rõ hơn đặc điểm thực trạng cũng như nhu cầu phát triển công tác tiêu chuẩn hóa hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp với thực tiễn hơn, có tính khả thi cao hơn

5 Mô tả chi tiết tình hình điều tra

Trong luận án, tác giả sử dụng phương pháp điều tra thống kê với mục đích

khẳng định độ tin cậy của dữ liệu khảo sát để sử dụng cho phân tích, đánh giá thực trạng công tác tiêu chuẩn hóa tại các công ty đóng tàu

5.1 Xác định mẫu nghiên cứu

- Tổng thể nghiên cứu của luận án là lãnh đạo doanh nghiệp và 03 lãnh đạo cấp phòng, ban tại các công ty đóng tàu

Trang 7

- Do tác giả làm trong ngành đóng tàu nên thuận tiện trong việc thu thập đầy đủ danh sách của đối tượng khảo sát nên tác giả đã sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện để đảm bảo qui mô mẫu

5.2 Phương pháp điều tra

- Gửi phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp đến doanh nghiệp và đăng ký ngày giờ gặp đại diện doanh nghiệp

- Đến doanh nghiệp phỏng vấn và xin tài tiệu, thu biểu mẫu

- Thu thập biểu mẫu

- Thẩm vấn lại những doanh nghiệp nghi vấn là cung cấp thông tin không đầy

đủ, chưa chuẩn xác

5.3 Tình hình thu thập thông tin

Do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, để vượt qua khó khăn các công ty đóng tàu đang thực hiện tập trung vào các hoạt động, ngành nghề chính là đóng mới, sửa chữa tàu, trong đó tập trung nâng cao chất lượng cho đóng mới Sau khi nghiên cứu kỹ tình hình thực tiễn, tác giả đã xác định cần mở rộng điều tra đến lãnh đạo 03 phòng, ban chuyên môn của các công ty đóng tàu thay vì chỉ gửi phiếu đến lãnh đạo doanh nghiệp theo dự kiến ban đầu Việc tiến hành điều tra đã phân hạng doanh nghiệp tập trung cho đổi mới quản lý, tổ chức đóng mới tàu, do vậy tác giả đã chọn 25/120 công ty đóng tàu trên cả nước

5.4 Sai số trong điều tra và những hạn chế của số liệu

Do đây là điều tra chọn mẫu nên cả 2 dạng sai số: sai số chọn mẫu và sai số phi chọn mẫu đều có thể xảy ra Độ chính xác của điều tra chọn mẫu sẽ được xác định bởi tác động phối hợp của hai loại sai số này Sai số phi chọn mẫu thường xảy ra đối với các điều tra chọn mẫu Cuộc điều tra này có thể có các sai số phi chọn mẫu như sau:

- Doanh nghiệp được chọn không tham gia trả lời (từ chối tham gia trả lời phỏng vấn, không gửi phiếu trả lời, doanh nghiệp không còn tồn tại …)

- Không trả lời đầy đủ các câu hỏi trong phiếu điều tra

- Khó khăn gây nhầm lẫn về nội dung, khái niệm, định nghĩa trong quá trình thiết

kế phiếu điều tra và trong khi trả lời phỏng vấn hoặc điền phiếu điều tra

- Người được hỏi không muốn hoặc không thể cung cấp thông tin chính xác theo câu hỏi về doanh nghiệp của mình; thiếu kiến thức về các giá trị thực

- Điều tra và nhập tin mắc lỗi trong việc đánh mã, nhập tin

- Các lỗi khác khi thu thập thông tin, xử lý và báo cáo

Trang 8

Tuy nhiên, sai số phi chọn mẫu của cuộc điều tra này đã được tác giả khống chế

và giảm thiểu bằng các biện pháp như: biên soạn bảng hỏi kỹ lưỡng, làm thử trước khi điều tra, thực hiện kiểm tra bảng hỏi nhiều lần, phương pháp và tổ chức bài bản, chặt chẽ Hơn nữa, trong quá trình điều tra, tác giả đã liên hệ lại nhiều lần qua điện thoại hoặc email với các doanh nghiệp để có được nội dung trả lời tốt nhất

6 Những đóng góp mới của luận án

Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận

Thứ nhất: Trên cơ sở lý thuyết về tiêu chuẩn hóa, tác giả phát triển lý thuyết về tiêu chuẩn hóa công ty trên các khía cạnh như: Phân loại, mục đích, đối tượng, các nguyên tắc và các phương pháp xây dựng tiêu chuẩn; đồng thời xác định được các nội dung của công tác tiêu chuẩn hóa: hoạt động xây dựng, công bố, áp dụng và thông tin tiêu chuẩn

Thứ hai: Đã xây dựng các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của tiêu chuẩn hóa công

ty, bao gồm: i) Nhóm các chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển của tiêu chuẩn hóa: Tỷ

lệ hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế và khu vực; Số lượng và tỷ trọng của tiêu chuẩn hóa bên trong; Tỷ lệ tiêu chuẩn phù hợp; Tỷ lệ tiêu chuẩn lạc hậu; Tỷ lệ tiêu chuẩn được thực hiện; Tỷ lệ tiêu chuẩn được hoàn thiện, điều chỉnh và bổ sung; Số lượng tiêu

chuẩn sản phẩm; Số lượng tiêu chuẩn quá trình; Số lượng tiêu chuẩn về môi trường ii) Nhóm các chỉ tiêu phản ánh tác động của tiêu chuẩn hóa: Chỉ tiêu đánh giá sản xuất - kinh doanh; Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất – kinh doanh; Chỉ tiêu tác động của tiêu chuẩn hóa đến tiến bộ khoa học – kỹ thuật; Chỉ tiêu đánh giá mức gây ô nhiễm môi trường

Thứ ba: Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tiêu chuẩn hóa của công ty đã được

nhận diện, bao gồm: i) Nhóm nhân tố thuộc về vĩ mô: Ảnh hưởng của thị trường; Chính

sách xuất nhập khẩu; Luật pháp ii) Nhóm nhân tố thuộc về ngành và các công ty:

Chiến lược, quy hoạch phát triển của ngành và doanh nghiệp; Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành và công ty; Tiến bộ khoa học kỹ thuật; Trình độ phát triển công tác tiêu chuẩn hóa; Sự phát triển hạ tầng cơ sở cho tiêu chuẩn hóa; Thị trường

Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu

Thứ nhất: Từ nghiên cứu thực tế tại các công ty đóng tàu Việt Nam, nhằm đẩy nhanh và tăng cường hiệu quả hoạt động xây dựng, áp dụng và công bố tiêu chuẩn tại các công ty đóng tàu Việt Nam, tác giả đã đưa ra 6 giải pháp có tính đồng bộ, phù hợp với thực trạng của các công ty đóng tàu Việt Nam, trong đó có 2 giải pháp mới để thúc đẩy công tác tiêu chuẩn hóa trong các công ty đóng tàu của Việt Nam, bao gồm: Tập trung phát triển tiêu chuẩn hóa bên trong và Coi trọng công tác đánh giá sự phù hợp

Trang 9

Thứ hai: Kết quả của luận án đã giúp lãnh đạo Tổng công ty công nghiệp tàu thủy có cơ sở lý luận, thông tin, quan điểm mới về vai trò công tác tiêu chuẩn hóa công

ty và bước đầu triển khai xây dựng, ban hành một số tiêu chuẩn kỹ thuật phục vụ hoạt động đóng tàu

7 Tổng quan các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài

Các công trình công bố trong nước:

1 Đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu phương pháp luận và thực tiễn để hài hòa

hệ thống TCVN với tiêu chuẩn quốc tế và khu vực phục vụ việc tham gia có hiệu quả của Việt nam vào AFTA”, chủ nhiệm TS Hồ Tất Thắng, Hà Nội 4 tháng 2004 [24] Nội dung đề tài đã đề cập đến các vấn đề nghiên cứu như: phương pháp luận, các vấn

đề kỹ thuật, nghiệp vụ về việc xây dựng tiêu chuẩn, chấp nhận tiêu chuẩn, hài hòa tiêu chuẩn Nghiên cứu đề xuất các hướng chuyển đổi hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam theo hướng nâng cao trình độ khoa học công nghệ và hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế và tiêu chuẩn khu vực Nghiên cứu xây dựng chương trình hài hòa TCVN với TCQT và TCKV đến năm 2006 và định hướng đến năm 2010 Áp dụng các kết quả nghiên cứu trên để xây dựng thí điểm 20 TCVN hài hòa với TCQT; rút kinh nghiệm để hoàn thiện phương pháp luận và các biện pháp hài hòa tiêu chuẩn cho Việt Nam Qua nghiên cứu công trình tác giả còn thấy một số hạn chế sau:

i) Công trình chưa nêu bật phần lý luận về vai trò thiết yếu của tiêu chuẩn công

ty, cũng như số lượng tiêu chuẩn công ty được ban hành trong lĩnh vực công nghiệp cơ khí

ii) Công trình chưa đưa ra giải pháp cụ thể để phát triển hoạt động xây dựng, áp dụng các cấp tiêu chuẩn, trong đó có tiêu chuẩn công ty Các giải pháp còn mang tính chất định tính dẫn tới việc cần phải cụ thể hóa các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xây dựng tiêu chuẩn tại các doanh nghiệp

iii) Mặc dù công trình đã nêu các giải pháp đổi mới phương pháp xây dựng tiêu chuẩn hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế và khu vực, tuy nhiên các giải pháp vẫn chung và nếu áp dụng tại Việt Nam khó có thể vận dụng

Qua đề tài tác giả đã vận dụng một số nhận định để xây dựng phần cơ sở lý luận về tiêu chuẩn hóa như khái niệm tiêu chuẩn và tiêu chuẩn hóa, cấp tiêu chuẩn hóa, nguyên tắc cơ bản của hoạt động tiêu chuẩn hóa công ty

2 Cuốn cẩm nang doanh nghiệp “Hoạt động tiêu chuẩn hóa và doanh nghiệp”

trong khuôn khổ của chương trình thúc đẩy hoạt động thương mại thông qua hoạt động tiêu chuẩn hóa dành cho các nước Nam và Đông Nam Á do tổ chức Hợp tác Phát triển của Chính phủ Thụy Điển – SIDA tài trợ và thực hiện bởi Viện Tiêu chuẩn Thụy Điển – SIS, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) biên soạn và phát hành

Trang 10

tài liệu lưu hành nội bộ, năm 2014 [45] Cuốn sách cung cấp cho cộng đồng doanh nghiệp những kiến thức cơ bản về hoạt động tiêu chuẩn hóa nhằm giúp doanh nghiệp hiểu được bản chất, ý nghĩa, lợi ích, cơ sở pháp luật và kỹ thuật, nghiệp vụ của tiêu chuẩn hóa; hệ thống tiêu chuẩn và cách thức xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, cũng như những nội dung cần thực hiện để hoạt động tiêu chuẩn hóa

Cuốn sách cũng trả lời giúp doanh nghiệp các câu hỏi: Quyền, trách nhiệm, hình thức tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động tiêu chuẩn hóa như thế nào Hoạt động tiêu chuẩn hóa trong doanh nghiệp cần làm gì Khi nào doanh nghiệp cần xây dựng tiêu chuẩn công ty Đối tượng nào được lựa chọn để xây dựng tiêu chuẩn công ty Xây dựng một tiêu chuẩn cơ sở cụ thể như thế nào Đồng thời cuốn sách giới thiệu một số địa chỉ liên quan ở các Bộ, ngành, địa phương, cũng như địa chỉ của một số tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế và khu vực để doanh nghiệp có thể liên hệ hoặc tra cứu các thông tin cần thiết đến hoạt động tiêu chuẩn hóa Qua nghiên cứu công trình tác giả còn thấy một số hạn chế sau:

i) Các hướng dẫn để doanh nghiệp cần làm gì để xây dựng một tiêu chuẩn không rõ và nếu ở thực tiễn sẽ khó có thể triển khai

ii) Các tiêu chí để lựa chọn đối tượng cần xây dựng tiêu chuẩn hóa trong công trình không đề cập đến vấn đề doanh nghiệp cần làm gì cho việc thúc đẩy hoạt động xây dựng tiêu chuẩn

Qua cuốn sổ tay tác giả đã tham khảo, vận dụng vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn trong doanh nghiệp, tuy nhiên các quá trình trong sổ tay chỉ hướng dẫn cơ bản vì vậy tác giả tham chiếu các bước để xây dựng cho luận án của mình

3 Bài báo “Tiêu chuẩn – Công cụ kỹ thuật hữu hiệu để tăng cường hội nhập

kinh tế quốc tế” số tháng 10.2006 Tạp chí hoạt động khoa học của tác giả Nguyễn Minh Bằng [37] đã nêu hướng giải quyết một số vấn đề sau: (1) Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tiêu chuẩn đã trở thành thước đo giá trị của các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và là cơ sở kỹ thuật để thảo luận, giải quyết các tranh chấp không chỉ trong nước mà cả trong phạm vi quốc tế… Đặc biệt, khi có tranh chấp, tiêu chuẩn chính là cơ sở kỹ thuật cho việc thảo luận, giải quyết và tài phán Đối với các đối tượng sản xuất – kinh doanh – dịch vụ, tiêu chuẩn được xem là căn cứ kỹ thuật vì dựa trên các yếu tố: yếu tố chất lượng, yếu tố thuận lợi hóa giao dịch, yếu tố sáng tạo và phát triển sản phẩm, yếu tố chuyển giao công nghệ mới, yếu tố quyết định chiến lược (2) Trong thực tế, nhiều quốc gia đã và đang sử dụng tiêu chuẩn làm một hình thức bảo hộ mậu dịch thay cho hàng rào thuế quan để tạo ra những rào cản kỹ thuật và sự không bình đẳng trong các hoạt động thương mại quốc tế Điều này đã được khẳng định trong Hiệp định về rào cản kỹ thuật đối với thương mại của WTO và trong các chương trình hành động của các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế, khu vực và quốc gia (3)

Trang 11

Các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBTs) gồm các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn

và thủ tục, quy trình đánh giá sự phù hợp mà các nước áp dụng nhằm bảo hộ mậu dịch trong nước hoặc bảo vệ các lợi ích quốc gia, trong đó có việc kiểm soát và hạn chế việc nhập khẩu các sản phẩm không đáp ứng với các quy định về môi trường, an toàn, sức khoẻ, ở hầu hết các nước, số lượng các quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc áp dụng ngày càng tăng lên Xu hướng này cho thấy phản ứng của Chính phủ trước đòi hỏi ngày một tăng của công chúng về mức độ đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng và an toàn của hàng hóa nhập khẩu Những đòi hỏi tương tự thường gây sức ép đối với các cơ quan chức năng khi xây dựng và áp dụng những quy định chặt chẽ hơn Chính vì vậy, cùng một sản phẩm nhưng mỗi nước có thể có các tiêu chuẩn và các quy định riêng, dẫn đến việc tạo ra các rào cản trong lưu thông hàng hóa và thương mại Một khi các đối tác thương mại không dựa vào các tiêu chuẩn hài hòa, tiệm cận với nhau họ sẽ phải theo đuổi và trả giá cho việc đáp ứng những yêu cầu kỹ thuật riêng biệt của các nước

và từng khu vực 4) Bài báo đưa ra một kết quả của một cuộc điều tra gần đây ở Cộng hòa liên bang Đức, 84% số công ty được hỏi ý kiến đã thừa nhận việc áp dụng tiêu chuẩn quốc tế là một phần nội dung trong chiến lược xuất khẩu của mình Xu hướng chấp nhận tiêu chuẩn quốc tế của cả các công ty lẫn các cơ quan tiêu chuẩn quốc gia ngày càng tăng

Như vậy, bài báo cho thấy hoạt động tiêu chuẩn hóa của Việt Nam đã và đang

có những bước phát triển mạnh mẽ theo hướng tham gia và hội nhập tích cực với hoạt động tiêu chuẩn hóa khu vực và quốc tế Nếu như căn cứ để đánh giá sự phù hợp là các tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) đã được hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực và tiêu chuẩn nước ngoài tiên tiến thì sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa được chứng nhận phù hợp với những tiêu chuẩn đó và có vị thế đáng kể Chính vì vậy, muốn phát triển và hội nhập nền kinh tế nước ta với nền kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới, chúng ta phải chấp nhận và tuân thủ những thông lệ đã được thừa nhận chung trên toàn thế giới, trong đó có thông lệ về hài hòa tiêu chuẩn

4 Bài báo “Hoạt động đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam: Cần định hướng

quản lý phù hợp với thông lệ quốc tế”, tác giả Nguyễn Hoàng Linh – Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, đăng tải tại số tháng 2.2012 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam [36] Theo tác giả, để hoạt động này phát huy vai trò trong phát triển kinh tế - xã hội, cần định hướng quản lý phù hợp với thông lệ quốc tế Đồng thời tác giả đã đưa ra quan điểm: Những đóng góp của hoạt động tiêu chuẩn hóa trong việc thúc đẩy thương mại, phát triển kinh tế sẽ không thể đạt được nếu như không có sẵn các công cụ, biện pháp đánh giá và xác nhận mức độ phù hợp của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đối với các yêu cầu quy định của tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật

5 Bài báo của tác giả Ngô Quý Việt – Tổng cục Đo lường chất lượng, số

4.2012 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam với chủ đề “Tiêu chuẩn Đo lường

Trang 12

chất lượng Việt Nam: Nửa thế kỷ xây dựng và phát triển” [31] Bài viết đề cập đến việc ban hành Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật đã đổi mới toàn diện và thống nhất điều chỉnh hoạt động Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, cụ thể về việc xây dựng, công bố và áp dụng tiêu chuẩn do doanh nghiệp tự thực hiện mà không phải đến cơ quan quản lý nhà nước công bố như trước đây Đây là quy định mới sau khi Việt Nam gia nhập WTO nhằm tăng tính tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp đối với sản phẩm của mình Điều đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy tiến trình gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và thực hiện Hiệp định Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT/WTO), bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp trong nước trước sức ép của cạnh tranh toàn cầu và tự do hóa thương mại Đây cũng là căn cứ pháp lý vững chắc để phát triển và đổi mới hệ thống tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) Đồng thời bài báo cũng khẳng định hệ thống TCVN được phát triển theo hướng tăng cường mức

độ hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực và tiêu chuẩn nước ngoài tiên tiến, trong đó mức hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế đạt 48% Tại Luật cũng quy định

“Hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn hóa… phải đảm bảo công khai minh bạch… không phân biệt đối xử và không gây trở ngại không cần thiết đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại” và việc xây dựng tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật… phải dựa trên tiến bộ khoa học và công nghệ, kinh nghiệm thực tiễn, nhu cầu hiện tại

và xu hướng phát triển kinh tế - xã hội; sử dụng tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài là cơ sở để xây dựng tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, trừ trường hợp các tiêu chuẩn đó không phù hợp với đặc điểm về địa lý, khí hậu, kỹ thuật, công nghệ của Việt Nam hoặc ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia; ưu tiên quy định các yêu cầu về tính năng sử dụng sản phẩm, hàng hóa; hạn chế quy định các yêu cầu mang tính mô tả hoặc thiết kế chi tiết; bảo đảm tính thống nhất của hệ thống tiêu chuẩn và hệ thống quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam

6 Bài báo của tác giả Trần Quốc Tuấn – Cục Quản lý chất lượng sản phẩm hàng

hóa, Tổng cục Đo lường chất lượng, số 20.2013 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt

Nam với chủ đề “Một số bất cập của nhân lực quản lý nhà nước về tiêu chuẩn đo lường chất lượng”[55] Theo tác giả, hiện nay nhân lực quản lý nhà nước về tiêu chuẩn đo lường chất lượng ở nước ta còn thiếu và yếu, biểu hiện ở một số vấn đề cơ bản như: số lượng quá ít so với chức năng nhiệm vụ được giao, cơ cấu bất hợp lý giữa trung ương và địa phương, thiếu các chuyên gia đầu ngành, trình độ ngoại ngữ còn yếu… và nguyên nhân của thực trạng trên là do: thiếu quy hoạch phát triển nguồn nhân lực, công tác đào tạo nâng cao trình độ và nghiệp vụ theo chức danh và công việc còn hạn chế, thiếu cơ chế thu hút nhân lực có trình độ cao Như vậy, nhân lực làm công tác tiêu chuẩn tại cơ quan quản lý còn hạn chế sẽ là bài toán khó cho các doanh nghiệp khi đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hóa Do đó, đây cũng là bài toán lâu dài đòi hỏi sự phối hợp của các bộ/

Trang 13

ngành để có sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo các doanh nghiệp trong việc đào tạo nguồn nhân lực tiêu chuẩn hóa

7 Cuốn sách sổ tay tham khảo “Tiêu chuẩn, đo lường đánh giá sự phù hợp và

Hiệp định TBT” xuất bản 12.2008 [18] Cuốn sách đề cập đến hai vấn đề chính, đó là thương mại quốc tế và chứng nhận sự phù hợp Đối với các quốc gia đang phát triển, việc tìm hiểu mối liên hệ giữa thương mại toàn cầu, MAS-Q và cạnh tranh xuất khẩu

là vấn đề hàng đầu của chính sách thương mại Việc loại bỏ các rào cản phi thuế quan trong thương mại và thực hiện một hệ thống MAS-Q tuân thủ với các yêu cầu của Tổ chức Thương mại Thế giới và được quốc tế công nhận đã trở thành một nhiệm vụ chính trị trọng tâm của nhiều nền kinh tế đang phát triển và đang chuyển dịch Để mở rộng thương mại quốc tế, không thể đánh giá thấp tầm quan trọng của việc áp dụng và thực hiện các thông lệ đã được quốc tế chấp thuận và công nhận về đo lường, tiêu chuẩn hóa và chứng nhận (MAS-Q) Các hoạt động này tạo nên một mối liên kết sống còn đối với thương mại toàn cầu, tiếp cận thị trường và cạnh tranh xuất khẩu vì chúng góp phần xây dựng niềm tin của người tiêu dùng đối với sự an toàn, chất lượng sản phẩm, sức khoẻ và môi trường Một trong những thách thức chính đối với hệ thống thương mại quốc tế là sự đa dạng về tiêu chuẩn và hoạt động đánh giá sự phù hợp được áp dụng tại các nước khác nhau Trừ khi các đối tác thương mại sử dụng quy trình và quy định tượng tự hoặc tương đương, và thừa nhận kết quả thử nghiệm của nhau, nếu không sẽ còn tiếp tục phát sinh các chi phí tốn kém do sự phân biệt đối xử, không minh bạch và những cản trở không cần thiết đối với thương mại Đánh giá sự phù hợp là một thủ tục đã được quốc tế công nhận để chứng tỏ việc đáp ứng các yêu cầu cụ thể liên quan tới một sản phẩm, quy trình, hệ thống, con người hoặc tổ chức, làm cơ sở quyết định việc tuân thủ Các hoạt động đánh giá phù hợp bao gồm thử nghiệm, giám định, chứng nhận, ghi nhãn và công nhận, tất cả là một phần của quy trình chính thức thiết lập nên sự tin tưởng Các thủ tục này thường đem lại các giải pháp thiết thực đối với nhiều vấn đề mà các nước đang phát triển phải đối mặt Hiện nay, ba phần tư số thành viên của Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế và của Tổ chức thương mại quốc tế là các nước đang phát triển và các nước đang chuyển dịch từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường Đối với những quốc gia này, tiêu chuẩn

và đánh giá sự phù hợp là một cơ sở quan trọng để học hỏi các kinh nghiệm chuyên môn về công nghệ phục vụ phát triển nền kinh tế của nước mình, tăng cường năng lực xuất khẩu và cạnh tranh trên thị trường toàn cầu

Các công trình công bố của nước ngoài:

8 Cuốn sách của tác giả “Hesser Feilzer De Vries “Standardisation in

Companies and Markets”, Helmut Schmidl University Germany – Erasmus University

of Rotterdam Netherlands, 2010 [20] Cuốn sách đề cập đến các vấn đề: 1) Sự phát triển của tiêu chuẩn hóa: Chủ đề liên quan đến truyền thông các nguyên tắc của phát

Trang 14

triển tiêu chuẩn Để đạt được mục đích cần đưa ra sự phân biệt cơ bản giữa các thuộc tính tĩnh và động của phát triển tiêu chuẩn, như khảo sát các yếu tố tĩnh, cụ thể là các môi trường điều tiết khác nhau, các cơ chế của tiêu chuẩn hóa và những người tham

gia liên quan 2) Các khía cạnh kinh tế của tiêu chuẩn hóa: Tính kinh tế của tiêu

chuẩn hóa đã được phát triển nhanh chóng từ những năm 1980 Một là, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa tiêu chuẩn và thay đổi kỹ thuật, đã được thỏa thuận rộng rãi của các nhà kinh tế như là một trong những nền tảng kinh tế quan trọng nhất Tuy nhiên, trong một

số trường hợp, trong đó sự hiện diện của các tiêu chuẩn, đặc biệt ở những nơi cứng nhắc hoặc thậm chí “thất bại” sẽ cản trở đổi mới Nhấn mạnh thứ hai được nhằm vào mối quan hệ tương hỗ giữa tiêu chuẩn và cạnh tranh, được coi là động lực của kinh tế thị trường Điều quan trọng cần ghi nhớ là cả hai tác động hỗ trợ lẫn cản trở của tiêu chuẩn có thể xảy ra đồng thời bởi hoạt động tiêu chuẩn hóa và đầu ra của hoạt động

tiêu chuẩn hóa (tức là công bố các tiêu chuẩn) 3) Tiêu chuẩn hóa và Luật quốc tế:

Chủ đề tập trung vào vai trò và mối quan hệ giữa Luật và tiêu chuẩn hóa Đầu tiên sẽ nêu bật vai trò của luật quốc tế nói chung Luật quốc tế trong tiêu chuẩn hóa như là

hiện thân và quyết định trong tổ chức thương mại thế giới WTO, trong đó: Vai trò của

Luật là để đảm bảo các tiêu chuẩn tuân theo, và sẽ tạo ra địa vị pháp lý cho tiêu chuẩn

hóa 4) Tiêu chuẩn hóa trong phát triển và thiết kế sản phẩm: Chủ đề trình bày tiêu

chuẩn hóa được sử dụng như thế nào trong thiết kế sản phẩm Tiêu điểm chính của phần này là làm thế nào tiêu chuẩn hóa được dùng để nâng cao cạnh tranh Thêm vào các chiến lược tiêu chuẩn hóa, tầm quan trọng và việc sử dụng tiêu chuẩn hóa và các tiêu chuẩn trong hồ sơ về sản phẩm được trình bày và thảo luận về các bất ổn liên quan đến sự đa dạng và tiêu chuẩn hóa Những chiến lược chính trong tiêu chuẩn hóa là: Phạm vi, tính tương thích cấu thành sản phẩm, điều chỉnh, khái niệm nền tảng và sự trì

hoãn được trình bày 5) Tiêu chuẩn hóa bên ngoài như là một chiến lược công ty:

Thông qua đổi mới các công ty có được lợi thế cạnh tranh để thành công trong kinh doanh Khi thực hiện đổi mới , tiêu chuẩn hóa như là một chiến lược kinh doanh để có được thành công trên thị trường cả trong nước lẫn quốc tế Tiêu chuẩn hóa bên ngoài

là nói về sự phát triển và thiết lập các tiêu chuẩn bên ngoài Các chiến lược tiêu chuẩn hóa bên ngoài bao gồm: tự xác định vị trí với chú ý phát triển các tiêu chuẩn mới, thiết lập các tiêu chuẩn mới và cạnh tranh thành công trong các tiêu chuẩn đã được thiết lập Tiêu chuẩn hóa bên ngoài là đòn bẩy để cải thiện khả năng cạnh tranh toàn cầu của

một công ty 7) Tiêu chuẩn hóa quốc tế: Nội dung nói về tiêu chuẩn hóa quốc tế, gồm

các tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa, các hoạt động của 3 tổ chức tiêu chuẩn hóa đứng đầu, sự tham gia vào tiêu chuẩn hóa quốc tế và ảnh hưởng của các tiêu chuẩn

quốc tế đối với các chính sách thương mại Với sự phát triển của nền kinh tế thế giới

toàn cầu hóa và hội nhập thành một hệ thống thống nhất, điều cấp bách là không những Chính phủ mà cả các công ty cũng cần tạo ra các tiêu chuẩn quốc tế thích hợp, để mở

rộng phạm vi kinh doanh, tăng cường hợp tác và tạo ra sự thuận tiện cho kinh doanh 8)

Trang 15

Tiêu chuẩn hóa trong công ty Một viễn cảnh chiến lược: Các tiêu chuẩn trong công ty

thường được gọi là các điều kiện biên thứ yếu khi thiết kế một sản phẩm mới Trên thực

tế tiêu chuẩn trong công ty có thể là một phần của công ty và các chiến lược cạnh tranh hiệu quả từ khi bắt đầu quá trình thiết kế sản phẩm đến đảm bảo kinh doanh thành công Trước hết, cuốn sách đưa ra giới thiệu tổng quát về các khái niệm của chiến lược và thảo luận ở cấp độ công ty, ở đây các tiếp cận tiên tiến được trình bày Ở các chương tiếp theo, tiêu chuẩn trong công ty được đánh giá trong bối cảnh của các chiến lược cạnh tranh của quản lý chi phí và sự phân biệt dựa trên tiếp cận của mô hình Porter và các chiến lược hoạt động có được Các nội dung này tác giả tham khảo vận dụng để viết phần lý luận về vai trò, chức năng và nhiệm vụ của tiêu chuẩn hóa công ty trong doanh nghiệp Đồng thời có vận dụng vào việc phân tích để so sánh với những nhận định về

tiêu chuẩn hóa trong phần thực trạng của luận án

9 Cuốn sách “Standardization: Fundamentals, Impact, and Business Strategy”,

APEC Sub committee on Standars and Comformance, Education Guideline 3 – Textbook for Higher Education, Editor: Dong-Geun Choi, Co – editor: Byung – Goo Kang, Taeha Kim Authors: Manabu Eto, Mingshun Song, John Henry, Heesang Lee, Hee-Dong Yang, Heejin Lee [17] Cuốn sách đề cập đến các vấn đề làm cơ sở lý luận

về vòng đời của tiêu chuẩn Vòng đời của một tiêu chuẩn bao gồm xây dựng, chỉnh

sửa, sử dụng và từ bỏ (dừng sử dụng) Tuy nhiên, nếu nhiều tiêu chuẩn phát sinh từ một tiêu chuẩn ban đầu trong vòng đời này thì tiêu chuẩn đó sẽ tự mình thay đổi và phát triển thành một tiêu chuẩn khác Hiểu nguyên tắc vòng đời này là điểm căn bản trong việc sử dụng các tiêu chuẩn Khi lập kế hoạch thúc đẩy một tiêu chuẩn, quan trọng là phải tính đến cách duy trì tiêu chuẩn đó Một khi các tiêu chuẩn đã được đưa vào sử dụng trong sản xuất kinh doanh, các vấn đề và vùng ứng dụng thường xuyên không được bao quát hết Hơn nữa, trong tiến trình phát triển của công nghệ, những tiêu chuẩn hiện hữu có thể cản trở hoạt động của sản phẩm Điểm quan trọng phải chú

ý là tiêu chuẩn cần được rà soát thường xuyên để tối thiểu hóa những tác động không phù hợp ISO và IEC đã quy định các tiêu chuẩn phải được kiểm tra sau 3-5 năm hoạt động, với lý do rằng sự rà soát là cần thiết nếu tiêu chuẩn luôn luôn đi kèm với các tiến

bộ công nghệ và thay đổi xã hội Thậm chí khi sự rà soát thường xuyên được thực hiện, cũng có thế đến một thời điểm nào đó việc sử dụng một tiêu chuẩn là khó khăn Trong nhiều trường hợp, không có sự vận hành đặc biệt nào được yêu cầu vì số lượng người sử dụng tiêu chuẩn giảm đi và tiêu chuẩn không còn được sử dụng Rõ ràng sự tồn tại của một vài tiêu chuẩn cũ, lạc hậu có thể cản trở tiến bộ khoa học công nghệ và làm hạn chế sự đơn giản hóa của công nghệ Đồng thời cũng đã khuyến cáo tới các tổ chức, doanh nghiệp, khi các tiêu chuẩn trở nên lạc hậu, chúng gây ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của tổ chức, doanh nghiệp đó

Trang 16

10 Cuốn sách “The Economics Of Standards Theory, Evidence, Policy”

Helmut Schmidt University Germany, Erasmus University of Rotterdam Netherlands [25] Cuốn sách đề cập đến nội dung: Phân loại tiêu chuẩn dựa trên những tác động về mặt kinh tế, mặc dầu sự phân chia rõ ràng như vậy không phản ánh những tác động thực tế của những tiêu chuẩn đã được áp dụng, đặc biệt đã nêu vai trò của tiêu chuẩn trong thay đổi công nghệ, tiêu chuẩn có tác động tiêu cực hay tích cực đến sự cạnh tranh, vai trò của các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với thương mại quốc tế, cuối cùng là vai trò của tiêu chuẩn đối với sự tăng trưởng kinh tế chung Tiêu chuẩn hóa là hoạt động nhằm giúp cho việc sản xuất được tiến hành theo kế hoạch và chương trình đã định một cách dễ dàng, nâng cao khả năng cạnh tranh, giảm chi phí sản xuất đồng thời tạo

ra thương hiệu cho sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của công ty Do đó công ty nên xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn cho sản phẩm, dịch vụ của mình (thành phẩm, bán thành phẩm, nguyên liệu, máy móc, thiết bị, công nghệ…) hay các đối tượng vô hình (nguyên tắc, quy trình, phương pháp, thủ tục tác nghiệp hàng ngày…)

Hệ thống cấp tiêu chuẩn hóa công ty gồm có tiêu chuẩn hóa bên trong và tiêu

chuẩn hóa bên ngoài Tiêu chuẩn hóa bên trong: Quá trình phát triển tiêu chuẩn hóa

trong công ty được gọi là tiêu chuẩn hóa bên trong, hay hiểu theo cách khác thì tiêu chuẩn hóa bên trong là nói đến vấn đề hoạt động xây dựng các tiêu chuẩn và áp dụng

nó trong công ty Một tiêu chuẩn công ty là kết quả của tiêu chuẩn hóa bởi một công ty hoặc tổ chức khác cho nhu cầu riêng họ Tiêu chuẩn hóa bên trong công ty cũng bao gồm tiêu chuẩn đang phát triển để sử dụng trong công ty và tiêu chuẩn đang phát triển

sẽ được dùng trong mối quan hệ của công ty với các đối tác kinh doanh trực tiếp của

nó “Phát triển” không có nghĩa mỗi tiêu chuẩn công ty đều phải được xây dựng không chọn lựa Một tiêu chuẩn công ty có thể có các dạng là: i) Một tài liệu tham khảo cho một hoặc nhiều tiêu chuẩn bên ngoài đã được công ty chính chính thức áp dụng ii) Một phần chia nhỏ của một tiêu chuẩn bên ngoài (ví dụ mô tả lựa chọn của công ty về khả năng cạnh tranh, được đưa vào trong một tiêu chuẩn bên ngoài, hay một phần chia nhỏ của các chủ đề chứa đựng trong tiêu chuẩn bên ngoài) iii) Một tiêu chuẩn tái xây dựng từ một phần của văn bản bên ngoài khác (ví dụ các văn bản của nhà cung cấp)

iv) Một tiêu chuẩn tự xây dựng Tiêu chuẩn hóa bên ngoài: Gồm có tiêu chuẩn quốc

tế, tiêu chuẩn khu vực, đây là cơ sở để thiết lập phần lý luận trong luận án, trong trường hợp doanh nghiệp không tự xây dựng tiêu chuẩn cho mình thì có thể áp dụng trực tiếp hoặc chuyển đổi thành tiêu chuẩn công ty

Những khoảng trống trong nghiên cứu về tiêu chuẩn hóa đó là:

Trên cơ sở kết quả tổng quan nghiên cứu có thể thấy khoảng trống nghiên cứu:

- Về mặt cơ sở lý luận:

Trang 17

+ Cần bổ sung cơ sở lý luận và xây dựng được các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của tiêu chuẩn hóa công ty

+ Cần nhận diện được các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến công tác tiêu chuẩn hóa

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và phụ lục, luận án được kết cấu gồm 3 chương:

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TIÊU CHUẨN

HÓA TRONG CÔNG TY CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TIÊU CHUẨN HÓA CỦA CÁC

CÔNG TY ĐÓNG TÀU VIỆT NAM CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC TIÊU CHUẨN HÓA

Ở CÁC CÔNG TY ĐÓNG TÀU VIỆT NAM

Trang 18

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TIÊU CHUẨN

HÓA TRONG CÔNG TY 1.1 Tổng quan về tiêu chuẩn hóa

1.1.1 Khái niệm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn hóa

1.1.1.1 Tiêu chuẩn

Bàn về khái niệm Tiêu chuẩn có nhiều định nghĩa khác nhau, nói một cách đơn giản nhất, tiêu chuẩn là tập hợp các quy tắc để đảm bảo chất lượng Nói một cách rõ hơn, tiêu chuẩn là các quy định về đặc tính kỹ thuật, yêu cầu quản lý mà sản phẩm, dịch vụ, quá trình cần đạt được để đảm bảo nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả đáp ứng yêu cầu của khách hàng

Hiện tại, tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế như ISO/IEC:2004 đưa ra một định nghĩa tiêu chuẩn, được nhiều quốc gia, tổ chức công nhận rộng rãi, định nghĩa này được phát biểu như sau:

“Tiêu chuẩn là tài liệu được thiết lập bằng cách thỏa thuận và do một cơ quan được thừa nhận phê duyệt nhằm cung cấp những quy tắc, hướng dẫn hoặc đặc tính cho các hoạt động hoặc kết quả hoạt động để sử dụng chung và lặp đi lặp lại nhằm đạt được mức độ trật tự tối ưu trong một khung cảnh nhất định” (Nguyễn

Đình Phan, 2005)

Hiệp định của WTO về rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT) định nghĩa tiêu chuẩn như sau:

“Tiêu chuẩn là tài liệu được chấp nhận bởi một tổ chức được ghi nhận, tạo

ra sự sử dụng chung hoặc lặp lại, các quy tắc và chỉ dẫn hoặc các đặc tính cho các sản phẩm hoặc các quá trình liên quan và các phương pháp sản xuất, mà với chúng

sự chấp thuận không phải là sự bắt buộc Tiêu chuẩn cũng có thể bao gồm hoặc đề cập đến các yêu cầu về thuật ngữ, ký hiệu, bao gói, khắc dấu hoặc gắn nhãn hiệu khi chúng được áp dụng cho một sản phẩm, quá trình hoặc phương pháp sản xuất” (Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự, 2012)

Trong các tổ chức khu vực, theo EC trong chỉ dẫn 98/34/EC đã đưa ra định nghĩa như sau:

“Tiêu chuẩn là một đặc tính chứa đựng trong một tài liệu đưa ra các đặc tính cần thiết của một sản phẩm, như cấp độ của chất lượng, thể hiện, an toàn hoặc kích thước, bao gồm các yêu cầu áp dụng cho sản phẩm khi chú ý đến tên gọi theo đó sản phẩm được bán, thuật ngữ, ký hiệu, thử nghiệm và phương pháp thử nghiệm, bao gói, khắc dấu, gắn nhãn hiệu và trình tự đánh phù hợp”

Trang 19

Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (Quốc hội, 2006) định nghĩa Tiêu chuẩn như sau:

“Tiêu chuẩn là quy định đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường

và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm nâng cao chất lượng

và hiệu quả của các đối tượng này”

“Hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn là việc xây dựng, công bố và áp dụng tiêu chuẩn, đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn”

* Từ các định nghĩa trên ta có những nhận xét về Tiêu chuẩn như sau:

- Tiêu chuẩn là một dạng tài liệu trong đó đề ra các quy tắc, hướng dẫn hay đặc tính cho các hoạt động hoặc các kết quả

- Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp dụng, tùy theo cấp tiêu chuẩn mà cơ quan phê duyệt sẽ khác nhau Nếu không tài liệu đó dù

có giá trị đến đâu cũng không gọi là tiêu chuẩn

- Tiêu chuẩn được đưa ra để sử dụng nhằm đạt được mức độ trật tự tối ưu trong một hoàn cảnh nhất định Vì vậy, khi thời gian thay đổi, hoàn cảnh thay đổi, tiêu chuẩn

có thể cũng cần được thay đổi

Tiêu chuẩn là một giải pháp tối ưu vì được xây dựng dựa trên nền tảng các kết quả khoa học công nghệ và kinh nghiệm thực tế theo phương pháp thỏa thuận nhất trí của các bên có liên quan

1.1.1.2 Quy chuẩn kỹ thuật

Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (Quốc hội, 2006) định nghĩa Quy chuẩn

kỹ thuật như sau :

“Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khoẻ con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và

an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác”

“Hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật là việc xây dựng, ban hành và áp dụng quy chuẩn kỹ thuật, đánh giá sự phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật”

Quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng

1.1.1.3 Tiêu chuẩn hóa

Trang 20

Ngày 04 tháng 4 năm 1962, Viện Đo lường tiêu chuẩn (nay là Tổng cục Đo lường chất lượng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ) được thành lập trở thành tổ chức quản lý và nghiên cứu đầu tiên về tiêu chuẩn hóa, đo lường, chất lượng ở Việt Nam Khác với tiêu chuẩn, định nghĩa về tiêu chuẩn hóa không thay đổi nhiều, về bản chất tiêu chuẩn hóa là hoạt động bao gồm xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn

Theo ISO, tiêu chuẩn hóa được định nghĩa như sau

“Tiêu chuẩn hóa là một hoạt động thiết lập các điều khoản để sử dụng chung

và lặp đi lặp lại đối với những vấn đề thực tế hoặc tiềm ẩn, nhằm đạt được mức độ trật tự tối ưu trong một khung cảnh nhất định” (Nguyễn Đình Phan, 2005)

Tiêu chuẩn hóa là hoạt động bao gồm việc xây dựng, ban hành và áp dụng các tiêu chuẩn với mục đích đưa các hoạt động kinh tế xã hội vào nề nếp ổn định để đạt được hiệu quả chung có lợi nhất Do đó, tiêu chuẩn hóa là hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế kỹ thuật và pháp luật, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhiều ngành nhiều cấp

để đạt được hiệu quả cao nhất

* Từ định nghĩa trên ta có những nhận xét về Tiêu chuẩn hóa như sau:

- Tiêu chuẩn hóa là một hoạt động không những giải quyết các vấn đề thực tế đang tồn tại mà còn chú ý đến các nội dung tiềm ẩn trong tương lai

- Đối tượng của tiêu chuẩn hóa là những sản phẩm, quá trình, dịch vụ và các hoạt động sản xuất kinh doanh

- Từ các định nghĩa có thể hình dung các chức năng, nhiệm vụ của tiêu chuẩn hóa để từ đó quyết định các tổ chức cơ quan tiêu chuẩn hóa ở các cấp để thực hiện chức năng nhiệm vụ đó

- Tiêu chuẩn hóa được tiến hành dựa trên những thành tựu khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm thực tiễn, nhằm tạo ra một trật tự tối ưu hay là một nề nếp để đạt được hiệu quả chung có lợi nhất trong một hoàn cảnh nhất định

- Tiêu chuẩn hóa được tiến hành trên cơ sở thỏa thuận, có sự tham gia của các bên có liên quan: đại diện nhà sản xuất, nhà kinh doanh, người tiêu thụ, người nghiên cứu, người quản lý và bản thân cơ quan tiêu chuẩn hóa

- Kết quả của tiêu chuẩn hóa là việc ban hành các tiêu chuẩn là chính, cũng như các tài liệu có liên quan và việc tổ chức xúc tiến, kiểm tra theo dõi áp dụng các tiêu chuẩn đó

1.1.1.4 Công tác tiêu chuẩn hóa

Ở Việt Nam thuật ngữ tiêu chuẩn hóa được đưa ra lần đầu tiên trong bản Điều

lệ về công tác tiêu chuẩn hóa ban hành theo Nghị định số 141-HĐBT ngày 24/8/1982 của Hội đồng Bộ trưởng như sau:

Trang 21

“Công tác tiêu chuẩn hóa là việc xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn được tiến hành dựa trên kết quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, kỹ thuật và áp dụng kinh nghiệm tiên tiến nhằm đưa ra các hoạt động sản xuất kinh doanh vào nề nếp

và đạt hiệu quả”

Vai trò của công tác tiêu chuẩn hóa trong thời kỳ hiện nay cũng đã được đề cập đến rất nhiều trong các văn bản, tài liệu cũng như tại các hội nghị, hội thảo Tiêu chuẩn được xem là công cụ kỹ thuật nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa trên thị trường; thuận lợi hóa thương mại; thúc đẩy sáng tạo và phát triển sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; chuyển giao công nghệ, v.v Ngài Kofi

Annan - Nguyên Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã đánh giá: "Tiêu chuẩn có vai trò quan trọng để phát triển một cách bền vững, nó có vai trò vô giá giúp các nước phát triển kinh tế và xây dựng năng lực cạnh tranh trên thị trường toàn cầu Đối với thế giới của chúng ta, tiêu chuẩn tạo nên sự khác biệt mang tính tích cực".

Để hiểu rõ hơn về vấn đề tiêu chuẩn, tiêu chuẩn hóa chúng ta không thể không nhắc tới các khái niệm, thuật ngữ có liên quan như: Tài liệu quy chuẩn, quy định kỹ thuật, quy phạm, văn bản pháp quy, văn bản pháp quy kỹ thuật và các khái niệm này được mô tả ở hình 1.1 dưới đây

(Nguồn:Nguyễn Đình Phan (2005); Quốc hội, 2006))

Hình 1 1 Sơ đồ mô tả việc phân cấp các khái niệm

Tài liệu quy chuẩn: Là tài liệu đề ra các quy tắc hướng dẫn hoặc đặc tính đối với những hoạt động, hoặc những kết quả của chúng Đây là một thuật ngữ chung bao gồm tài liệu như tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật, quy phạm và các văn bản pháp quy Chữ tài liệu phải được hiểu là một phương tiện mang thông tin – những dạng khác của tài liệu quy chuẩn được xác định căn cứ vào nội dung

Quy định kỹ thuật: Là tài liệu mô tả những yêu cầu kỹ thuật mà một sản phẩm, quá trình hoặc dịch vụ phải thỏa mãn

Trang 22

Cần chú ý rằng, một quy định kỹ thuật khi cần thiết phải chỉ dẫn các thủ tục để xác định những yêu cầu đưa ra có được đáp ứng hay không Quy định kỹ thuật có thể là tiêu chuẩn, một bộ phận của tiêu chuẩn hoặc độc lập với tiêu chuẩn

Quy phạm: Là tài liệu đưa ra hướng dẫn thực hành hoặc các thiết kế sản xuất, lắp đặt bảo dưỡng và sử dụng các thiết bị, công trình hoặc sản phẩm Như vậy quy phạm có thể là tiêu chuẩn, một phần tiêu chuẩn hoặc độc lập với tiêu chuẩn

Văn bản pháp quy: Là tài liệu đưa ra các quy tắc pháp lý bắt buộc và được một

cơ quan có thẩm quyền chấp nhận

Văn bản pháp quy kỹ thuật: Là tài liệu đưa ra những yêu cầu kỹ thuật có thể trực tiếp hoặc trích dẫn từ các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật hay quy phạm thực hành hoặc đưa các tài liệu trên vào

1.1.2 Cấp tiêu chuẩn hóa

Việc phân cấp tiêu chuẩn nhằm mục đích chủ yếu để biết được cơ quan ban hành và quản lý cấp tiêu chuẩn đó chứ tuyệt đối không có ý nghĩa đánh giá mức độ cao thấp của tiêu chuẩn các cấp Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự (2012) và Hồ Tất Thắng (2004) cho rằng giữa tiêu chuẩn của doanh nghiệp và tiêu chuẩn của nhà nước

và các cấp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, do đó tiêu chuẩn gồm có các cấp sau :

- Tiêu chuẩn quốc tế: Do các tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ban hành, được áp dụng rộng rãi, được chấp nhận trong các hiệp định hay các điều luật quốc tế Các tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế này phải có uy tín trong lĩnh vực hoạt động của mình và được tham gia của nhiều quốc gia trên thế giới Ví dụ ISO, IEC, ITU,…

Hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế (ISO) bao gồm các tiêu chuẩn thông dụng và được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới như hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 là hệ thống được nhiều tổ chức áp dụng Hệ thống quản lý môi trường ISO 14001; hệ thống quản lý an toàn thực phẩm ISO 22000, hệ thống quản lý an toàn & sức khỏe nghề nghiệp theo OHSAS 18001; hệ thống quản lý phòng thí nghiệm ISO/IEC 17025…

- Tiêu chuẩn khu vực: Do một tổ chức tiêu chuẩn hóa khu vực ban hành nhưng

đã được thừa nhận trong các hiệp định, thỏa thuận quốc tế hay được chọn để hài hòa trong các thỏa thuận hợp tác khu vực Ví dụ EN (tiêu chuẩn Châu Âu), ENELEC (tiêu chuẩn điện Châu Âu),…

- Tiêu chuẩn quốc gia: Là tiêu chuẩn của một số nước công nghiệp tiên tiến đã được các nước thừa nhận và áp dụng trong quan hệ thương mại hay hợp tác khoa học, kỹ huật Ví dụ DIN (Đức), ANSI (Mỹ), BSI (Anh), TCVN (Việt Nam)

Hiện nay hệ thống tiêu chuẩn của Việt Nam bao gồm tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn công ty

Trang 23

- Tiêu chuẩn công ty: là văn bản quy định các quy tắc và hướng dẫn cho các hoạt động hoặc kết quả hoạt động lặp đi lặp lại và sử dụng chung liên quan đến tất cả các vấn đề kỹ thuật, quản lý, tổ chức và điều hành của riêng công ty So với các cấp tiêu chuẩn nêu ở trên, tiêu chuẩn công ty chú trọng đến các đối tượng cụ thể hơn, thiết thực hơn và riêng biệt hơn

Tùy theo loại hình, quy mô hoạt động, mục đích, yêu cầu quản lý nội bộ, các doanh nghiệp có thể vận dụng cách thức phân loại trên để tiến hành công tác tiêu chuẩn hóa một cách thích hợp cho doanh nghiệp mình

1.1.3 Chức năng của tiêu chuẩn hóa

- Chức năng đảm bảo chất lượng: Đây là chức năng quan trọng nhất của tiêu

chuẩn hóa Tiêu chuẩn hóa luôn luôn là một trong những phương pháp tốt nhất cho duy trì và ổn định chất lượng của các doanh nghiệp Nhờ có những hoạt động tối ưu được lặp lại một cách thống nhất và ổn định theo hệ thống tiêu chuẩn đã được xây dựng (ví dụ như việc tuân thủ các quy trình, quy phạm, thủ tục và phương pháp vận hành máy móc thiết bị, việc đảm bảo đúng các định mức về nguyên vật liệu và các điều kiện sản xuất – kinh doanh) mà sản phẩm, dịch vụ sản xuất ra đáp ứng được những yêu cầu đã đề ra Đảm bảo và duy trì chất lượng sản phẩm ổn định theo đúng tiêu chuẩn quy định làm tăng sự tín nhiệm của khách hàng đối với doanh nghiệp Một doanh nghiệp thực hiện tốt công tác tiêu chuẩn hóa tạo cho khách hàng tin tưởng vào khả năng ổn định của hệ thống sản xuất đối với việc tạo ra những sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao và đồng nhất ở mọi thời điểm (Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự, 2012; Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền, 2007)

- Chức năng tiết kiệm: Tiêu chuẩn hóa được xây dựng dựa trên những thành

tựu của Khoa học – Kỹ thuật tiên tiến và những kinh nghiệm tốt nhất đúc rút từ thực tiễn hoạt động Những hoạt động thừa, không tạo ra giá trị gia tăng, những lãng phí trong quá trình sản xuất – kinh doanh được loại bỏ Tiêu chuẩn chỉ giữ lại những hoạt động tối ưu nhất, tiết kiệm nhất Tiêu chuẩn hóa nhằm tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực và thỏa mãn tối ưu nhu cầu của khách hàng bằng những sản phẩm đúng tiêu chuẩn, được thiết kế xuất phát từ nhu cầu của họ Do đó, tiêu chuẩn là cơ sở khoa học

và thực tiễn để xác định một cách hợp lý, tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực trong việc tạo ra và cung cấp sản phẩm cho xã hội Hệ thống tiêu chuẩn còn

là cơ sở để theo dõi đánh giá những lãng phí do sự dao động khỏi tiêu chuẩn gây ra (Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự, 2012; Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền, 2007)

- Chức năng thống nhất và lắp lẫn: Tiêu chuẩn hóa đưa mọi hoạt động vào nề

nếp theo những nguyên lý, yêu cầu chung thống nhất, giải quyết tình trạng tự do, tùy tiện, hỗn độn trong sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực khác Đó là cơ sở tạo ra sự

Trang 24

thống nhất hóa trong hoạt động của mọi tổ chức Thống nhất hóa là một trong những biểu hiện đầu tiên của tiêu chuẩn hóa Thống nhất hóa là quy định một cách hợp lý số lượng các đối tượng có cùng chức năng bằng cách tạo nên những đối tượng mới, giảm bớt hay thay đổi các đối tượng hiện có Thống nhất hóa sẽ giảm được tính đa dạng không hợp lý đến mức hợp lý góp phần giảm nhẹ và rút ngắn khối lượng, thời gian công tác thiết kế, chế tạo, giảm bớt các công thức chế tạo sản phẩm, nâng cao trình độ chuyên môn hóa, tự động hóa, nhờ đó tăng năng suất lao động Tiêu chuẩn hóa được thực hiện thông qua thống nhất hóa và ngược lại tiêu chuẩn hóa tạo ra sự thống nhất hóa giữa các bộ phận, chi tiết hoặc các các đối tượng do nhiều bộ phận, tổ chức, doanh nghiệp khác nhau thực hiện Việc sản xuất những chi tiết, bộ phận theo đúng kích cỡ một mặt giảm bớt được số lượng các loại chi tiết, bộ phận, mặt khác tạo điều kiện để các chi tiết, bộ phận có thể lắp lẫn trên các sản phẩm được cung cấp từ các nhà sản xuất khác nhau

Lắp lẫn là thay thế các chi tiết hay bộ phận đồng dạng giữa các sản phẩm khác nhau Nhờ được thống nhất hóa, các chi tiết, bộ phận của những sản phẩm cùng loại có thể lắp lẫn thay thế nhau Tính lắp lẫn đã tạo ra sự linh hoạt mềm dẻo hơn trong các hoạt động sửa chữa, tiết kiệm chi phí và nâng cao năng suất Tính lắp lẫn và thống nhất hóa đã tạo ra khả năng phát triển hợp tác và chuyên môn hóa nhằm không ngừng nâng cao năng suất trong các doanh nghiệp

Sự phát triển cao hơn dựa trên thống nhất hóa và lắp lẫn là tổ hợp hóa Đó là quá trình nghiên cứu đưa ra những cách phối hợp khác nhau giữa các phần tử có kết cấu thống nhất hóa và tiêu chuẩn hóa để tạo ra những kết cấu mới nhằm thõa mãn các nhu cầu khác nhau về sản phẩm và dịch vụ Trong cấu tạo của máy móc, thiết bị, người ta phân chia thành những đơn vị lắp kết cấu lắp ráp độc lập gọi là tổ hợp Mỗi tổ hợp này có những chức năng riêng và khi lắp ráp những tổ hợp này vào sản phẩm cơ bản sẽ tạo ra những sản phẩm mới có chức năng tác dụng mới Tổ hợp hóa có ích lợi rất lớn trong việc giảm thời gian và chi phí thiết kế, chế tạo, đa dạng hóa sản phẩm và tạo ra tính linh hoạt của hệ thống sản xuất (Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự, 2012; Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền, 2007)

- Chức năng đào tạo, giáo dục: Nhờ tiêu chuẩn hóa và thông qua các tiêu

chuẩn mà cán bộ quản lý và người lao động hiểu biết thêm và nhận thức đầy đủ hơn về chất lượng của hàng hóa dịch vụ; tạo ra cách dùng chung các thuật ngữ, các dụng cụ

đo lường và đơn vị đo lường, các nguyên tắc và nguyên lý hoạt động Người lao động nhận biết được thực chất và tầm quan trọng của tiêu chuẩn hóa thông qua tìm hiểu, nắm bắt và thực hiện hệ thống tiêu chuẩn Tiêu chuẩn hóa đòi hỏi người lao động phải không ngừng học hỏi nâng cao trình độ hiểu biết của mình về hệ thống tiêu chuẩn hiện hành và khả năng ứng dụng chính, đồng thời huấn luyện buộc người lao động hình thành thói quen hoạt động có cơ sở và căn cứ khoa học, thực tiễn một cách cụ thể

Trang 25

thông qua tuân thủ hệ thống tiêu chuẩn trong doanh nghiệp (Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự, 2012; Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền, 2007)

- Chức năng hành chính và pháp lý: Trong doanh nghiệp, hệ thống tiêu chuẩn

được văn bản hóa là cơ sở thể chế bắt buộc mọi người phải tuân theo và thực hiện Quản lý và thực hiện theo tiêu chuẩn là nguyên tắc mang tính quy định hành chính phải tuân thủ Mọi đánh giá, theo dõi và chế độ thưởng phạt, khuyến khích đều dựa trên việc chấp hành và thực hiện các nguyên tấc, tiêu chuẩn đã ban hành

Ở phạm vi quốc gia, các tiêu chuẩn bắt buộc do nhà nước ban hành nhằm đảm bảo sức khỏe, an toàn vệ sinh môi trường và những lợi ích quốc gia là những quy định

có tính pháp lý buộc các doanh nghiệp phải tuân thủ, nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo luật pháp Vì vậy, tiêu chuẩn hóa có chức năng hành chính và pháp lý quan trọng trong việc buộc mọi người tuân theo nhằm thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp hoặc

xã hội đặt ra (Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự, 2012; Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền, 2007)

1.1.4 Vai trò của tiêu chuẩn hóa

Tiêu chuẩn hóa có ý nghĩa quan trọng với năng suất và chất lượng, với thương mại quốc tế và hội nhập, với tiến bộ khoa học công nghệ và với đời sống sức khỏe con người (Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự, 2012; Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền, 2007; Hessier Feilzer De Vries, 2006; Knut Blind, 2004)

- Tăng năng suất: Tiêu chuẩn hóa là một hoạt động thiết lập các điều khoản để

sử dụng chung và lặp đi, lặp lại đối với những vấn đề thực tiễn hoặc tiềm ẩn Điều đó cũng có nghĩa tiêu chuẩn hóa là đơn giản hóa Tiêu chuẩn hóa sẽ kiểm soát sự đa dạng, thúc đẩy chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất Nhờ vậy, tiêu chuẩn hóa sẽ đẩy mạnh tiết kiệm và thúc đẩy tăng năng suất Đồng thời khi sản phẩm ổn định, phương pháp sản xuất phù hợp, sản phẩm sản xuất ra đáp ứng nhu cầu khách hàng chúng cần được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định Sự ổn định về chất lượng là cơ sở cho duy trì thị trường, đảm bảo uy tín và tạo điều kiện cho doanh nghiệp đứng vững trên thị trường Tiêu chuẩn hóa đã góp phần tạo ra sự ổn định tương đối và hợp lý, phát huy những thành quả đã đạt được, phát triển sản xuất, ổn định việc làm và thu nhập cho

người lao động

Một trong những yêu cầu của sản xuất là tiết kiệm được chi phí sản xuất bao gồm chi phí nguyên vật liệu, máy móc thiết bị và lao động Thước đo cơ bản là giảm chi dùng nguyên vật liệu trên 1 đơn vị sản xuất hoặc tăng giá trị gia tăng trên một đồng vốn hay cách khác là tăng năng suất Tăng năng suất chủ yếu dựa trên vận dụng, phát huy những quy luật khoa học và những nguyên tắc trong quá trình sản xuất Tiêu chuẩn hóa dựa trên những quy luật khoa học và kinh nghiệm tốt nhất trong thực tiễn Việc sử dụng những quy luật này như thế nào để đạt được mục tiêu sẽ xác định hiệu

Trang 26

quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Các tiêu chuẩn kĩ thuật là phương pháp tốt nhất, có hiệu quả nhất giảm chi phí sản xuất Những sai lệch so với tiêu chuẩn đề ra sẽ dẫn đến giảm hiệu quả sử dụng các nguồn lực hoặc giảm chất lượng

- Tăng chất lượng sản phẩm: Một trong những yếu tố quan trọng quyết định

khả năng cạnh tranh của công ty là chất lượng sản phẩm hay dịch vụ của công ty, vì vậy công ty phải quy định rõ ràng tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm hay dịch vụ của mình, đồng thời phải có biện pháp kiểm soát để không bao giờ có các sản phẩm không đạt tiêu chuẩn lọt ra ngoài Việc kiểm soát chặt chẽ ở khâu cuối cùng là cần thiết nhưng chất lượng sản phẩm không phải chỉ quyết định ở khâu cuối cùng, chất lượng sản phẩm được hình thành trong suốt quá trình sản xuất, vì vậy mỗi công ty cần xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật cho nguyên vật liệu, bán thành phẩm mua vào, các phương pháp thử và quy tắc giao nhận ; tiêu chuẩn về kỹ năng và trình độ của nhân viên ở các vị trí làm việc khác nhau để đảm bảo chất lượng công việc; tiêu chuẩn về bao gói, vận chuyển xếp dỡ sản phẩm để bảo đảm duy trì chất lượng sản phẩm (Lê Thị

Kim Chi, 2010)

- Với thương mại quốc tế và hội nhập: Tiêu chuẩn là công cụ và phương tiện

quan trọng để duy trì các chuẩn mực trong sản xuất, thương mại, thúc đẩy doanh nghiệp quan tâm đổi mới, nâng cao chất lượng; sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa

và dịch vụ Hài hòa quốc tế trong tiêu chuẩn và trong thủ tục đánh giá sự phù hợp sẽ phá vỡ rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế và thúc đẩy quá trình hội nhập quốc

tế Tiêu chuẩn hóa tạo ra sự tiện lợi và giao lưu rộng rãi của hàng hóa và dịch vụ trên thị trường Ví dụ, việc hình thành và củng cố hệ thống tiêu chuẩn đem lại lợi ích rất lớn Hàng loạt các thước đo được đưa ra Sẽ rất tiện lợi khi một hệ thống tiêu chuẩn được dùng thống nhất trên cả thế giới Vì vậy, rất nhiều đơn vị như mét, vôn, ampe,…

đã trở thành những đơn vị chuẩn đo lường trên thế giới Các tiêu chuẩn được đặt ra nhằm đảm bảo sự tiện lợi và an toàn; được sử dụng như những tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn ngành, hoặc tiêu chuẩn công ty Nhờ có hệ thống tiêu chuẩn, sản phẩm được trao đổi, đánh giá dễ dàng, khắc phục được những trở ngại về mặt ngôn ngữ hoặc

kỹ thuật Tiêu chuẩn hóa trên cơ sở thống nhất hóa, tổ hợp hóa, tăng tính lắp lẫn góp phần nâng cao trình độ chuyên môn hóa và hợp tác hóa giữa các công ty

- Với tiến bộ khoa học công nghệ: Cùng với các công cụ kinh tế khác, khoa học

công nghệ giữ vai trò quan trọng trong ổn định, duy trì và nâng cao tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế và người tiêu dùng Bằng chính điều đó, khoa học công nghệ đang và sẽ giúp cho các doanh nghiệp vượt qua rào cản kỹ thuật trong thương mại để có thể phát triển sản xuất, kinh doanh tốt hơn, xuất khẩu được nhiều hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ trên

thị trường trong nước mà còn ở thị trường khu vực và nước ngoài

Trang 27

Các thành phần công nghệ trong doanh nghiệp là một thể thống nhất, luôn có sự tác động và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Do đó, việc đổi mới công nghệ cần thực hiện một cách đồng bộ, đảm bảo mối quan hệ hài hòa, phù hợp giữa các thành phần Tiêu chuẩn sản phẩm với yêu cầu chất lượng cao sẽ thúc đẩy đổi mới công nghệ Do vậy, tiêu chuẩn hóa sẽ tác động tới doanh nghiệp, cho thấy sự cần thiết phải cải tiến, đổi mới công nghệ và như vậy sẽ đem lại các kết quả cho doanh nghiệp như sau: Chủ động xây dựng chương trình mở rộng sản xuất và lập kế hoạch phát triển lâu dài; cập nhật thông tin về công nghệ liên quan sản xuất của ngành mình; tạo môi trường thuận lợi để kích thích sự sáng tạo, suy nghĩ, thử nghiệm, thảo luận và phát triển ý tưởng của các thành viên trong doanh nghiệp; đào tạo nguồn nhân lực có trình độ công nghệ phù hợp quy hoạch và kế hoạch phát triển sản xuất

- Với đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp: Đổi mới công nghệ của các doanh

nghiệp, quá trình sản xuất và tiêu chuẩn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau Có thể nói rằng quá trình sản xuất là đối tượng tác động của tiêu chuẩn hóa, ví dụ như xây dựng

và áp dụng các tiêu chuẩn cho các lĩnh vực thuộc quá trình sản xuất Do vậy, tiêu chuẩn hóa là việc xác lập các quy tắc theo một khuôn khổ để áp dụng trong quá trình sản xuất nhằm giúp cho các lĩnh vực, hoạt động của quá trình sản xuất đi vào một khuôn mẫu, một mức độ trật tự tối ưu, hay nói một cách tổng quát là tiêu chuẩn hóa giúp cho quá trình sản xuất có hiệu quả

Dựa theo mối quan hệ giữa quá trình sản xuất với tiêu chuẩn hóa chúng ta có thể thay thế được mối liên hệ giữa đổi mới công nghệ với tiêu chuẩn hóa Mặc dù đây

là mối quan hệ gián tiếp thông qua quá trình sản xuất nhưng đổi mới công nghệ có ảnh hưởng rất lớn đến tiêu chuẩn hóa, việc thực hiện đổi mới công nghệ mang tính quyết định đến công tác tiêu chuẩn hóa Trước hết ta phải biết rằng chất lượng sản phẩm là

sự tuân thủ các yêu cầu, là sự phù hợp với mục đích Sản phẩm được tạo ra trong quá trình sản xuất và chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào quá trình sản xuất Vì vậy, để sản phẩm tuân thủ các yêu cầu, phù hợp các mục đích thì quá trình sản xuất phải có hiệu quả, không xảy ra trục trặc và được thực hiện một cách có khuôn khổ có trật tự Các lĩnh vực, các công đoạn trong quá trình sản xuất được vận hành càng nhuần nhuyễn, quy củ bao nhiêu thì sản phẩm được tạo ra càng đồng đều bấy nhiêu và tránh được các khuyết tật, do đó chất lượng sản phẩm càng cao Tuy nhiên quá trình sản xuất có hiệu quả chỉ đạt được khi các lĩnh vực, các công đoạn thuộc quá trình sản xuất hoạt động có quy củ, có trật tự Để có được những điều này phải dựa vào công tác tiêu

chuẩn hóa, có nghĩa là phải xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn vào quá trình sản xuất

Trang 28

(Nguồn: Tác giả)

Hình 1 2 Quan hệ giữa đổi mới công nghệ với quá trình sản xuất

và tiêu chuẩn hóa

- Với đời sống con người: Tiêu chuẩn còn góp phần tiết kiệm thời gian, giúp

cho quá trình suy nghĩ hành động và thông tin liên lạc nhanh hơn; giảm nhẹ và rút ngắn thời gian thiết kế, kiểm tra, thời gian sản xuất và chuẩn bị sản xuất; giảm nhẹ khối lượng công việc Các công thức dùng trong toán học, vật lý, và những khoa học khác là một kiểu tiêu chuẩn Nhờ sử dụng các công thức, chúng ta có thể giải quyết nhiều vấn đề, ứng phó vớinhững biến động một cách nhanh chóng và tiện lợi Khi sử

dụng các bộ phận tiêu chuẩn có tính tin cậy sẽ hạn chế hoạt động kiểm tra, kiểm soát

Tiêu chuẩn hóa góp phần bảo vệ cho sức khỏe con người nếu thực hiện tốt các quy định của tiêu chuẩn đề ra, đồng thời cũng hàng rào bảo vệ sức khỏe và có vai trò quan trọng đem lại môi trường trong lành như không khí, nguồn nước,… ở nơi làm việc cho người lao động

Tóm lại, tiêu chuẩn hóa là công cụ hữu hiệu thúc đẩy tăng trưởng, thúc đẩy thương mại quốc tế và hội nhập Mặc dù tiêu chuẩn hóa quan trọng nhưng phần lớn các công ty vẫn chưa nhận thức hết tầm quan trọng trong thực tế Để công tác tiêu chuẩn hóa

có hiệu quả đòi hỏi tốn kém thời gian và nguồn lực tài chính Hệ thống tiêu chuẩn được lập cho tương lai và kết quả cũng chỉ thể hiện rõ sau một thời gian triển khai áp dụng hệ thống tiêu chuẩn một cách đồng bộ, ổn định Trong thực tế, các cán bộ quản lý thường phải đối mặt với những vấn đề trước mắt, hàng ngày và tập trung nỗ lực vào giải quyết

mà ít quan tâm đến xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn Mỗi doanh nghiệp cần nhận thức rõ được nhiệm vụ rất quan trọng của nhà quản lý là xác lập tiêu chuẩn và điều chỉnh tiêu chuẩn và đảm bảo rằng tiêu chuẩn được tuân thủ, không ngừng xem xét đánh giá tiêu chuẩn

1.1.5 Các xu hướng mới trong công tác tiêu chuẩn hóa đầu thế kỷ 21

Theo Ajit Jillavenkatesa (2012) và Dietmar Harting (2005), các xu hướng mới trong công tác tiêu chuẩn hóa bao gồm:

- Vai trò quản lý nhà nước về tiêu chuẩn hóa được tập trung vào quản lý thống nhất việc xây dựng và ban hành tiêu chuẩn quốc gia, đặc biệt là hệ thống quy định kỹ

Trang 29

thuật nhằm đảm bảo tính thống nhất của các quy chuẩn trong phạm vi quốc gia và phù hợp với yêu cầu của các thỏa ước quốc tế phục vụ chính cho doanh nghiệp

- Đổi mới phương pháp xây dựng tiêu chuẩn theo hướng hài hòa tiêu chuẩn quốc gia với tiêu chuẩn quốc tế, không chỉ đơn thuần là chấp nhận một cách thụ động các giải pháp tiêu chuẩn hóa trong các tiêu chuẩn quốc tế vào tiêu chuẩn quốc gia Bởi lẽ nếu "xây dựng tiêu chuẩn quốc gia" theo kiểu chấp nhận giản đơn sẽ làm mất đi ý nghĩa của hoạt động tiêu chuẩn hóa và sẽ dẫn đến tiêu chuẩn không đi vào cuộc sống, các cơ sở sản xuất, kinh doanh sẽ "thờ ơ" với tiêu chuẩn quốc gia vì không thực sự thích hợp với trình độ sản xuất, kinh doanh của họ Do đó trong quá trình áp dụng các phương pháp hài hòa tiêu chuẩn quốc gia với tiêu chuẩn quốc tế, cần thiết phải phân loại các tiêu chuẩn quốc tế mà tiêu chuẩn quốc gia có thể chấp nhận hoàn toàn được

- Trong môi trường và cơ chế quản lý hội nhập, hoạt động áp dụng tiêu chuẩn sẽ được tự do, sân áp dụng tiêu chuẩn mở rộng hơn nhiều để đón nhận tiêu chuẩn thích hợp để áp dụng, chính cơ chế mới này làm cho quá trình tiêu chuẩn hóa đi vào cuộc sống một cách tự nhiên Giá trị của tiêu chuẩn sẽ được khẳng định nếu được nhiều nơi đón nhận để áp dụng, chính cơ chế đó là thước đo đánh giá được chất lượng tiêu chuẩn được xây dựng

- Ngày nay trong xu thế chung của thế giới là hạn chế, tiến tới xóa bỏ các rào cản

kỹ thuật trong thương mại, cùng với biện pháp hài hòa tiêu chuẩn quốc gia với tiêu chuẩn quốc tế, cần thiết phải phát triển hoạt động chứng nhận sự phù hợp theo hướng hòa nhập với thông lệ quốc tế, tiến tới sự thừa nhận lẫn nhau kết quả chứng nhận cho hàng hóa, dịch vụ trao đổi giữa các nước Nhằm đưa hoạt động công nhận, chứng nhận trở thành công cụ hữu hiệu cho quản lý kinh tế thông qua việc áp dụng tiêu chuẩn, các quy định kỹ thuật trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, cần thiết phát triển hoạt động công nhận, chứng nhận sự phù hợp Nói cách khác chứng nhận đã là một công cụ

để thúc đẩy việc áp dụng tiêu chuẩn

1.2 Tiêu chuẩn hóa công ty

1.2.1 Những vấn đề chủ yếu của tiêu chuẩn hóa công ty

1.2.1.1 Khái niệm và vai trò của tiêu chuẩn hóa công ty

- Tiêu chuẩn hóa công ty: là tiêu chuẩn sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường do người đứng đầu công ty xây dựng và công bố để áp dụng trong các hoạt động của công ty Công bố tiêu chuẩn công ty là việc công ty sản xuất, kinh doanh thông báo về tiêu chuẩn áp dụng hoặc các đặc tính cơ bản của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường (Quốc hội, 2006)

- Tiêu chuẩn hóa công ty là kết quả của tích lũy kiến thức và kinh nghiệm của doanh nghiệp, là tổng hợp của các vấn đề như kỹ thuật, kinh tế, luật pháp, quản lý

Trang 30

- Tiêu chuẩn hóa công ty là yêu cầu của quản lý nhà nước, sức ép cạnh tranh và yêu cầu thị trường

- Tiêu chuẩn hóa công ty liên quan mật thiết tới chuỗi cung ứng và là động lực, biện pháp của phát triển bền vững

1.2.1.2 Loại tiêu chuẩn hóa công ty

Kết quả của tiêu chuẩn hóa là hình thành và triển khai thực hiện hệ thống tiêu chuẩn đã xây dựng Hệ thống tiêu chuẩn được xây dựng cho tất cả mọi lĩnh vực, mọi đối tượng và mọi phạm vi hoạt động, tiêu chuẩn hóa công ty gồm các loại sau: tiêu chuẩn sản phẩm, tiêu chuẩn quá trình, tiêu chuẩn hệ thống của quản lý chất lượng (Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự, 2012; Trần Ngọc Tân, 2011; Nguyễn Minh Bằng, Hoàng Hữu Thám, 2007; Trung tâm đào tạo Tổng cục đo lường chất lượng, 1999):

1 Tiêu chuẩn sản phẩm: Quy định các mức chất lượng hoặc yêu cầu đối với một sản phẩm (hoặc nhóm sản phẩm liên quan) nhằm đảm bảo rằng sản phẩm sẽ đáp ứng mục đích của nó một cách hiệu quả

a Tiêu chuẩn về quy cách

Tiêu chuẩn về quy cách quy định các dãy thông số, kích thước sản phẩm, chi tiết, bộ phận, nguyên vật liệu, bao gồm:

- Tiêu chuẩn về thông số, kích thước cơ bản của đối tượng Căn cứ vào đặc trưng vận hành hoặc sử dụng cơ bản của đối tượng, người ta quy định các dãy thông

số, kích thước cơ bản của sản phẩm, chi tiết, bộ phận, nguyên vật liệu… trên cơ sở đó lập nên các kiểu loại, dạng cụ thể cho từng đối tượng trên

- Tiêu chuẩn về kiểu loại

- Tiêu chuẩn về dạng quy định hình dạng hình học và kích thước của đối tượng

b Tiêu chuẩn về yêu cầu kỹ thuật

Đó là những tiêu chuẩn quy định những yêu cầu cơ bản đối với các tính năng sử dụng, vận hành của sản phẩm nhằm quy định mức chất lượng của sản phẩm và các yêu cầu đối với nguyên liệu chế tạo sản phẩm

c Tiêu chuẩn về phương pháp thử

Loại tiêu chuẩn này quy định phương pháp xác định các đặc trưng sử dụng của sản phẩm nhằm đảm bảo sự đánh giá thống nhất và chính xác sản phẩm qua các đặc trưng của nó Các phương pháp thử cần tiêu chuẩn hóa là các phương pháp thử có liên quan đến các chỉ tiêu chất lượng được quy định trong các tiêu chuẩn yêu cầu kỹ thuật hay các văn bản pháp chế kỹ thuật Những tiêu chuẩn này bao gồm: nguyên tắc và nội

Trang 31

dung phương pháp thử; phương tiện và điều kiện thử; chuẩn bị thử; tiến hành thử; phương pháp tính toán; đánh giá tính toán; biên bản thử nghiệm

d Tiêu chuẩn về bao gói, ghi nhãn, vận chuyển và bảo quản

Đây là những tiêu chuẩn quy định về cách ghi và nội dung ghi nhãn mác, cách bao gói, vật liệu bao gói, cấu tạo bao gói, yêu cầu về vận chuyển, bảo quản, thời hạn bảo quản

2 Tiêu chuẩn quá trình: Đưa ra các quy định mà một quá trình cần phải đáp ứng

để hoạt động hiệu quả Cụ thể:

Loại tiêu chuẩn này quy định những nguyên tắc, phương pháp, thủ tục; những yêu cầu cần thiết về kinh tế, kỹ thuật nhằm đảm bảo cho quá trình hoạt động được thống nhất, hợp lý, đem lại hiệu quả cao Các loại tiêu chuẩn chủ yếu trong nhóm này

là tiêu chuẩn về quy phạm, quy tắc, quy trình sản xuất

3 Tiêu chuẩn hệ thống của quản lý chất lượng

Loại tiêu chuẩn này là các tiêu chuẩn quy định các yêu cầu chung cho một hệ thống và cho các quá trình cấu thành nên hệ thống nhằm đạt được yêu cầu đầu ra của hệ thống đó

4 Tiêu chuẩn môi trường: Gồm các tiêu chuẩn quy định về ô nhiễm môi trường như: môi trường không khí, môi trường nước

1.2.1.3 Mục đích của tiêu chuẩn hóa công ty

- Thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, nâng cao hiệu quả của sản xuất và công tác, nâng cao hiệu quả của sản xuất và công tác, nâng cao năng suất lao động xã hội

- Tạo ra một chuẩn mực: Để thuận lợi cho trao đổi thông tin, để ổn định và nâng cao chất lượng sản phẩm, công trình; đơn giản hóa, thống nhất hóa tạo thuận lợi phân công, hợp tác sản xuất, tăng năng suất lao động, thuận tiện khi sử dụng, sửa chũa

- An toàn, vệ sinh, môi trường: Một số tiêu chuẩn công ty cụ thể hóa các điều

luật vệ sinh, an toàn và môi trường mà công ty phải thực hiện trong các trường hợp khác nhau: an toàn điện, an toàn cháy, nổ, giới hạn các chất độc hại và các điều kiện môi trường trong nơi sản xuất, làm việc Thực hiện các tiêu chuẩn này là nghĩa vụ của công ty trước pháp luật đồng thời cũng là điều kiện để đảm bảo năng suất, chất lượng

và hiệu quả sản xuất của công ty

- Thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh: Khi áp

dụng tiêu chuẩn sẽ giúp cho việc sản xuất được tiến hành theo kế hoạch và chương trình đã định một cách dễ ràng, nâng cao khả năng cạnh tranh, giảm chi phí sản xuất đồng thời tạo ra thương hiệu cho sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp Do

đó, khi doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn cho sản phẩm, dịch vụ của mình hay các đối

Trang 32

tượng vô hình sẽ giảm bớt tất cả các loại chi phí: nguyên vật liệu, thời gian, nhân lực

để làm tăng lợi nhuận, thúc đẩy tăng trưởng cho doanh nghiệp

Xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn làm cho công việc thiết kế nhanh chóng đơn giản hóa việc đặt mua và giao nhận nguyên vật liệu, giảm bớt chi phí do phải dự trữ và

do nguyên vật liệu không đạt yêu cầu, giảm bớt chi phí sửa chữa, gia công lại sản phẩm, giảm bớt chi phí do phải bồi thường và bảo hành sản phẩm, tất cả điều đó sẽ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp

- Thúc đẩy thương mại toàn cầu: Việc hòa nhập tiêu chuẩn giữa các nước xuất khẩu và nhập khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại toàn cầu: trao đổi hàng hóa sản phẩm, trao đổi thông tin Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, người ta cho rằng, tiêu chuẩn hóa có những mục đích chính như sau:

+ Thúc đẩy áp dụng kỹ thuật mới, nâng cao năng suất lao động xã hội

+ Ổn định và nâng cao chất lượng sản phẩm, công trình

+ Góp phần hoàn thiện tổ chức quản lý nền kinh tế quốc dân

+ Sử dụng hợp lý tài nguyên tiết kiệm nguyên vật liệu

+ Đảm bảo an toàn lao động, sức khỏe con người

+ Phục vụ tốt nhu cầu quốc phòng

+ Phát triển hợp tác quốc tế khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh xuất khẩu, hướng dẫn nhập khẩu

1.2.1.4 Ý nghĩa và nhiệm vụ của tiêu chuẩn hóa công ty

a Ý nghĩa của tiêu chuẩn hóa công ty

Tiêu chuẩn hóa công ty là công cụ hữu hiệu trong hoạt động quản lý sản xuất,

kinh doanh, giúp nâng cao năng suất, chất lượng, tạo lợi thế cạnh tranh, qua đó doanh nghiệp có thể tạo được ảnh hưởng của mình đối với thị trường trong nước, mở rộng

khả năng xâm nhập thị trường quốc tế Mặt khác, tiêu chuẩn hóa giúp doanh nghiệp

kiểm soát các hoạt động nội bộ, hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động, tạo thế phát triển bền vững, lâu dài; tiêu chuẩn giúp doanh nghiệp trong việc thiết kế, sản xuất, kiểm tra sản phẩm, hàng hóa theo yêu cầu khác nhau của các quốc gia, các nhóm khách hàng, loại thị trường nhờ đó có thể đảm bảo sản phẩm, hàng hóa của doanh

nghiệp phù hợp với từng đối tượng khác nhau Tiêu chuẩn hóa giúp doanh nghiệp tạo

nên giá trị cao quý đối với xã hội như đảm bảo an toàn, vệ sinh, sức khoẻ, môi trường,

bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các trách nhiệm xã hội

b Nhiệm vụ của tiêu chuẩn hóa công ty

Trang 33

Tiêu chuẩn hóa là quá trình nghiên cứu, qui định và đưa vào áp dụng một cách thống nhất, khoa học và hợp lý các cỡ loại, thông số, kích thước, các chỉ tiêu đặc trưng cho chất lượng sản phẩm và các mặt khác có liên quan như phương pháp thử và các vấn đề chung về kỹ thuật (thuật ngữ, ký hiệu)

Công tác tiêu chuẩn hóa ở công ty là một chu trình bắt đầu từ khâu soạn thảo, tổ chức áp dụng các tiêu chuẩn đã soạn thảo và kiểm tra, đánh giá và hoàn thiện các tiêu chuẩn đã có Phải hoàn thành các nhiệm vụ cơ bản sau đây:

- Xây dựng các tiêu chuẩn và các hướng dẫn nội bộ công ty

- Tham gia xây dựng, các tiêu chuẩn ngành, quốc gia,… trên cơ sở đảm bảo quyền lợi của công ty

- Tổ chức thực hiện và giám sát việc thực hiện các tiêu chuẩn đã có

- Cập nhật và cung cấp thông tin về tiêu chuẩn, quy định mới

- Các tiêu chuẩn xây dựng phải phù hợp với tiêu chuẩn trong nước và tiến đến phù hợp với các tiêu chuẩn khu vực và quốc tế

- Phải vận dụng sáng tạo các thành tựu kỹ thuật – công nghệ tiên tiến vào việc xây dựng tiêu chuẩn

1.2.1.5 Đối tượng, phạm vi của tiêu chuẩn hóa công ty

a Đối tượng của tiêu chuẩn hóa công ty

Tiêu chuẩn công ty là cấp tiêu chuẩn quan trọng, là nền tảng cho hoạt động tiêu chuẩn hóa ngành, quốc gia và quốc tế Công ty là nguồn tiềm năng đề nghị những dự án tiêu chuẩn các cấp và cũng chính là nơi tiêu chuẩn các cấp được áp dụng Đối tượng của tiêu chuẩn hóa công ty gồm các đối tượng hữu hình như: thành phẩm, bán thành phẩm, cụm chi tiết, chi tiết, nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, dụng cụ và các đối tượng vô hình như: quy tắc, quy trình, thủ tục, phương pháp tác nghiệp So với tiêu chuẩn ở các cấp cao hơn, tiêu chuẩn công ty chú trọng đến các đối tượng cụ thể hơn, thiết thực hơn

và riêng biệt hơn Chính vì vậy, tùy từng ngành và lĩnh vực mà lựa chọn đối tượng cần tiêu chuẩn hóa Phần lớn các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, đối tượng tập trung chủ yếu là các tiêu chuẩn sản phẩm và tiêu chuẩn quá trình Các tiêu chuẩn sản phẩm quy định các đặc tính của đầu ra sản xuất và các tiêu chuẩn này tương đối rõ ràng và được xác định bởi các yêu cầu chất lượng, được xác định bởi việc thiết lập các tiêu chuẩn cụ thể Các tiêu chuẩn quá trình khác các tiêu chuẩn sản phẩm ở chỗ thường liên quan tới soạn thảo các quy trình được áp dụng trong suốt quá trình sản xuất Không giống như các tiêu chuẩn sản phẩm, tiêu chuẩn quá trình không thiết lập các mục tiêu phải đạt được, mà chỉ yêu cầu rằng các mức độ này sẽ được kiểm tra và chứng minh bằng tài liệu

Trang 34

b Phạm vi của tiêu chuẩn hóa công ty

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trong tất cả các công đoạn sản xuất từ khâu thiết kế đến chế tạo, gia công sản phẩm đều liên quan tới tiêu chuẩn Điều đó cho thấy phạm vi của tiêu chuẩn công ty được bao trùm rất rộng và có vai trò đặc biệt quan trọng tới các khâu chính như sau (Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc

Sự, 2012) :

- Nghiên cứu thiết kế: Ở một trình độ nhất định, các bản thiết kế mới là sự kế

thừa của các bản thiết kế cũ, là việc kết hợp sử dụng những bộ phận chi tiết độc đáo, đặc biệt với những bộ phận chi tiết thông thường có sẵn Vì vậy, tại bộ phận thiết kế cần có được các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế có liên quan đến công việc của mình: tiêu chuẩn về bản vẽ, tiêu chuẩn về cách ký hiệu, tiêu chuẩn về các chi tiết và bộ phận

đã được tiêu chuẩn hóa, các tiêu chuẩn quốc gia về an toàn, vệ sinh và môi trường có liên quan đến sản phẩm của công ty, Bộ phận nghiên cứu phải nghiên cứu triệt để áp dụng các tiêu chuẩn này đồng thời đề xuất việc xây dựng các tiêu chuẩn của công ty về chất lượng và phương pháp thử Lợi ích của tiêu chuẩn hóa trong nghiên cứu thiết kế: Nhanh hơn, hiệu quả hơn, tin cậy hơn

- Cung ứng nguyên vật liệu: Bộ phận cung ứng nguyên vật liệu cần có đầy đủ

các tiêu chuẩn kỹ thuật của các loại nguyên vật liệu và cụm chi tiết mua vào Có thể sử dụng các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế có sẵn Hợp đồng mua nguyên vật liệu cần phải dựa trên các tiêu chuẩn rõ ràng kể cả các tiêu chuẩn về phương pháp thử và quy tắc nghiệm thu, giao nhận Việc sử dụng nguyên vật liệu, chi tiết bán thành phẩm tiêu chuẩn mang lại những lợi ích sau: sự sẵn có để sử dụng, chất lượng bảo đảm, giá cả hợp lý Lợi ích của tiêu chuẩn hóa trong trong cung ứng nguyên vật liệu: Giảm chủng loại, kích cỡ hàng đặt mua; tiết kiệm do không cần nhiều kho bãi dự trữ; đảm bảo chất lượng hàng mua; giảm chi phí lưu kho và kiểm tra

- Quá trình sản xuất: Công ty cần xây dựng một bộ tiêu chuẩn đầy đủ vể các

quy trình sản xuất của mình Quá trình xây dựng tiêu chuẩn đồng thời là quá trình hợp

lý hóa, thống nhất hóa công việc sản xuất; cắt bỏ những công đoạn, những thao tác không cần thiết Các tài liệu sản xuất này cần được lưu trữ thường xuyên xem xét và

loại bỏ những phần lạc hậu

Công tác kiểm tra chất lượng trong sản xuất là một hoạt động không thể thiếu, công ty cần quy định rõ những điểm cần kiểm tra và những chỉ tiêu cần thử nghiệm trong toàn bộ quá trình sản xuất của công ty Lợi ích của tiêu chuẩn hóa trong sản xuất: Đảm bảo quá trình sản xuất liên tục; tăng hiệu suất sử dụng trang thiết bị; giảm chi phí bảo dưỡng, sửa chữa, thay thế; bảo đảm chất lượng sản phẩm phù hợp với thiết kế; bảo đảm an toàn sức khoẻ người lao động; giảm chủng loại trang thiết bị sử dụng

Trang 35

1.2.1.6 Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động tiêu chuẩn hóa công ty

Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động tiêu chuẩn hóa công ty gồm (Hồ Tất Thắng, 2004 và Nguyễn Đình Phan, 2005):

- Nguyên tắc 1: Giảm thiểu, đơn giản hóa và thống nhất hóa

Tiêu chuẩn hóa là hoạt động thiết lập các điều khoản để sử dụng chung trong một phạm vi nào đó Vì vậy, hoạt động tiêu chuẩn hóa công ty phải giảm thiểu được các hoạt động thừa và đơn giản hóa để tránh sự rườm rà, lộn xộn trong quá trình hoạt động và có như thế mới có thể thiết lập các điều khoản, áp dụng các điều khoản một cách hợp lý Mặt khác việc thiết lập các điều khoản sử dụng chung nên có sự tham gia, thống nhất của nhiều bộ phận để tạo ra các nguyên tắc chung áp dụng cho các bộ phận

- Nguyên tắc 2: Áp dụng và đổi mới

Tiêu chuẩn hóa gồm hai mảng công việc chính là xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn, vì vậy phải làm sao cho các tiêu chuẩn áp dụng được, có như vậy tiêu chuẩn hóa mới đem lại hiệu quả Bất cứ một doanh nghiệp nào nếu chỉ chú ý đến việc ban hành tiêu chuẩn mà không chú ý đến áp dụng tiêu chuẩn, hoạt động tiêu chuẩn hóa sẽ không đem lại hiệu quả mong muốn

Tuy nhiên, tiêu chuẩn hóa là một giải pháp tối ưu trong một khung cảnh nhất định, cho nên các tiêu chuẩn phải luôn luôn được soát xét lại cho phù hợp với thực tiễn Trong thực tế tiêu chuẩn phải được xem xét nghiên cứu và soát xét lại một cách định kỳ hay bất cứ lúc nào nếu thấy cần thiết

- Nguyên tắc 3: Tuân thủ, hài hòa với quy định và luật lệ

Tiêu chuẩn hóa công ty phải được nhà nước chấp nhận có nghĩa là không làm trái với quy định, luật lệ của nhà nước hoặc tổ chức đề ra, nhằm mục đích không gây ảnh hưởng tiêu cực đến những môi trường xung quanh Hơn nữa khi tuân thủ hài hòa với quy định, luật lệ việc tiêu chuẩn hóa công ty mới được phép hoạt động mà không

bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài về mặt pháp lý, hay nói đúng hơn là hợp lý hóa

về mặt pháp lý đối với các hoạt động tiêu chuẩn hóa công ty

- Nguyên tắc 4: Việc xây dựng tiêu chuẩn phải dựa trên tiến bộ khoa học –

công nghệ

Đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa vận hành theo cơ chế thị trường, từng bước hội nhập với khu vực và thế giới…, hoạt động tiêu chuẩn hóa trong các công ty đã có bước chuyển biến cơ bản: Xây dựng tiêu chuẩn hóa công ty theo thông lệ quốc tế; hầu hết các tiêu chuẩn công ty không bắt buộc áp dụng nhưng là cơ

sở quan trọng (do tính khoa học) cho nhiều lựa chọn từ sản xuất kinh doanh tới thỏa thuận và hợp tác trong thương mại, đầu tư,… Tiêu chuẩn hóa công ty phải sát hợp với thực tế nhưng là thực tế của sự sáng tạo, vươn lên, do đó tiêu chuẩn hóa công ty phải

Trang 36

được xây dựng trên cơ sở các tiến bộ về khoa học – công nghệ, phải đảm bảo nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm – hàng hóa – dịch vụ

1.2.1.7 Các phương pháp xây dựng tiêu chuẩn hóa công ty

Thứ nhất, doanh nghiệp tự xây dựng dựa vào kết quả thử nghiệm của tổ chức Phương pháp này được nhiều doanh nghiệp áp dụng, có uu điểm là tiêu chuẩn thực tế,

dễ hiểu, dễ áp dụng nhưng mất thời gian và chi phí thử nghiệm mẫu Để thực hiện được việc này, doanh nghiệp cần có một đội ngũ nghiên cứu, phát triển sản phẩm kết hợp với việc đưa các mẫu sản phẩm đi thử nghiệm để có kết quả xác thực, từ đó có các thông số

cụ thể để xây dựng tiêu chuẩn

Thứ hai, xây dựng dựa trên tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế Phương pháp này dễ làm nhưng đôi khi không thực tế Khi một tổ chức sử dụng một trong các tiêu chuẩn trên làm tiêu chuẩn cho sản phẩm, dịch vụ của mình, tổ chức phải cố gắng đáp ứng các tiêu chí của các tiêu chuẩn trên Điều này khó có thể thực hiện do hạn chế

về năng lực và cơ sở vật chất của doanh nghiệp Tuy nhiên nếu sản phẩm đáp ứng được các tiêu chuẩn trên sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao được vị thế của mình trên thương trường

Thứ ba, xây dựng dựa trên việc tham khảo tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn nước ngoài Tiêu chuẩn xây dựng theo phương thức này có thể làm khác với tiêu chuẩn quốc gia, tiết kiệm chi phí nhưng phải có người am hiểu về lĩnh vực chuyên môn Đây là phương pháp tương đối phổ biến, phương pháp này cần sự nghiên cứu kỹ lưỡng và đòi hỏi tổ chức có chuyên gia sâu trong lĩnh vực của mình

Thứ tư, trong trường hợp không thể áp dụng được một trong ba phương pháp trên, tổ chức có thể thuê các tổ chức bên ngoài xây dựng tiêu chuẩn công ty giúp mình Hiện nay có rất nhiều các Tổ chức khoa học và công nghệ chuyên cung cấp các dịch

vụ tư vấn trong đó có tư vấn xây dựng tiêu chuẩn công ty Phương pháp này có ưu điểm là không mất thời gian nhưng chi phí tốn kém và doanh nghiệp có thể không tự hiểu được tiêu chuẩn của mình

Để trả lời câu hỏi tại sao phải dựa vào hoặc tham khảo và chấp nhận tiêu chuẩn quốc tế thành tiêu chuẩn công ty, có một số lý do sau:

- Lý do kinh tế: Tiêu chuẩn quốc tế đã được nghiên cứu, xây dựng và áp dụng ở nhiều nước, đã được kiểm nghiệm trong thực tế nên khi xây dựng tiêu chuẩn công ty

có thể tham khảo để tiết kiệm thời gian và kinh phí

- Lý do hòa nhập: Để tạo điều kiện cho việc tiếp thu kinh nghiệm, trao đổi kiến thức, trao đổi hàng hóa các tổ chức kinh tế, xã hội, khoa học quốc tế thường yêu cầu các quốc gia thành viên "hòa hợp" tiêu chuẩn quốc gia trên cơ sở các tiêu chuẩn quốc tế, nếu đã có tiêu chuẩn quốc tế, trong lĩnh vực, phạm vi đó

Trang 37

Việc công bố tiêu chuẩn công ty được thực hiện theo phương thức tự nguyện thông qua báo đài, ghi trên nhãn sản phẩm hoặc trên các phương tiện thông tin đại chúng khác Do tính chất tự nguyện, hiện nay nhiều doanh nghiệp bỏ qua việc công bố tiêu chuẩn áp dụng cho sản phẩm của mình Một số doanh nghiệp cho rằng không có công bố tiêu chuẩn tại cơ quan có thẩm quyền có nghĩa là doanh nghiệp sản xuất không cần tiêu chuẩn Điều này khiến doanh nghiệp vô tình vi phạm pháp luật vì sản phẩm sản xuất ra phải dựa trên tiêu chuẩn áp dụng

1.2.1.8 Tổ chức tiêu chuẩn hóa trong công ty

a Tổ chức bộ phận tiêu chuẩn hóa công ty

Hoạt động tiêu chuẩn hóa công ty có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào bộ phận tiêu chuẩn hóa trong cơ cấu tổ chức của công ty Tùy thuộc vào quy mô, loại hình, chương trình tiêu chuẩn hóa và các điều kiện đặc thù của công ty, bộ phận tiêu chuẩn hóa có thể được bố trí như sau:

- Phương án 1: Là một bộ phận độc lập trực thuộc lãnh đạo cao nhất về kỹ

thuật có vị trí không được thấp hơn các bộ phận khác của công ty

- Phương án 2: Là một bộ phận của một phòng ban nào đó trong công ty

Theo ISO, phương án 1 là phương án đảm bảo cho hoạt động tiêu chuẩn hóa thành công hơn Hai phương án này là hai phương án tập trung, tức là chỉ có một bộ phận tiêu chuẩn hóa duy nhất trong một công ty Tuy nhiên, đối với những công ty lớn

có thể sử dụng phương án phi tập trung tức là cùng đồng thời tồn tại cả bộ phận tiêu chuẩn hóa trực thuộc ban lãnh đạo và bộ phận tiêu chuẩn hóa của một phòng ban nào

đó, ví dụ như phòng thiết kế, phòng kiểm soát chất lượng

b Nhiệm vụ của bộ phận tiêu chuẩn hóa công ty

Xuất phát từ nội dung hoạt động tiêu chuẩn hóa trong công ty đã nêu ở phần trên, nhiệm vụ của bộ phận tiêu chuẩn hóa gồm 3 nội dung cơ bản sau:

- Tổ chức soạn thảo tiêu chuẩn

- Đưa ra các thông tin về tiêu chuẩn

- Giám sát việc áp dụng tiêu chuẩn

Không phụ thuộc vào quy mô và vị trí tổ chức, bộ phận tiêu chuẩn hóa trong công ty có thể có chức năng và nhiệm vụ sau:

1 Xây dựng, tổ chức xây dựng và hướng dẫn nội bộ

2 Đầu mối liên hệ với các tổ chức bên ngoài khác trong việc tham gia xây dựng các tiêu chuẩn bên ngoài, đảm bảo quan điểm và quyền lợi của công ty được bảo vệ trong quá trình xây dựng các tiêu chuẩn đó

Trang 38

3 Thúc đẩy và giám sát áp dụng tiêu chuẩn trong công ty

4 Cập nhật và cung cấp thông tin tiêu chuẩn làm cho sản phẩm, dịch vụ luôn cập nhật với những tiêu chuẩn, quy định và luật lệ mới nhất

5 Quản lý hệ thống đánh số, phân loại và mã hóa

6 Quản lý hệ thống tài liệu, kiểm tra bản vẽ, bản kê các bộ phận chi tiết

7 Thiết lập và duy trì quan hệ giữa các nhóm chức năng khác nhau trong công

ty để tăng cường khả năng hợp tác trao đổi thông tin với nhau

c Cán bộ tiêu chuẩn hóa:

i Yêu cầu về trình độ: Cán bộ tiêu chuẩn hóa trong công ty phải có trình độ và

nghiệp vụ sau:

- Có hiểu biết vững chắc về:

+ Hoạt động của công ty: sản phẩm, công nghệ và thị trường của công ty

+ Những vấn đề cơ bản về tiêu chuẩn hóa, hoạt động của cơ quan tiêu chuẩn hóa quốc gia, của các hội kinh doanh chuyên ngành và của các công ty khác có liên quan

- Viết và nói lưu loát Nghệ thuật giao tiếp

ii Đào tạo cán bộ tiêu chuẩn hóa: Mọi công ty cần có một chương trình đào tạo cán bộ tiêu chuẩn hóa riêng cho mình Cán bộ trong các phòng, ban của công ty cũng cần được đào tạo theo những nội dung cụ thể khác nhau Các công ty vừa và nhỏ cần tranh thủ

sự trợ giúp của cơ quan tiêu chuẩn quốc gia trong vấn đề này Những nội dung chung nhất

mà một cán bộ tiêu chuẩn cần được đào tạo là:

- Những nguyên tắc của tiêu chuẩn hóa, tổ chức cơ quan tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế

- Áp dụng tiêu chuẩn, tiêu chuẩn hóa và chất lượng, chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn

- Xây dựng tiêu chuẩn công ty

1.2.2 Nội dung của công tác tiêu chuẩn hóa công ty

Công tác tiêu chuẩn hóa công ty mặc dù hiện nay có nhiều thay đổi, song nhìn chung công tác tiêu chuẩn hóa gồm năm (05) nội dung chính sau: i) Hoạt động xây dựng tiêu chuẩn công ty; ii) Tình hình áp dụng tiêu chuẩn; iii) Hoạt động đánh giá sự phù hợp; iv) Hoạt động thông tin tiêu chuẩn; v) Tham gia vào hoạt động tiêu chuẩn hóa các cấp (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007b; Chính phủ, 2006; Nguyễn Hoàng Linh, 2012 và Tổng cục tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, 1995)

Trang 39

1.2.2.1 Hoạt động xây dựng tiêu chuẩn công ty

a) Quy định chung

- Tiêu chuẩn công ty được xây dựng trên các thành tựu của khoa học, công nghệ, kinh nghiệm tiên tiến và khả năng thực tiễn của công ty Khuyến khích chấp nhận các tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn quốc tế, khu vực hoặc nước ngoài thành tiêu chuẩn công ty

- Nội dung tiêu chuẩn công ty không được trái với các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản pháp quy, các văn bản pháp quy kỹ thuật, các tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn ngành

- Tiêu chuẩn công ty phải được xem xét lại định kỳ hoặc khi có yêu cầu cần thiết

để đảm bảo luôn đáp ứng được yêu cầu và phù hợp với các quy định hiện hành

b) Trình bày tiêu chuẩn công ty

- Khuôn khổ và mẫu trình bày tiêu chuẩn công ty phải thống nhất trong phạm vi toàn doanh nghiệp Khổ giấy thường dùng là khổ A4 (210 mm x 297 mm) Trong trường hợp đóng thành từng tập tiêu chuẩn có thể sử dụng khổ giấy khác

- Tiêu chuẩn công ty cần phải trình bày ngắn gọn, rõ ràng, chính xác, dễ đọc, không sai lỗi, thuận tiện sử dụng, dễ sửa chữa, dễ sao chụp, đảm bảo mỹ thuật

- Tiêu chuẩn công ty có thể đóng rời từng tiêu chuẩn hoặc thành từng tập tiêu chuẩn theo các đối tượng khác nhau; tiêu chuẩn công ty có thể sử dụng tờ rơi để thuận tiện cho việc bổ sung, hủy bỏ hoặc thay thế nội dung Tiêu chuẩn công ty có thể có tờ bìa hoặc không có tờ bìa

c) Thể hiện nội dung của tiêu chuẩn công ty

- Một tiêu chuẩn công ty phải có các phần sau: Phần khái quát, phần kỹ thuật

- Phần khái quát nêu các nội dung: tên doanh nghiệp hoặc/và biểu tượng (logo) của doanh nghiệp; cụm chữ "tiêu chuẩn công ty"; ký hiệu và số hiệu tiêu chuẩn; tên gọi tiêu chuẩn; ngày tháng năm phê duyệt/ban hành; người phê duyệt; lần soát xét, ký hiệu tiêu chuẩn thay thế Nội dụng phần khái quát phải được bố trí hợp lý và được trình bày một cách mỹ thuật, có thể sử dụng khung tiêu đề hoặc các đường nét trang trí phụ trợ, đặc biệt trong trường hợp không có tờ bìa

- Phần kỹ thuật nêu các nội dung: phạm vi áp dụng và nội dung kỹ thuật của tiêu chuẩn Nếu tiêu chuẩn công ty chấp nhận tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn quốc tế, khu vực hoặc nước ngoài thì phải nêu ký hiệu và số hiệu tiêu chuẩn đó Nội dung kỹ thuật của tiêu chuẩn quy định các điều khoản yêu cầu có thể bao gồm: Thuật ngữ và định nghĩa; ký hiệu; quy cách; yêu cầu kỹ thuật; phương pháp thử; ghi nhãn, bao gói, vận chuyển và bảo quản

Trang 40

- Tiêu chuẩn công ty có lời nói đầu, mục lục, phụ lục, chú thích, bảng, hình vẽ, sơ

đồ, công thức toán học

d Thủ tục xây dựng tiêu chuẩn công ty

- Tiêu chuẩn công ty được xây dựng với sự tham gia của các bộ phận, cá nhân có liên quan, khách hàng và những tổ chức, cá nhân cần thiết khác và tuân thủ nguyên tắc đồng thuận sao cho ý kiến của các bên liên quan đều được lưu ý và không có bất đồng

cơ bản nào đối với nội dung tiêu chuẩn

- Thủ tục và phương pháp xây dựng tiêu chuẩn công ty phụ thuộc vào quy mô và đặc điểm của từng doanh nghiệp, do lãnh đạo doanh nghiệp quyết định và tuân theo các bước được mô tả theo hình 1.3 dưới đây

Hình 1 3 Các bước xây dựng tiêu chuẩn công ty

Bước 1 Xây dựng kế hoạch: Lãnh đạo doanh nghiệp thông báo cho các phòng

ban chuyên môn liên quan đề xuất; sau đó bộ phận được giao nhiệm vụ tổng hợp trình lãnh đạo doanh nghiệp để phê duyệt kế hoạch thực hiện Kế hoạch phải xây dựng chi tiết

cả về tiến độ thời gian thực hiện xây dựng tiêu chuẩn

Bước 2 Soạn thảo dự thảo sơ bộ (dự thảo 1): Có thể giao cho một bộ phận, cá

nhân hoặc một Ban soạn thảo Chú ý cần có quyết định bằng văn bản của lãnh đạo doanh nghiệp thành lập Ban soạn thảo Một số nội dung cần thống nhất trong dự thảo cần đảm bảo các yếu tố sau:

a Phải ngắn gọn, xúc tích để các thông tin được rõ ràng

b Tránh dùng ngôn từ đặc biệt - tiêu chuẩn không chỉ dùng cho các nhà chuyên môn mà còn dùng cho các người khác và họ phải hiểu được văn bản Khi dùng thuật ngữ kỹ thuật phải có định nghĩa

c Sử dụng minh họa - một biểu đồ tốt đáng giá hàng ngàn từ, do đó khi có thể nên dùng biểu đồ hoặc hình ảnh

d Sử dụng tra cứu - cần tránh những lặp lại không cần thiết, đặc biệt khi thông tin lặp lại có trong tiêu chuẩn khác nên dùng hình thức tra cứu

Ngày đăng: 07/05/2016, 22:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ajit Jillavenkatesa (2012), The Changing World of Standardization: Trends, Opportunities and Challenges , Standard Service Seminar, Sept.20, 2012, truy cập ngày 22 tháng 09 năm 2013, từ http://gsi.nist.gov/global/docs/training/AjitSeminar.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Changing World of Standardization: Trends, Opportunities and Challenges
Tác giả: Ajit Jillavenkatesa
Năm: 2012
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007a), Quyết định số 24/2007/QĐ-BKHCN về việc ban hành “Quy định về chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy và Công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy”, ban hành ngày 28 tháng 9 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 24/2007/QĐ-BKHCN về việc ban hành “Quy định về chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy và Công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy”
3. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007b), Thông tư số 21/2007/TT-BKHCN về việc Hướng dẫn về xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn, ban hành ngày 28 tháng 9 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 21/2007/TT-BKHCN về việc Hướng dẫn về xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn
4. Bộ Khoa học và Công nghệ (2012), Thông tư số 28/2012/TT-BKHCN về việc Quy định về Công bố hợp chuẩn, Công bố hợp quy và Phương thức đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, ban hành ngày 12 tháng 12 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 28/2012/TT-BKHCN về việc Quy định về Công bố hợp chuẩn, Công bố hợp quy và Phương thức đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2012
5. Chính phủ (2007), Nghị định số 127/2007/NĐ-CP về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, ban hành ngày 01 tháng 08 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 127/2007/NĐ-CP về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
6. Clarkson Research (2004), The world shipbuilding industry in 2004, Hamburg Sách, tạp chí
Tiêu đề: The world shipbuilding industry in 2004
Tác giả: Clarkson Research
Năm: 2004
7. Cộng đồng Châu Âu (1999), The Situation in World Shipbuilding, Brussels Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Situation in World Shipbuilding
Tác giả: Cộng đồng Châu Âu
Năm: 1999
8. Cộng đồng Châu Âu (2000a), Second Report from the Commission to the Council on the Situation in World Shipbuilding, Brussels Sách, tạp chí
Tiêu đề: Second Report from the Commission to the Council on the Situation in World Shipbuilding
9. Cộng đồng Châu Âu (2000b), Third Report from the Commission to the Council on the Situation in World Shipbuilding, Brussels Sách, tạp chí
Tiêu đề: Third Report from the Commission to the Council on the Situation in World Shipbuilding
10. Cộng đồng Châu Âu (2001), Fourth Report from the Commission to the Council on the Situation in World Shipbuilding, Brussels Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fourth Report from the Commission to the Council on the Situation in World Shipbuilding
Tác giả: Cộng đồng Châu Âu
Năm: 2001
11. Cộng đồng Châu Âu (2002a), Fifth Report from the Commission to the Council on the Situation in World Shipbuilding, Brussels Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fifth Report from the Commission to the Council on the Situation in World Shipbuilding
12. Cộng đồng Châu Âu (2002b), Sixth Report from the Commission to the Council on the Situation in World Shipbuilding, Brussels Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sixth Report from the Commission to the Council on the Situation in World Shipbuilding
13. Cộng đồng Châu Âu (2003a), Seventh Report from the Commission to the Council on the Situation in World Shipbuilding, Brussels Sách, tạp chí
Tiêu đề: Seventh Report from the Commission to the Council on the Situation in World Shipbuilding
14. Cộng đồng Châu Âu (2003b), Measures Affecting Trade in Commercial Vessels, Korea Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measures Affecting Trade in Commercial Vessels
15. Cục Hàng hải Nhật Bản (2004), Shipbuilding in Japan 2003, Nhật Bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Shipbuilding in Japan 2003
Tác giả: Cục Hàng hải Nhật Bản
Năm: 2004
16. Dietmar Harting (2005), Standardization future Conference, Beuth Verlag GmbH, Berlin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Standardization future Conference
Tác giả: Dietmar Harting
Năm: 2005
17. Dong-Geun Choi (ed.) (2010), Standardization: Fundamentals, Impact, and Business Strategy. APEC Sub committee on Standars and Comformance. Education Guideline 3 – Textbook for Higher Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: Standardization: Fundamentals, Impact, and Business Strategy
Tác giả: Dong-Geun Choi (ed.)
Năm: 2010
18. Edward Nemeroff (2008), Tiêu chuẩn, đo lường đánh giá sự phù hợp và Hiệp định TBT, Sổ tay tham khảo, thuộc Dự án STAR Vietnam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn, đo lường đánh giá sự phù hợp và Hiệp định TBT
Tác giả: Edward Nemeroff
Năm: 2008
20. Hesser Feilzer De Vries (2006), Standardisation in Companies and Markets. Helmut Schmidt University Germany – Erasmus University of Rotterdam Netherlands Sách, tạp chí
Tiêu đề: Standardisation in Companies and Markets
Tác giả: Hesser Feilzer De Vries
Năm: 2006
21. Hiệp hội đóng tàu EU (2005), Annual Report 2004-2005, truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2013 từ http://www.cesa-shipbuilding Sách, tạp chí
Tiêu đề: Annual Report 2004-2005
Tác giả: Hiệp hội đóng tàu EU
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. 4. Sơ đồ tổ chức công ty đóng tàu TSU - Tiểu luận đẩy mạnh tiêu chuẩn hóa các công ty tàu việt nam trong quá trình hội nhập
Hình 1. 4. Sơ đồ tổ chức công ty đóng tàu TSU (Trang 62)
Hình 1. 5. Sơ đồ tổ chức nhà máy đóng tàu Hyundai-Vinashin - Tiểu luận đẩy mạnh tiêu chuẩn hóa các công ty tàu việt nam trong quá trình hội nhập
Hình 1. 5. Sơ đồ tổ chức nhà máy đóng tàu Hyundai-Vinashin (Trang 68)
Hình 2.1. 1 Trọng tải tàu đóng trong năm 2013 - Tiểu luận đẩy mạnh tiêu chuẩn hóa các công ty tàu việt nam trong quá trình hội nhập
Hình 2.1. 1 Trọng tải tàu đóng trong năm 2013 (Trang 73)
Hình 2. 1 Quy trình đóng tàu - Tiểu luận đẩy mạnh tiêu chuẩn hóa các công ty tàu việt nam trong quá trình hội nhập
Hình 2. 1 Quy trình đóng tàu (Trang 78)
Bảng 2. 3. Cấp tiêu chuẩn sử dụng trong các công ty đóng tàu - Tiểu luận đẩy mạnh tiêu chuẩn hóa các công ty tàu việt nam trong quá trình hội nhập
Bảng 2. 3. Cấp tiêu chuẩn sử dụng trong các công ty đóng tàu (Trang 86)
Bảng 2. 4. Cấp độ quan tâm tới công tác tiêu chuẩn hóa của các công ty đóng tàu - Tiểu luận đẩy mạnh tiêu chuẩn hóa các công ty tàu việt nam trong quá trình hội nhập
Bảng 2. 4. Cấp độ quan tâm tới công tác tiêu chuẩn hóa của các công ty đóng tàu (Trang 88)
Hình 2. 2.Tỷ lệ công ty có hoạt động tiêu chuẩn hóa theo quy mô vốn - Tiểu luận đẩy mạnh tiêu chuẩn hóa các công ty tàu việt nam trong quá trình hội nhập
Hình 2. 2.Tỷ lệ công ty có hoạt động tiêu chuẩn hóa theo quy mô vốn (Trang 110)
Hình 2. 3. Áp dụng tiêu chuẩn kiểm tra sản phẩm - Tiểu luận đẩy mạnh tiêu chuẩn hóa các công ty tàu việt nam trong quá trình hội nhập
Hình 2. 3. Áp dụng tiêu chuẩn kiểm tra sản phẩm (Trang 115)
Hình 2. 5. Giá cả của sản phẩm trên thị trường so với sản phẩm cùng  loại của - Tiểu luận đẩy mạnh tiêu chuẩn hóa các công ty tàu việt nam trong quá trình hội nhập
Hình 2. 5. Giá cả của sản phẩm trên thị trường so với sản phẩm cùng loại của (Trang 116)
Hình 2. 6. Biểu đồ đánh giá chất lượng sản phẩm tàu xuất khẩu - Tiểu luận đẩy mạnh tiêu chuẩn hóa các công ty tàu việt nam trong quá trình hội nhập
Hình 2. 6. Biểu đồ đánh giá chất lượng sản phẩm tàu xuất khẩu (Trang 117)
Hình 2. 7. Biểu đồ chi phí các loại năng lượng - Tiểu luận đẩy mạnh tiêu chuẩn hóa các công ty tàu việt nam trong quá trình hội nhập
Hình 2. 7. Biểu đồ chi phí các loại năng lượng (Trang 119)
Bảng 2. 30. Thời gian bàn giao tàu - Tiểu luận đẩy mạnh tiêu chuẩn hóa các công ty tàu việt nam trong quá trình hội nhập
Bảng 2. 30. Thời gian bàn giao tàu (Trang 131)
Hình 2. 9. Trình độ khoa học công nghệ trong các công ty đóng tàu - Tiểu luận đẩy mạnh tiêu chuẩn hóa các công ty tàu việt nam trong quá trình hội nhập
Hình 2. 9. Trình độ khoa học công nghệ trong các công ty đóng tàu (Trang 133)
Bảng 3. 2. Phiếu đánh giá hiệu quả tiêu chuẩn - Tiểu luận đẩy mạnh tiêu chuẩn hóa các công ty tàu việt nam trong quá trình hội nhập
Bảng 3. 2. Phiếu đánh giá hiệu quả tiêu chuẩn (Trang 165)
Hình 3. 1. Mô hình tổ chức mới của các công ty đóng tàu - Tiểu luận đẩy mạnh tiêu chuẩn hóa các công ty tàu việt nam trong quá trình hội nhập
Hình 3. 1. Mô hình tổ chức mới của các công ty đóng tàu (Trang 168)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w