1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn quản lý kinh tế tác động bất bình đẳng đến phát triển ở việt nam

181 347 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.2.1 Ý nghĩa lý luận Luận án sẽ góp phần hoàn thiện phương pháp đánh giá thực trạng và phân tích tác động của bất bình giới tới phát triển, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến BBĐG nhằm

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Tại cuộc họp thượng đỉnh các nhà lãnh đạo trên thế giới tháng 9 năm

2000, bình đẳng giới đã được là mục tiêu phát triển thứ 3 một trong 8 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, được ghi vào tuyên ngôn Thiên niên kỷ của UN và được

147 nước ký cam kết thực hiện Từ góc độ nhân quyền, mục tiêu này nhằm đảm bảo các quyền cơ bản của con người về phúc lợi liên quan đến sức khỏe, giáo dục, điều kiện sống và an ninh Từ góc độ phát triển, giảm BBĐG được coi là biểu hiện của quá trình tiến bộ xã hội của một quốc gia Những nhận định này đã khẳng định giá trị tốt đẹp của bình đẳng giới Vì vậy, để hướng tới phát triển, cần tìm ra những biểu hiện và mức độ BBĐG để đánh giá và can thiệp kịp thời, đặc biệt là các hủ tục rất lạc hậu đối với phụ nữ và trực tiếp ảnh hưởng đến phúc lợi của họ [66]

Bình đẳng giới còn thu hút sự quan tâm của giới học thuật bởi nó vẫn tồn tại, đặc biệt là ở các nước đang phát triển [65, tr 4] và ảnh hưởng đến các phương diện khác của phát triển (Dollar và Gatti, 1999, Klasen 2002, Klasen và Lamanna 2009) Chia sẻ quan điểm này, các tác giả Abu-Ghaida và Klasen (2004) đã ước tính những chi phí tính theo tỷ lệ TTKT và PTCN mà các nước đã phải trả giá khi không đạt được mục tiêu bình đẳng giới về giáo dục Nhóm tác giả đã chứng minh rằng 45 quốc gia được khảo sát mà không đạt được những tiến bộ về bình đẳng giới trong giáo dục đã mất đi 0,1 đến 0,.3% TTKT Ngoài

ra, những quốc gia này cũng chịu những tác động tiêu cực về PTCN như: số trẻ

em trên mỗi phụ nữ tăng thêm 0,1 đến 0,4; tỷ lệ chết của trẻ em dưới 5 tuổi và tỷ

lệ suy dinh dưỡng của trẻ em tăng thêm tương ứng 1,5 và 2,5%

Tuy nhiên, một số nghiên cứu về tác động của BBĐG tới phát triển ở một nhóm các quốc gia cho thấy chiều hướng và mức độ của tác động vẫn còn chứa đựng những tranh luận Chẳng hạn, tác giả Seguino (2000) cho rằng chênh lệch lương theo giới có tác động tích cực đến TTKT của các nước áp dụng chiến lược

Trang 2

2hướng về xuất khẩu thông qua việc tăng cường năng lực cạnh tranh của những ngành thâm dụng lao động nữ với mức lương thấp hơn [61] Các tác giả Schober

và Winer-Ebmer (2011) tiến hành nghiên cứu này với ba nhóm quốc gia và có kết luận hoàn toàn ngược lại: bất kỳ sự BBĐG trên phương diện nào cũng có tác động tiêu cực tới tăng trưởng [59] Nhóm tác giả Dollar và Gatti (1999) đã chỉ ra rằng những quốc gia có trình độ phát triển cao hơn sẽ chịu tác động lớn hơn của BBĐG trong giáo dục Các tác giả Klasen và Lamanna (2009) cũng đã kết luận rằng mức độ tác động có thay đổi theo khi xét thêm yếu tố khu vực Tương tự, các tác giả Bandiera và Natraj (2013) cũng kết luận rằng các nghiên cứu về tác động của BBĐG cho đến nay chủ yếu dựa vào phân tích số liệu của một nhóm các quốc gia với rất nhiều khác biệt nên những phát hiện từ các nghiên cứu đó có thể đúng trong phạm vi một quốc gia, hay trong nhóm quốc gia cụ thể khác [26]

Vì vậy, để có cơ sở cho những hoạch định chính sách hiệu quả cho một quốc gia, cần tiến hành nghiên cứu riêng cho quốc gia ấy

Ở Việt Nam, quan điểm của Đảng cộng sản cũng nhấn mạnh việc đảm bảo

cơ hội và quyền lợi của người phụ nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ngày 24/12/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 2351/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-

2020 Ủy ban vì sự tiến bộ của phụ nữ đã xác định tầm quan trọng của bình đẳng giới và việc lồng ghép giới trong hoạch định và thực thi chính sách quốc gia [55] Việt Nam đã được Ngân hàng Thế giới đánh giá là có những tiến bộ đáng

kể trong việc giảm BBĐG với chỉ số BBĐG (GII) xếp thứ 48 trên 131 quốc gia trong danh mục xếp hạng của UNDP năm 2012 [1] Tuy nhiên, nếu so sánh với nam giới về địa vị và phúc lợi thì phụ nữ Việt Nam vẫn còn chịu bất lợi trên nhiều phương diện như việc làm, giáo dục, sức khỏe, địa vị xã hội Cụ thể, Việt Nam có tỷ lệ nữ tham gia đại biểu quốc hội của là 24,4% [24] trong khi đó tỷ lệ này ở Thụy Điển là 44,7%, ở Phần Lan là 42,5%, ở Nam Phi là 41,1%; và tỷ lệ nam và nữ tham gia lực lượng lao động trong tổng dân số nam và nữ tương ứng

Trang 3

là 81,2 và 73,2; tỷ lệ hoàn thành giáo dục trung học trở lên đối với nữ và nam tương ứng là 24,7% và 28%, trong khi tỷ lệ này là gần 100% đối với cả nam và

nữ ở các nước Pháp, Anh, Canada, Áo, Séc và xấp xỉ 49,5% đối với Anđôra; tỷ

lệ chết trong 100.000 lượt phụ nữ mang thai và sinh con là 59 trong khi tỷ lệ này

ở Estonia là 2, ở Singapo là 3, ở Thụy Điển, Italia và Belarus là 4, ở Ba Lan là 5

và ở Úc là 7 [71] Ngoài ra, theo tổng kết của UN Women (2013), tỷ lệ nữ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà chỉ có 20%, trong khi con số này đối với nam là 52%, và tỷ lệ nam và nữ cùng đứng tên là 18% [20] Hơn nữa, tỷ số giới tính khi sinh (tỷ lệ bé trai/100) đã tăng từ 107,3 (năm 2000) lên tới 113,8 (năm 2013) tính chung cho toàn quốc và đặc biệt lên tới 115,5 (năm 2013) tính riêng cho nông thôn Điều này đã khẳng định thấy tư tưởng "trọng nam, khinh nữ", và hành động lựa chọn giới tính thai nhi trở nên rõ rệt khi có sự

hỗ trợ của công nghệ hiện đại [21]

Trong điều kiện các chiến lược, giải pháp đã được ban hành nhưng thực tiễn BBĐG vẫn tồn tại như vậy thì việc tìm hiểu cụ thể hơn về biểu hiện và tác động của BBĐG tới phát triển ở Việt Nam rất có ý nghĩa

2 Mục đích, ý nghĩa của luận án

vậy, đề tài “Tác động của bất bình đẳng giới tới phát triển ở Việt Nam” được

lựa chọn cho luận án này

Trang 4

4BBĐG được biểu hiện trên rất nhiều khía cạnh và nội hàm của phát triển cũng tương đối rộng nên luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trên hai khía cạnh giáo dục và việc làm (đối với bất bình đẳng giới) và tăng trưởng kinh tế và phát triển con người (đối với phát triển) Cơ sở của phạm vi nghiên cứu được trình bày chi tiết hơn trong Mục 1.2.2 (Chương 1) Với trọng tâm nghiên cứu này, luận án tìm hiểu thực trạng, đánh giá ảnh hưởng của BBĐG tới TTKT và PTCN, đồng thời đề xuất một số giải pháp liên quan tới BBĐG nhằm thúc đẩy phát triển

ở Việt Nam trong thời gian tới Luận án có thể được dùng làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển ở Việt Nam

2.2 Ý nghĩa của luận án

Luận án sẽ bổ sung, đóng góp tri thức liên quan đến tác động của BBĐG trong giáo dục và việc làm tới TTKT và PTCN với trường hợp nghiên cứu cụ thể củaViệt Nam Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ bao gồm những đóng góp về phương pháp và các minh chứng thực nghiệm về tác động của BBĐG tới phát triển, đặc biệt là trên những phương diện còn chứa đựng các tranh luận trái chiều trong các nghiên cứu đã được thực hiện cho đến nay

2.2.1 Ý nghĩa lý luận

Luận án sẽ góp phần hoàn thiện phương pháp đánh giá thực trạng và phân tích tác động của bất bình giới tới phát triển, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến BBĐG nhằm làm cơ sở tham khảo về lý luận cho các nghiên cứu trường hợp cụ thể khác trong tương lai với các đóng góp mới chủ yếu như:

- Xây dựng các thước đo và biến số gần đúng đối với BBĐG trên các phương diện giáo dục và việc làm;

- Xây dựng các tiêu chí đánh giá PTCN trên hai phương diện cơ bản là giáo dục và y tế;

- Kiểm định mô hình đánh giá tác động của BBĐG tới TTKT dựa trên mô hình TTKT của trường phái Tân cổ điển;

Trang 5

- Kiểm định mô hình đánh giá tác động của BBĐG tới PTCN trên các khía cạnh giáo dục, y tế;

2.2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Dựa trên những phân tích, đánh giá đánh giá thực trạng và tác động của BBĐG trong giáo dục và việc làm tới TTKT và PTCN ở Việt Nam; chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng tới BBĐG trong giáo dục và việc làm; phát hiện những vấn đề còn hạn chế trong môi trường kinh tế, xã hội và thể chế của Việt Nam liên quan đến BBĐG và mức độ tác động của BBĐG tới TTKT và PTCN, luận án có những đóng góp thực tiễn như:

- Thay đổi nhận thức của mọi tầng lớp trong xã hội về tác động của BBĐG đối với phát triển;

- Đưa ra cơ sở khoa học để tham khảo cho quá trình hoạch định chính sách liên quan đến bình đẳng giới và hướng tới phát triển;

- Gợi ý một số chính sách liên quan tới vấn đề giới trong quá trình phát triển;

- Hướng tới thay đổi hành vi của xã hội của cộng đồng liên quan đến việc giải quyết bất bình đẳng giới theo hướng có lợi cho phát triển;

Trang 6

1.1.1.1 Tác động của bất bình đẳng giới tới tăng trưởng kinh tế

Hầu hết những nghiên cứu đánh giá tác động của bình đẳng giới tới TTKT đều lấy mô hình TTKT Tân cổ điển - mô hình Solow - làm cơ sở lý thuyết cho phân tích Đó là những nghiên cứu rất cơ bản và toàn diện về tác động của BBĐG tới TTKT như các tác giả Barro và Lee (Các nguồn lực của TTKT, 1994) [27], Dollar và Gatti (Bất bình đẳng giới, thu nhập và tăng trưởng: Thời kỳ tăng trưởng kinh tế có mang lại lợi ích cho phụ nữ?, 1999) [34], Klasen và Lamanna (Tác động của bất bình đẳng giới trong giáo dục và việc làm tới tăng trưởng kinh

tế ở các nước đang phát triển: bằng chứng mới đối với một nhóm các quốc gia, 2009) [46], Braustein (Hiệu quả của bình đẳng giới tới tăng trưởng kinh tế: tiếp cận từ trường phái Tân cổ điển và giới, 2007) [30] Các nghiên cứu này xây dựng

mô hình đánh giá tác động của BBĐG tới TTKT dựa trên mô hình của trường phái Tân cổ điển với nội dung chính là tốc độ TTKT là kết quả của hai nhóm yếu tố: (i) số lượng và tốc độ tăng các yếu tố đầu vào gồm: vốn vật chất (K), vốn con người (H) và (ii) tốc độ tăng dân số hay lực lượng lao động (L) và năng suất lao động (chịu tác động của công nghệ) Từ đó, các nghiên cứu xác định tác động của BBĐG tới các yếu tố là nguồn lực của TTKT một cách trực tiếp hoặc gián tiếp

Trong các nghiên cứu lý thuyết, BBĐG về giáo dục, việc làm, thu nhập và những tác động tới tới TTKT đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu

và các nhà hoạch định chính sách kinh tế-xã hội và đã có khá nhiều nghiên cứu

lý thuyết chỉ ra tác động của BBĐG trên các khía cạnh trên đối với TTKT

Trang 7

(1) Tác động của bất bình đẳng giới trong giáo dục tới tăng trưởng kinh tế

Trước hết, dựa vào mô hình TTKT Tân cổ điển, các tác giả Klasen và Lamanna (2009) cho rằng BBĐG về giáo dục hạn chế TTKT thông qua việc giảm vốn nhân lực Giả sử tính trong phạm vi toàn nền kinh tế trẻ em trai và trẻ

em gái có cùng phân phối khả năng thiên bẩm và em nào có khả năng tốt hơn sẽ được học nhiều hơn Khi BBĐG tồn tại (mà hiện nay đang theo hướng có lợi cho các em trai) có nghĩa là các em trai có khả năng học tập kém hơn các em gái vẫn

có cơ hội học nhiều hơn Do đó, khả năng thiên bẩm trung bình của trẻ em trai và gái trong nhóm trẻ em được đào tạo sẽ thấp hơn so với trường hợp các em trai và gái có cơ hội được học tập như nhau Nếu lượng vốn con người trong mỗi cá nhân được tính bằng tổng của khả năng thiên bẩm và kiến thức thông qua đào tạo thì bất bình đẳng về giáo dục sẽ làm giảm vốn nhân lực trung bình trong nền kinh tế và do đó tác động tiêu cực đến TTKT Hơn nữa, theo quy luật khi lợi ích kinh tế cận biên giảm dần, việc hạn chế giáo dục đối với nữ và tăng cường giáo dục đối với nam sẽ làm cho lợi ích kinh tế cận biên của đầu tư cho giáo dục dành cho nam thấp hơn so với nữ Vì thế, chiến lược đầu tư cho giáo dục có BBĐG như vậy sẽ làm giảm lợi ích cận biên trung bình của cả giáo dục đối với nam và

nữ, và hạn chế TTKT trong toàn nền kinh tế [46, tr 93-97] Ngoài ra, tác giả Ferrant còn cho rằng vì BBĐG trong giáo dục hạn chế tích lũy vốn nhân lực nên đồng thời gián tiếp gây ra một tác động tiêu cực nữa đến TTKT thông qua hạn chế đầu tư vì đầu tư trong nền kinh tế chỉ được khuyến khích khi vốn nhân lực dồi dào [36, tr 15]

Lý giải thứ hai cho tác động tiêu cực của BBĐG trong giáo dục tới TTKT liên quan đến những tác động ngoại ứng của giáo dục dành cho nữ Tác giả Klasen và Lamanna (2009) đã chia sẻ kết quả nghiên cứu của các tác giả Gabor and Weil năm 1996 và Largelof năm 2003 rằng tăng cường giáo dục đối với những người mẹ sẽ làm giảm tỷ suất sinh, giảm tỷ lệ chết của trẻ em và tác động tích cực đến giáo dục cho trẻ em Mỗi yếu tố này đều có tác động tích cực đến TTKT cả trong ngắn hạn và dài hạn: giáo dục tốt hơn cho trẻ em sẽ làm tăng vốn

Trang 8

8nhân lực cho thế hệ sau; tỷ suất sinh thấp hơn sẽ làm giảm gánh nặng về người phụ thuộc, dẫn tới tỷ lệ tiết kiệm cao hơn và đều thúc đẩy TTKT trong tương lai Ngoài ra, việc giảm tỷ lệ sinh sau khoảng vài chục năm sẽ dẫn tới một thời điểm

“dân số vàng”: dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh hơn nhiều so với tổng dân số và thu nhập bình quân đầu người tăng lên Vì vậy, BBĐG về giáo dục sẽ hạn chế tác động ngoại ứng tích cực ấy và hạn chế cơ hội tận dụng tác động tích cực của giai đoạn "dân số vàng" [46, tr 93 -94]

Thứ ba, tác giả Seguino (2000) cho rằng BBĐG trong giáo dục sẽ giảm cơ hội áp dụng thành công chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới của một số nền kinh tế thông qua việc thâm dụng lao động nữ với mức lương thấp hơn trong những ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu Để lao động nữ có thế tham gia và tạo năng lực cạnh tranh của các ngành đó trên thị trường thế giới, nữ giới cần phải được qua đào tạo nhiều hơn, và quan điểm hạn chế đầu tư cho giáo dục đối với nữ phải được xóa bỏ Ngoài ra, lao động nữ cũng cần có cơ hội có việc làm trong các ngành này mà không gặp phải cản trở nào của BBĐG trên thị trường lao động [61, tr 1211-1230]

(2) Tác động của bất bình đẳng giới trong việc làm tới tăng trưởng kinh tế

BBĐG về việc làm thường được xem xét trên hai góc độ: bất bình đẳng về việc tham gia vào lực lượng lao động (tình trạng có việc làm hay không) và bất bình đẳng về thu nhập Đến nay, có khá nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các tác động

và lý giải các kênh dẫn truyền tác động của BBĐG về việc làm tới TTKT

Nhóm tác giả Klasen và Lamanna (2009) đã đề cập đến mô hình lý thuyết khám phá tác động của BBĐG trên thị trường lao động thông qua việc mô hình hóa sự không tham gia của nữ trong lực lượng lao động cũng như công tác quản

lý của tác giả Volart (2004) trong nghiên cứu "Bất bình đẳng giới và tăng trưởng: lý thuyết và bằng chứng từ trường hợp của Ấn Độ" Tác giả Volart giả định nam và nữ có khả năng thiên bẩm về thực hiện công việc chuyên môn hay quản lý như nhau, nam và nữ có quyền quyết định đầu tư bao nhiêu cho phát triển vốn nhân lực Tác giả kết luận rằng BBĐG về việc làm là không hiệu quả

Trang 9

bởi điều này bóp méo nền kinh tế và gây tác động tới TTKT tương tự như BBĐG về giáo dục BBĐG làm giảm tổng nhân tài (hay giảm khả năng trung bình của lực lượng lao động) mà các doanh nghiệp có thể tuyển dụng để làm việc Ngoài ra, nếu phụ nữ không được nắm giữ các vị trí quản lý thì khả năng trung bình của những người làm công tác quản lý cũng giảm Điều này hạn chế quá trình ứng dụng đổi mới và công nghệ và cản trở TTKT [67] Tác giả Klasen

và Lamanna (2009) cũng khẳng định rằng tác động này không chỉ đúng đối với lao động làm công ăn lương mà còn đúng đối với cả những người tự doanh trong khu vực nông nghiệp cũng như phi nông nghiệp nếu nam và nữ không được tiếp cận như nhau đối với các đầu vào quan trọng, công nghệ hay các nguồn lực sản xuất khác [46, tr 94]

Liên quan đến vấn đề này, các giả David và Teignier-Baque (2012) đã bình luận kết quả nghiên cứu mang tên "Bất bình đẳng giới, tỷ lệ sinh và tăng trưởng"

do nhóm tác giả Gabor and Weil thực hiện năm 1996 Kết luận cơ bản là khi phụ

nữ có việc làm và tạo thu nhập thì chi phí cơ hội của việc nuôi con tăng lên làm cho tỷ suất sinh giảm, gia tăng dân số chậm lại đồng thời mức vốn trên một lao động tăng lên và thúc đẩy TTKT Ngược lại, BBĐG về việc làm dẫn tới tỷ suất sinh cao hơn và do đó hạn chế TTKT [33, tr 7]

Dựa trên kết quả nghiên cứu của Seguino (2000) về tác động của chênh lệch thu nhập giữa nam và nữ đối với khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế của một số quốc gia hướng về xuất khẩu như đã phân tích ở trên, các tác giả Klasen và Lamanna (2009) cho rằng những kết luận này hàm ý nếu có BBĐG trong cơ hội việc làm ở một quốc gia thì TTKT của quốc gia đó bị giảm đi Lý

do là các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu không thể thâm dụng lao động

nữ với mức lương rẻ như một lợi thế cạnh tranh

Ngoài ra, có một số nghiên cứu chỉ ra tầm quan trọng của việc làm và thu nhập của nữ đối với quyền thương thuyết của họ trong gia đình Nghiên cứu

"Lồng ghép giới trong phát triển" của WB năm 2001 cho rằng việc làm và thu

Trang 10

10nhập của nữ làm tăng quyền thương thuyết của phụ nữ Điều này không chỉ có lợi cho chính phụ nữ mà còn tạo ra một số ảnh hưởng tích tới với TTKT [69, tr 83-92] Kết luận này cũng được các tác giả Klasen và Lamanna khẳng định và đồng nhất với kết luận trong nghiên cứu của tác giả Stotky (2006) rằng khi nữ có quyền quyền định nhiều hơn đối với nguồn lực trong gia đình thì tỷ lệ tiết kiệm của gia đình sẽ cao hơn (do nữ có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn nam), đầu tư hiệu quả hơn, khả năng trả các khoản tín dụng tốt hơn Ngoài ra, nữ cũng dành tỷ trọng đầu

tư cao hơn cho sức khỏe và giáo dục đối với trẻ em Vì thế, vốn nhân lực cho thế

hệ sau tăng lên và thúc đẩy TTKT trong dài hạn [46, tr 95]

Đề cập đến BBĐG trong việc làm và tham nhũng trong nền kinh tế, WB (2001) đã chứng minh lao động nữ ít có xu hướng tham nhũng và lạm dụng quyền hành hơn so với nam Như thế, xét tổng thể nếu tỷ lệ nữ có việc làm trong nền kinh tế cao hơn thì toàn nền kinh tế hoạt động có hiệu quả hơn [68, tr 92-97]

Về tác động của BBĐG về lương tới TTKT, các tác giả Klasen và Lamanna (2009) chỉ ra hai cách lập luận khác nhau dẫn tới hai kết luận trái ngược nhau Một mặt, trong công trình nghiên cứu "Bất bình đẳng giới, tỷ suất sinh và tăng trưởng", các tác giả Gabor và Weil (1996) cho rằng chênh lệch lương giữa lao động nam và lao động nữ làm cho tỷ lệ lao động nữ tham gia vào các hoạt động sản xuất xã hội giảm đi, tăng tỷ lệ sinh, và hạn chế TTKT [38], [46, tr 94] Ngược lại, tác giả Seguino (2000) nhận định khi lương của nam giới càng cao hơn lương của nữ giới thì các nước đi theo định hướng công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu và thâm dụng lao động nữ trong các ngành chế biến xuất khẩu có thể tăng năng lực cạnh tranh và thúc đẩy TTKT [60, tr 1211-1230] Thực ra, những kết luận của hai nhóm tác giả không mâu thuẫn mà do có khác biệt trong về cách tiếp cận: nghiên cứu của tác giả Seguino (2000) chú trọng vào tác động đến TTKT do cầu kích thích trong ngắn hạn, trong khi mô hình của các tác giả Gabor và Weil (1996) xem xét TTKT dài hạn từ phía cung Vì thế, có thể

Trang 11

nói chiều hướng tác động của chênh lệch lương theo giới đối tới TTKT tùy thuộc vào khung thời gian phân tích

1.1.1.2 Tác động của bất bình đẳng giới tới phát triển con người

Tác động của BBĐG tới PTCN bao gồm tác động của BBĐG về giáo dục, việc làm, thu nhập, quyền ra quyết định trong gia đình, quyền về chính trị… tới một khía cạnh thuộc của PTCN như sức khỏe, trình độ học vấn Các lý thuyết kinh tế đề cập trực tiếp hoặc ngụ ý tác động của BBĐG tới phát triển thường thông qua phân tích hành vi của gia đình liên quan đến các quyết định sản xuất hoặc chi tiêu Các lý thuyết này được phát triển từ kinh tế học vi mô về phân công lao động giữa vợ và chồng về việc nhà và việc tạo thu nhập hoặc liên quan đến quyền phân bổ thu nhập cho những mục đích tiêu dùng khác nhau của gia đình Thông qua những khác biệt giới vốn có trong hành vi chi tiêu và sản xuất hoặc những khác biệt giới xuất phát từ chuẩn mực xã hội liên quan đến phân công lao động và phân bổ ngân sách trong gia đình (ngụ ý quyền ra quyết định

về thu nhập), các nghiên cứu lý thuyết đã chỉ ra rằng BBĐG có tác động đáng kể tới PTCN

(1) Tác động của bất bình đẳng giới trong giáo dục tới phát triển con người

Trong xã hội, BBĐG về giáo dục thể hiện qua quan niệm cho rằng việc học tập là rất quan trọng đối với nam và không quan trọng đối với nữ, do đó nữ

có ít cơ hội được học tập so với nam giới Khi BBĐG trong giáo dục giảm đi có nghĩa là đầu tư cho giáo dục cũng như trình độ học vấn của nữ tăng lên tương đối Dựa trên suy luận như vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã cho thấy bình đẳng giới

về giáo dục trực tiếp và gián tiếp tác động tích cực tới nhiều khía cạnh của PTCN như giáo dục cho thế hệ sau, sức khỏe gia đình, đặc biệt là sức khỏe của trẻ em

Tác giả Klasen (2002) đã cho thấy giáo dục dành cho người mẹ có ảnh hưởng tích cực tới giáo dục của những đứa con cả về mặt chất lượng và số lượng thông qua hỗ trợ trực tiếp hoặc tạo điều kiện và môi trường học tập thuận Vì thế,

Trang 12

12khi BBĐG về giáo dục với tình trạng phụ nữ được học ít hơn không chỉ kìm hãm PTCN trong ngắn hạn (đối với chính những người phụ nữ) mà còn trực tiếp tác động tiêu cực tới vốn con người trong dài hạn [43, tr 346] Các tác giả Hill và King cũng chỉ ra rằng tác động của trình độ học vấn của những bà mẹ đến giáo dục của con cái lớn hơn so với tác động của trình độ học vấn của những ông bố Khi các ông chồng có trình độ học vấn cao hơn, họ thường chuyên tâm vào làm việc trên thị trường lao động với mức thu nhập cao Do đó, hai vợ chồng thường phân công lao động theo hướng: chồng tạo thu nhập và tham gia ít hơn vào việc nhà, còn vợ sẽ đảm nhiệm việc nhà như chăm sóc con cái, nội trợ với thời lượng nhiều hơn so với làm việc có thu nhập Các thành viên trong gia đình được sẽ hưởng lợi từ thu nhập nhiều hơn từ trình độ học vấn cao hơn của người bố, nhưng không dễ dàng được hưởng những lợi ích phi tiền tệ từ người bố như kiến thức chuyên môn và các kỹ năng Vì vậy, thu nhập cao hơn của người bố chỉ bù đắp một phần cho sự thiếu hụt kỹ năng của người mẹ, người sát sao chăm sóc sức khỏe và học hành của con cái [39, tr 25, 26, 32] Ngoài ra, tác giả Klasen (2002) còn chỉ ra rằng khi anh chị em trong cùng một gia đình (bất kể là trai hay gái) có trình độ học vấn tương đương nhau thì có thể thúc đẩy thành tích học tập của nhau thông qua tương tác trực tiếp trong học tập hoặc những trò chơi trí tuệ Tương tự, những cặp vợ chồng có trình độ tương đương có thể hỗ trợ nhau trong quá trình học tập suốt đời Tóm lại, BBĐG hạn chế tác động ngoại ứng tích cực của giáo dục của nữ đối với chất lượng giáo dục chung trong gia đình [43, tr 352]

Các tác giả Hill và King (1995) cũng đã chỉ ra bốn kênh thông qua đó giáo dục dành cho phụ nữ có tác động tích cực tới sức khỏe của cả gia đình Thứ nhất, những người mẹ có trình độ học vấn cao hơn có thể có kiến thức và thông tin đầy đủ hơn về giữ gìn vệ sinh và lựa chọn thực phẩm dinh dưỡng tốt cho sức khỏe Thứ hai, họ có thể coi trọng vấn đề về sinh cá nhân và chăm sóc sức khỏe gia đình và vì thế sẵn sàng dành nhiều thời gian hơn cho vấn đề này Thứ ba, họ

Trang 13

có thể chăm sóc sức khỏe gia đình tốt hơn do có tiếp cận nhiều hơn với thông tin dịch vụ y tế hoặc ứng dụng những kiến thức chăm sóc sức khỏe một cách hiệu quả hơn Thứ tư, họ có thể hạn chế tác động tiêu cực của tình trạng vệ sinh chung hoặc nguồn nước trong cộng đồng kém Khi không có những dịch vụ chăm sóc sức khỏe thì những bà mẹ có trình độ học vấn cao hơn có thể bảo vệ những đứa trẻ sơ sinh tốt hơn trong điều kiện môi trường bất lợi cho sức khỏe

Vì thế, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh và tần suất ốm đau của các thành viên trong gia đình có người mẹ, người vợ có trình độ học vấn cao sẽ giảm đi [39, tr 25, 26] Kết luận này ngụ ý rõ ràng rằng BBĐG về giáo dục có tác động tiêu cực tới sức khỏe của gia đình

Tác giả Klasen (1999) đã khẳng định lại kết luận trong nghiên cứu của các học giả Becker (1981), Schultz (1993), Sen (1999) rằng chi phí cơ hội của thời gian của phụ nữ và quyền thương thuyết trong gia đình là những yếu tố quyết định tỷ suất sinh và số con trên một phụ nữ Khi BBĐG trong giáo dục giảm đi, người phụ nữ có trình độ học vấn cao hơn, họ dễ dàng có được việc làm được trả lương Khi đó, chi phí cơ hội của việc sinh con sẽ tăng lên nên tỷ suất sinh sẽ giảm đi Điều này có thể coi là tác động tích cực và gián tiếp của giáo dục tới tỷ suất sinh thông qua việc làm và thu nhập [42, tr 9] Các tác giả Hill và King (1995) còn chỉ ra một kênh nữa cho tác động của trình độ học vấn của nữ tới tỷ suất sinh Khi nữ giới có trình độ học vấn cao thường lập gia đình muộn hơn và sinh con đầu lòng ở tuổi cao hơn, sinh ít con hơn Do đó, nguồn lực gia đình dành cho mỗi đứa con sẽ tăng lê, vì thế cả sức khỏe và điều kiện học tập dành cho những đứa con được cải thiện [39, tr 25] Những kết luận này cũng có thể được hiểu là BBĐG sẽ hạn chế đầu tư nguồn lực trong gia đình cho mỗi trẻ em

vì khi đó số trẻ em trong mỗi gia đình tăng lên

Tác giả Mikkola (2005) đã đưa ra những minh chứng cho thấy khi BBĐG trong giáo dục giảm đi, đồng thời có bình đẳng giới trên thị trường lao động thì phụ nữ có cơ hội có thu nhập cao tương tương với nam giới Do đó, quyền

Trang 14

14thương thuyết của người vợ đối với người chồng trong gia đình cũng được cải thiện [52, tr 19-20] Vì phụ nữ thường coi trọng việc chăm sóc sức khỏe gia đình và giáo dục dành cho con cái nên khi họ có quyền quyết định trong chi tiêu thì tỷ trọng ngân sách chi cho giáo dục và y tế tăng lên Vì thế, có thể nói BBĐG

về giáo dục đã gián tiếp gây ra tác động tiêu cực đến PTCN thông qua việc hạn chế phân bổ ngân sách và nguồn lực gia đình theo hướng có tác động tích cực cho sự PTCN

(2) Tác động của bất bình đẳng giới trong việc làm tới phát triển con người

Những nghiên cứu lý thuyết về tác động của BBĐG trong việc làm tới PTCN có liên quan chặt chẽ tới những lý thuyết về quyền ra quyết định và sự phân bổ nguồn lực trong gia đình Trong bài tổng quan về các mô hình lý thuyết mang tên "Quyền thương thuyết và phân phối trong hôn nhân", các tác giả Lundberg và Pollak (1996) đã tổng kết những nghiên cứu lý thuyết về quyền thương thuyết và phân bổ nguồn lực gia đình Các tác giả này đã khẳng định rằng các mô hình lý thuyết gần đây bác bỏ giả định về việc gộp chung thu nhập của vợ và chồng và người tạo thu nhập thường có quyền quyết định Ngoài ra, quyền thương thuyết hay quyền ra quyết định và sự phân công lao động trong gia đình cũng chịu ảnh hưởng của quan niệm của xã hội về việc phân công vai trò của vợ và chồng Các tác giả cũng đã kết luận rằng vợ và chồng có cách phân bổ ngân sách theo cơ cấu tiêu dùng khác nhau [48, tr.140-152]

Nối tiếp lập luận trên, tác giả Ferrant (2011) và các tác giả Thomas và Strauss (1997) cho rằng khi mức độ bất bình đẳng về việc làm và thu nhập tăng lên tỷ lệ nữ làm công ăn lương giảm đi, thu nhập trung bình của phụ nữ thấp hơn nữa so với nam giới, thì quyền thương thuyết hay quyền tự chủ trong gia đình đối với người phụ nữ giảm đi [37] Tác giả Ferrant cũng nhất trí với nhận định rằng điều này ảnh hưởng tiêu cực tới phát triển vì khi đó người phụ nữ không có quyền quyết định chi tiêu trong gia đình và hiệu quả của việc phân bổ nguồn lực

Trang 15

gia đình giảm đi do nam giới thường chi tiêu ít hơn cho chăm sóc sức khỏe và giáo dục với con cái so với phụ nữ [37, tr.15]

1.1.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của bình đẳng giới tới phát triển

1.1.2.1 Những nghiên cứu đối với các nước trên Thế giới

(1) Tác động của bất bình đẳng giới tới tăng trưởng kinh tế

Như đã đề cập trong phần tổng quan các nghiên cứu lý thuyết, rất khó tách riêng tác động của BBĐG trên từng phương diện giáo dục, việc làm (bao gồm cả mức độ tiếp cận với các nguồn lực trong trường hợp tự doanh), thu nhập đối với TTKT Hơn nữa, các nghiên cứu thực nghiệm thường đánh giá tác động của BBĐG trên một số khía cạnh nên phần sau tóm tắt những nghiên cứu thực nghiệm về tác động của BBĐG trong cả giáo dục và việc làm tới TTKT mà không phân tích riêng các tác động trên từng phương diện như trong phần tổng quan các nghiên cứu lý thuyết Các nghiên cứu về tác động của BBĐG trong giáo dục khá đa dạng nên phần này chỉ tổng quan những nghiên cứu có ảnh hưởng nhất về phương pháp và có những đóng góp khác nhau về kết quả nghiên cứu

Phương pháp phổ biến trong các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ nhân quả của BBĐG tới TTKT là phân tích tương quan hoặc hồi quy số liệu chéo, số liệu mảng hoặc cả hai loại số liệu Biến phụ thuộc thường là GDP hoặc GNP, tốc độ TTKT, thu nhập bình quân đầu người hoặc năng suất tổng hợp, biến giải thích bao gồm các biến truyền thống của mô hình TTKT Tân cổ điển như: vốn hoặc mức đầu tư, lao động và/hoặc vốn nhân lực, mức độ mở cửa nền kinh

tế hoặc kim ngạch thương mại và các biến thể hiện mức độ BBĐG (tổng hợp hoặc trên từng khía cạnh nghiên cứu) Các nghiên cứu vĩ mô đều nhất quán với các nghiên cứu vi mô về tác động tiêu cực của BBĐG tới TTKT

Trang 16

16Các nghiên cứu đối với các nhóm quốc gia và riêng từng quốc gia được đề cập trong hai phần khác nhau để so sánh phương pháp tiếp cận và loại số liệu được dùng trong phân tích

a) Những nghiên cứu đối với nhóm quốc gia

Các tác giả Barro và Lee (1994) là những người tiên phong nghiên cứu mối quan hệ giữa BBĐG trong giáo dục và TTKT với công trình nghiên cứu mang tên "Nguồn gốc của tăng trưởng" Qua phân tích số liệu của 116 quốc gia giai đoạn 1965-1985, hai tác giả đã xác định các yếu tố giải thích cho sự khác biệt về tốc độ TTKT giữa các quốc gia như: hiệu ứng hội tụ (một quốc gia sẽ TTKT nhanh nếu nước ấy ban đầu có GDP thực tế bình quân đầu người thấp so với mức vốn con người tính bằng thành tích trong giáo dục), tác động tích cực của tỷ lệ đầu tư trên GDP, tác động tiêu cực của quy mô chính phủ quá lớn, tác động tiêu cực của những can thiệp làm bóp méo thị trường của chính phủ, và tác động tiêu cực của sự bất ổn về chính trị Ngoài ra, nghiên cứu này còn phát hiện

ra rằng khi đưa biến giáo dục tiểu học và trung học của trẻ em trai và trẻ em gái vào phương trình hồi quy thì nhận được hệ số âm cho giáo dục cho trẻ em gái Các tác giả giả định rằng hệ số âm này không phải là giáo dục đối với trẻ em gái không góp phần thúc đẩy TTKT mà ngược lại, phản ánh thực tế rằng trong nền kinh tế tồn tại một mức độ bất bình đẳng về giáo dục giữa nam và nữ, điều được cho là biến gần đúng phản ánh mức độ lạc hậu về phát triển và do đó có tương quan âm với tốc độ TTKT [27, tr 1-46]

Để kiểm định lại xem giáo dục đối với nữ có tác động tiêu cực tới TTKT như mô hình của các tác giả Barro và Lee (1994) đã đưa ra không, một số tác giả khác như Dollar và Gatti (1999), Klasen (2002), Klasen và Lamana (2009) đã phát triển tiếp hướng nghiên cứu này Các nhóm tác tác giả sau này đã phát hiện

ra một số thiếu sót trong những phép hồi quy ban đầu của hai tác giả Barro và Lee như: thiếu biến về trình độ giáo dục ban đầu, hiện tượng đa cộng tuyến cao giữa biến giáo dục cho trẻ em trai và trẻ em gái, hiện tượng nội sinh và thiếu

Trang 17

biến giả về khu vực Những hạn chế này đã được các tác giả sau đó khắc phục trong các nghiên cứu của họ [34], [43], [46]

Dollar và Gatti (1999) là hai tác giả được dẫn chiếu trong hầu hết các nghiên cứu về mối quan hệ giữa BBĐG (trong đó có BBĐG về giáo dục) và TTKT Hai tác giả đã ước tính phương trình TTKT cho hàng trăm quốc gia trong giai đoạn 1975-1990 và đưa ra những phát hiện quan trọng Đóng góp thứ nhất là việc sử dụng bốn nhóm thước đo khác nhau cho BBĐG như: mức độ tiếp cận và thành tích trong giáo dục (đặc biệt là giáo dục trung học); mức độ cải thiện sức khỏe (đo bằng tuổi thọ bình quân phân tách theo giới); các chỉ số phản ánh bình đẳng giới về kinh tế và bình đẳng trước pháp luật; và các thước đo về sự trao quyền cho phụ nữ (tỷ lệ nữ trong quốc hội/nghị viện, thời điểm nữ có quyền bầu cử) Các tác giả phát hiện ra rằng các thước đo này có tương quan dương vói nhau, mặc dù mối tương quan này không hoàn hảo Đóng góp thứ hai và là một trong những đóng góp chính của hai tác giả là một phát hiện ngược lại với kết luận của tác giả Barro và Lee rằng giáo dục trung học dành cho nữ có tương quan dương với TTKT Vì vậy, đầu tư ít hơn cho giáo dục đối với nữ không phải

là một lựa chọn kinh tế hiệu quả Điểm khác biệt cơ bản trong nghiên cứu này và nghiên cứu của Barro là biến giả (dummy) cho khu vực châu Mỹ La tinh được đưa vào phương trình hồi quy và dấu âm đối với hệ số của giáo dục đối với nữ

đã không còn nữa Các tác giả Dollar và Gatti cũng lý giải rằng hệ số âm trong giáo dục đối với trẻ em gái là do sự kết hợp của TTKT thấp với trình độ học vấn của nữ cao ở các nước châu Mỹ La tinh trong bộ số liệu đã được đưa vào mô hình Đóng góp thứ ba là những phát hiện về nguyên nhân của BBĐG Đó là những yếu tố như: tín ngưỡng, khu vực và mức độ tự do dân sự Tuy nhiên, mức

độ tác động của các yếu tố này tới BBĐG trên từng phương diện là khác nhau [34]

Tác giả Klasen và Lamanna (2009) đã phê phán cả những phương trình hồi quy đầu tiên của hai nhóm tác giả Barro và Lee và cách tiếp cận của Dollar

Trang 18

và Gatti (1999) Nhóm tác giả này cho rằng dấu âm của hệ số giáo dục đối với

nữ không còn nữa bởi vì vấn đề đa cộng tuyến được giải quyết đồng thời biến giả về khu vực đã được đưa vào mô hình Trong nghiên cứu thực hiện năm 2009,

họ đã phân tích tác động của BBĐG tới TTKT trong dài hạn dựa vào phương pháp hồi quy cả số liệu chéo và số liệu mảng cho nhóm quốc gia trong giai đoạn 1960-2000 Họ đã đưa vào mô hình những biến số truyền thống có tác động tới TTKT như tốc độ tăng dân số, tốc độ tăng lực lượng lao động, mức độ mở cửa (tính bằng tỷ trọng của nhập khẩu và xuất khẩu trong tổng GDP), mức vốn đầu

tư, vốn nhân lực, các biến về BBĐG trong giáo dục và việc làm và biến giả về khu vực Các tác giả đã kết luận rằng nữ giới trong thế kỷ 21 vẫn bị phân biệt khá lớn về cả giáo dục và mức độ tham gia các hoạt động kinh tế; mức độ sâu sắc của BBĐG trên mỗi phương diện tùy thuộc vào từng khu vực Ngoài ra, hai tác giả còn có một số đóng góp đáng kể khác Thứ nhất, với quy mô số liệu lớn hơn, nghiên cứu này cũng khẳng định lại kết luận của những nghiên cứu trước đó rằng BBĐG về giáo dục kìm hãm TTKT trong thập kỷ 90, tuy nhiên tác động này rất nhạy cảm khi đưa các biến giả về khu vực vào Thứ hai, phân tích số liệu mảng cho thấy rằng BBĐG về việc tham gia vào lực lượng lao động có tác động tiêu cực đáng kể tới TTKT Điều này cũng khẳng định lại kết quả nghiên cứu của chính Klasen (1999) Thứ ba, về mặt chính sách, nghiên cứu gợi ý một chính sách khuyến khích tạo thêm việc làm cho nữ và xỏa bỏ các rào cản đối với nữ về việc tham gia vào các hoạt động kinh tế tạo thu nhập Tuy đây là một nghiên cứu khá đồ sộ về quy mô và cẩn trọng về phương pháp, nhưng bản thân các tác giả cũng nhận thấy một số hạn chế khó có thể khắc phục làm cho những phát hiện vẫn mang chỉ tính gợi ý Thứ nhất, việc phân tích tác động của việc làm tới TTKT được thực hiện dựa trên những số liệu về tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam và nữ mà các số liệu này có thể có sai sót, hoặc không tương đương trên phạm vi toàn cầu và đặc biệt là thường không sẵn có đối với các nước đang phát triển Thứ hai, những lỗi thường gặp đối với hồi quy số liệu chéo

Trang 19

như thiếu biến, hiện tượng nội sinh, lỗi về mô hình…mới chỉ được kiểm soát một phần nên vẫn có thể tồn tại

Tác giả Seguino (2000) đã kiểm định các yếu tố quyết định TTKT đối với các nền kinh tế bán công nghiệp hướng về xuất khẩu và có sử dụng nhiều lao động nữ trong khu vực sản xuất hàng xuất khẩu thông qua việc hồi quy số liệu chéo của 116 quốc gia có thu nhập đầu người thấp và trung bình trong giai đoạn 1980-1993 Kết luận chính của tác giả là BBĐG với mức lương của LĐ nữ thấp hơn tương đối so với LĐ nam nên các ngành xuất khẩu thâm dụng lao động nữ

có thể tăng sức cạnh tranh thông qua chi phí lương thấp hơn và do đó thúc đẩy TTKT Ngoài ra, chênh lệch mức lương theo giới còn có một kênh tác động tích cực tới TTKT một cách gián tiếp thông qua tác động tích cực tới đầu tư [60, tr 1211-1230] Tuy nhiên, năm 2011, các tác giả Schober và Winter- Ebmer đã ứng dụng lại phương pháp của bà Seguino và nghiên cứu ba nhóm quốc gia với mức

độ mở cửa và mức độ công nghiệp hóa khác nhau và đi đến kết luận ngược lại: bất kỳ sự BBĐG nào đều có tác động tiêu cực tới TTKT [59, tr 1476-1484]

b) Những nghiên cứu đối với từng quốc gia

Các tác giả Martin và Garvi (2009) trong công trình nghiên cứu mang tên

"Bất bình đẳng giới và tăng trưởng kinh tế ở Tây Ban Nha: một phân tích mang tính khám phá" đã chỉ ra mối quan hệ giữa của mức độ phát triển giới (phản ánh mức độ BBĐG) với mức độ PTCN và TTKT dựa trên số liệu chéo của các tỉnh ở Tây Ban Nha Thông qua phân tích tương quan giữa GDP/người và HDI, GDI, vị thế tương đối của phụ nữ, các tác giả đã kết luận rằng TTKT và mức độ phát triển giới, mức độ PTCN theo vùng thể hiện mối tương quan dương rõ rệt đối với nhóm tỉnh có mức độ phát triển giới rất cao hoặc rất thấp [50, tr 23-48]

Tác giả Pervaiz và cộng sự (2011) đã phân tích tác động của BBĐG tới TTKT thông qua số liệu theo thời gian của Pakistan giai đoạn 1972-2009 qua bài báo khoa học mang tên "Bất bình đẳng giới và tăng trưởng kinh tế: phân tích theo chuỗi thời gian với trường hợp của Pakistan" Các tác giả đã dựa vào mô

Trang 20

20hình TTKT Tân cổ điển và hồi quy tốc độ tăng GDP thực tế đầu người với các biến độc lập bao gồm tốc độ tăng lực lượng lao động, đầu tư, mức độ mở cửa và chỉ số tổng hợp về BBĐG trên 8 khía cạnh thuộc giáo dục, cơ cấu lực lượng lao động, y tế Kết luận chính của nhóm tác giả là BBĐG có tác động tiêu cực tới TTKT trong dài hạn [57, tr 434-439]

Với tham luận mang tên "Tác động của giáo dục trên phương diện giới tới phát triển kinh tế ở Thổ Nhĩ Kỹ", các tác giả Tansel, A và cộng sự (2012) đã phân tích tác động của BBĐG trong giáo dục tới TTKT ở quốc gia này thông qua phân tích số liệu mảng của 67 tỉnh qua bốn giai đoạn 1975-80, 1980-85, 1985-

90, 1990-2000 Tác động của BBĐG được đánh giá gián tiếp thông qua việc phân tách riêng biến giáo dục của nữ và nam khi đưa vào hàm sản xuất Cobb- Douglas Kết luận chính của nhóm tác giả là BBĐG có tác động tiêu cực và có ý nghĩa tới năng suất lao động [63, tr 1-26]

(2) Tác động của bất bình đẳng giới tới phát triển con người

Về phương pháp, các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến tác động của bình đẳng giới tới phát triển chủ yếu dựa vào hồi quy hoặc phân tích tương quan dựa trên số liệu chéo hoặc số liệu mảng với đơn vị quan sát là các quốc gia hoặc khu vực (tỉnh) Hầu hết kết luận của các nghiên cứu này khẳng định tác động tiêu cực của việc hạn chế cơ hội học tập, việc làm, thu nhập và quyền năng cho phụ

nữ tới các khía cạnh khác nhau của phát triển Những phát hiện cụ thể được tổng hợp sau đây

a) Tác động của bất bình đẳng giới về giáo dục tới phát triển con người

Các nghiên cứu thực nghiệm đều khẳng định những kết luận của các mô hình lý thuyết về đóng góp của bình đẳng giới trong giáo dục, hay trình độ học vấn của nữ và trẻ em gái tới PTCN như giáo dục và sức khỏe cho trẻ em, sức khỏe của các thành viên trong gia đình trong cả ngắn hạn và dài hạn

Trong nghiên cứu của nổi tiếng được thực hiện năm 1995, các tác giả Hill

và King đã tóm tắt các công trình của Emmanuel Jimenez và Marlaine Lockheed

Trang 21

1989 với nghiên cứu về Thái Lan, Marlaine Lockheed 1989a, 1989b với nghiên cứu về Philippin, Thái Lan và Malawi, M.Anne Hill và June O’Neill 1994 với nghiên cứu về Mỹ và khẳng định rằng số năm đi học của người mẹ đóng góp tích cực và đáng kể vào thành tích, động cơ và thói quen học tập của con cái Hai tác giả Hill và King cũng công nhận kết luận trong nghiên cứu của Roenweig và Wolpin thực hiện năm 1994 đối nước Mỹ rằng khi người mẹ tăng thêm mỗi năm

đi học trước khi sinh con thì thành tích học tập về môn toán, đọc và từ vựng, xác suất học tới trình độ cao của những đứa con đều tăng lên [39, tr 25-37] Tác giả Mikkola (2005) cũng nêu ra minh chứng từ phát hiện của các tác giả Bhalla và Gill (1992), rằng số năm đi học của người mẹ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tỷ lệ nhập học cấp 2, cấp 3 và bậc đại học Hơn nữa, tác giả Mikkola cũng chia sẻ phát hiện trong nghiên cứu ở Phần Lan đối với 106 sinh viên học tiến sĩ nhập học trong giai đoạn 1991-1999 của nhà nghiên cứu Korhonen rằng thời gian học tiến sĩ chuyên ngành kinh tế sẽ rút ngắn đi vài năm đối với những sinh viên có mẹ thuộc nhóm 50% có trình độ giáo dục cao trong

Trang 22

22cao hơn, họ có thể gia tăng quyền ra quyết định về chi tiêu trong gia đình Lý do cho việc tăng quyền thương thuyết trong trường hợp này một phần là do chính trình độ học vấn, và phần lớn là do trình độ học vấn cao giúp người phụ nữ có việc làm và có thu nhập

Dựa trên số liệu của các quốc gia từ năm 1960 đến 1985, các tác giả Hill

và King (1995) đã đánh giá tác động của giáo dục dành cho phụ nữ và BBĐG trong giáo dục tới phúc lợi xã hội như: TTKT, giáo dục cho con cái, tuổi thọ bình quân, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, tỷ suất sinh Để đánh giá tác động tới phát triển, các chỉ số phản ánh phúc lợi xã hội như tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, tỷ lệ chết của các bà mẹ khi sinh con và mang thai và tỷ suất sinh được hồi quy theo các biến giải thích bao gồm cả biến giáo dục của nữ và BBĐG

về giáo dục Hai tác giả đã chứng minh rằng ngoài những tác động tích cực trong gia đình, giáo dục nhiều hơn đối phụ nữ cũng có tác động lan tỏa trong toàn xã hội, không chỉ thể hiện qua tốc độ TTKT cao hơn mà còn là phúc lợi xã hội (đo bằng các chỉ số phát triển xã hội) tốt hơn Nhóm tác giả còn khẳng định tỷ lệ nhập học của nữ ở cấp tiểu học và trung học cao có tương quan dương với tuổi thọ trung bình của nam và nữ cao hơn, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh thấp hơn, và tỷ

lệ sinh thấp hơn Khi tỷ lệ nhập học cấp 1 của nữ tăng thêm 10 điểm phần trăm thì tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh giảm đi trung bình 4,1 trên 1000 trẻ em được sinh ra Nếu tỷ lệ nhập học cấp 2 của nữ tăng thêm 10 điểm phần trăm thì tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh sẽ giảm thêm 5,6 trẻ trên 100 trẻ em được sinh ra Ở những quốc gia

có tỷ lệ nhập học của nữ so với nam nhỏ hơn 42% thì tuổi thọ trung bình của nam giảm đi 4 tuổi so với các nước có điều kiện tương đương nhưng mức độ BBĐG về giáo dục thấp hơn [39, tr 26-33]

b) Tác động của bất bình đẳng giới về việc làm tới phát triển con người

Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm đều chỉ ra kênh tác động của việc làm và thu nhập của nữ tới phát triển là sự kết hợp giữa quyền ra quyết định của

Trang 23

phụ nữ trong chi tiêu gia đình và khác biệt về hành vi hay ưu tiên tiêu dùng giữa nam và nữ

Trong bài tổng quan tương đối toàn diện, tác giả Mikkola (2005) đã chỉ ra nhiều bằng chứng về tác động của quyền ra quyết định và phân bổ nguồn lực của phụ nữ tới PTCN Tác giả Mikkola đã dẫn chiếu đến nghiên cứu của các tác giả Lundberg và Pollak (1996) về một cuộc “thử nghiệm tự nhiên” được thực hiện ở Anh trong những năm 1970 khi có sự thay đổi về chính sách chuyển tiền hỗ trợ trẻ em từ chồng sang vợ Hệ quả là chi tiêu cho quần áo của nam giới giảm đi và chi tiêu cho quần áo của trẻ em tăng lên Điều này thể hiện một biểu hiện trong

xã hộị là khi có sự chuyển dịch nguồn lực từ chồng sang vợ và vợ có quyền quyết định chi tiêu thì tỷ trọng ngân sách dành cho trẻ em tăng lên, chăm sóc trẻ

em tốt hơn [52, tr 17-18]

Tương tự, trong nghiên cứu mang tên "Bất bình đẳng giới, đói nghèo và tăng trưởng kinh tế", tác giả Morrison và cộng sự (2007) cũng khẳng định kết quả nghiên cứu của Lloyd và Blanc (1996) rằng trẻ em trong các gia đình do nữ làm chủ ở 7 nước châu Phi có số năm đi học trung bình cao hơn 4 lớp so với trẻ

em trong các gia đình do nam giới làm chủ Tác giả cũng công nhận kết luận của Joshi (2003) rằng các gia đình do nữ làm chủ dành nhiều nguồn lực hơn cho trẻ

em [54, tr 5-8] Từ những bằng chứng thực nghiệm này, chúng ta có thể kết luận rằng khi phụ nữ có việc làm, có thu nhập và có quyền ra quyết định chi tiêu nói riêng hay quyền phân bổ nguồn lực nói chung thì họ có thể tạo ra tác động tích cực tới PTCN trong cả ngắn hạn và dài hạn

1.1.2.2 Những nghiên cứu đối với Việt Nam

Cho đến nay, mới chỉ có hai nghiên cứu đánh giá tác động của một khía cạnh của BBĐG tới TTKT hoặc phát triển ở Việt Nam

Nghiên cứu của WB (2008) với tiêu đề "Phân tích tác động của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cả vợ và chồng ở Việt Nam" đã đánh giá tác động của việc ghi cả tên vợ và tên chồng trên giấy chứng nhận quyền sử

Trang 24

24dụng đất tới các yếu tố: tiếp cận tín dụng, cơ hội kinh doanh và việc làm của phụ

nữ, quyền sử dụng đất, các lợi ích khác và vị thế của phụ nữ trong gia đình và trong cộng đồng Nghiên cứu này đã phân tích định tính các số liệu sơ cấp thu thập từ 3 tỉnh Hưng Yên, Khánh Hòa và Tiền Giang đại diện cho 3 vùng của Việt Nam Tuy nhiên, do mẫu điều tra nhỏ nên cơ hội phân tích định lượng còn hạn chế Nghiên cứu đã kết luận rằng việc ghi tên cả hai vợ chồng trong giấy kết hôn đã giảm thời gian xử lý thủ tục hành chính liên quan đến tín dụng, tăng cơ hội tiếp cận vốn và tăng cơ hội đầu tư của các hộ gia đình Sự chuyển đổi từ ghi tên một người (chủ yếu là chồng) sang ghi tên hai vợ chồng góp phần cải thiện vị thế và quyền lực kinh tế của phụ nữ trong gia đình, tạo lợi thế cho người phụ nữ khi có mâu thuẫn trong gia đình, cải thiện sinh kế và mức sống cho những phụ

nữ cao tuổi [70, tr 7-14]

Công trình nghiên cứu của các tác giả Duvvury, N., Carney, P và TS Nguyễn Hữu Minh (2012) mang tên "Ước tính chi phí của bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam" đã ước lượng chi phí của tình trạng bạo hành gia đình đối với phụ nữ Việt Nam thông qua cuộc khảo sát với 541 phụ nữ ở nông thôn và

512 phụ nữ ở thành thị Chi phí cơ hội được xác định bằng tổng của chi phí thực

tế của việc chữa trị và các chi phí liên quan đến hỗ trợ trên cạnh pháp lý, chi phí liên quan đến tư vấn và cảnh sát; phần học phí bị mất đi do trẻ em phải nghỉ học

do người mẹ bị bạo hành không thể đưa con tới trường; và phần thu nhập trung bình mất đi do người phụ nữ phải nghỉ làm Nghiên cứu đưa ra hai phát hiện chính Thứ nhất, bạo hành đối với phụ nữ và trẻ em gái cao và tồn tại ở tất cả các nhóm dân số với điều kiện kinh tế xã hội, trình độ học vấn và tôn giáo khác nhau Thứ hai, tổng chi phí cơ hội ước tính gần bằng 1,41% GDP của Việt Nam năm 2010, tương đương 2.536.000 tỷ đồng Ngoài ra, một số biện pháp nhằm hạn chế bạo hành gia đình đối với phụ nữ cũng đã được đề xuất [35, tr 36- 74] Ngoài ra, đề tài nghiên cứu với chủ đề "Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động ở Việt Nam và một số gợi ý chính sách" do TS Nguyễn Thị

Trang 25

Nguyệt (Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương) làm chủ nhiệm đã nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tới bất bình đẳng trong thu nhập thông qua phân tích số liệu VHLSS 2002 và 2004 Kết luận là các yếu tố có ảnh hưởng đến chênh lệch lương theo giới bao gồm: trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, vùng, ngành kinh tế, tuổi tác của người lao động, chi tiêu, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, vùng lãnh thổ, tình trạng hôn nhân, sức khỏe và ngành nghề Các giải pháp được đề xuất có liên quan tới thúc đẩy giáo dục, tạo

cơ cấu ngành nghề hợp lý, nâng cao trình độ chuyên môn, phân bố lao động phù hợp với độ tuổi và theo vùng và hợp tác nghiên cứu về BBĐG [10]

Ngoài ba nghiên cứu trên, có một số nghiên cứu đánh giá tình trạng BBĐG ở Việt Nam với phương pháp nghiên cứu chủ yếu là thống kê mô tả từ số liệu VHLSS, tổng điều tra dân số và nhà ở hoặc phân tích định tính Các nghiên cứu thuộc nhóm này gồm có công trình của tác giả Lee, S (2008) mang tên "Tình trạng giáo dục, việc làm và sức khỏe của phụ nữ như thế nào? Phân tích từ cuộc điều tra mức sống hộ gia đình năm 2006" [47]; của nhóm tác giả Rodger & Menon (2010) với báo cáo "Khác biệt giới về điều kiện kinh tế xã hội và sức khỏe: bằng chứng từ cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam" [58], của

WB với báo cáo tổng quát "Đánh giá giới ở Việt Nam" (2011) [69], của tác giả Nguyễn Việt Cường với tiêu đề "Bình đẳng giới về giáo dục, chăm sóc sức khỏe

và việc làm: bằng chứng từ trường hợp của Việt Nam" (2012) [31] Các nghiên cứu này có điểm chung trong nội dung chính là đánh giá mức độ bất bình đẳng trên các khía cạnh khác nhau ở Việt Nam nhưng chưa đánh giá tác động hoặc tìm hiểu nguyên nhân BBĐG Gần đây, luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Quỳnh Hoa mang tên "Bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam" đã chỉ ra những lợi thế của các gia đình có chủ hộ là nam trong việc tiếp cận đất đai và nguyên nhân của thực trạng này

Đề cập đến lịch sử hình thành khuôn mẫu giới và nguyên nhân của BBĐG

có nghiên cứu của tác giả Wendy N Duong (2001) với tiêu đề "Bình đẳng giới

Trang 26

và những vấn đề của phụ nữ ở Việt Nam: hình ảnh người phụ nữ Việt Nam - chiến binh và thi sĩ" (2001) Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng các yếu tố lịch sử, văn hóa, truyền thống đã gây dựng và củng cố khuôn mẫu giới và BBĐG trên các phương diện [72] Ngoài ra, các tài liệu chính sách hoặc đào tạo của UNFPA cũng đã chỉ ra những nguyên nhân gốc rễ của thực trạng BBĐG hoặc mất cân bằng giới tính khi sinh Tài liệu Tập huấn về vấn đề giới của UNFPA (2013) đã chỉ ra các nguyên nhân chính của BBĐG bao gồm: định kiến giới, hạn chế về nhận thức trong xã hội về bình đẳng giơi, tâm lý tiêu cực của phụ nữ, mối quan tâm hạn chế của các cơ quan, tổ chức xã hội

1.1.3 Các đóng góp và vấn đề còn bỏ ngỏ trong các nghiên cứu đã tổng quan

1.1.3.1 Các đóng góp của các nghiên cứu đã tổng quan

Về lý thuyết, các nghiên cứu trước đã có những đóng góp sau đây:

- Chỉ ra những khía cạnh có biểu hiện của BBĐG và xây dựng những thước đo khác nhau đánh giá mức độ BBĐG;

- Gợi ý một số mô hình đánh giá tác động và cơ chế tác động của BBĐG tới TTKT và phát triển nói chung

Về thực nghiệm, thông qua phân tích số liệu của nhóm quốc gia hoặc một

số quốc gia, các nghiên cứu trước đã góp phần:

- Chỉ ra các khía cạnh có biểu hiện của BBĐG, những nguyên nhân BBĐG ở Việt Nam và những khía cạnh của phát triển chịu tác động của bình đẳng giới hoặc BBĐG;

- Xây dựng các thước đo BBĐG, các cách đánh giá TTKT và phát triển có tính đến tác động giới

- Chỉ ra những lỗi kỹ thuật của các phân tích định lượng như: hiện tượng

đa cộng tuyến, hiện tượng nội sinh và cảnh báo hiện tượng thiếu biến

1.1.3.2 Những vấn đề còn bỏ ngỏ trong các nghiên cứu đã tổng quan

Thứ nhất, các nghiên cứu trước đây chủ yếu đánh giá tác động của BBĐG tới phát triển dựa trên số liệu về một số quốc gia Nghiên cứu về Việt Nam trên

Trang 27

phương diện này mới chỉ là một số ít nghiên cứu về tác động của BBĐG về quyền

sử hữu đất đai và bạo lực gia đình (thể hiện BBĐG về thái độ và sự tôn trọng) tới TTKT hoặc đánh giá mức độ BBĐG hay tìm hiểu nguyên nhân của BBĐG về thu nhập Vì thế, có thể coi nghiên cứu định lượng tác động của BBĐG tới phát triển ở Việt Nam dựa trên số liệu trên quy mô quốc gia còn bỏ ngỏ

Thứ hai, hầu hết các nghiên cứu trước về nhóm các nước khác nhau trên Thế giới có một hạn chế xuất phát từ sự tồn tại tính không nhất quán về thước đo

và cách thu thập các số liệu kinh tế cơ bản như GDP, mức độ BBĐG, tỷ lệ nhập học, thu nhập giữa các quốc gia Khi các nghiên cứu dựa trên số liệu chéo hoặc

số liệu mảng của nhóm quốc gia thì việc diễn giải kết quả hồi quy hay so sánh giữa các quốc gia còn chưa thật chính xác Hơn nữa, do hoàn cảnh, đặc điểm và mức độ phát triển của các quốc gia rất khác biệt nên phát hiện của các nghiên cứu đó khó có thể coi là kết luận chung và là cơ sở cho những giải pháp cho một nước cụ thể

Thứ ba, các nghiên cứu trước đây dựa vào giả định rằng tác động của BBĐG tới TTKT không thay đổi theo thời gian và giữa các quốc gia do chỉ nghiên cứu chủ yếu trên dữ liệu cho nhóm quốc gia mà chưa có nhiều bằng chứng nghiên cứu trong phạm vi một nước cụ thể

Thứ tư, các nghiên cứu đó chưa đánh giá toàn diện tác động của BBĐG tới cả TTKT và PTCN

1.2 Hướng nghiên cứu của luận án

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là đánh tác động của BBĐG trong giáo dục và việc làm tới TTKT và PTCN ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp liên quan tới BBĐG nhằm góp phần thúc đẩy quá trình phát triển của Việt Nam

Để đạt được mục tiêu đó, luận án có các mục tiêu cụ thể sau đây:

(i) Làm rõ cơ sở lý luận về tác động của BBĐG trong giáo dục và việc làm tới TTKT và PTCN và phương pháp đánh giá;

Trang 28

28(ii) Đánh giá thực trạng BBĐG trong giáo dục và việc làm và tác động của BBĐG trong giáo dục và việc làm tới TTKT và PTCN;

(iii) Đề xuất các giải pháp có liên quan tới BBĐG và tác động của nó để thúc đẩy quá trình phát triển của Việt Nam

1.2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tác động của bất bình đẳng giới (trên hai phương diện giáo dục và việc làm) tới phát triển (thể hiện qua hai trụ cột chính là tăng trưởng kinh tế và phát triển con người) ở Việt Nam

1.2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

(1) Phạm vi nội dung

Về BBĐG, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trên hai khía cạnh: giáo dục và việc làm Khía cạnh giáo dục và việc làm được lựa chọn để nghiên cứu vì

ba lý do Thứ nhất, để đạt được các mục tiêu cốt lõi của phát triển [Todaro, 2006,

P 22] giáo dục và việc làm là hai yếu tố tối quan trọng: giáo dục nhằm góp phần trang bị năng lực và việc làm phản ánh quá trình sử dụng năng lực ấy nhằm đem lại lợi ích cho con người Thứ hai, giáo dục có thể góp phần làm cải thiện vốn nhân lực, việc làm thể hiện sự sử dụng vốn nhân lực, một đầu vào quan trọng cho TTKT, một trụ cột quan trọng của phát triển Ngày nay các quốc gia đang chuyển đổi dần sang nền kinh tế tri thức, nền kinh tế sử dụng chất xám như một đầu vào quan trọng, để theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững nên vốn nhân lực trở nên quan trọng hơn Thứ ba, những giải pháp liên quan BBĐG trong giáo dục

và việc làm có thể được thể chế hóa nhằm đảm bảo tính thực thi

Về phát triển, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trên hai khía cạnh/ thước đo cốt lõi của của phát triển: tăng trưởng kinh tế và phát triển con người (xét trên hai tiêu chí giáo dục cho trẻ em và chăm sóc sức khỏe gia đình) Theo các tài liệu học thuật, khái niệm phát triển tương đối rộng và chứa đựng các khía cạnh có liên quan đến nhau và yếu tố này có thể là kênh dẫn truyền tác động hoặc là phương tiện để đạt được yếu tố kia Thành tích phát triển con người (về y

Trang 29

tế và giáo dục) trực tiếp làm tăng vốn nhân lực và do đó trở thành một kênh dẫn truyền tác động tích cực tới TTKT Tuy nhiên, có một số cơ sở cho việc phân tích riêng các tác động của bình đẳng giới tới TTKT và PTCN Thứ nhất, theo Liên hiệp quốc, PTCN chính là biểu hiện và đồng thời là trọng tâm của phát triển của mỗi quốc gia, vì thế đó là vấn đề cần nghiên cứu độc lập của kinh tế phát triển Thứ hai, số liệu sẵn có ở Việt Nam hiện nay không cho phép định lượng tất

cả những kênh tác động của BBĐG tới TTKT nên cần phân tách tác động theo riêng tới TTKT và PTCN Thứ ba, những nghiên cứu đánh giá tác động của BBĐG tới TTKT chủ yếu được thực hiện ở cấp vĩ mô, trong khi nghiên cứu đánh giá tác động của BBĐG tới PTCN thường được phân tích ở cấp vi mô với đơn vị phân tích là hộ gia đình, cá nhân hoặc doanh nghiệp Vì thế, có thể nói nghiên cứu tác động của BBĐG tới TTKT và PTCN riêng rẽ là bổ sung cho nhau Hơn nữa, đối với bất kỳ quốc gia nào, TTKT và cải thiện chỉ số PTCN đều được coi là hai mục tiêu quan trọng nhất của phát triển

Bất bình đẳng giới trong việc làm

PHÁT TRIỂN

Tăng trưởng kinh tế

Phát triển con người

Sơ đồ 1.1: Phạm vi nội dung tác động của bất bình đẳng giới tới phát triển

Trang 30

(3) Phạm vi thời gian

Để có thể có phân tích cập nhật nhất cho Việt Nam, luận án sử dụng số liệu được công bố chính thức bởi các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam như: Tổng cục Thống kê, Bộ Lao động Thương binh Xã hội, các Sở Kế hoạch đầu tư cấp tỉnh, các viện nghiên cứu Dựa vào số liệu được công bố chính thức đến tháng 6 năm 2015, luận án có phạm vi nghiên cứu là giai đoạn 2000-2012

Từ giai đoạn nghiên cứu này, luận án đề xuất các giải pháp hướng đến giai đoạn 2016-2025 Với giai đoạn đủ dài như vậy, một mặt các đề xuất có thể được áp dụng và thể hiện tác động, mặt khác, khoảng thời gian này đủ dài để sau tiếp tục đánh giá tác động chính sách để có thể đề xuất gói chính sách mới

1.2.3 Vấn đề mới của luận án: các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

1.2.1.1 Các câu hỏi nghiên cứu

Tổng quan các nghiên cứu đã công bố đã cho thấy tương đối nhiều nghiên cứu về lý thuyết và thực nghiệm (chủ yếu là phân tích nhóm quốc gia) liên quan đến BBĐG và tác động của nó Tuy nhiên, theo nhận định của các tác giả Bandiera và Natraj (2013), các nghiên cứu đó dựa trên số liệu của nhóm quốc gia với những đặc điểm và hoàn cảnh rất khác biệt nên những kết luận hay đề xuất của các nghiên cứu đó khó có thể suy rộng ra cho một hoặc một nhóm quốc gia khác [26] Tổng quan các công trình nghiên cứu cũng cho thấy số lượng nghiên cứu về tác động của BBĐG tới phát triển của từng quốc gia còn ít; nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam cũng chưa được thực hiện Dựa trên những vấn đề còn bỏ ngỏ trong các nghiên cứu như vậy, luận án lấy trọng tâm là phân tích tác động của BBĐG trong giáo dục và việc làm tới hai khía cạnh của phát triển là TTKT

và PTCN thông qua việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu cụ thể sau đây:

(1) Thực trạng BBĐG trong giáo dục và việc làm ở Việt Nam như thế nào? (2) BBĐG trong giáo dục và việc làm có tác động như thế nào tới TTKT và PTCN ở Việt Nam?

Trang 31

(3) Những yếu tố nào ảnh hưởng tới BBĐG trong giáo dục và việc làm ở Việt Nam? Cần những chính sách nào can thiệp vào BBĐG trong giáo dục, việc làm

và các tác động của nó để thúc đẩy phát triển ở Việt Nam trong thời gian tới?

1.2.1.2 Các giả thuyết nghiên cứu chính

Dựa trên các nghiên cứu đã tổng quan và phạm vi nghiên cứu (trong Mục 1.2.2- Chương 1), câu hỏi nghiên cứu cần kiển định bằng định lượng tương đương với các giả thuyết sau đây:

H1: BBĐG trong giáo dục tác động tiêu cực tới TTKT

H2: BBĐG trong việc làm tác động tiêu cực tới TTKT

H3: BBĐG trong giáo dục tác động tiêu cực tới giáo dục cho thế hệ sau

H4: BBĐG trong giáo dục tác động tiêu cực tới chăm sóc sức khỏe gia đình

H5: BBĐG trong việc làm tác động tiêu cực tới giáo dục cho thế hệ sau

H6: BBĐG trong việc làm tác động tiêu cực tới chăm sóc sức khỏe gia đình

1.2.4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

1.2.4.1 Cách tiếp cận đề tài luận án

Trước hết, dựa trên các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đã được thực

hiện từ trước đến nay (Chương 1), luận án làm rõ khung lý thuyết và phương pháp đánh giá tác động của BBĐG tới phát triển (Chương 2) Tiếp theo, luận án

phân tích thực trạng và đánh giá tác động của BBĐG trong giáo dục và việc làm

tới TTKT và PTCN ở Việt Nam chủ yếu bằng phương pháp hồi quy (Chương 3)

Đồng thời, luận án sẽ tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới BBĐG về giáo dục và việc làm ở Việt Nam thông qua phân tích, tổng hợp dữ liệu từ các nghiên cứu trước, rà soát những chính sách có liên quan và áp dụng phương pháp phân rã

Blinder -Oaxaca (Chương 3) Từ đó, luận án đề xuất một số giải pháp liên quan

tới BBĐG và cơ chế tác động của BBĐG tới phát triển nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của BBĐG hướng tới mục tiêu cuối cùng là thúc đẩy TTKT và PTCN ở Việt Nam trong tương lai

Trang 32

32 Cách tiếp cận và nội dung chính của luận án có thể được tóm tắt trong Sơ

(2) Tiếp cận vi mô

Theo tổng kết của tác giả Mikkola (2005), biểu hiện vĩ mô của nền kinh tế

có thể được phân tích ở cấp vi mô Vì thế, luận án sử dụng thêm cách tiếp cận vi

mô với đơn vị phân tích là cá nhân hoặc hộ gia đình dựa trên nguồn dữ liệu từ các cuộc điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS) với mục đích:

- Phân tích thực trạng BBĐG trong giáo dục và việc làm của Việt Nam thông qua thống kê mô tả với các dữ liệu phân tách theo giới với đơn vị phân tích là cá nhân;

- Đánh giá tác động của BBĐG tới TTKT thông qua thống kê mô tả và so sánh thu nhập bình quân đầu người trong gia đình do nữ làm chủ hộ với các gia đình do nam làm chủ hộ

Bất bình đẳng giới

[trong giáo dục (i)

và việc làm (ii)]

Phát triển

[Tăng trưởng kinh tế (i)

và phát triển con người (ii)

Các yếu tố ảnh hưởng

Các giải pháp nhằm (i) giảm bất bình đẳng giới trong giáo dục

và việc làm và (ii) giảm tác động tiêu cực của BBĐG trong giáo dục và việc làm tới phát triển ở Việt Nam

- Phân rã Blinder-Oaxaca

- Tổng hợp và phân tích định tính Phân tích tương quan và hồi quy

Trang 33

- Đánh giá tác động của BBĐG tới PTCN thông qua hồi quy tác động của trình độ học vấn và tình trạng việc làm của bố và mẹ tới giáo dục cho con cái và chăm sóc sức khỏe gia đình

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới BBĐG ở Việt Nam

1.2.4.2 Phương pháp luận nghiên cứu

Luận án sử dụng kết hợp nhiều phương pháp luận tư duy như: phương pháp tư duy biện chứng, phương pháp phân tích và tổng hợp, khái quát hóa, diễn giải và quy nạp để nghiên cứu đề tài luận án và giải quyết các vấn đề thuộc nội

dung nghiên cứu

1.2.4.3 Phương pháp phân tích dữ liệu

Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích định lượng như: thống

kê mô tả, phân tích tương quan, phân tích hồi quy với số liệu chéo hoặc số liệu mảng, phân rã Blinder-Oaxaca Ngoài ra, Chương 3 cũng được bổ sung phương pháp phân tích định tính, tổng hợp các thông tin, số liệu từ các nghiên cứu hoặc các thông tin được công bố trong các ấn phẩm, các cơ sở dữ liệu được phát hành chính thức Cụ thể là phương pháp tổng hợp, so sánh, thống kê, phân tích định tính dùng để tìm hiểu thực trạng của BBĐG trong giáo dục và việc làm; phương pháp tính hệ số tương quan, hồi quy được dùng đánh giá tác động của BBĐG tới tăng trưởng kinh tế và phát triển con người; phương pháp phân rã Blinder - Oaxaca được dùng để tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến BBĐG trong giáo dục và việc làm ở Việt Nam

1.2.4.4 Nguồn dữ liệu

Các số liệu dùng trong luận án này chủ yếu là số liệu thứ cấp được trích ra

từ các cuộc điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS của GSO, xem thêm chi tiết

về các cuộc điều tra này ở Phụ lục 8) Ngoài ra, luận án còn sử dụng số liệu được công bố định kỳ như: Điều tra lao động việc làm (LFS của Bộ LĐTBXH), Số liệu kinh tế xã hội cấp tỉnh (Cục Thống kê), số liệu của các cơ quan, tổ chức quốc tế như WB, UNDP…

Trang 34

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TỚI

PHÁT TRIỂN 2.1 Các khái niệm cơ bản

2.1.1 Giới và bất bình đẳng giới

2.1.1.1 Giới

Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm giới, chẳng hạn:

Giới đề cập đến vai trò của nam và nữ được xã hội xác định và những hành

vi, kỳ vọng gắn liền với nam và nữ được nhận biết thông qua xã hội [69, tr 34]

Giới đề cập đến những quy tắc và thông lệ thông qua đó xã hội xác lập các quyền, các đặc điểm và cách ứng xử xác định nam và nữ [25, tr 1]

Giới đề cập đến vai trò và mối quan hệ giữa nam và nữ được xã hội quy định [17]

Giới là tập hợp những đặc điểm cụ thể hình thành từ văn hóa, xác định hành vi của nam và nữ trong xã hội và mối quan hệ giữa nam và nữ [6]

Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan

hệ xã hội [Luật Bình đẳng giới 2006, tr 1]

Các định nghĩa trên đây, về bản chất đều mang hàm ý giống nhau ở một điểm: phạm trù “giới” được mỗi cá nhân nhận biết và áp dụng trong tư duy, hành

vi và ứng xử, hay nhận định, kỳ vọng của mình thông qua quá trình quan sát, học hỏi và tương tác với các cá nhân khác trong xã hội; giới được hình thành dựa trên những bối cảnh văn hóa, xã hội nhất định và do đó có thể thay đổi theo thời gian và khi bối cảnh văn hóa – xã hội thay đổi (xem thêm Phụ lục 10 - Phần A)

2.1.1.2 Bất bình đẳng giới

(1)Khái niệm

Để bàn về BBĐG, trước hết cần hiểu bình đẳng giới

Bình đẳng giới là khi nam và nữ có quyền, nghĩa vụ và điều kiện để thực hiện các quyền, nghĩa vụ là như nhau [6]

Trang 35

Bình đẳng giới còn có nghĩa là nam và nữ được công nhận và đánh giá ngang nhau về địa vị xã hội, và họ không bị gán những khác biệt giữa nam nữ vào những công việc hoặc bối cảnh xã hội khác nhau [17]

Bình đẳng giới trong các thời kỳ được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng về cơ hội, bình đẳng về kết quả và thành quả [69, tr 35]

Trong luận án này, khái niệm bình đẳng giới được sử dụng bao gồm cả bình đẳng của nam và nữ trước pháp luật, bình đẳng giới về cơ hội (chẳng hạn bình đẳng về cơ hội tiếp cận các nguồn lực sản xuất), bình đẳng giới về quyền lợi Khái niệm bất bình đẳng giới có thể được suy ra từ định nghĩa bình đẳng giới nêu trên và có thể được hiểu là bất kỳ sự khác biệt nào về quyền, cơ hội và lợi ích và/hoặc bất kỳ sự phân biệt đối xử của nam và nữ trên một hoặc một số phương diện trong cuộc sống

Luật Bình đẳng giới của Việt Nam năm 2006 và tài liệu của UNFPA, bất bình đẳng giới bao gồm bốn mức độ: vai trò giới, khuôn mẫu giới, định kiến giới

và phân biệt đối xử theo giới (Phụ lục 10)

(2)Đo lường bất bình đẳng giới

Khi phân tích bất bình đẳng giới trên từng khía cạnh, các thước đo được dùng thường là các tỷ lệ giá trị của một chỉ số riêng cho nam và nữ Ngoài ra, còn có một số thước đo tổng hợp được UNDP, WB và các quốc gia sử dụng trong các báo cáo Từ năm 1995, cùng với việc chỉ số HDI bắt đầu được dùng để phản ánh PTCN, các chỉ số GDI và GEM được xây dựng để đo lường những tiến

bộ từ góc độ bình đẳng giới Các chỉ số này có giá trị nằm trong khoảng 0-1 và càng gần 1 thì mức độ BBĐG càng thấp và ngược lại

Tương tự như HDI, GDI là một chỉ số tổng hợp liên quan đến 3 khía cạnh của phát triển: tuổi thọ trung bình, giáo dục và thu nhập GDI được tính dựa trên việc trừ thành tích HDI của một quốc gia theo mức độ bất bình đẳng trên từng khía cạnh đó Chỉ số này càng lớn tức là mức độ BBĐG càng nhỏ

Trang 36

36 GEM được tính dựa tính dựa trên ba phương diện: thu nhập tương đối của

nữ, mức độ tham gia của nữ trong các vị trí có thu nhập cao và có quyền lực về kinh

tế, và mức độ tiếp cận với các vị trí có chuyên môn cao hay đại biểu quốc hội

Từ những năm 80 trở lại đây, khái niệm phát triển bền vững được sử dụng rộng rãi, trong đó yếu tố môi trường được coi trọng Do khái niệm phát triển rất rộng nên luận án giới hạn trọng tâm nghiên cứu là đánh giá tác động của BBĐG tới hai khía cạnh chính của phát triển là TTKT và PTCN

2.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế

+ tốc độ tăng trưởng g = (Yt+1 – Yt)/Yt

trong đó Yt là tổng sản phẩm quốc nội tại thời điểm t

Trong nghiên cứu, các nhà khoa học thường dùng GDP làm biến phụ thuộc trong các phương trình hồi quy để phản ánh tiềm năng TTKT

2.1.2.2 Phát triển con người

- Khái niệm

Phát triển con người là một khái niệm chuẩn tắc và được thể hiện qua những sự cải thiện cuộc sống của con người trên nhiều phương diện như: kinh tế,

Trang 37

xã hội, tâm lý Theo nhà kinh tế học người Pakistan, Mahbub ul Haq:“con người là tài sản thực sự của các các quốc gia" Vì thế, "mục tiêu của phát triển là tạo ra một môi trường đảm bảo cho con người một cuộc sống lâu dài, khỏe mạnh và đầy sáng tạo"

Phát triển con người được định nghĩa trong Báo cáo Phát triển Con người của UNDP lần đầu tiên là "quá trình tăng cường những lựa chọn của con người Trong đó những lựa chọn quan trọng nhất là để đảm bảo sống một cuộc sống trường thọ và khỏe mạnh, được học tập và có khả năng tiếp cận các nguồn lực cần thiết để đảm bảo một cuộc sống tốt đẹp Ngoài ra là các lựa chọn nữa như sự

tự do, sự đảm bảo nhân quyền và sự tôn trọng"

- Thước đo

Theo định nghĩa này, phát triển con người ở mức độ cơ bản được đánh giá trên 3 phương diện: thu nhập bình quân đầu người, thành tích về giáo dục và thành tích về y tế Vì thế, trong các báo cáo Phát triển con người hàng năm, chỉ

số HDI phản ảnh thành tích trên 3 phương diện này và được sử dụng để đo lường

và xếp hạng thành tích phát triển con người của các quốc gia

2.2 Lý luận và phương pháp đánh giá tác động của bất bình đẳng giới trong giáo dục và việc làm tới tăng trưởng kinh tế

2.2.1 Lý luận về tác động của bất bình đẳng giới trong giáo dục và việc làm tới tăng trưởng kinh tế

2.2.1.1 Lý luận về tác động của bất bình đẳng giới trong giáo dục tới tăng

trưởng kinh tế

Luận án sử dụng cơ sở lý luận về tác động của BBĐG trong giáo dục tới TTKT dựa trên khung phân tích được các tác giả Klasen và Lamanna, Seguino phát triển và hoàn thiện trong các nghiên cứu trước đây [43], [44], [45], [46] BBĐ về giáo dục ở các nước hiện nay đều theo hướng bất lợi cho nữ và có biểu hiện là tỷ lệ nữ được đi học ít hơn hoặc số năm đi học ít hơn so với nam Điều này gây hạn chế hoặc kìm hãm TTKT thông qua các cơ chế sau:

Trang 38

38 Thứ nhất, BBĐG về giáo dục sẽ dẫn tới việc các em trai có khả năng học tập kém hơn các em gái vẫn có cơ hội học hành nhiều hơn Do đó, khả năng thiên bẩm trung bình của những đứa trẻ được cho đi học (tính chung cho cả bé trai và bé gái) giảm so với khi có bình đẳng giới Vì vốn nhân lực là tổng hợp của tài năng thiên bẩm và giáo dục nên BBĐG như vậy sẽ giảm mức vốn nhân lực trung bình trong nền kinh tế và kìm hãm TTKT, đặc biệt là trong dài hạn Thứ hai, theo quy luật lợi ích cận biên giảm dần, hạn chế giáo dục đối với

nữ đồng thời tăng giáo dục cho nam làm cho lợi ích kinh tế cận biên của giáo dục dành cho nam thấp hơn so với giáo dục dành cho nữ Điều này trực tiếp làm giảm tăng trưởng của nền kinh tế

Thứ ba, hạn chế tiếp cận giáo dục khiến cho nữ giới có trình độ trung bình thấp hơn nam giới và gặp rào cản về cơ hội việc làm Khi đó, nền kinh tế không

có khả năng sử dụng lao động nữ với mức lương tương đối thấp hơn so với nam giới và giảm khả năng cạnh tranh trong các ngành hướng về xuất khẩu và thâm dụng lao động nữ Trong khi đó, những ngành công nghiệp này có tỷ trọng lớn trong nền kinh tế nói chung và đặc biệt là trong nhóm các ngành công nghiệp xuất khẩu nói riêng tại các nước đang phát triển như Việt Nam Như vậy, tác động tiêu cực của BBĐG về giáo dục tới tới TTKT của các nước đang phát triển được ước tính là khá lớn

Thứ tư, BBĐG về giáo dục còn kìm hãm TTKT do hạn chế tác động ngoại ứng tích cực của giáo dục dành cho nữ tới tỷ suất sinh, giáo dục đối với các thành viên khác trong gia đình, đặc biệt là cho con cái và chăm sóc sức khỏe gia đình Giáo dục đối với nữ không chỉ có tác động tới bản thân người phụ nữ mà còn làm giảm tỷ suất sinh, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ, nâng cao sức khoẻ và giáo dục cho thế hệ tiếp theo khi người trẻ em gái trở thành những người mẹ Những nhân tố này lại có tác động tích cực tới TTKT như giảm số người phụ thuộc, tăng tiết kiệm và đầu tư, tăng tỷ lệ vốn/lao động và tăng nguồn vốn nhân lực trong tương lai Ngược lại, xã hội ưu tiên giáo dục dành cho nam hơn sẽ gắn liền

Trang 39

với các hệ quả tiêu cực như tỷ suất sinh cao hơn, chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em kém hơn, vốn nhân lực trong tương lai giảm dẫn tới kìm hãm TTKT

Những tác động nói trên có thế được tóm tắt qua sơ đồ trong Hình 2.1

Sơ đồ 2.1 Tổng hợp các tác động của BBĐG trong giáo dục đến tăng trưởng

làm cho lợi ích kinh tế cận biên đối với giáo dục dành cho nữ cao hơn so với nam (theo quy luật lợi ích cận biên giảm dần)

giảm khả năng thiên bẩm trung bình của những đứa trẻ được đi học

giảm vốn nhân lực

giảm khả năng cạnh tranh của các ngành hướng về xuất khẩu thâm dụng lao động nữ

tăng gánh nặng về người phụ thuộc > giảm tiết kiệm và đầu tư + giảm tỷ

lệ vốn/LĐ

lợi ích cận biên trung bình của nam và nữ được đào tạo thấp hơn so với trường hợp có bình đẳng giới về giáo dục

giảm vốn nhân lực trung bình/giảm tổng vốn nhân

Giảm/kìm hãm tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn

và dài hạn

hạn chế chăm sóc sức khoẻ các thành viên trong gia đình, hạn chế chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ học tập đối trẻ em

Trang 40

40thông qua bốn kênh Ở một số khía cạnh, bất bình đẳng về việc làm có tác động tới TTKT tương đối giống với tác động của bất bình đẳng về giáo dục tới TTKT Thứ nhất, BBĐG trong việc làm sẽ giảm khả năng trung bình của lực lượng lao động trong nền kinh tế dẫn tới năng suất lao động thấp hơn, giảm khả năng đổi mới và sáng tạo và quản lý hiệu quả

Thứ hai, hạn chế về khả năng tiếp cận việc làm ở phụ nữ sẽ làm tăng tỷ suất sinh do chi phí cơ hội của việc sinh và nuôi con thấp Tác động này thường lấn át tác động giảm số con so thu nhập giảm Kết quả là tăng gánh nặng người phụ thuộc, giảm tiết kiệm và đầu tư, giảm tỷ lệ vốn/lao động

Thứ ba, bất bình đẳng về việc làm sẽ giảm khả năng thâm dụng lao động

nữ với chi phí lương thấp hơn so với lao động nam dẫn tới giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu và thâm dụng lao động nữ Vì các ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu và thâm dụng lao động nữ như may mặc, da giầy, chế biến thuỷ sản… có đóng góp lớn tới TTKT của các nước đang phát triển như Việt Nam nên bất bình đẳng về việc làm đối với nữ giới có tác động kìm hãm TTKT đáng kể so với các nước phát triển Thứ tư, hạn chế về thu nhập của người phụ nữ do bất bình đẳng về việc làm còn giảm khả năng thương thuyết và quyền ra quyết định trong gia đình của người phụ nữ Trong khi đó, nhiều nghiên cứu đã cho thấy phụ nữ với vai trò làm vợ và làm mẹ thường ưu tiên những khoản chi tiêu cho giáo dục và y tế hơn

so với nam giới Hệ quả của việc người phụ nữ có tiếng nói yếu hơn trong gia đình là chi phí cho giáo dục và sức khoẻ của trẻ em và các thành viên khác bị cắt giảm, dẫn tới hạn chế đầu tư cho vốn nhân lực cả ở hiện tại và tương lai

Các kênh tác động này được tóm tắt qua sơ đồ trong Hình 2.2 dưới đây

Ngày đăng: 07/05/2016, 21:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Phạm vi nội dung tác động của bất bình đẳng giới tới phát triển - Tiểu luận môn quản lý kinh tế tác động bất bình đẳng đến phát triển ở việt nam
Sơ đồ 1.1 Phạm vi nội dung tác động của bất bình đẳng giới tới phát triển (Trang 29)
Sơ đồ 2.1 Tổng hợp các tác động của BBĐG trong giáo dục đến tăng trưởng - Tiểu luận môn quản lý kinh tế tác động bất bình đẳng đến phát triển ở việt nam
Sơ đồ 2.1 Tổng hợp các tác động của BBĐG trong giáo dục đến tăng trưởng (Trang 39)
Sơ đồ 2.2 Tổng hợp các tác động của BBĐG trong việc làm tới - Tiểu luận môn quản lý kinh tế tác động bất bình đẳng đến phát triển ở việt nam
Sơ đồ 2.2 Tổng hợp các tác động của BBĐG trong việc làm tới (Trang 41)
Sơ đồ 2.3 Tổng hợp các tác động của BBĐG trong giáo dục và việc làm tới phát triển con người - Tiểu luận môn quản lý kinh tế tác động bất bình đẳng đến phát triển ở việt nam
Sơ đồ 2.3 Tổng hợp các tác động của BBĐG trong giáo dục và việc làm tới phát triển con người (Trang 46)
Bảng 3.6 cho thấy khoảng cách giới về nghề nghiệp và địa vị. Biểu hiện - Tiểu luận môn quản lý kinh tế tác động bất bình đẳng đến phát triển ở việt nam
Bảng 3.6 cho thấy khoảng cách giới về nghề nghiệp và địa vị. Biểu hiện (Trang 67)
Bảng 3.7 Tiền lương bình quân tháng theo giới tính, giai đoạn 2002-2012 - Tiểu luận môn quản lý kinh tế tác động bất bình đẳng đến phát triển ở việt nam
Bảng 3.7 Tiền lương bình quân tháng theo giới tính, giai đoạn 2002-2012 (Trang 68)
Bảng 3.9 Tỷ lệ tiền lương bình quân tháng của nữ/nam theo - Tiểu luận môn quản lý kinh tế tác động bất bình đẳng đến phát triển ở việt nam
Bảng 3.9 Tỷ lệ tiền lương bình quân tháng của nữ/nam theo (Trang 70)
Bảng 3.10 Khoảng cách về tiền lương theo ngành nghề và theo giới tính, - Tiểu luận môn quản lý kinh tế tác động bất bình đẳng đến phát triển ở việt nam
Bảng 3.10 Khoảng cách về tiền lương theo ngành nghề và theo giới tính, (Trang 71)
Đồ thị 3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô - Tiểu luận môn quản lý kinh tế tác động bất bình đẳng đến phát triển ở việt nam
th ị 3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô (Trang 72)
Bảng 3.14 dưới đây cho biết giới tính của chủ hộ, xét theo tình trạng hôn - Tiểu luận môn quản lý kinh tế tác động bất bình đẳng đến phát triển ở việt nam
Bảng 3.14 dưới đây cho biết giới tính của chủ hộ, xét theo tình trạng hôn (Trang 76)
Bảng 3.15 dưới đây thể hiện thu nhập bình quân đầu người theo giới tính - Tiểu luận môn quản lý kinh tế tác động bất bình đẳng đến phát triển ở việt nam
Bảng 3.15 dưới đây thể hiện thu nhập bình quân đầu người theo giới tính (Trang 77)
Bảng 3.16 dưới đây mô tả thống kê đối với một số biến số sử dụng trong - Tiểu luận môn quản lý kinh tế tác động bất bình đẳng đến phát triển ở việt nam
Bảng 3.16 dưới đây mô tả thống kê đối với một số biến số sử dụng trong (Trang 80)
Đồ thị 3.2 Số năm đi học bình quân của nam và nữ theo độ tuổi - Tiểu luận môn quản lý kinh tế tác động bất bình đẳng đến phát triển ở việt nam
th ị 3.2 Số năm đi học bình quân của nam và nữ theo độ tuổi (Trang 81)
Bảng 3.22 Năng suất lao động Việt Nam thời kỳ 2007-2013 - Tiểu luận môn quản lý kinh tế tác động bất bình đẳng đến phát triển ở việt nam
Bảng 3.22 Năng suất lao động Việt Nam thời kỳ 2007-2013 (Trang 97)
Bảng 3.26 Kết quả tổng quát về phân rã Blinder-Oaxaca cho khác biệt về tiền - Tiểu luận môn quản lý kinh tế tác động bất bình đẳng đến phát triển ở việt nam
Bảng 3.26 Kết quả tổng quát về phân rã Blinder-Oaxaca cho khác biệt về tiền (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w