Tuy nhiên, tại các Chuẩn mực Kế toán chỉ đưa ra các nhận định về các nhân tố nên sử dụng trong dự báo dòng tiền mà thiếu bằng chứng cụ thể còn các công trình nghiên cứu thì chưa thống nh
Trang 1CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do lựa chọn đề tài
Dòng tiền đối với doanh nghiệp vô cùng quan trọng như dòng máu trong cơ thể con người Do đó, dự báo được dòng tiền sẽ giúp ích cho các nhà đầu tư, các nhà quản lý đánh giá hoạt động của doanh nghiệp và ra các quyết định kinh tế Nghiên cứu về dự báo dòng tiền nhằm xác định được nhân tố có khả năng dự báo dòng tiền tốt nhất vì vậy rất có ý nghĩa trên cả góc độ lí luận và thực tiễn
Xét trên góc độ lí luận, vấn đề dự báo dòng tiền đã được đề cập cụ thể tại nhiều Chuẩn mực Kế toán quốc gia và tại nhiều công trình nghiên cứu (Đỗ Thị Hồng Nhung, 2014;Nguyễn Hữu Ánh, 2010; Al –Attar, 2003; Barth & cộng sự, 2001; Chotkunakitti, 2005;Ebaid, 2011; Farshadfar & cộng sự, 2008; Mooi, T.L, 2007) [12],[17],[25],[41],[61],[72],[76],[117] Tuy nhiên, tại các Chuẩn mực Kế toán chỉ đưa ra các nhận định về các nhân tố nên sử dụng trong dự báo dòng tiền mà thiếu bằng chứng cụ thể còn các công trình nghiên cứu thì chưa thống nhất được khả năng của các nhân tố trong dự báo dòng tiền: Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số
24 [1] cho rằng: thông tin về các luồng tiền từ HĐKD khi được sử dụng kết hợp với các thông tin khác sẽ giúp người sử dụng dự đoán được luồng tiền từ HĐKD trong tương lai, còn Chuẩn mực Kế toán Hoa Kỳ (FASB, 1978) [77] cho rằng những người quan tâm tới dòng tiền tương lai của doanh nghiệp thường dựa trên thông tin lợi nhuận kế toán trong kế toán theo cơ sở dồn tích chứ không phải dựa trên thông tin dòng tiền trong quá khứ và như vậy theo Barth & cộng sự (2001) [41] thông tin
kế toán theo cơ sở dồn tích hiệu quả hơn thông tin kế toán theo cơ sở tiền trong việc
dự báo dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp Vì vậy, cần có thêm các nghiên cứu dự báo dòng tiền để cung cấp bằng chứng bổ sung cho nhận định của Chuẩn mực kế toán và tổng quan các công trình nghiên cứu dự báo dòng tiền
Xét trên góc độ thực tiễn, với các nhà đầu tư, các ngân hàng, nhà quản trị tài chính, dự báo được dòng tiền tương lai đóng vai trò vô cùng quan trọng trước khi
Trang 2ra quyết định kinh tế:80% nhân viên tín dụng tại Hoa Kỳ cho rằng trong hồ sơ vay vốn nhất thiết phải có kế hoạch dòng tiền tương lai (Đỗ Thị Hồng Nhung, 2014; Fulmer, Gavin và Bertin, 1991; Waddell D & cộng sự, 1994) [12],[84],[133] Do
đó, nghiên cứu giúp xác định nhân tố có khả năng dự báo dòng tiền sẽ thực sự có ích cho nhiều đối tượng đặc biệt các đối tượng ở Việt Nam doTTCK Việt Nam mới
đi vào hoạt động, kết quả khảo sát cho thấy: công tác dự báo dòng tiền ở nước ta chưa thực hiện đầy đủ; chưa thực sự đánh giá đúng mức những nhân tố ảnh hưởng tới dòng tiền của doanh nghiệp; kết quả dự báo hầu như dựa vào kinh nghiệm của
kế toán trưởng; phương pháp dự báo dòng tiền còn đơn giản, chưa được chú trọng (Đỗ Thị Hồng Nhung, 2014) [12]
Như vậy, trên cả khía cạnh lí luận và thực tiễn đều cho thấy nghiên cứu dự báo dòng tiền trong các doanh nghiệp tại Việt Nam là điều cần thiết, sẽ hỗ trợ hiệu quả trong quá trình ra quyết định kinh tếđặc biệt nghiên cứu dự báo dòng tiền chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển hàng chục năm nay nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống ở Việt Nam
Trong các công ty đang hoạt động tại Việt Nam thì các công ty phi tài chính đang niêm yết là các công ty có quy mô lớn, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các ngành nghề thiết yếu để tạo ra của cải, vật chất cho đất nước và có đóng góp đáng kể vào tổng giá trị sản phẩm quốc dân Ngoài ra, trong ba loại dòng tiền trong công ty thì dòng tiền từ HĐKD là dòng tiền có liên quan đến các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp (Bộ Tài chính, 2002) [1] và là tín hiệu cho thấy khả năng tạo tiền để đáp ứng cho các hoạt động hàng ngày của mỗi công ty (Boyd &Cortese – Daniel, 2000/2001) [46]
Do vậy, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài luận án: “Dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”
Trang 31.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lí luận và kết quả tổng quan các công trình nghiên cứu có liên
quan trước đây, mục tiêu tổng quát của Luận án là tiến hành xây dựng và kiểm định
các mô hình dự báo dòng tiền từ HĐKDcủa các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM Bên cạnh đó, Luận án cũng tiến hành so sánh khả năng dự báo
của các mô hình để tìm ra mô hình dự báo dòng tiền tốt nhất
Để đạt được mục tiêu tổng quát này, Luận án đặt ra cácmục tiêu cụ thể sau:
Thứ nhất,khái quát, tổng hợp và hệ thống hóa cơ sở lý luận về thông tin kế
toán theo cơ sở dồn tích và thông tin kế toán theo cơ sở tiền trong các công ty
Thứ hai, xây dựng và kiểm định mô hình dự báo dòng tiền từ HĐKD của các
công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM trên cơ sở lợi nhuận quá khứ
Thứ ba, xây dựng và kiểm định mô hình dự báo dòng tiền từ HĐKD của các
công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM trên cơ sở dòng tiền từ HĐKD
trong quá khứ
Thứ tư, xây dựng và kiểm định mô hình dự báo dòng tiền từ HĐKD của các
công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM trên cơ sở kết hợp dòng tiền
từ HĐKD trong quá khứ và thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích (thành phần dồn tích gộp chung và thành phần dồn tích cụ thể)
Thứ năm, xây dựng và kiểm định mô hình dự báo dòng tiền từ HĐKD của
các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM trên cơ sở các tỷ suất tài chính về dòng tiền
Thứ sáu, xác định mô hình (nhân tố) có khả năng dự báo dòng tiền từ HĐKD của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM tốt nhất
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Trên cơ sở các mục tiêu nghiên cứu, luận án đặt ra câu hỏi nghiên cứu cụ thể như sau:
Câu hỏi 1: Lợi nhuận trong quá khứ có khả năng dự báo đáng kể dòng tiền từ HĐKD của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM hay không?
Trang 4Câu hỏi 2: Dòng tiền từ HĐKD trong quá khứ có khả năng dự báo đáng kể dòng tiền từ HĐKD trong tương lai của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM hay không?
Câu hỏi 3: Dòng tiền từ HĐKD trong quá khứ kết hợp với các thông tin kế toán dồn tích gộp chung có khả năng dự báo đáng kể dòng tiền từ HĐKD của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM hay không?
Câu hỏi 4: Dòng tiền từ HĐKD trong quá khứ kết hợp với các thông tin kế toán dồn tích cụ thể có khả năng dự báo đáng kể dòng tiền từ HĐKD của các công
ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM hay không?
Câu hỏi 5: Các tỷ suất dòng tiền có khả năng dự báo đáng kể dòng tiền từ HĐKD của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM hay không?
Câu hỏi 6: Mô hình nào trong số các mô hình trên có khả năng dự báo tốt nhất dòng tiền từ HĐKD của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM?
1.4 Giả thuyết khoa học
Để trả lời câu hỏi nghiên cứu trên, những giả thuyết khoa học sau đây được Luận án xây dựng và kiểm định:
Giả thuyết 1: Lợi nhuận kế toán trong quá khứ có khả năng dự báo đáng kể
dòng tiền từ HĐKD của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM
Giả thuyết 2: Dòng tiền từ HĐKD trong quá khứ có khả năng dự báo đáng
kể dòng tiền từ HĐKD trong tương lai của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM
Giả thuyết 3: Dòng tiền từ HĐKD kết hợp với các thành phần thông tin kế
toán dồn tích gộp chung có khả năng dự báo đáng kể dòng tiền từ HĐKD của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM
Giả thuyết 4: Dòng tiền từ HĐKD kết hợp với các thành phần thông tin kế
toán dồn tích cụ thể (chi phí khấu hao TSCĐ, chênh lệch tăng/giảm trong các khoản phải thu, hàng tồn kho, các khoản chi phí trả trước, các khoản phải trả) có khả năng
Trang 5dự báo đáng kể dòng tiền từ HĐKD của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM
Giả thuyết 5: Các tỷ suất dòng tiền có khả năng dự báo đáng kể dòng tiền từ
HĐKD của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM
Giả thuyết 6: Mô hình kết hợp dòng tiền từ HĐKD và các thành phần thông
tin kế toán dồn tích cụ thể (chi phí khấu hao TSCĐ, chênh lệch tăng/giảm trong các khoản phải thu, hàng tồn kho, các chi phí trả trước, khoản phải trả) là mô hình có khả năng dự báo tốt nhất dòng tiền từ HĐKD của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án:
Luận án này nghiên cứu khả năng của các thông tin kế toán trongquá khứ trong việc dự báo dòng tiền từ HĐKD trong tương lai. Thông tin kế toán được nghiên cứu bao gồm: (1) lợi nhuận từ HĐKD trong quá khứ; (2) dòng tiền từ HĐKD trong quá khứ; (3) các thành phần thông tin kế toán dồn tích gộp chung (phần chênh lệch giữa lợi nhuận từ HĐKD và dòng tiền từ HĐKD), (4) các thành phần thông tin kế toán dồn tích cụ thể: chi phí khấu hao TSCĐ, sự thay đổi tăng/giảm trong các khoản phải thu, hàng tồn kho, chi phí trả trước và các khoản phải trả; (5) tỷ suất tài chính về dòng tiền
Phạm vi nghiên cứu
Thứ nhất, về nội dung: Luận án xem xét khả năng của các thông tin kế toán tài chính được cung cấp trên các Báo cáo tài chính của công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM (lợi nhuận từ HĐKD, dòng tiền từ HĐKD, các thành phần thông tin kế toán dồn tích gộp chung hay cụ thể như: chi phí khấu hao TSCĐ, chênh lệch tăng/giảm trong các khoản phải thu, hàng tồn kho, chi phí trả trước và các khoản phải trả) và tỷ suất tài chính về dòng tiềnđể dự báo dòng tiền từ HĐKD của các công ty đó.Luận án không tính đến các thông tin như thời gian hoạt động, thời gian niêm yết, quy mô lao động v.v.v của công ty đó
Trang 6Thứ hai, về không gian: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu các công ty phi
tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM (HOSE) Các công ty tài chính (ngân hàng, tổ chức tín dụng, các công ty bảo hiểm, ) do có những đặc thù trong HĐKD tương đối khác các công ty phi tài chính nên sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án
Thứ ba, về thời gian nghiên cứu: Theo số liệu được Công ty Truyền
thông Tài chính Stoxplus tổng hợp, ngày 20/7/2000 thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức ra đời và ngày 28/7/2000 tổ chức phiên giao dịch đầu tiên chỉ với
02 mã cổ phiếu là REE (Công ty cổ phần cơ điện lạnh) và SAM (Công ty cổ phần đầu tư và phát triển SACOM) Số lượng các công ty niêm yết ngày càng tăng thêm qua các năm, tính đến cuối năm 2014, trên SGDCK TP.HCM có 284 Công ty niêm yết trong đó có 90 công ty ngành tài chính và 194 công ty phi tài chính trong đó tác giả nhận thấy bắt đầu từ năm 2009 đến năm 2014, số lượng các công ty niêm yết khá ổn định, việc thay đổi sàn, rời sàn hay ngừng niêm yết không đáng kể Trong số 194 công ty phi tài chính, Luận án đã loại bỏ các công ty không đủ dữ liệu về dòng tiền từ HĐKDtrong suốt thời kỳ nghiên cứu và các công ty có giá trị dòng tiền thuần từ HĐKD bất thường Từ cách làm trên, Luận án có được một bảng dữ liệu gồm 142 công ty niêm yếttrong 6 năm (từ năm 2009 đến năm 2014),
có cùng thời điểm kết thúc năm tài chính vào ngày 31/12 hàng năm, tạo thành bảng 852 quan sát (852 observations) để nghiên cứu
1.6 Khung nghiên cứu
Để thực hiện các nội dung nghiên cứu của đề tài luận án, khung nghiên cứu của Luận án được thể hiện qua Sơ đồ 1.1 dưới đây:
Trang 7Sơ đồ 1.1: Khung nghiên cứu của luận án
(Nguồn: Tác giả xây dựng)
Trên cơ sở lí luận về kế toán theo cơ sở dồn tích và kế toán theo cơ sở tiền, kết hợp với tổng quan các công trình nghiên cứu có cùng chủ đề về dự báo dòng tiền từ
Lợi nhuận quá khứ
Dòng tiền từ HĐKD và các thông tin
kế toán dồn tích cụ thể
Các tỷ suất dòng
từ HĐKD quá khứ
Dòng tiền từ HĐKD và các thông tin
kế toán dồn tích gộp chung
DÒNG TIỀN TỪ HĐKD TRONG TƯƠNG LAI
(1)
(4)
(3)
Thảo luận kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị và kết luận
Khung lí thuyết, tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Khoảng trống nghiên cứu về dự báo dòng tiền từ HĐKD của các công ty phi tài chính
Giả thuyết nghiên cứu
Các mô hình kiểm định giả thuyết
nghiên cứu
Trang 8HĐKD, Luận án đã chỉ ra các khoảng trống nghiên cứu và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu, từ đó xây dựng mô hình dự báo dòng tiền Mô hình dự báo dòng tiền được xây dựng gồm các mô hình: mô hình lợi nhuận, mô hình dòng tiền quá khứ, mô hình dòng tiền quá khứ kết hợp với các thông tin kế toán dồn tích gộp chung, mô hình dòng tiền quá khứ kết hợp với các thông tin kế toán dồn tích cụ thể, mô hình tỷ suất dòng tiền Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS), hồi quy nhân tố ảnh hưởng cố định (FEM) và hồi quy nhân tố ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) và hồi quy từng bước Dựa trên kết quả thu thập được sau khi xử lý dữ liệu, Luận án tiến hành thảo luận kết quả và đưa ra các khuyến nghị, đề xuất cho các đối tượng như: nhà quản trị doanh nghiệp, nhà đầu
tư và cơ quan Nhà Nước về khả năng sử dụng các thông tin kế toán trên Báo cáo tài chính cho công tác dự báo dòng tiền nhằm giúp các đối tượng đưa ra các quyết định kinh doanh, đầu tư cũng như ban hành chính sách hợp lý
1.7 Kết cấu Luận án
Luận án gồm có 5 Chương:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Trong Chương 1, Luận án trước hết trình bày lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
và xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu Các mục tiêu nghiên cứu được cụ thể hóa bằng các câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu Bên cạnh đó, Luận án trình bày khái quát mô hình nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu dự kiến sẽ đạt được
Chương 2: Cơ sở lí luận và tổng quan nghiên cứu về dòng tiền và dự báo dòng tiền trong các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Trong Chương 2, Luận án trình bày các vấn đề lý luận về dòng tiền và dự báo dòng tiền trong các công ty niêm yết trên TTCK và tổng quan các công trình nghiên cứu dự báo dòng tiền Trên cơ sở lý luận và các công trình nghiên cứu đã thực hiện về
dự báo dòng tiền, Luận án chỉ ra khoảng trống trong các nghiên cứu đã thực hiện
Chương 3: Xây dựng giả thuyết khoa học và phương pháp nghiên cứu
Kế thừa cơ sở lí thuyết và tổng quan tài liệu ở Chương 2, Chương 3 Luận án
Trang 9trình bày cơ sở xây dựng các giả thuyết khoa học và phương pháp nghiên cứu dự báo dòng tiền từ HĐKD là phương pháp định lượng, sử dụng kĩ thuật hồi quy OLS, REM, FEM và hồi quy từng bước theo 5 mô hình: mô hình lợi nhuận, mô hình dòng tiền, mô hình các thành phần dồn tích gộp chung, mô hình các thành phần dồn tích
cụ thể và mô hình tỷ suất dòng tiền
Chương 4: Kết quả thực nghiệm về dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Phần đầu Chương 4, Luận án trình bày khái quát về TTCK Việt Nam, đặc điểm các công ty và công tác dự báo dòng tiền từ HĐKD cho các công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam Phần tiếp theo trong Chương 4, Luận án trình bày sơ lược số liệu thống kê mô tả và phân tích tương quan cho các biến trong mô hình dự báo Phần cuối của Chương 4, Luận án trình bày cụ thể kết quả hồi quy 5
mô hình dự báo đã xây dựng ở Chương 3 bằng hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường, hồi quy nhân tố ảnh hưởng cố định, hồi quy nhân tố ảnh hưởng ngẫu nhiên (OLS, FEM, REM) và hồi quy từng bước
Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị và kết luận
Từ kết quả hồi quy các mô hình dự báo dòng tiền ở Chương 4, trong Chương
5 Luận án sẽ tiến hành thực hiện kiểm định và dựa vào giá trị của hệ số xác địnhhiệu chỉnh (Adjusted R2) của các mô hình để chọn một mô hình phù hợp để thảo luận kết quả trong số các mô hình OLS, REM, FEM Câu trả lời cho các giả thuyết nghiên cứu về khả năng dự báo dòng tiền của các nhân tố sẽ được trình bày ở Chương 5 Phần cuối của Chương 5, Luận án nêu ra các đề xuất, khuyến nghị cho các Cơ quan quản lý Nhà Nước, nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà đầu tư
Trang 10CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DÒNG TIỀN VÀ DỰ BÁO DÒNG TIỀN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM
YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
2.1 Cơ sở lí luận về dòng tiền và dự báo dòng tiềntrong các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
2.1.1 Đặc điểm thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích và kế toán theo cơ sở tiền
Đặc điểm thông tin kế toán phụ thuộc rất nhiều vào cách ứng xử của kế toán đối với các nghiệp vụ kinh tế Nghiệp vụ kinh tế phát sinh được ghi nhận trên sổ kế toán dựa trên cơ sở số tiền thực tế doanh nghiệp đã thu vào hay chi ra được gọi là kế toán theo cơ sở tiền, dựa trên cơ sở bản chất của nghiệp vụ kinh tế, không phụ thuộc vào số tiền doanh nghiệp thu hay chi được gọi là kế toán theo cơ sở dồn tích Mỗi
cơ sở ghi nhận của kế toán đều có đặc điểm riêng Để phục vụ công tác dự báo dòng tiền từ HĐKD tương lai, cần tính đến vai trò của cả thông tin kế toán theo cơ sở tiền
và thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích
Kế toán theo cơ sở dồn tích
Theo kế toán dồn tích, các giao dịch phát sinh doanh thu, chi phí được ghi nhận tại thời điểm giao dịch đó phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thu, chi tiền (Bernard, V., & Stober, T., 1989; Chambers, R.J, 1996) [53], [57] Các khoản chi phí được ghi nhận trong kỳ phù hợp với doanh thu được tạo ra trong kỳ đó Báo cáo tài chính theo cơ sở dồn tích không những cung cấp thông tin về các hoạt động kinh
tế đã xảy ra trong quá khứ mà còn cung cấp các thông tin về nghĩa vụ phải trả tiền hay quyền được thu tiền trong tương lai Kế toán theo cơ sở dồn tích được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng Tại các nước Châu Âu, kể từ năm 1978 chuyển hướng từ áp dụng kế toán theo cơ sở tiền sang áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích (Fourth EU Accounting Directive, 1978) [81] Tại Hoa Kỳ, các doanh nghiệp bắt buộc phải áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích khi lập Báo cáo tài chính, phải cung
Trang 11cấp các thông tin về khả năng tạo tiền của doanh nghiệp chứ không chỉ cung cấp các thông tin về các khoản đã thực thu, thực chi (FASB, 1978) [77]
Những đặc điểm thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích:
Thứ nhất, lợi nhuận mỗi kỳ kế toán được xác định trên cơ sở doanh thu và
chi phí của kỳ đó
Lợi nhuận bao gồm số tiền doanh nghiệp đã tạo ra trong kỳ (số thực thu trừ
đi số thực chi) cùng với những khoản doanh nghiệp sẽ được thu, sẽ phải chi trả trong tương lai (doanh thu từ bán chịu, chi phí trích trước, chi phí phải trả, chi phí khấu hao tài sản cố định, …) Vì vậy, lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm hai thành phần: thành phần tiền tệ có thực và thành phần phi tiền tệ Các thành phần phi tiền tệ này còn được gọi là các thành phần thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích có
trong lợi nhuận Mối quan hệ giữa lợi nhuận trong kỳ và các thành phần thông tin
kế toán theo cơ sở dồn tích được thể hiện qua phương trình dưới đây:
Lợi nhuận = Dòng tiền thuần + Các thành phần dồn tích có trong lợi nhuận(2.1)
(Nguồn: Cheng và Hollie, 2008; Dechow, 1994; Dechow và Dichev, 2002;
Dechow và cộng sự, 2008) [60], [65], [66], [68]
Thứ hai, thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích chịu ảnh hưởng bởi các ước tính và đánh giá chủ quan Các ước tính theo cơ sở dồn tích thể hiện khi lựa chọn phương pháp tính khấu hao tài sản cố định, phương pháp tính giá hàng tồn kho … Theo Graham và cộng sự (2005) [92], khi doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp ghi sổ thì chất lượng thông tin lợi nhuận công bố có thể ảnh hưởng, thông tin lợi nhuận có thể bị bóp méo và dễ bị khai khống Điều này thường xảy ra trước mỗi đợt phát hành cổ phiếu (Erickson và Wang, 1999; Teoh, Wong và Rao, 1998) [75] , [130] hay mỗi khi doanh nghiệp bắt đầu ký kết hợp đồng vay nợ (DeFond và Jiambalvo, 1998; Watts và Zimmerman, 1986) [69, [132]
Thứ ba, kế toán theo cơ sở dồn tích cung cấp thông tin hữu ích và toàn diện (Bierman, H., 1988/1992) [49], [50] Kế toán dồn tích không những cung cấp thông tin về các nghiệp vụ đã thu, chi mà còn cung cấp thông tin về các nghiệp vụ sẽ được
Trang 12thu, sẽ phải chi nên giúp các đối tượng sử dụng thông tin đánh giá bao quát về tình hình tài chính của doanh nghiệp cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai
Kế toán theo cơ sở tiền
Kế toán theo cơ sở tiền ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế dựa trên số tiền doanh nghiệp đã thực thu hoặc đã thực chi Theo cơ sở này, doanh thu được ghi nhận khi công ty đã thu được tiền, chi phí được ghi nhận khi công ty đã chi tiền và lợi nhuận trong kì là chênh lệch giữa số tiền đã thu và số tiền đã chi trong kì đó Trong các Chuẩn mực Kế toán và các chính sách kế toán, khi thực hiện kế toán theo cơ sở tiền mặt không có nhiều quy định về các vấn đề như phương pháp khấu hao tài sản cố định, phương pháp ghi nhận doanh thu so với kế toán theo cơ sở dồn tích (Elliott và Elliott, 2007) [73]
Những đặc điểm thông tin kế toán theo cơ sở tiền: thông tin kế toán thiếu phù hợp,không thể hiện chính xác thời điểm phát sinh các nghiệp vụ: Kế toán theo
cơ sở tiền ghi nhận thông tin tại thời điểm doanh nghiệp nhận tiền và chi tiền mà không quan tâm tới xuất xứ nghiệp vụ thu tiền hay chi tiền (thời điểm doanh nghiệp bán được hàng, thời điểm phát sinh nghĩa vụ nợ phải trả) Ngoài ra, thông tin kế toán theo cơ sở tiền dễ làm cho người sử dụng báo cáo tài chính đánh giá sai về kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp do có sự mất cân xứng về thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí
So sánh đặc điểm thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích và theo cơ sở tiền
Thứ nhất, thông tin kế toán theo cơ sở tiền mặt khách quan, dễ hiểu hơn thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích
Elliott và Elliott (2007) [73] cho rằng thông tin kế toán theo cơ sở tiền mặt đáng tin cậy hơn thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích do kế toán theo cơ sở tiền mặt chỉ ghi nhận những thông tin về dòng tiền thực tế của doanh nghiệp mà không
dự tính trước khả năng phát sinh dòng tiền của doanh nghiệp trong tương lai Murdoch và cộng sự (1989) [115] nhận định rằng: các chuyên gia kế toán ưa chuộng kế toán theo cơ sở dồn tích còn các nhà đầu tư ưa chuộng kế toán theo cơ sở tiền Theo Athukorala và Reid (2003); Elliot và Elliot (2007) [34], [73], thông tin kế
Trang 13toán theo cơ sở tiền mặt khách quan hơn thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích bởi vì
kế toán theo cơ sở tiền mặt ít bị ảnh hưởng bởi sự toan tính của doanh nghiệp trong việc xác định giá trị ghi sổ của tài sản, công nợ trên báo cáo tài chính Tính khách quan của thông tin về dòng tiền rất có ích khi thực hiện so sánh hoạt động kinh doanh của các công ty vì nó không bị ảnh hưởng bởi việc các công ty sử dụng các chính sách kế toán khác nhau (Chotkunakitti, 2005; IASB, 2001) [61],[98]
Thứ hai, thông tin kế toán theo cơ sở tiền kém toàn diện hơn kế toán theo cơ
sở dồn tích
Do kế toán theo cơ sở tiền chỉ phản ánh các nghiệp vụ đã thu tiền và đã chi tiền mà không phản ánh được các nghiệp vụ sẽ được thu tiền (do khách hàng chấp nhận trả trong tương lai) hay sẽ phải chi tiền (do doanh nghiệp được trả nợ sau khi mua hàng) nên thông tin kế toán trở nên kém toàn diện Ngoài ra, thông tin kế toán theo cơ sở tiền không thể hiện được mối quan hệ của các nghiệp vụ kinh tế ở các kì
kế toán với nhau bởi vì nhiều nghiệp vụ chi tiền và thu tiền tuy phát sinh ở kì này nhưng xuất phát từ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở kì trước Vì thế, thông tin kế toán theo cơ sở tiền không mang tính dự báo cho các kì sau (FASB, 1978) [77]
Bên cạnh đó, việc kế toán theo cơ sở tiền không ghi nhận tăng giá trị tài sản nếu chưa chi tiền và như vậy không bao giờ ghi nhận nợ phải trả nên sẽ không giúp ích trong việc quản lí tài sản, có kế hoạch bảo dưỡng tài sản, xác định các tài sản thừa, kiểm soát rủi ro nếu xảy ra thất thoát tài sản (Athukorala và Reid, 2003) [32] Đồng thời, so với kế toán theo cơ sở tiền thì kế toán theo cơ sở dồn tích còn cung cấp thông tin giúp cho người đọc báo cáo tài chính nhận thấy các khoản doanh nghiệp sẽ thu được và còn phải thanh toán, sắp phải thanh toán (Athukorana và Reid, 2003) [32] giúp đánh giá chính xác hơn về giá trị dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp và khả năng thanh toán trong tương lai của doanh nghiệp
Tóm lại, kế toán theo cơ sở tiền và kế toán theo cơ sở dồn tích đều có những
đặc điểm riêng nhưng trong thực tế, kế toán theo cơ sở dồn tích được khuyến khích
áp dụng và được áp dụng rộng rãi hơn kế toán theo cơ sở tiền Thông tin về dòng tiền khi kế toán theo cơ sở tiền là thông tin bổ sung mà không thể thay thế cho
Trang 14thông tin lợi nhuận khi kế toán theo cơ sở dồn tích (IASB, 2001) [98] Thông tin về dòng tiền là thông tin khách quan còn thông tin về lợi nhuận là thông tin hữu ích và
toàn diện Do vậy, nếu kết hợp thông tin dòng tiền và thông tin lợi nhuận rất có thể
sẽ hữu ích trong công tác dự báo dòng tiền tương lai tại các doanh nghiệp
2.1.2 Mối quan hệ dòng tiền với tình hình tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Dòng tiền trong doanh nghiệp được ví như dòng máu trong cơ thể con người Mối quan hệ giữa dòng tiền với tình hình tài chính của doanh nghiệp được thể hiện
ở các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, dòng tiền là nhân tố quyết định khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp được biểu hiện bằng số tiền doanh nghiệp có Một công ty có khả năng thanh toán là một công ty có đủ tiền để trả nợ
và ngược lại Theo quan điểm của người cho vay, tiền chính là đối tượng để thực hiện cho vay và đối tượng để trả khoản vay Theo kết quả khảo sát 266 nhân viên tín dụng làm việc ở các công ty chuyên cung cấp dịch vụ cho vay ở Mỹ, Fulmer, Gavin và Bertin (1991) [84]nhận xét rằng 90% nhân viên tín dụng yêu cầu trong hồ
sơ vay vốn phải có báo cáo dòng tiền hiện tại của doanh nghiệp, 80% nhân viên tín dụng yêu cầu phải có kế hoạch dòng tiền tương lai của doanh nghiệp Fulmer, Gavin và Bertin (1991) cho biết: những doanh nghiệp nhận được khoản vay là những doanh nghiệp có dòng tiền ổn định qua các năm, có lãi ổn định, đáp ứng được một số tỷ suất tài chính theo yêu cầu cung cấp tín dụng và các yếu tố khách quan khác như quy mô doanh nghiệp, uy tín doanh nghiệp, quan hệ giữa doanh nghiệp với công ty tín dụng, định hướng ngành nghề, chỉ số tín dụng …
Thứ hai, dòng tiền có quan hệ mật thiết với chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp. Thông thường, mức chi trả cổ tức của doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng chi trả cổ tức nghĩa là doanh nghiệp phải có lãi và doanh nghiệp phải có tiền (Charitou, A and Vafeas, N,1998) [58] Tại Việt Nam, Bộ Tài chính (2014)[4] quy định tại Thông tư 200/2014/TT-BTCtất cả các doanh nghiệp, khi phân phối lợi
Trang 15nhuận cần cân nhắc đến các khoản mục phi tiền tệ nằm trong lợi nhuận sau thuế chưa phân phối có thể ảnh hưởng đến luồng tiền và khả năng chi trả cổ tức, lợi nhuận của doanh nghiệp Simons (1994) [127] thì cho rằng các doanh nghiệp đang trong giai đoạn khó khăn về tài chính hay đang trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, lượng tiền đang rất khan hiếm thì mức chi cổ tức sẽ bị giảm đi hoặc không có Do vậy, các cổ đông phải quan tâm tới giá trị dòng tiền trong tương lai mà doanh nghiệp sử dụng để chi trả cổ tức
Thứ ba, tỷ suất dòng tiền là căn cứ đo lường kết quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp Giacomino & Mielke (1988/1993), Leonie Jooste (2006) [87],[88], [109] cho rằng các tỷ suất dòng tiền rất hữu ích trong việc so sánh kết quả HĐKD giữa các doanh nghiệp khác nhau, giữa các ngành nghề kinh doanh khác nhau và giữa các kỳ kế toán khác nhau của mỗi doanh nghiệp Các tác giảđã xây dựng các tỷ suất tài chính (tỷ suất phản ánh mức độ đáp ứng tiền để trả cổ tức, mức đáp ứng tiền
để trả các khoản vay, mức đáp ứng tiền cho các hoạt động chính, tỷ suất dòng tiền trên doanh thu, dòng tiền trên lợi nhuận, dòng tiền trên tài sản, chi phí khấu hao TSCĐ trên dòng tiền) để đánh giá hoạt động tài chính của các công ty ở Hoa Kỳ và Nam Phi và khẳng định các tỷ suất dòng tiền sẽ cung cấp thêm thông tin cho các nhà đầu tư về chất lượng lợi nhuận của doanh nghiệp, đánh giá tình hình quản trị tài chính tại doanh nghiệp
Thứ tư, thông tin dòng tiền có tác dụng trong dự báo phá sản doanh nghiệp
Beaver (1966) [45] là người đầu tiên tiến hành dự báo khả năng phá sản của doanh nghiệp thông qua các thông tin kế toán do doanh nghiệp cung cấp Beaver (1966) đã sử dụng 33 tỷ suất tài chính và chia thành 6 nhóm Các doanh nghiệp phá sản và các doanh nghiệp không phá sản đều được tính các tỷ suất này và Beaver (1966) đã so sánh các tỷ suất này ở các doanh nghiệp phá sản với doanh nghiệp không phá sản 5 năm trước khi xảy ra phá sản Một trong các tỷ suất tài chính quan trọng được khẳng định có khả năng dự báo phá sản tốt là tỷ suất dòng tiền trên tổng tài sản Tỷ suất này có khả năng dự báo sự phá sản chính xác tới 87% nếu dự báo trước 1 năm, và có độ chính xác tới 79%, 77%, 76% và 68% tương ứng nếu thời
Trang 16gian dự báo trước 2, 3, 4, 5 năm Ngoài ra, Beaver (1966) [45] cho rằng: tỷ suất dòng tiền từ HĐKD/ tổng nợ phải trả (dòng tiền từ HĐKD được tính bằng cách lấy lợi nhuận cộng với khấu hao tài sản cố định hữu hình, khấu hao tài sản cố định vô hình) là tỷ suất có sai số dự báo nhỏ nhất, đáng tin cậy hơn so với các tỷ suất được tính dựa trên các thành phần dồn tích của lợi nhuận khi sử dụng để đánh giá khả năng phá sản của doanh nghiệp Sau Beaver (1966), Altman (1968, 1977), Chen, C (1983) [45],[29],[30],[59] cũng nghiên cứu dự báo khả năng phá sản của doanh nghiệp dựa trên các tỷ suất tài chính Kết quả cả hai công trình của Altman (1968, 1977) [29], [30] đều cho rằng tỷ suất khả năng thanh toán nhanh (được tính bằng tiền và các khoản tương đương tiền trên tổng nợ phải trả ngắn hạn) là nhân tố hữu hiệu báo hiệu khả năng phá sản của doanh nghiệp
2.1.3 Phương pháp đo lường giá trị dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Đo lường giá trị dòng tiền từ HĐKD trước khi ban hành Chuẩn mực Kế toán Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Trước khi Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế ban hành chuẩn mực báo cáo lưu chuyển tiền tệ, dòng tiền nói chung và dòng tiền từ HĐKD nói riêng đã được đo lường theo quan điểm chủ quan của các nhà nghiên cứu, điển hình là các tác giả:
Largay & Stickney (1980 ), Gombola, M.J & Ketz, J.E (1983a/1987), Greenberg,
Johnson, Ramesh (1986) , Quirin & các cộng sự (1999) [107],[89],[90], [93], [123]
Các tác giả Largay & Stickney (1980) [107]là những người tiên phong đưa ra
phương pháp ước tính dòng tiền: Dòng tiền từ HĐKD được tính bằng: giá trị vốn
lưu động từ HĐKD (working capital) điều chỉnh (cộng hoặc trừ) cho sự thay đổi của các khoản mục: nợ phải thu, hàng tồn kho, phải trả người bán, chi phí phải trả
Vốn lưu động từ HĐKD (working capital) được tính bằng lợi nhuận thuần điều chỉnh cộng (+) hoặc trừ (-) lỗ/lãi của các hoạt động không phải HĐKD và các khoản mục phi tiền tệ có trong lợi nhuận Các khoản được cộng (+) khi: Nợ phải trả cuối kỳ tăng so với đầu kỳ; Hàng tồn kho cuối kỳ giảm so với đầu kỳ; Khoản phải thu cuối kỳ giảm so với đầu kỳ; Các khoản chi phí trả trước cuối kỳ giảm so với đầu
Trang 17kỳ Tương tự, các khoản được trừ (-) khi: Nợ phải trả cuối kỳ giảm so với đầu kỳ; Hàng tồn kho cuối kỳ tăng so với đầu kỳ; Các khoản phải thu cuối kỳ tăng so với đầu kỳ; Các khoản chi phí trả trước cuối kỳ tăng so với đầu kỳ Phương pháp ước
tính này giống như phương pháp tính giá trị lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD theo phương pháp gián tiếp tại Việt Nam hiện nay
Các tác giả Gombola, M.J and Ketz, J.E (1983a) [89] kế thừa nghiên cứu của
Largay & Stickney (1980) [107]nhưng đề cập chi tiết hơn về các khoản mục được cộng (+) vào lợi nhuận để xác định vốn lưu động bao gồm: phân bổ số tiền chiết khấu (thâm hụt) khi phát hành trái phiếu; phân bổ khoản tiền lãi khi mua trái phiếu đầu tư; chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại phải trả và các khoản được trừ (-) bao gồm: phân bổ khoản phụ trội khi phát hành trái phiếu; phân bổ khoản tiền lỗ
do mua trái phiếu đầu tư; mức giảm về chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại phải trả
Đồng quan điểm với Gombola, M.J and Ketz, J.E (1983a), Greenberg,
Johnson, Ramesh (1986)[93] cũng ước tính giá trị dòng tiền gián tiếp thông qua lợi
nhuận và vốn lưu động của HĐKD Tuy nhiên, các khoản mục được điều chỉnh có khác biệt nhỏ: Greenberg & cộng sự (1986) [93] đề cập đến thành phần nợ dài hạn đến hạn trả và không đề cập cụ thể sự thay đổi của các khoản mục tài sản ngắn hạn (hàng tồn kho, phải thu khách hàng, chi phí trả trước) như hai nghiên cứu kể trên
mà gộp chung lại Đồng thời Greenberg & cộng sự (1986) [93] tính toán dòng tiền
từ lợi nhuận điều chỉnh cho các khoản mục phi tiền tệ có trong lợi nhuận tương đối khác nghiên cứu của Gombola, M.J and Ketz, J.E (1983a) [89] ở việc điều chỉnh lợi nhuận cho chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại và lợi nhuận của cổ đông
thiểu số
Bowen, Burstahler và Daley (1986) [47] đã giới thiệu công thức tính toán giá trị dòng tiền từ HĐKD theo 3 cách: (1) coi dòng tiền từ HĐKD chính là lợi nhuận từ HĐKD cộng với khấu hao (công thức 2.2), (2) coi dòng tiền từ HĐKD chính là vốn lưu động từ HĐKD (công thức 2.3), (3) dòng tiền từ HĐKD được tính
do điều chỉnh vốn lưu động từ HĐKD đối với một số khoản mục (công thức 2.4)
Trang 18CFO = NIDPR = NIBEI + DPR (2.2)
CFO = WCFO = NIDPR + điều chỉnh cho một số khoản mục có ảnh hưởng tới lợi
nhuận nhưng không ảnh hưởng đến giá trị vốn lưu động (2.3)
CFO = WCFO – ∆ REC - ∆ INV - ∆ OCA + ∆ AP + ∆ TP + ∆ OCL (2.4)
(Nguồn: Bowen, Burstahler và Daley, 1986) [47]
Trong đó:
CFO: Dòng tiền từ HĐKD
NIDPR: Lợi nhuận HĐKD cộng khấu hao
NIBEI: Lợi nhuận HĐKD trước các khoản mục bất thường và hoạt động không liên tục
DPR: Chi phí khấu hao tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình
∆ REC: Sự thay đổi trong khoản mục phải thu khách hàng
∆ INV: Sự thay đổi trong khoản mục hàng tồn kho
∆ OCA: Sự thay đổi trong các khoản mục tài sản ngắn hạn khác
∆ AP: Sự thay đổi trong các khoản mục phải trả người bán
∆ TP: Sự thay đổi trong các khoản mục thuế phải trả
∆ OCL: Sự thay đổi trong các khoản mục phải trả ngắn hạn khác
Tóm lại, trước khi Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Hoa Kỳ và Hội đồng Chuẩn mực Kế toán quốc tế ban hành Chuẩn mực Kế toán về Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, các nghiên cứu đã đo lường dòng tiền bằng nhiều cách khác nhau, không có
sự thống nhất Nghiên cứu của Seng (2006) [126] còn chứng minh rằng: quan hệ giữa các thước đo lường dòng tiền cũ (theo các ước tính ở trên vừa đề cập) và phương thức đo lường mới (theo Chuẩn mực kế toán quốc tế hiện nay) rất thấp, việc
sử dụng giá trị dòng tiền được tính theo thước đo cũ không thể đại diện cho dòng tiền thực tế được tính theo quy định của Chuẩn mực kế toán quốc tế hiện hành Điều này cũng lý giải vì sao kết quả nghiên cứu dự báo dòng tiền có sự khác nhau giữa các nghiên cứu thực hiện trước và sau khi ban hành Chuẩn mực Kế toán quốc tế
Vì vậy, để cho kết quả nghiên cứu được thống nhất, các nghiên cứu nên sử
dụng giá trị dòng tiền lấy trực tiếp từ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập theo
Trang 19Chuẩn mực kế toán quốc tế
Đo lường dòng tiền từ HĐKD theo Chuẩn mực Kế toán
Cho tới nay, Hội đồng Chuẩn mực Kế toán quốc tế và Hội đồng Chuẩn mực
Kế toán quốc gia đã ban hành Chuẩn mực Kế toán “Báo cáo lưu chuyển tiền tệ” Phương pháp xác định giá trị dòng tiền được trình bày trên Báo cáo lưu chuyển tiền
tệ cụ thể như sau:
Theo Chuẩn mực Kế toán quốc tế về Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (IAS 7), dòng tiền từ HĐKD bao gồm: Tiền thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ; tiền thu từ bản quyền, hoa hồng được hưởng và các khoản doanh thu khác; tiền chi cho nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ; tiền chi trả cho người lao động và trả thay các khoản cho người lao động; tiền nộp cho các cơ quan bảo hiểm và thu tiền bồi thường, tiền lãi được hưởng từ bảo hiểm; tiền nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và tiền thuế thu nhập doanh nghiệp được hoàn (nếu những khoản này không được xếp vào hoạt động tài chính hay hoạt động đầu tư); các khoản thu và chi cho các hoạt động mua bán thương mại Điều đáng lưu ý ở phương pháp trình bày các khoản lãi tiền vay và
cổ tức được nhận hoặc đã trả theo quy định tại IAS 7 có điểm khác biệt so với các Chuẩn mực quốc gia khác như Hoa Kỳ hay Việt Nam Theo IAS 7, các khoản lãi tiền vay và cổ tức được nhận hoặc đã trả được phân loại vào dòng tiền của HĐKD hoặc hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính nhưng phải nhất quán: đối với các tổ chức tài chính thì khoản thu về lãi cho vay và cổ tức và khoản chi trả lãi vay được tính vào dòng tiền HĐKD; đối với các doanh nghiệp phi tài chính thì có thể lựa chọn cách báo cáo dòng tiền: các khoản chi tiền lãi và cổ tức có thể báo cáo ở dòng tiền từ HĐKD hoặc hoạt động tài chính còn các khoản thu tiền lãi vay và cổ tức có thể báo cáo ở dòng tiền hoạt động đầu tư hoặc HĐKD Ngoài ra, IAS 7 nhấn mạnh, tiền chi để xây dựng, mua sắm các tài sản nắm giữ nhằm mục đích cho thuê và để bán được đề cập tại đoạn 68A của IAS 16 “Nhà cửa, máy móc và thiết bị” được tính vào dòng tiền HĐKD và tiền thu từ cho thuê và thu từ bán các tài sản trên cũng được tính vào dòng tiền HĐKD Tương tự như vậy, đối với các tổ chức tín dụng thì tiền lãi thu được từ các khoản cho vay được tính vào HĐKD bởi đây là nguồn tạo ra doanh thu chủ yếu của các tổ chức tín dụng Đặc biệt, trong một nghiệp vụ có thể
Trang 20liên quan đến dòng tiền của cả hoạt động kinh doanh và dòng tiền của hoạt động tài chính: khoản trả gốc vay được tính vào tiền chi cho hoạt động tài chính và khoản trả lãi vay được tính vào HĐKD
Tại Hoa Kỳ, Hội đồng Chuẩn mực Kế toán tài chính Hoa Kỳ (FASB) quy
định về trình bày các khoản lãi vay được nhận, cổ tức được nhận và lãi vay đã chi trả vào dòng tiền hoạt động kinh doanh Như vậy, so với quy định tại Chuẩn mực
Kế toán quốc tế, Chuẩn mực Kế toán Hoa Kỳ có sự khác biệt: khoản lãi vay và cổ tức nhận được theo IAS 7 có thể trình bày là dòng tiền của HĐKD hoặc đầu tư; lãi vay đã chi trả theo IAS 7 có thể trình bày là dòng tiền của HĐKD hoặc hoạt động
tài chính
Tại Việt Nam,Chuẩn mực Kế toán Việt nam số 24 (VAS 24) về Báo cáo lưu
chuyển tiền tệ[1] quy định: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một bộ phận hợp thành của Báo cáo tài chính, cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động.Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp thông tin về giá trị tiền và các khoản tương đương tiền trong đó tiền bao gồm tiền tại quỹ, tiền đang chuyển và các khoản tiền gửi không kỳ hạn còn tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn (không quá 3 tháng), có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định
và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền Theo quy định của VAS 24
“Báo cáo lưu chuyển tiền tệ”, luồng tiền phát sinh từ HĐKD là luồng tiền có liên quan đến các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp Luồng tiền phát sinh từ HĐKD cung cấp thông tin cơ bản để đánh giá khả năng tạo tiền của doanh nghiệp từ các HĐKD để trang trải các khoản nợ, duy trì các hoạt động, trả cổ tức và tiến hành các hoạt động đầu tư mới mà không cần đến các nguồn tài chính bên ngoài Theo phương pháp trực tiếp: dòng tiền từ HĐKD được xác định trực tiếp từ các khoản thu và chi cho HĐKD gồm: tiền thu được từ việc bán hàng, cung cấp dịch vụ; tiền thu được từ doanh thu khác (tiền thu bản quyền, phí, hoa hồng và các khoản khác trừ các khoản tiền thu được được xác định là luồng tiền từ hoạt động
Trang 21đầu tư và hoạt động tài chính); tiền chi trả cho người cung cấp hàng hóa và dịch vụ; tiền chi trả cho người lao động về tiền lương, tiền thưởng, trả hộ người lao động về bảo hiểm, trợ cấp ; tiền chi trả lãi vay; tiền chi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp; tiền thu do được hoàn thuế; tiền thu do được bồi thường, được phạt do khách hàng
vi phạm hợp đồng kinh tế; tiền chi trả công ty bảo hiểm về phí bảo hiểm, tiền bồi thường và các khoản tiền khác theo hợp đồng bảo hiểm; tiền chi trả do bị phạt, bị bồi thường do doanh nghiệp vi phạm hợp đồng kinh tế Các luồng tiền liên quan đến mua, bán chứng khoán vì mục đích thương mại được phân loại là các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh Như vậy, so với quy định của Chuẩn mực Kế toán quốc tế IAS 7 và Chuẩn mực Kế toán tài chính Hoa Kỳ, Chuẩn mực Kế toán Việt Nam chỉ nhất quán ở phần trình bày khoản chi tiền lãi vay vào dòng tiền HĐKD Đối với khoản thu chi liên quan tới cổ tức, khoản thu tiền lãi cho vay được hưởng thì quy định trình bày dù có điểm khác biệt với Chuẩn mực Kế toán Hoa Kỳ nhưng vẫn thuộc phạm vi cho phép tại IAS 7, cụ thể: khoản chi lãi cổ tức được trình bày ở dòng tiền hoạt động tài chính, khoản thu lãi cho vay và thu lãi cổ tức được trình bày
ở dòng tiền từ hoạt động đầu tư
Tóm lại, giá trị dòng tiền thuần từ HĐKDđược xác định có sự khác nhau ở
các quốc gia Tuy nhiên, phương pháp đo lường dòng tiền theo quy định của Chuẩn mực Kế toán quốc tế là hợp lý và các nghiên cứu dự báo dòng tiền từ HĐKD nên sử dụng giá trị dòng tiền lấy trực tiếp từ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phù hợp theo quy định của Chuẩn mực kế toán quốc tế để có thể so sánh kết quả nghiên cứu trong các bối cảnh nghiên cứu khác nhau
2.1.4 Công tác dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Khái quát chung về công tác dự báo
Dự báo có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Progrosis”, “Pro” nghĩa là “trước” còn “grosis” nghĩa là “biết” hay tiên đoán, là hình thức phản ánh vượt trước về thời gian hiện thực khách quan, đó là kết quả nhận thức chủ quan của con người Tiên đoán gồm ba loại: tiên đoán không khoa học, tiên đoán kinh nghiệm, tiên đoán khoa
Trang 22học Trong thời kỳ lý thuyết tôn giáo không tưởng và triết học duy tâm chiếm vai trò
thống trị trong tư duy nhận thức thế giới, tiên đoán không khoa học chiếm đa số
Đây là các tiên đoán dựa trên các mối quan hệ qua lại có tính tưởng tượng, không hiện thực, được cấu trúc một cách giả tạo, mang nặng màu sắc thần bí tôn giáo, những phát hiện có tính chất bất chợt, thể hiện ở các câu tiên tri, lời bói toán, những ước lượng thiếu căn cứ, mang nặng tính kinh nghiệm và không có tính tích cực đối với toàn xã hội Giai cấp thống trị đã lợi dụng nó làm công cụ thống trị và mê hoặc người dân nghèo khổ Các tiên đoán kinh nghiệm hình thành qua kinh nghiệm thực
tế dựa vào mối quan hệ qua lại thường xuyên trong thực tế hoặc tưởng tượng mà không trên cơ sở phân tích cấu trúc lý thuyết, nghiên cứu quy luật hay đánh giá kinh nghiệm Loại tiên đoán này ít nhiều có cơ sở song lại không giải thích được sự vận động của đối tượng và đa số mới chỉ dừng lại ở mức độ định tính Đến cuối thế kỷ thứ 16, đầu thế kỷ thứ 17, khi các môn khoa học tự nhiên như toán học, vật lý, hóa
học và thiên văn học đã phát triển, các tiên đoán có tính khoa học đã dần dần xuất
hiện Đây là các tiên đoán dựa trên việc phân tích mối quan hệ qua lại giữa các đối tượng trong một hệ thống lý luận khoa học nhất định Tiên đoán khoa học là kết quả của sự kết hợp giữa những phân tích định tính và những phân tích định lượng các hiện tượng cần dự báo Các tiên đoán khoa học có độ tin cậy cao và vì vậy các tiên đoán khoa học đã trở thành cơ sở vững chắc cho việc thông qua các quyết định quản
lý khoa học và lúc này tiên đoán khoa học được gọi là dự báo
Như vậy, dự báo là sự tiên đoán có căn cứ khoa học, mang tính chất xác suất
về mức độ, nội dung, các mối quan hệ, trạng thái, xu hướng phát triển của đối tượng nghiên cứu hoặc về cách thức và thời hạn đạt được các mục tiêu nhất định đã đề ra trong tương lai.
Lúc đầu, các dự báo với độ chính xác cao thường được áp dụng trong vật lý
cổ điển, hóa học và đặt trong phạm vi không gian và thời gian rất khắt khe Khi kinh
tế, xã hội ngày càng phát triển, cùng với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự thay đổi về tâm lý và chuẩn mực đạo đức xã hội thì các hiện tượng cần phải dự báo rất phức tạp đòi hỏi dự báo phải vận dụng các phương pháp thống kê xác suất, do vậy dự báo không thể hoàn toàn chính xác mà chỉ đạt đến một độ tin cậy nào đó Cùng với sự
Trang 23phát triển của máy tính và nhiều phần mềm ứng dụng, dự báo ngày càng trở nên quan trọng và trở thành bộ phận không thể thiếu trong hầu hết các quyết định của mọi tổ chức Chaman L.Jain (2006) và David (2000) [56], [64] cho rằng: hiện nay nhiều tổ chức đang rất cần những chuyên viên biết kĩ thuật dự báo và nhu cầu tuyển dụng người làm dự báo đang có xu hướng gia tăng đáng kể, nhất là các đơn vị sản xuất kinh doanh
Dựa trên phương pháp dự báo có thể chia dự báo thành:dự báo có phương pháp chính thức và dự báo có phương pháp không chính thức. Các phương pháp không chính thức phần lớn dựa vào trực giác, cảm tính, phụ thuộc vào kinh nghiệm
và khả năng phán đoán của cá nhân Các phương pháp này chỉ được sử dụng khi không có đủ thời gian, dữ liệu và không được trang bị các phương pháp chính thức Nói chung, các phương pháp phán đoán cảm tính như thế thường không có độ tin
cậy cao Các phương pháp chính thức thường được sử dụng phổ biến vì có phương
pháp luận rõ ràng Các phương pháp chính thức được chia thành phương pháp dự báo định tính và dự báo định lượng (Wilson, J Holton & Barry Keating, 2007)[136] như sau:
Phương pháp định tính dựa vào kinh nghiệm và phán đoán của những chuyên viên, những người quản lí và những chuyên gia Phương pháp định tính thường sử dụng khi dữ liệu lịch sử không sẵn có hay có nhưng không đầy đủ, hoặc không đáng tin cậy hoặc những đối tượng dự báo bị ảnh hưởng bởi những nhân tố không thể lượng hóa được như sự thay đổi tiến bộ khoa học kỹ thuật Dự báo định tính được chia thành hai nhóm: các phương pháp thu thập thông tin dự báo từ các cá nhân liên quan đến đối tượng dự báo, các phương pháp dựa vào ý kiến của các nhóm chuyên gia am hiểu về lĩnh vực cần dự báo (Dayanada, 2002) [63]
Phương pháp định lượng dựa vào các mô hình toán và giả định rằng dữ liệu quá khứ cũng như các yếu tố liên quan khác có thể được kết hợp để đưa ra các dự đoán tin cậy cho tương lai Nói cách khác, dựa trên những dữ liệu trong quá khứ để phát hiện chiều hướng vận động của đối tượng phù hợp với một mô hình toán học nào đó và đồng thời sử dụng mô hình này làm mô hình ước lượng Trong phương
Trang 24pháp dự báo định lượng, mô hình nhân quả được sử dụng khá phổ biến Mô hình dự báo nhân quả dựa trên phân tích hồi quy Phương pháp luận của dự báo nhân quả được mô tả ở Sơ đồ 2.1 dưới đây
Sơ đồ 2.1: Phương pháp luận của dự báo nhân quả
(Nguồn: Ramanathan, 1998)[124]
Trong nghiên cứu dự báo dòng tiền từ HĐKD, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng là phù hợp bởi đối tượng nghiên cứu là dòng tiền từ HĐKD là thông tin đã được lượng hóa, kết quả nghiên cứu định lượng được, cụ thể được
Vai trò của công tác dự báo dòng tiền
Con người có thể dự báo mà không ra quyết định nhưng không thể ra quyết định mà không tiến hành dự báo (Beaver, 1966) [45]. Dự báo tốt có đóng góp đáng
Mục tiêu dự báo
Lý thuyết kinh tế, kinh nghiệm, các nghiên cứu khác
Thu thập dữ liệu
Thiết lập mô hình
Ước lượng mô hình
Kiểm định giả thuyết
Diễn giải kết quả Thiết lập lại mô hình
Trang 25kể đến nhiều quyết định hàng ngày của con người nói chung và các cơ quan quản lý Nhà nước và doanh nghiệp nói riêng (Block, B., 1999; Call, A., Chen, S., & Tong,
Y , 2009) [51], [54] Xét trong phạm vi doanh nghiệp, dự báo dòng tiền có những đóng góp quan trọng như sau:
Thứ nhất, dự báo về dòng tiền tương lai rất hữu ích trong định giá doanh nghiệp
Pae, J & Yoon, S.S (2012) [119] đã công bố kết quả của cuộc thăm dò đối với các chuyên gia tài chính và đã khẳng định dự báo dòng tiền rất quan trọng trong định giá doanh nghiệp Khi đánh giá HĐKD của một doanh nghiệp, việc sử dụng dữ liệu về dòng tiền ít bị sai lệch hơn số liệu về lợi nhuận thuần (Bernstein, 1993) [48] bởi khi tính toán dòng tiền, một số yếu tố gây ra sai lệch đã bị loại bỏ như khấu hao của tài sản cố định hữu hình hay vô hình và thuế thu nhập hoãn lại phải trả (Giacomino & Mielke, 1988) [87] Bên cạnh đó, một số tác giả (Boyd & Cortese – Danile 2000/2001; Kremer & Rizzuto, 2000) [46], [102] cho biết: khi tính toán lợi nhuận thuần theo cơ sở kế toán dồn tích phải sử dụng các phương pháp ước tính, phương pháp phân bổ và các định giá chỉ mang tính tương đối, gần đúng, quá trình tính toán này cho phép công ty có thể thay đổi, phù phép lợi nhuận theo hướng có lợi cho cá nhân, vì vậy, bên cạnh chỉ tiêu lợi nhuận, chỉ tiêu dòng tiền cần được xem xét đồng thời để đánh giá chính xác tình hình tài chính khi định giá doanh nghiệp
Thứ hai, dự báo dòng tiền là một trong những phương pháp bảo đảm an toàn cho các khoản cho vay và đầu tư vốn
Trong quyết định cho vay, dự báo trước được các vấn đề tài chính, khả năng chi trả nợ hoặc dự báo nguy cơ phá sản của bên đi vay có thể giúp người cho vay hạn chế thiệt hại và rủi ro Một trong những dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính là sự thiếu hụt và giảm sút về nguồn tiền (Zwaig & Pickett, 2001) [142]
Trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán, các nhà đầu tư, các chuyên gia phân tích chứng khoán luôn ước tính giá trị lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu hoặc sự chênh lệch giữa giá mua vào và giá bán ra trên mỗi cổ phiếu Ngoài ra, nghiên cứu của Frigo
Trang 26&Graziano (2003), Neill & cộng sự (1991) [83],[118] cho biết: khả năng chi trả cổ tức của công ty phụ thuộc vào khả năng tạo tiền của công ty đó
Trong lĩnh vực đầu tư góp vốn, lập kế hoạch đầu tư, dự báo dòng tiền tương lai giữ vai trò quan trọng (Foster, 1982) [82] Khi thực hiện các dự án đầu tư (thay thế tài sản, máy móc thiết bị, mở rộng sản xuất, …) các chuyên gia cần phải ước tính kinh phí đầu tư phải bỏ ra và dòng tiền thu được hàng năm sau khi dự án đã triển khai trong khoảng thời gian dự kiến (Weaver & Michelson, 2003) [135] Sau
đó, nhà quản lý phải đưa ra quyết định chấp nhận hay loại bỏ dự án căn cứ vào kết quả thu được bằng các phương pháp nêu trên Nếu dùng phương pháp giá trị hiện tại thuần (NPV), một dự án sẽ được chấp nhận nếu giá trị hiện tại của dòng tiền vượt quá kinh phí đầu tư ban đầu hoặc nói cách khác NPV phải nhận giá trị dương (Brigham & Gapenski, 1999) [52] Tuy vậy, ở thời điểm ban đầu triển khai dự án, việc xác định dòng tiền tạo ra bởi một khoản đầu tư khó có thể thực hiện chính xác
mà cần phải dự báo (Giaccotto, 1990) [86]
Cuối cùng, kết quả nghiên cứu của Timothy Hinkle (2013)[131] chỉ ra rằng
dự báo dòng tiền giúp ích trong việc giảm sự “bóp méo” của thông tin kế toán theo
cơ sở dồn tích. Thật vậy, thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích phụ thuộc nhiều vào các giả định chủ quan (ví dụ như thời gian khấu hao, tỷ lệ lập dự phòng, …) nên có thể thiếu chính xác Trong khi đó, thông tin dòng tiền dựa trên các nghiệp vụ đã thực sự xảy ra nên rất đáng tin cậy Vì vậy, thông tin về dòng tiền của doanh nghiệp
có tác dụng giám sát HĐKD trong doanh nghiệp
Như vậy, dự báo dòng tiền hữu ích trong hầu hết các quyết định kinh tế: cho
vay, đầu tư, định giá chứng khoán, … Để đưa ra quyết định chính xác và có lợi thì các đối tượng sử dụng thông tin cần tiến hành công tác dự báo dòng tiền
Những nhân tố tác động tới công tác dự báo dòng tiền
Công tác dự báo dòng tiền chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bao gồm cả khách quan, chủ quan, nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài doanh nghiệp Trong các nhân tố tác động thì các nhân tố bên ngoài bao gồm: chính sách của Nhà Nước
và sự quan tâm của nhà đầu tư, còn lại chủ yếu là các nhân tố bên trong
Trang 27Nhân tố tác động tới dự báo dòng tiền có thể khái quát quaSơ đồ 2.2 sau đây:
Sơ đồ 2.2: Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác dự báo dòng tiền
(Nguồn: Tác giả tổng hợp) Thứ nhất: Sự quan tâm của nhà đầu tư về dòng tiền
Theo nghiên cứu của Wasley, C., & Wu, J S (2006) [134] sự quan tâm của nhà đầu tư về thông tin dòng tiền là nhân tố quan trọng nhất có ảnh hưởng đến sự gia tăng dự báo dòng tiền Các nhà đầu tư, các chuyên gia tài chính quan tâm hơn tới tình hình dòng tiền công ty sau sự xuất hiện các vụ bê bối về tài chính của các tập đoàn kinh tế lớn như: Enron, WorldCom Theo Wasley, C., & Wu, J S (2006) [134] , vào đầu những năm 2000, thị trường chứng khoán suy yếu, nhà đầu tư giảm
sự tin tưởng vào thông tin về lợi nhuận do các công ty công bố và hướng sự quan tâm nhiều hơn đối với thông tin về dòng tiền của công ty, nhu cầu cần cung cấp thông tin về dòng tiền của các nhà đầu tư là động lực để công tác dự báo dòng tiền không ngừng gia tăng Nghiên cứu của các tác giả DeFond & Hung (2003, 2007) [70, [71] cũng đã khẳng định, ở các công ty đang có vấn đề về tài chính, hay lợi
Sự quan tâm của nhà
đầu tư
Kỹ thuật dự báo dòng tiền
CÔNG TÁC DỰ BÁO DÒNG TIỀN
(1)
(6)
(8)1)
(2)
(3)1) Quy mô doanh
Kết quả HĐKD của doanh nghiệp (4)
Chính sách của Nhà Nước
(9)
Trang 28dụng các ước tính kế toán để điều tiết lợi nhuận hoặc ở các nước mà lợi ích của nhà đầu tư không được bảo vệ thì nhu cầu dự báo dòng tiền sẽ được gia tăng
Thứ hai: Thời gian hoạt động của doanh nghiệp
Các công ty mới thành lập thường chú trọng công tác dự báo dòng tiền và công khai bản dự báo dòng tiền hơn là các công ty đã hoạt động lâu đời (Wasley, C., &
Wu, J S , 2006) [134] Công ty mới hoạt động thường xuyên tiến hành công tác dự báo dòng tiền để giúp công ty chứng minh cho các nhà đầu tư về khả năng và sức sống của công ty, giúp các nhà đầu tư yên tâm về khả năng thu hồi vốn đầu tư và khả năng sinh lời từ các khoản đầu tư này Tại các công ty đã hoạt động lâu năm, công tác dự báo dòng tiền vẫn được tiến hành nhưng ít quan trọng hơn các công ty
mới hoạt động
Thứ ba: Quy mô doanh nghiệp
Các chuyên gia thường thực hiện dự báo dòng tiền ở các công ty có có số vốn HĐKD lớn (Ahmed, K., & Ali, M J , 2013) [38] Nhóm tác giả Ahmed, K., & Ali,
M J (2013) [38] đã nghiên cứu 2.656 công ty ở Úc trong thời gian từ năm 1993 đến năm 2003 và đã cung cấp các bằng chứng thực nghiệm khẳng định: các nhà đầu
tư trên thị trường vốn đều quan tâm đến các dự báo dòng tiền khi đánh giá công ty đặc biệt khi công ty muốn mở rộng quy mô hoạt động, chuẩn bị phát hành thêm cổ phiếu để huy động thêm vốn từ bên ngoài Bên cạnh đó, tại các công ty có giá trị các thành phần dồn tích lớn, lợi nhuận thường xuyên biến động lớn thì công tác dự báo cũng được tăng cường Đặc biệt, tại các công hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực,
dự báo dòng tiền cũng được sử dụng như một công cụ hữu ích để giúp nhà quản lý
am hiểu tường tận hơn về tình hình HĐKD của công ty
Thứ tư: Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Thông thường, các công ty công bố kết quả dự báo Báo cáo kết quả kinh doanh trước, sau đó, nếu kết quả kinh doanh của công ty không tốt (có giá trị âm hoặc có biến động bất thường so với các năm trước) thì công ty sẽ công bố thêm dự báo dòng tiền (Wasley, C., & Wu, J S (2006) [134] Trường hợp dự báo lợi nhuận của công ty có lãi đi chăng nữa thì dự báo dòng tiền vẫn được thực hiện bởi khi đó dự báo sẽ góp phần làm tăng cường niềm tin của nhà đầu tư vào HĐKD của công ty Vì
Trang 29vậy, khi kết quả kinh doanh của công ty được dự báo nếu chưa phản ánh đúng tình hình kinh doanh của công ty thì khi đó mở ra nhu cầu cần cung cấp thêm dự báo dòng tiền Dự báo dòng tiền sẽ phát huy vai trò là báo cáo cung cấp thông tin bổ sung cho dự báo kết quả kinh doanh
Thứ năm: Sự tự nguyện của nhà quản lý
Xuất phát từ mục đích công bố thông tin tự nguyện của nhà quản lý doanh nghiệp trước các cổ đông, các nhà đầu tư giúp các nhà đầu tư nắm bắt dễ hơn tình hình tài chính của doanh nghiệp, dự báo dòng tiền thường được công bố kèm theo
dự báo lợi nhuận Thật vậy, dự báo lợi nhuận được lập theo cơ sở dồn tích, chịu ảnh hưởng bởi các nguyên tắc kế toán theo cơ sở dồn tích mà những nguyên tắc này đối với các nhà đầu tư, các cổ đông không có kiến thức kế toán rất khó nắm bắt Thông qua báo cáo dòng tiền đã thực hiện và dự báo dòng tiền tương lai, công ty cho nhà đầu tư biết số lợi nhuận mà các nhà đầu tư sẽ nhận thực tế bằng tiền mà không phải
là lợi nhuận danh nghĩa, lợi nhuận trên cơ sở ước tính
Thứ sáu: Kỹ thuật dự báo dòng tiền
Ngày nay, với sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, khi dự báo dòng tiền bằng các phương pháp định lượng sẽ giúp các nhà dự báo đưa ra các dự báo tin cậy về giá trị dòng tiền tương lai Ngày càng nhiều phần mềm máy tính phức tạp đã và đang được phát triển nhằm đưa các phương pháp định lượng gần mọi người hơn Dựa trên kết quả đã được xử lý bởi các phần mềm thống kê chuyên dụng, kết hợp với các nhận định, phán xét của các chuyên gia dự báo để đưa ra dự báo Độ chính xác và tính tin cậy của kết quả dự báo phụ thuộc vào mức độ đáp ứng của các kỹ thuật dự báo và
phần mềm hỗ trợ dự báo hiện hành Wilson, J Holton & Barry Keating (2007) [136]
Thứ bảy : Năng lực đội ngũ thực hiện công tác dự báo dòng tiền
Trong bất cứ lĩnh vực nào, để đạt được sự thành công thì không thể không tính đến sự đóng góp của nhân tố con người Các tác giả Pae, J & Yoon, S.S (2012) [119] đã thực hiện nghiên cứu với dữ liệu từ năm 1994 – 2007 tại Hoa Kỳ với mục tiêu khảo sát các nhân tố ảnh hưởng tới tính chính xác của dự báo dòng tiền Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, kinh nghiệm và trình độ chuyên môn của chuyên gia thực hiện dự báo có ảnh hưởng tới tính chính xác của dự báo Khi chuyên gia
Trang 30thực hiện dự báo có nhiều am hiểu sâu sắc về lĩnh vực dự báo thì chất lượng dự báo tăng lên và ngược lại Ngoài ra, các tác giả cũng cung cấp các bằng chứng cho rằng, sức ép về khối lượng công việc chuyên gia đảm nhận cũng làm ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm dự báo, muốn nâng cao chất lượng dự báo thì các chuyên gia dự báo chỉ nên đảm nhận khối lượng công việc vừa đủ
Thứ tám: Thông tin sử dụng để dự báo
Các chuyên gia (Chotkunakitti, 2005; Ebaid, 2011; Farshadfar & cộng sự, 2008; Mooi,T.L, 2007) [61], [117], [76], [72] thực hiện dự báo dòng tiền tương lai dựa trên các thông tin thu thập được trên các báo cáo tài chính của công ty Theo Zavgren, C.V and Friedman, G.E [140], dù phương pháp dự báo có phức tạp đến mấy nhưng báo cáo tài chính có dấu hiệu gian lận thì mô hình dự báo vẫn đưa ra kết quả dự báo sai Nhiều nghiên cứu như Sharma và Stevenson (1997) [125] đều thống nhất cho rằng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đang lâm vào khủng hoảng thường có rủi ro gian lận cao hơn báo cáo tài chính của doanh nghiệp đang hoạt động bình thường Ngoài ra, theo Gadenne, D., Iselin, E.R (2000) [85], khi người sử dụng thông tin kế toán cho rằng báo cáo tài chính có dấu hiệu gian lận thì họ sẽ không dựa vào báo cáo tài chính quá khứ để đưa ra quyết định tương lai và đương nhiên cũng không tin tưởng kết quả dự báo Gadenne, D., Iselin, E.R (2000)[85], khuyến nghị các nhà nghiên cứu trong tương lai cần phải tính đến yếu tố gian lận trên báo cáo tài chính khi xây dựng mô hình dự báo và nên tìm ra các nhân tố dự báo ít bị tác động bởi hành vi gian lận để làm tăng chất lượng dự báo
Thứ chín: Các chính sách của Nhà nước
Nếu trước đây các công ty chỉ thực hiện dự báo dòng tiền vì mục đích quản trị riêng công ty mình thì sau năm 2000, Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ ban hành quy định công bố thông tin (Fair Disclosure Regulation – FD Regulation)làm cho số lượng báo cáo dự báo dòng tiền đã tăng gấp ba lần so với tổng số lượng dự báo dòng tiền được công bố ở các năm trước đó (Bailey W,; H Li; C.X.Mao; and R.Zhong., 2003; Wasley, C., & Wu, J S ,2006) [40][134] Như vậy, khi xét các nhân tố ảnh hưởng tới dự báo không thể không tính đến vai trò của các chính sách
Trang 31Nhà nước Các chính sách này có tác động khuyến khích doanh nghiệp lập dự báo
và để Nhà Nước kiểm soát chất lượng thông tin kế toán
Tóm lại, các nhân tố ảnh hưởng tới công tác dự báo dòng tiền khá đa dạng,
cả nhân tố khách quan lẫn chủ quan, cả nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài doanh nghiệp Do vậy, việc phân tích đầy đủ các nhân tố tác động tới dự báo dòng tiền sẽ giúp nâng cao chất lượng công tác dự báo dòng tiền trong các công ty
2.2 Tổng quan các nghiên cứu dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Các nghiên cứu về dự báo dòng tiền từ HĐKD của các công ty niêm yết trên TTCK bắt đầu từ năm 1986 với công trình nghiên cứu của Bowen & cộng sự (1986) [47], Greenberg & cộng sự (1986) [93] tại Hoa Kỳ và Habib(2010) [94] tại Australia, Austin, L and Andrew, B (1989) [35] tại Newzeland và tới nay đã lan rộng sang nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam (Nguyễn Hữu Ánh, 2013)
[18] Các nghiên cứu dự báo dòng tiền từ HĐKD phong phú cả vềphạm vi nghiên cứu, về sử dụng cácnhân tố dự báovà vềphương phápdự báo Cụ thể như sau:
Về phạm vi nghiên cứu
Xét về không gian nghiên cứu: Các nghiên cứu chủ yếu sử dụng dữ liệu trên Báo cáo tài chính của các công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK và loại bỏ các công ty tài chính do dữ liệu về các thành phần dồn tích (hàng tồn kho, các khoản phải thu, … ) được sử dụng trong nghiên cứu không thu thập được trên báo cáo của các công ty tài chính (Chong, K W, 2012; Ebaid, 2011; Seng, 2006 …) [62], [72], [126] Ngoài ra, trong các công ty phi tài chính, một số nghiên cứu thực hiện phân chia các công ty vào các nhóm ngành như: Dược phẩm, Hóa chất hay Thực phẩm, Xây dựng, Xi măng và vật liệu xây dựng cơ bản, Sản xuất hàng tiêu dùng, Dệt may, Vận tải, Truyền thông như trong nghiên cứu của Barth & cộng sự, 2001; Ebaid, 2011; Farshadfar và cộng sự, 2008; Zhao & cộng sự, 2007 [41],[72],[76], [141] Bên cạnh đó, cũng có nhiều tác giả nghiên cứu mẫu gộp chung các doanh nghiệp như: Stammerjohan và Nasiripour, 2001 [128]; Seng, 2006 [126]; Mooi, T.L, 2007 [117]; Ebaid, 2011 [72]; Chotkunakitti, 2005 [61]; Nguyễn Hữu Ánh, 2013 [18]
Trang 32hoặc một số tác giả chỉ nghiên cứu mẫu các doanh nghiệp HĐKD trong một ngành nghề kinh doanh cụ thể như Chong, K.W, 2012 [62] nghiên cứu ngành công nghiệp
ở Malaysia hay Jordan & Wallace (2007) [99] chỉ nghiên cứu dự báo dòng tiền trong ngành dầu mỏ ở Hoa Kỳ, …
Nhìn chung, nghiên cứu dự báo dòng tiền ở trong một lĩnh vực, một ngành
cụ thể sẽ phục vụ cho một nhóm đối tượng quan tâm đến ngành đó mà không thể bao quát cho toàn thị trường và vì vậy không đáp ứng được nhu cầu cần cung cấp thông tin của nhiều đối tượng khác nhau trong nền kinh tế
Xét về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu dự báo dòng tiền đầu tiên của Greenberg & cộng sự (1986) [93] sử dụng bộ dữ liệu 20 năm từ năm 1963 tới năm
1982 tại Hoa Kỳ Tiếp nối công trình của Greenberg & cộng sự (1986) [93], tại Hoa
Kỳ có hàng loạt các nghiên cứu như Finger (1994) [78] sử dụng bộ dữ liệu nghiên cứu dài 50 năm (từ năm 1935 tới năm 1987) hay Dechow & cộng sự (1998) [67]với
bộ dữ liệu nghiên cứu trong 30 năm từ năm 1963 tới năm 1992 Ngoài Hoa Kỳ, các nghiên cứu dự báo dòng tiền có các nghiên cứu của Al-Altar (2004) [25] tại Anh với bộ dữ liệu dài 10 năm từ năm 1991 tới năm 2000 hay nghiên cứu của Chotkunakitti (2005) [61] tại Thái Lan với bộ dữ liệu nghiên cứu trong 9 năm từ năm 1994 tới năm 2002, nghiên cứu của Chong, K.W (2012) [62] tại Malaysia trong 11 năm từ năm 1999 tới năm 2009,…
Như vậy, các nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu khá đa dạng ở các năm nhưng hầu hết là trước năm 2010 Trong thời đại phát triển kinh tế có nhiều biến động khôn lường như hiện nay thì cũng rất cần các nghiên cứu sử dụng số liệu thu thập trong những năm gần đây để cung cấp thông tin phù hợp với thời đại mới
Về các nhân tố dự báo
Các nhân tố dự báo dòng tiền từ HĐKD có thể chia thành các nhóm:
Nhóm thứ nhất, sử dụng lợi nhuận trong quá khứ
Lợi nhuận kế toán theo cơ sở dồn tích có khả năng dự báo dòng tiền từ HĐKD đã được Ủy ban chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ đề cập trong Chuẩn mực Kế toán Hoa Kỳ vào năm 1978 (FASB, 1978) [77] Đồng thời, FASB (1978)
Trang 33còn cho rằng để dự đoán dòng tiền tương lai thì nhà đầu tư thường quan tâm tới thông tin lợi nhuận hơn thông tin dòng tiền nhưng FASB chưa đưa ra được bằng chứng thực nghiệm để củng cố cho nhận định trên Từ đó đến nay, nhiều nhà nghiên cứu đã tiếp tục nghiên cứu để tìm ra chứng cớ cho luận điểm trên Vì vậy, lợi nhuận thường xuyên được coi là một nhân tố nổi bật trong dự báo dòng tiền tương lai trong nghiên cứu của nhiều tác giả như: McBeth (1993) [112], Ali, A (1994) [28], Finger (1994) [78]; Supriyadi (1998) [129]; Quirin & cộng sự (1999) [123], Barth
& cộng sự (2001) [41], Stammerjohan và Nasiripour (2001) [128], Jordan và Waldron, 2001 [99]; Al-Attar (2004) [25], Mooi, T.L (2007) [117], Zhao & cộng sự (2007) [141], Chong, K.W (2012) [62], Nguyễn Hữu Ánh, 2013 [18] Lợi nhuận được đưa vào mô hình dự báo có thể là lợi nhuận của ngay năm trước hoặc có độ trễ2,3,4 năm (Stammerjohan & cộng sự 2000/2001; Chotkunakitti, 2005, Chong, K.W, 2012) Một số tác giả đã sử dụng lợi nhuận thuần dưới các dạng biến đổi: chia lợi nhuận cho tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp (Stammerjohan & cộng sự 2000/2001; Farshadfar, 2008; Ebaid, 2011) [128], [76], [72] để giảm thiểu ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp tới kết quả nghiên cứu hoặc chia lợi nhuận cho giá trị cổ phần bình quân (Murdoch & cộng sự, 1989/1990) [115], [116] hay chia cho số lượng cổ phiếu đang lưu hành (Barth & cộng sự, 2001; Zhao, 2007) [41], [141] Dù
sử dụng lợi nhuận gốc hay lợi nhuận đã được biến đổi, các tác giả đều khẳng định lợi nhuận là nhân tố có khả năng dự báo dòng tiền tương lai của các công ty Tuy nhiên, các tác giả còn chưa thống nhất về nhân tố dự báo nào, mô hình dự báo nào trong các mô hình (mô hình lợi nhuận, mô hình dòng tiền, mô hình kết hợp dòng tiền và các thành phần thông tin dồn tích có trong lợi nhuận, …) có khả năng dự báo dòng tiền tốt hơn (Ebaid, 2011; Farshadfar & cộng sự, 2008; Stammerjohan & cộng
sự, 2000/2001; Seng.D, 2006)
Nhómthứ hai, dòng tiền từ HĐKD trong quá khứ
Khả năng dự báo dòng tiền tương lai của dòng tiền quá khứ đều được nhiều học giả nghiên cứu thừa nhận Trong các nghiên cứu dự báo dòng tiền tương lai sử dụng dòng tiền quá khứ làm nhân tố dự báo, dữ liệu dòng tiền từ HĐKD sử dụng
Trang 34trong nghiên cứu có thể là: (1) Dòng tiền được ước tính theo quan điểm chủ quan
của nhà nghiên cứu; (2) Dòng tiền từ HĐKD được lấy trực tiếp từ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Các nghiên cứu của Largay & Stickney (1980) [107], Gombola, M.J and Ketz, J.E (1983a) [89], Greenberg & cộng sự (1986) [93], Bowen & cộng sự (1986) [47], Percy & Stokes (1992) [120], Finger (1994) [78], Austin, L và Bradbury, M.E (1995) [36], Laitinin,E.K (1994) [105], Jordan và Waldron (2001)[99] đã sử dụng giá trị dòng tiền ước tính
Các nghiên cứu của McBeth (1993) [112], Finger (1994) [78], Barth và cộng
sự (2001) [41], Al-Attar (2004) [25], Chotkunakitti, (2005) [61],Mooi, T.L, (2007) [117]; Farshadfar và cộng sự (2008) [76]; Ebaid (2011) [72], Chong K.W (2012) [62], Nguyễn Hữu Ánh (2013) [18], Đỗ Hồng Nhung (2014) [12], Arthur, N & Chuang, G.C.H (2006/2007) [32], [33] đã sử dụng thông tin dòng tiền trực tiếp từ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Dòng tiền từ HĐKD trong quá khứ được sử dụng làm nhân tố dự báo có thể
là dòng tiền của 1 năm trước (Barth và cộng sự, 2001; Ebaid, 2011) hoặc dòng tiền của 2, 3 năm hay nhiều năm trước (Barth và cộng sự, 2001; Chong, K.W, 2012; Mooi, T.L, 2007) Thông qua các bằng chứng thực nghiệm, các tác giả trên đều nhất trí về khả năng dự báo dòng tiền tương lai của dòng tiền quá khứ Đồng thời, một số tác giả còn tiến hành so sánh khả năng dự báo dòng tiền tương lai khi sử dụng hai loại dòng tiền khác nhau ở trên (Finger, 1994; Barth và cộng sự, 2001; Percy & Stokes, 1992; Farshadfar & cộng sự, 2008) cũng như so sánh khả năng dự báo dòng tiền tương lai khi sử dụng dòng tiền quá khứ và khi sử dụng các nhân tố dự báo khác Tuy nhiên, các tác giả chưa thống nhất về việc nhân tố nào, mô hình nào trong các mô hình dự báo (mô hình dòng tiền, mô hình lợi nhuận, mô hình kết hợp dòng tiền và các thành phần thông tin dồn tích, …) có khả năng dự báo tốt nhất
Nhóm thứ ba: kết hợp dòng tiền từ HĐKD trong quá khứ với tổng các thành phần thông tin kế toán dồn tích có trong lợi nhuận (chênh lệch giữa lợi nhuận từ HĐKD với dòng tiền từ HĐKD)
Trang 35Các nhà nghiên cứu như: Barth & cộng sự (2001), Al – Altar (2003), Ebaid (2011), Chong, K.W (2012), Ehsan Khansalar (2012) [74], Laura Arnedo (2012) [108] cho rằng: lợi nhuận theo cơ sở kế toán dồn tích gồm 2 thành phần: thành phần tiền tệ (lợi nhuận thực bằng tiền) và thành phần phi tiền tệ (lợi nhuận dưới dạng quyền được thu tiền do bán được hàng nhưng chưa thu được tiền, …) Chính vì vậy, trong nghiên cứu dự báo dòng tiền từ HĐKD trong tương lai, các tác giả trên
đã sử dụng kết hợp thành phần tiền tệ và thành phần phi tiền tệ làm nhân tố dự báo Các bằng chứng thực nghiệm từ nghiên cứu cho thấy: mô hình kết hợp giữa dòng tiền và các thành phần thông tin kế toán dồn tích gộp chung có trong lợi nhuận có khả năng dự báo dòng tiền tương lai (Barth & cộng sự, 2001; Al – Altar, 2003; Ebaid, 2011; Chong, K.W, 2012) Ngoài ra, các tác giả còn so sánh khả năng dự báo của mô hình này với các mô hình chỉ bao gồm dòng tiền hay chỉ bao gồm lợi nhuận, nghiên cứu của Al – Altar (2003) cho rằng mô hình này có khả năng dự báo tốt hơn
2 mô hình kia nhưng nghiên cứu của Stammerjohan & cộng sự (2000/2001) lại cho rằng chưa có bằng chứng đủ mạnh để kết luận
Nhóm thứ tư: kết hợp dòng tiền từ HĐKD trong quá khứ với các thành phần thông tin kế toán dồn tích cụ thể như: chi phí khấu hao tài sản cố định, sự tăng (giảm) trong các khoản phải thu, sự tăng (giảm) chi phí trả trước, sự tăng (giảm) hàng tồn kho, sự tăng (giảm) các khoản phải trả
Theo Chuẩn mực Kế toán quốc tế và Chuẩn mực Kế toán Việt Nam, khi lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp gián tiếp, dòng tiền từ HĐKD được xác định thông qua việc điều chỉnh lợi nhuận trước thuế cho các khoản chi phí khấu hao tài sản cố định và sự thay đổi của vốn lưu động: sự thay đổi tăng (giảm) trong các khoản phải thu, sự thay đổi tăng (giảm) hàng tồn kho, sự thay đổi tăng (giảm) các khoản phải trả và sự thay đổi tăng (giảm) của các thành phần thông tin dồn tích khác có trong lợi nhuận Thống nhất với quy định này, các nghiên cứu của Barth
&cộng sự (2001); Chotkunakitti (2005); Ebaid (2011); Chong, K.W (2012) đã sử dụng chi phí khấu hao tài sản cố định, sự thay đổi (tăng/ giảm) trong các khoản phải thu, sự thay đổi (tăng/ giảm) hàng tồn kho, sự thay đổi (tăng/giảm) các khoản phải
Trang 36trả và sự thay đổi (tăng/ giảm) của các thành phần thông tin dồn tích khác có trong lợi nhuận làm các nhân tố dự báo dòng tiền từ HĐKD trong tương lai Hầu hết các tác giả đều nhất trí cho rằng: mô hình dự báo sử dụng các nhân tố dự báo như trên
có khả năng dự báo dòng tiền tốt hơn mô hình chỉ sử dụng lợi nhuận hoặc mô hình chỉ sử dụng dòng tiền (Barth & cộng sự, 2001; Al-Altar, 2003; Ebaid, 2011; Chong, K.W, 2012) Tuy nhiên, nghiên cứu của Chotkunakitti (2005) được thực hiện ở Thái lan lại cho rằng mô hình chỉ sử dụng dòng tiền có khả năng dự báo tốt hơn cả mô hình sử dụng kết hợp dòng tiền với các thành phần thông tin kế toán dồn tích của lợi nhuận dù gộp chung lại hay tách rời Như vậy, việc tách nhỏ các thành phần dồn tích có trong lợi nhuận như chi phí khấu hao, sự thay đổi trong các khoản phải thu, các khoản phải trả, … và sử dụng chúng trong dự báo dòng tiền từ HĐKD và so sánh khả năng của các thành phần này so với các thành phần khác (như lợi nhuận gộp hay dòng tiền từ HĐKD) vẫn là vấn đề tranh luận của nhiều nhà nghiên cứu
Nhóm thứ năm: các tỷ suất tài chính về dòng tiền
Các tỷ suất tài chính từ lâu đã được sử dụng để dự báo nguy cơ phá sản doanh nghiệp (Beaver, 1966; Altman, 1966/1977) [45], [29], [30] hoặc đánh giá hiệu quả HĐKD của doanh nghiệp (Zeljana, A.B, 2010) [143] và gần đây đã được
sử dụng để dự báo dòng tiền của doanh nghiệp trong tương lai tại nghiên cứu của Chotkunakitti (2005)[61] tại Thái Lan Chotkunakitti (2005) đã thực hiện dự báo dòng tiền cho tất cả các công ty niêm yết trên TTCK Thái Lan trong khoảng thời gian từ năm 1994 đến năm 2002 thông qua nghiên cứu các tỷ suất tài chính có sử dụng dòng tiền của các công ty này Kết luận của Chotkunakitti (2005) cho biết: các
tỷ suất này không có khả năng dự báo dòng tiền cho các công ty niêm yết tại Thái Lan trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 1994 – 2002 Tuy nhiên, tác giả Chotkunakitti (2005) đã thừa nhận kết quả nghiên cứu bị ảnh hưởng do xảy ra khủng hoảng kinh tế tại Thái Lan trong thời gian tác giả lấy dữ liệu nghiên cứu
Phương pháp dự báo dòng tiền bằng các mô hình dự báo nhân quả
Theo phương pháp này, dòng tiền được dự báo thông qua nghiên cứu mối quan hệ giữa dòng tiền và các thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty trong
Trang 37nhiều năm Các nghiên cứu thực chứng trong dự báo dòng tiền ở Việt Nam và trên thế giới có những nét đặc trưng riêng ở việc lựa chọn phạm vi nghiên cứu, ở xây dựng phương trình nghiên cứu và ở kĩ thuật dự báo
Ở Việt Nam, phương pháp này được Nguyễn Hữu Ánh (2013) và Đỗ Thị
Hồng Nhung (2014) áp dụng Nguyễn Hữu Ánh (2013) đã xây dựng mô hình dự báo dòng tiền từ HDKD trong tương lai từ các nhân tố dự báo là lợi nhuận quá khứ
và dòng tiền quá khứ có độ trễ từ 1 đến 3 năm để cho các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM Các phương trình dự báo cụ thể như sau:
Phương trình 2.1: CFOt = α0 + α1CFOt-1 + µ (2.5)
Phương trình 2.2: CFOt = α0 + α1CFOt-1 + α2CFOt-2 + µ (2.6)
Phương trình 2.3: CFOt = α0 + α1CFOt-1 + α2 CFOt-2 + α3 CFOt-3 + µ (2.7)
Phương trình 2.4: CFOt = β0 + β1EARNt-1 + ε (2.8)
Phương trình 2.5: CFOt = β0 + β1EARNt-1 + β2EARNt-2 + ε (2.9)
Phương trình 2.6: CFOt = β0 + β1EARNt-1 + β2EARNt-2 + β2EARNt-3 + ε (2.10)
(Nguồn: Nguyễn Hữu Ánh, 2013)[18]
Trong đó:
CFO t : Dòng tiền từ HĐKD của năm dự báo
CFO t-1 , CFO t-2 , CFO t-3 : Dòng tiền từ HĐKD của các năm trước (từ 1 đến 3 năm) EARN t-1, EARN t-2 ,EARN t-3 : Lợi nhuận của các năm trước (trễ từ 1 đến 3 năm)
α0, β 0 : Là hệ số chặn trong mô hình hồi quy
α1, α2, α3,β 1 , β 2 , β 3: Các hệ số của phương trình hồi quy
µ, ε: Sai số dự báo
Đây là nghiên cứu đầu tiên được thực hiện ở Việt Nam đã đưa ra các bằng chứng thực nghiệm về khả năng sử dụng các thông tin kế toán trong dự báo dòng tiền tương lai cho các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM Kết quả nghiên cứu cho thấy cả thông tin lợi nhuận kế toán và dòng tiền trong quá khứ đều có khả năng dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong tương lai của các công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.HCM Khi so sánh về khả năng
dự báo của các mô hình, kết quả thực nghiệm cho thấy mô hình sử dụng thông tin
Trang 38lợi nhuận kế toán có khả năng dự báo dòng tiền tốt hơn mô hình sử dụng thông tin dòng tiền
Chia sẻ phương pháp nghiên cứu với tác giả Nguyễn Hữu Ánh (2013) [2], nhưng tác giả Đỗ Thị Hồng Nhung (2014) [13] trong Luận án Tiến sĩ kinh tế “Quản trị dòng tiền của các doanh nghiệp chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” đã xây dựng phương trình đa biến phản ánh mối quan hệ giữa dòng tiền với các nhân tố dự báo gộp chung như sau:
CFOt = a + b1CF t-1 + b2OIBDt-1 + b3RECt-1 + b4INV t-1+ b5PAYt-1+ et (2.11)
(Nguồn: Đỗ Thi Hồng Nhung, 2014) [12]
Trong đó:
CF t-1 : Dòng tiền ở năm trước
OIBD t-1: Lợi nhuận của hoạt động kinh doanh chưa tính đến chi phí khấu hao REC t-1 : Khoản phải thu ở năm trước
INV t-1 : Hàng tồn kho ở năm trước
PAY t-1 : Khoản phải trả ở năm trước
Các biến dự báo trong phương trình đều có độ trễ một năm so với biến được
dự báo
Từ dữ liệu thu thập được của 53 doanh nghiệp chế biến thực phẩm niêm yết trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2012, tác giả Đỗ Thị Hồng Nhung (2014)nhận định rằng: dòng tiền kỳ trước của các doanh nghiệp chế biến thực phẩm không ảnh hưởng tới dự báo dòng tiền kỳ sau Kết quả nghiên cứu này không thống nhất với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hữu Ánh (2013) có thể do phạm vi nghiên cứu của hai tác giả khác nhau Ngoài ra, tác giả Đỗ Hồng Nhung (2014)cho biết khoản phải thu, hàng tồn kho kỳ trước tác động thuận chiều tới dòng tiền kỳ sau còn khoản phải trả kỳ trước tác động ngược chiều tới dòng tiền kỳ sau
Ở nước ngoài, các phương trình dự báo dòng tiền khá đa dạng Trên cơ sở
mô hình đã có, các tác giả thu thập dữ liệu, xử lý dữ liệu và đưa ra bằng chứng ủng
hộ cho các kết luận nghiên cứu Các phương trình dự báo dòng tiền và các phương
Trang 39pháp kĩ thuật dự báo dòng tiền ở các nghiên cứu sau vừa được kế thừa từ các nghiên cứu trước, vừa được phát triển thêm
Các phương trình dự báo dòng tiền
Bowen & cộng sự (1986) [45], Greenberg & cộng sự (1986) [90], Murdoch
& cộng sự (1989), Quirin & cộng sự (1999), McBeth (1993), Finger (1994), Barth
& cộng sự (2001) là những tác giả đầu tiên nghiên cứu dự báo dòng tiền từ HĐKD trên thế giới Trong công trình của Bowen & cộng sự (1986) phương trình dự báo dòng tiền từ HĐKD được xây dựng dưới dạng đơn giản, chỉ sử dụng một biến dự báo, quan điểm của tác giả cho rằng giá trị dòng tiền năm sau bằng giá trị các biến
dự báo của năm trước:
Y i,t+1 = X i,t (2.12)
(Nguồn: Bowen & cộng sự, 1986)[47]
Trong đó:
Y i, t+1 :Giá trị dự báo của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của công ty i ở năm t + 1
X i,t là các nhân tố dự báo dòng tiền từ HĐKD của công ty i ở năm t như:
Sau Bowen & cộng sự (1986), các nghiên cứu sau đã phát triển phương trình
dự báo dòng tiền bằng việc đưa thêm các biến dự báo mới như các thông tin kế toán theo cơ sở dồn tích (Barth & cộng sự, 2001) [35], chế độ kế toán doanh nghiệp áp dụng (Supriyadi, 1998), mã ngành hoạt động kinh doanh (Zhao & cộng sự, 2007)
[179], tỷ suất dòng tiền (Chotkunakitti, 2005) [56] và đưa các biến dự báo có độ trễ
nhiều năm hơn so với biến được dự báo để phát hiện xu hướng biến động của dữ liệu trong khoảng thời gian dài (Greenberg & cộng sự (1986), Murdoch & cộng sự (1989), Quirin & cộng sự (1999), McBeth (1993), Finger (1994), Barth & cộng sự (2001), Chotkunakitti (2005), Ebaid (2011) hay Chong, K.W (2012)) Một số phương trình dự báo điển hình như sau:
CFR it = β 0 + β 1 ROE 1 i, t-1 + e it (2.13)
CFR it = β 0 + β 1 WCR 1, t-1 + e it (2.14)
CFR it = β 0 + β 1 ROS 1, t-1 + e it (2.15)
CFR it = β 0 + β 1 CFR 1, t-1 + e it (2.16)
Trang 40CFR it = β 0 + β 1 CFR 1, t-1 + β 2 ROE 1, t-1 + e it (2.17)
CFR it = β 0 + β 1 CFR 1, t-1 + β 2 WCR 1, t-1 + e it (2.18)
CFR it = β 0 + β 1 CFR 1, t-1 + β 2 ROS 1, t-1 + e it (2.19)
(Nguồn: Murdoch & cộng sự ,1989) [115]
CFO i,t+1 = β 0 + β 1 EARN i, t + u i,t (2.20)
CFO i,t+1 = β 0 + β 1 CFO i,t + β 2 ∆AR t + β 3 ∆INV t-1 + β 4 ∆AP t-1 + β 5 DEPR i,t + + β 6 OTHER i,t + u i,t (2.21)
(Nguồn: Barth & cộng sự, 2001)[39]
CFOt = β0 + β1 CFOt-1 + β2 CFOt-2 + β2D + εt (2.22)