1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may việt nam trong điều kiện tự do hoá thương mại

146 181 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 724,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan kết quả nghiên cứu trong và ngoài nướcĐã có nhiều công trình nghiên cứu về sản phẩm dệt may của Việt Nam như: “Đổi mới phương thức gia công xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt m

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cũng như nhiều nước phát triển khác, ở giai đoạn đầu củaquá trình phát triển kinh tế, sản phẩm may của Việt Nam đangngày càng trở thành sản phẩm có vị trí quan trọng đối với nềnkinh tế quốc dân Nó không chỉ góp phần tạo công ăn việc làmcho một số lượng lớn lao động mà giá trị xuất khẩu của sản phẩmmay còn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của

cả nước Nếu như năm 1995 kim ngạch xuất khẩu của sản phẩmmay chỉ đạt 660 triệu USD, chiếm 12,1% tổng kim ngạch xuấtkhẩu của cả nước đến năm 2000 tổng kim ngạch xuất khẩu củasản phẩm may đã là 1,457 tỉ USD, chiếm 10,1% tổng kim ngạchxuất khẩu; năm 2001 là 1,519 tỷ USD với tỉ trọng tương ứng là10,59%; năm 2002 là 2,064 tỉ USD chiếm tỉ trọng đến 12,48%.Năm 2003 giá trị xuất khẩu tương ứng là 2,875 tỉ USD chiếm tỉtrọng 14,46% trong tổng số kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam1

Hơn nữa, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIIĐảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ cần “phát triển nhanh côngnghiệp nhẹ, nhất là dệt may, da giầy, giấy và các mặt hàng thủcông mỹ nghệ Đầu tư hiện đại hoá dây chuyền công nghệ, nângcao chất lượng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm…” Tiếptheo đó Nghị quyết 4 của BCHTW Đảng khoá VIII, nhấn mạnhđến yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm xuấtkhẩu, xác định những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, đáp ứng

Trang 2

được nhu cầu trong nước và có khả năng tiêu thụ ở nước ngoài đểđịnh hướng và khuyến khích phát triển mạnh”

Lợi thế cạnh tranh hiển thị của sản phẩm may năm 2002 là0.233 cao hơn nhiều ngành công nghiệp khác2 Trên thực tế sảnphẩm may của Việt Nam đã phát triển nhanh với tốc độ bình quântrên 20%/năm, là sản phẩm công nghiệp có tốc độ tăng xuất khẩucao, chỉ sau dầu thô Với hình thức gia công là chủ yếu, sản phẩmmay của Việt nam đã khai thác được lợi thế “được hoàn thuế nhậpkhẩu nguyên vật liệu và thuế suất xuất khẩu bằng 0” nhưng giá trịgia tăng thấp, chỉ vào khoảng 10-15% Năng suất lao động chỉbằng 2/3 các nước trong khu vực Đa số sản phẩm không xuấtkhẩu trực tiếp mà thường thông qua trung gian nên giá bán cao:cao hơn 20% so với sản phẩm tương tự của Trung Quốc, 10-15%

so với các nước trong khu vực3 (Viện Nghiên cứu Chiến lược &Chính sách Công nghiệp, Bộ Công nghiệp)

Trong điều kiện tự do hoá thương mại nhất là chế độ hạnngạch đối với hàng dệt may sẽ được bãi bỏ sau năm 2004 theoHiệp định dệt may (ATC), áp lực cạnh tranh đối với sản phẩm

may ngày càng tăng lên Vì vậy, thực hiện đề tài “Nâng cao năng

lực cạnh tranh của sản phẩm may Việt Nam trong điều kiện tự

do hoá thương mại” từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao

năng lực cạnh tranh của sản phẩm may Việt Nam là một nghiêncứu hết sức cần thiết

Trang 3

Tổng quan kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về sản phẩm dệt may của

Việt Nam như: “Đổi mới phương thức gia công xuất khẩu của

các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế”- Trường Đại học Kinh tế Quốc dân do JICA tài trợ

(2000-2002); Dự án về “Tự do hoá thương mại và năng lực cạnh

tranh một số sản phẩm” (TLCM) do IDRC tài trợ (năm

1997-1998), trong đó có cả sản phẩm dệt may; Dự án “Nghiên cứu

năng lực cạnh tranh ngành dệt may” do Viện Chiến lược Phát

triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) thực hiện năm 1998; Đề án “Năng

lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương

(Bộ Kế hoạch và Đầu tư) thực hiện năm 1999; Đề tài cấp Bộ “Thị

trường hàng dệt may thế giới và khả năng xuất khẩu của Việt Nam” – Viện Nghiên cứu Thương mại năm 1999; Báo cáo dự án

nhánh “Nghiên cứu khả năng cạnh tranh nhóm hàng dệt may Việt

Nam” Viện Nghiên cứu Chiến lược & Chính sách công nghiệp

-Bộ công nghiệp năm 2002

Hiện nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào trên thếgiới về nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may ViệtNam trong điều kiện tự do hoá thương mại

Các nghiên cứu nêu trên mới chỉ phục vụ những mục đíchchung, và mang tính tổng hợp như nghiên cứu năng lực cạnhtranh của cả sản phẩm dệt và sản phẩm may hoặc các nghiên cứu

đó chỉ đề cập đến thị trường hàng dệt may thế giới hoặc khả năng

Trang 4

cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu

và phân tích năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Namcũng như đề ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực của sảnphẩm may Việt Nam trong điều kiện tự do hoá thương mại là phùhợp yêu cầu thực tế

2 Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranhcủa sản phẩm và ảnh hưởng của tự do hoá thương mại tới nănglực cạnh tranh của sản phẩm Phân tích thực trạng năng lực cạnhtranh của sản phẩm may Việt Nam trên thị trường xuất khẩu vàảnh hưởng của tự do hoá thương mại tới năng lực cạnh tranh củasản phẩm may Việt Nam để từ đó đề xuất các giải pháp đối vớicác doanh nghiệp và các cơ quan quản lý Nhà nước nhằm nângcao năng lực cạnh tranh trong điều kiện tự do hoá thương mại

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng

Nghiên cứu năng lực cạnh tranh sản phẩm may Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu

Giai đoạn nghiên cứu: từ 1995- đến nay

Giới hạn vào thị trường xuất khẩu

4 Những đóng góp của luận văn

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranhcủa sản phẩm và tác động của tự do hoá thương mại tới năng lựccạnh tranh của sản phẩm

Trang 5

- Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm mayxuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện tự do hoá thương mại

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnhtranh của sản phẩm may xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện

tự do hoá thương mại

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp duy vật biện chứng

- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp

- Phương pháp toán thống kê

6 Nội dung nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụlục, nội dung của luận văn được chia ra làm 3 chương:

Chương 1 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và tác động

của tự do hoá thương mại tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Chương 2 Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của sản

phẩm may Việt Nam

Chương 3 Tác động của tự do hoá thương mại và một số đề

xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may ViệtNam

Trang 6

CHƯƠNG 1 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI TỚI NĂNG LỰC

CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM 1.1 QUAN NIỆM VÀ CHỈ TIÊU THỂ HIỆN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM

1.1.1 Quan niệm về năng lực cạnh tranh của sản phẩm (*)

Trang 7

Các chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Như vậy, năng lực cạnh tranh của sản phẩm là cái hiện hữutrong sản phẩm Việc phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh củasản phẩm thường được tiến hành đồng thời bằng 3 phương pháp:(1) đánh giá trực tiếp trên sản phẩm (tính năng, chất lượng, giá cả,

sự tiện ích, mẫu mã ); (2) đánh giá trực tiếp thị trường (doanh sốbán, thị phần, tốc độ tăng thị phần, hệ thống phân phối ); (3)điều tra xã hội học - chủ yếu qua phiếu thăm dò khách hàng (sựthoả mãn nhu cầu, sự nhận biết tên sản phẩm, sự trung thành vớinhãn hiệu ) Sau đó so sánh các tiêu chí đó với sản phẩm của đốithủ cạnh tranh trên cùng thị trường tại cùng thời điểm để xác địnhnăng lực cạnh tranh của sản phẩm

Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là tìm ra những

biện pháp tác động vào quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm,làm cho nó có “tính vượt trội” so với sản phẩm cùng loại của đốithủ cạnh tranh (nếu nó chưa có năng lực cạnh tranh) hoặc làmtăng thêm sức mạnh cho sản phẩm, làm cho “tính trội” của nó ởmức tốt hơn, cao hơn trên thị trường tiêu thụ (nếu sản phẩm đã cónăng lực cạnh tranh nhưng năng lực cạnh tranh còn yếu) Nóicách khác: nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm là sử dụng một

số yếu tố tác động nhằm khắc phục những tồn tại được coi là trởngại làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm đồng thời hoàn thiệnnhững nhân tố làm tăng tính trội của nó so với đối thủ khác (chứkhông phải so với chính nó), nhằm làm cho thị phần của sảnphẩm tăng lên so với thị phần của đối thủ cạnh tranh của nó

Trang 8

Quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm khácvới việc hoàn thiện sản phẩm ở chỗ: hoàn thiện sản phẩm chỉ làquá trình làm cho sản phẩm đó trở nên tốt hơn, có tính mới hơn sovới chính nó ở những thời điểm khác nhau Vì vậy, có trường hợpsản phẩm không hoàn thiện nhưng lại có có sức cạnh tranh do nó

có tính trội hơn tương đối khi so sánh một cách tương đối với sảnphẩm khác

1.1.2 Các tiêu chí thể hiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Để chọn lựa các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lựccạnh tranh của sản phẩm cần phải có các tiêu chí định lượng để đolường và đánh giá chúng Để đánh giá năng lực cạnh tranh sảnphẩm cần sử dụng các tiêu chí định lượng và định tính dưới đâynhằm phân tích năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên phạm viquốc gia và quốc tế

- Các tiêu chỉ thể hiện năng lực cạnh tranh trên thị trường nội địa bao gồm:

(1) Các tiêu chí thuộc sản phẩm (tính năng, chất lượng, giá

- Mức độ hấp dẫn của sản phẩm đó về mẫu mã kiểu cách so

với các đối thủ cạnh tranh Trong quá trình quyết định mua của

Trang 9

mình khách hàng thường xem xét mẫu mã, kiểu dáng của sảnphẩm có phù hợp với yêu cầu và thị hiếu của mình hay khôngtrước khi tìm hiểu những thông tin khác về sản phẩm

- Mức chênh lệch về giá của mặt hàng đó so với các đối thủ

cạnh tranh Rõ ràng giá cả là một trong những yếu tố quan trongnhất thể hiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm Với hai sản phẩmtương tự nhau, khách hàng sẽ lựa chọn sản phẩm nào có giá thấphơn Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của marketing và quá trìnhkhác biệt hoá sản phẩm hiện nay hầu như không thể tìm thấy haisản phẩm hoàn toàn giống nhau trên thị trường, vì vậy, để đánhgiá năng lực cạnh tranh chính xác cần phải đánh giá thêm tiêu chíkhác thể hiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm như

- Mức chênh lệch về chất lượng của sản phẩm so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh Ngày nay chất lượng sản

phẩm là yếu tố được quan tâm hàng đầu sản phẩm được coi là cónăng lực cạnh tranh nếu các tính năng của sản phẩm đó vượt trộihơn so với sản phẩm cạnh tranh trên thị trường Yếu tố này có thểđánh giá thông qua so sánh hai sản phẩm với nhau về chất lượng,

độ bền tiện ích trong sử dụng…Đây là một trong những yếu tốtương đối dễ so sánh đối với đa số những sản phẩm đơn giản Tuynhiên, nhiều sản phẩm phức tạp khách hàng không thể đánh giángay được chất lượng của sản phẩm Do đó khách hàng sẽ đánhgiá chất lượng sản phẩm gián tiếp thông qua uy tín của người sảnxuất, của nước sản xuất…vì vậy xây dựng uy tín về

Trang 10

(2) Các tiêu chí trên thị trường (doanh số bán, thị phần, tốc

độ tăng thị phần, hệ thống phân phối );

- Mức doanh thu của sản phẩm đó trong từng năm: Năng

lực cạnh tranh cũng biểu hiện qua doanh thu của sản phẩm trên thịtrường nội địa Nếu sản phẩm có doanh thu cao, tốc độ tăngdoanh thu cao so với đối thủ cạnh tranh chứng tỏ sản phẩm cónăng lực cạnh tranh cao Chỉ tiêu này thể hiện khả năng chiếmlĩnh thị trường của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh

- Thị phần của sản phẩm trên thị trường nội địa: Tuỳ theo

loại mặt hàng, thị trường và theo quy mô của thị trường có thểxem xét năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, thôngqua đánh giá thị phần của sản phẩm đó Một sản phẩm được coi là

có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường khi chúng chiếm thịphần lớn so với sản phẩm cùng loại được nhập khẩu và bán trênthị trường Tuy nhiên, cũng phải vận dụng chỉ tiêu này một cáchlinh hoạt Với một số sản phẩm mới ra đời, chưa chiếm lĩnh đượcthị trường thì không thể sử dụng chỉ tiêu này để đánh giá năng lựccạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trường vì khi đó phân tích sẽ

có sự sai lệch nhất định Đây cũng chính là cơ sở để hình thànhchỉ tiêu thứ 2 nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm làtốc độ tăng thị phần của sản phẩm

- Tốc độ tăng thị phần của sản phẩm đó có thể so sánh theo

tính lịch sử, tức là năm sau tốt hơn năm trước, để đánh giá nănglực cạnh tranh của sản phẩm Nếu sản phẩm có tốc độ tăng thịphần cao thì sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao Và ngược lại

Trang 11

nếu thị phần của sản phẩm cạnh tranh tăng nhanh hơn thì sảnphẩm có năng lực cạnh tranh thấp hơn so với sản phẩm cạnhtranh

- Hệ thống phân phối: Hệ thống phân phối cho sản phẩm

càng hợp lý thì thị phần do hàng hoá chiếm lĩnh sẽ càng lớn Hệthống phân phối được thiết kế hợp lý so với cách thức phân phốicủa sản phẩm cạnh tranh khác, vùng với việc đẩy mạnh xúc tiếnbán hàng sẽ tăng thêm năng lực cạnh tranh của sản phẩm do đápứng được kịp thời yêu cầu của thị trường về số lượng và chấtlượng

Một hệ thống phân phối hợp lý bao gồm mạng lưới các cơ

sở giúp doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá vớimọi hình thức bán buôn, bán lẻ vừa thích hợp với phong tục, tậpquán địa phương, tiện lợi cho người tiêu dùng đồng thời phù hợpvới khả năng thanh toán của khách hàng

Kênh phân phối còn giúp khách hàng tiếp cận với các dịch

vụ của nhà sản xuất dễ dàng hơn như dịch dụ trước trong và saukhi bán hàng

(3) Các tiêu chí liên quan đến quan điểm của khách hàng (sựthoả mãn nhu cầu, sự nhận biết tên sản phẩm, sự trung thành vớinhãn hiệu )

- Trong quá trình phân tích, đánh giá sẽ rất khó khăn choviệc lượng hoá toàn bộ các yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranhcủa sản phẩm Vì vậy, chúng ta phải kết hợp vừa định lượng vừađịnh tính nhằm xác định năng lực cạnh tranh thực sự của sản

Trang 12

phẩm hàng hoá trên thị trường Nếu như trước kia hai yếu tố chấtlượng, giá cả có tính chất quyết định đến năng lực cạnh tranh củasản phẩm thì ngày nay cùng với quá trình toàn cầu hoá, phạm viđánh giá các tiêu chí thể hiện năng lực cạnh tranh cần phải được

mở rộng hơn Trong quá trình đánh giá cũng cần đưa thêm cácyếu tố định tính khác như hình ảnh của các doanh nghiệp tham giathị trường, hình ảnh của quốc gia, lòng tin của khách hàng đối vớisản phẩm, sự thoả mãn của khách hàng đối với sản phẩm, thươnghiệu của sản phẩm…

- Các tiêu chí thể hiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu Việt Nam trên thị trường xuất khẩu.

Ngoài những tiêu chí thể hiện năng lực cạnh tranh như đốivới thị trường nội địa, đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩmxuất khẩu của Việt Nam trên thị trường xuất khẩu còn phải dựatrên những tiêu chí sau:

- Hệ số lợi thế so sánh hiện thị: Một trong những chỉ số

được nhiều người sử dụng để đánh giá năng lực và hiệu quả củamột sản phẩm của một quốc gia là hệ số lợi thế so sánh hiển thị.Chỉ số này được xác định bằng tỷ số giữa mức chênh lệch giữaxuất và nhập khẩu của một sản phẩm nào đó với tổng xuất vànhập khẩu của sản phẩm đó Cụ thể:

Xi - Ni

H = 

Xi + NiTrong đó: H là hệ số lợi thế so sánh hiển thị

Trang 13

Xi là giá trị xuất khẩu của mặt hàng i

Ni là giá trị nhập khẩu của mặt hàng iNhư vậy, đối với một sản phẩm nào đó, nếu một nước chỉ cónhập khẩu mà không có xuất khẩu thì giá trị của hệ số lợi thế sosánh hiển thị bằng -1 Trong trường hợp này, nước đó có bất lợi

so sánh hoàn toàn đối với sản phẩm được xem xét Ngược lại, nếumột nước chỉ có xuất khẩu mà không có nhập khẩu về sản phẩmnào đó thì giá trị của hệ số lợi thế so sánh hiển thị bằng +1 Trongtrường hợp này, quốc gia có lợi thế so sánh hoàn toàn về sảnphẩm được xem xét

Hệ số lợi thế so sánh hiển thị còn có thể sử dụng để đánh giá

sơ bộ năng lực cạnh tranh của một ngành sản xuất của một nềnkinh tế so với nền kinh tế khác Ý nghĩa của phương pháp này là ởchỗ, nó cho phép so sánh năng lực cạnh tranh ở phạm vi quốc tế

và hơn nữa, nó dễ thực hiện do dựa trên cơ sở những thông tin sẵn

có, dễ tập hợp, cho ra kết quả nhanh

Tuy nhiên, đây là phương pháp tính đơn giản, nên, ý nghĩaphân tích của hệ số lợi thế so sánh hiển thị không lớn Bởi vì, nókhông tính đến sự can thiệp của các Chính phủ thông qua chínhsách thương mại và công nghiệp; không tính đến chi phí cá biệtcủa các nhà sản xuất

- Vị thế sản phẩm xuất khẩu của trong tổng kim ngạch buôn bán sản phẩm đó trên thế giới: Đối với các sản phẩm đã chiếm

được thị phần đáng kể trong tổng kim ngạch buôn bán hàng hoánày trên thế giới thì thay đổi lượng xuất khẩu chắc chắn sẽ tác

Trang 14

động đến giá cả thương mại thế giới Do đó, do đó đây là nhữngsản phẩm có năng lực cạnh tranh Ngược lại với những sản phẩm

có thị phần nhỏ trong thương mại thế giới thì hoặc là có năng lựccạnh tranh thấp hoặc chưa tiếp cận được thị trường Tuy nhiên,đây lại là những sản phẩm có tiềm năng mở rộng thị trường nếu

có những biện pháp cần thiết cải tiến chất lượng mẫu mã, hạn giáthành, mở rộng hoạt động marketing…bởi vì sản phẩm này mớichỉ chiếm thị phần nhỏ

- Tăng trưởng xuất khẩu của sản phẩm: Việc tăng trưởng

xuất khẩu sản phẩm nhanh cho thấy năng lực cạnh tranh của sảnphẩm tăng Ngược lại nếu tốc độ tăng trưởng giảm hoặc đình trệcho thấy năng lực cạnh tranh của sản phẩm thấp Với những yếu

tố khác không đổi, những sản phẩm xuất khẩu tăng trưởng nhanh,

dù được thể hiện bằng những con số tuyệt đối nhỏ, cho thấynhững sản phẩm này có năng lực cạnh tranh cao

- Các cơ hội cung: Một số nhân tố quyết định các điều kiện

cung và năng lực cạnh tranh sản phẩm là năng lực của các ngànhphụ trợ, khả năng tiếp cận nguyên liệu thô, công nghệ, năng suấtlao động, năng lực cạnh tranh nội địa v.v Các điều kiện cung vànăng lực cạnh tranh càng cao thì tiềm năng xuất khẩu càng cao,với điều kiện các yếu tố khác không đổi

- Ưu tiên quốc gia: Chính phủ các nước đều đề ra các ưu

tiên trong hầu hết các chiến lược xuất khẩu của mình Những ưutiên này phần nào phản ánh những nhận định kinh tế, như tốc độtăng trưởng, hình thái cầu thế giới và tình hình cung sản phẩm đó

Trang 15

trên thị trường Tuy nhiên, những ưu tiên này cũng phản ánhnhững mối quan tâm khác như an ninh lương thực, cung của thịtrường nội địa, tạo việc làm, ưu tiên vùng, tiến bộ công nghệ v.v.Đối với những sản phẩm mà Chính phủ ưu tiên, Chính phủ cũng

sẽ có những hình thức hỗ trợ đặc biệt như các chính sách khuyếnkhích, ưu tiên đầu tư Do đó, nếu những yếu tố khác không đổi,khi sản phẩm càng được ưu tiên thì năng lực xuất khẩu càng lớn

- Giá trị gia tăng và liên kết với nền kinh tế: Tuỳ vào hình

thức tạo ra một đồng đô la mà đồng đô la đó có giá trị như thế nàođối với nền kinh tế Do đó, giá trị gia tăng càng cao và/ hoặc liênkết ngược dòng hoặc xuôi dòng với nền kinh tế của một sản phẩmcàng lớn thì sản phẩm đó càng có ý nghĩa đối với nền kinh tế, vớiđiều kiện các yếu tố khác không đổi Tiêu chí này nên được đềcao đặc biệt đối với các nước đang ở giai đoạn đầu công nghiệphoá, phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nhiều loại hàng hoá và cácmối liên kết trong nền kinh tế còn chưa phát triển Rất nhiều sảnphẩm xuất khẩu tuy có kim ngạch xuất khẩu cao nhưng giá trị giatăng tạo ra rất thấp chứng tỏ hiệu quả xuất khẩu thấp hay năng lựcxuất khẩu thấp

- Chất lượng môi trường và xã hội của sản phẩm xuất khẩu:

Giá trị của sản phẩm xuất khẩu có thể được phản ánh không chínhxác nếu chỉ xét trên yếu tố kinh tế vì nó còn có những tác độngphụ và/hay những tác động ngoại lai tích cực hoặc tiêu cực.Những ví dụ rõ rệt nhất là những tác động ngoại lai liên quan đếnmôi trường, sản phẩm xuất khẩu có thể có những tác động tiêu

Trang 16

cực lớn hoặc nhỏ đối với môi trường tuỳ theo công nghệ được ápdụng Những chi phí này xã hội phải gánh chịu, chứ không phải làngười nhập khẩu hay thị trường Những tác động tích cực baogồm tạo việc làm, trực tiếp hỗ trợ những nhóm người nghèo, nângcao hơn sự tham gia và tầm quan trọng của phụ nữ Do đó, xuấtkhẩu sản phẩm có tiềm năng tạo ra nhiều việc làm, không gây rahoặc chỉ gây ra những hậu quả thấp đối với môi trường, mang lạinhững lợi ích đặc biệt cho phụ nữ và người nghèo, đặc biệt ởvùng nông thôn, cần được chú ý nhiều hơn, với điều kiện nhữngyếu tố khác không đổi Hiện nay nhiều thị trường nhập khẩu đã sửdụng tiêu chí này để áp dụng các rào cản thương mại đối với một

số sản phẩm như sản phẩm dệt may phải áp dụng tiêu chuẩnSA8000…Nếu sản phẩm của nước nào đó đáp ứng được tốt hơncác tiêu chuẩn về môi trường và xã hội sẽ có năng lực cạnh tranhcao hơn

- Các tiêu chí khác: Ngoài những tiêu chí kể trên còn nhiều

tiêu chí phản ánh năng lực cạnh tranh xuất khẩu của sản phẩmnhư: các thoả thuận thương mại, các ưu tiên hoặc hạn chế đối vớikhu vực, hình ảnh quốc gia…

1.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM (*)

Có hàng loạt nhân tố có tính chất lịch sử, kinh tế - xã hội chiphối năng lực cạnh tranh của sản phẩm Tuỳ theo bản sắc dân tộc,thói quen tiêu dùng, cơ chế quản lý, mức thu nhập dân cư…để cócách xác định chỉ tiêu biểu hiện năng lực cạnh tranh của sản

Trang 17

phẩm Nếu như mức thu nhập thấp, khi mua hàng vấn đề ngườimua hàng quan tâm đầu tiên là giá cả Chẳng hạn ở Việt Namtrong những năm qua, mặc dầu người tiêu dùng đều biết sản phẩmdệt may giá rẻ của Trung Quốc có chất lượng thấp hơn nhiều sovới sản phẩm dệt may của Việt Nam nhưng hàng dệt may TrungQuốc vẫn tràn ngập thị trường Việt Nam Tuy nhiên, khi thịtrường đã phát triển, người tiêu dùng lại quan tâm nhiều hơn đếnkiểu dáng, mẫu mã mầu sắc và độ bền của sản phẩm

Trong điều kiện thu nhập thấp người tiêu dùng thường quantâm tới độ bền của sản phẩm, song khi thu nhập tăng thêm (tuykhông tăng nhiều) thì cách đánh giá và nhìn nhận tiện ích của sảnphẩm cũng thay đổi Ví dụ, khi có mức GDP/người 200 USD,người Việt Nam thích mặc áo pha nilon vì nó bền Đến khiGDP/người tăng lên 300 USD, người tiêu dùng lại ưa thích sửdụng các loại quần áo có 100% cotton hơn

Cũng có nhiều quan điểm cho rằng việc tổ chức tiêu thụtheo các kênh phân phối có ảnh hưởng nhiều đến năng lực cạnhtranh của sản phẩm Điều này chỉ đúng với các quốc gia có mạnglưới siêu thị tốt và người tiêu dùng thường lui tới để mua hàng.Còn ở Việt Nam, người tiêu dùng lại thích mua hàng ở các chợcóc, chợ xanh hơn là mua hàng ở các siêu thị Do đó khó có thểtiêu thụ với khối lượng lớn Sự phát triển của khoa học kỹ thuậtcũng có ảnh hưởng lớn đến hình thức tiêu thụ sản phẩm Khi màthương mại điện tử phát triển, người tiêu dùng mua hàng theo

Trang 18

dịch vụ internet thì việc cung cấp trên mạng và dịch vụ manghàng đến tận nhà có thể trở thành phương thức tiêu thụ tốt hơn…

Qua sự phân tích nói trên có thể thấy rằng, có rất nhiều yếu

tố chi phối đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm-hàng hoá-dịch

vụ như: giá cả; chất lượng; nhu cầu thị trường; lao động; côngnghệ; môi trường kinh doanh…Vì thế, muốn nâng cao năng lựccạnh tranh bất cứ một sản phẩm nào cũng cần phải kết hợp tất cảnhững yếu tố nói trên trong điều kiện có thể Đồng thời, phải thựchiện hàng loạt các biện pháp và duy trì ở mức tối ưu các mối quan

hệ đa tầng và đa chiều Tuy nhiên, xem xét tất cả những yếu tố vàđiều kiện nói trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng việc áp dụngchúng đều hướng tới mục tiêu: nâng cao chất lượng và hạ thấp giáthành sản phẩm nhằm mở rộng thị trường Ngược lại khi sảnphẩm-hàng hoá-dịch vụ có năng lực cạnh tranh tốt thì mới có khảnăng vật chất và kỹ thuật để tái đầu tư cho hoạt động sản xuất,nâng cao chất lượng và hạ giá thành

Chất lượng sản phẩm và giá cả hàng hoá là hai yếu tố quantrọng hàng đầu Hai yếu tố này gắn liền với những thuộc tính vốn

có của hàng hoá góp phần tạo nên giá trị của sản phẩm Đây cóthể nói là hai yếu tố có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranhcủa sản phẩm đặc biệt là trong điều kiện tự do hoá thương mại.Quá trình tự do hoá thương mại đang tiến lại rất gần thì vấn đềcòn lại của các sản phẩm xuất khẩu là: chất lượng và giá cả, khả.Nhưng giá cả sản phẩm cũng phụ thuộc vào các yếu tố công nghệ,mẫu mã, chi phí đầu vào, cơ sở hạ tầng…

Trang 19

Phân tích trên cho thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đếnnăng lực cạnh tranh của sản phẩm Trong đó, ngoài các yếu tốđược coi là căn bản và cổ điển như chất lượng, giá cả… còn nhiềuyếu tố khác ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm nhưnăng lực cạnh tranh của ngành, năng lực cạnh tranh quốc gia

1.2.1 Các nhân tố thuộc ngành

a Các nhân tố bên trong

- Các yếu tố sản xuất, đó là những yếu tố đầu vào cần thiết

cho quá trình sản xuất Nó bao gồm lao động, đất đai, tài nguyên,vốn, cơ cấu, cơ sở hạ tầng…Các yếu tố sản xuất được chia thànhhai loại là các yếu tố chủ yếu và những yếu tố không chủ yếu:Những yếu tố chủ yếu là những yếu tố như: lao động có tay nghề,vốn, công nghệ, cơ sở hạ tầng đây là những yếu tố được do conngười tạo ra Những yếu tố không chủ yếu hay những yếu tốthông dụng như lao động phổ thông và những nguyên vật liệu màmọi ngành đều có thể sở hữu, do đó không thể tạo nên một nănglực cạnh tranh bền vững được Vì vậy những yếu tố chủ yếu cầnphải được đầu tư và duy trì

- Kinh nghiệp của người lao động hoặc trình độ chuyên môn

của họ sẽ quyết định đến năng suất, chất lượng của sản phẩm

- Đầu tư vào công nghệ: Nếu đầu tư vào công nghệ cao sẽ

tạo ra những sản phẩm có chất lượng phù hợp hơn với yêu cầucủa người tiêu dùng hiện tại, đây là một phương pháp hữu hiệu đểsản phẩm chiếm được lòng tin của khách hàng trên phạm vi rộng

Trang 20

- Đầu tư vào con người: Con người được đầu tư cùng lúc

với đầu tư công nghệ sẽ tăng khả năng sáng tạo, nâng hàm lượngchất xám làm cho sản phẩm có tính độc đáo, chiếm lĩnh thị trường

ở mức độ cao hơn Nói cách khách nếu đầu tư vào con người sẽlàm tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm

b Nhóm nhân tố bên ngoài

Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của sản phẩmbao gồm những yếu tố bên ngoài như nhu cầu thị trường, liên kếtngành, môi trường cạnh tranh và những công cụ tác động đếnnăng lực cạnh tranh của sản phẩm và các biện pháp nhằm xâydựng “sức mạnh” hay “tính vượt trội” cho hàng hoá so với đối thủkhác

- Về nhu cầu thị trường, thị trường nội địa khó tính đối sẽ là

nhân tố quan trọng tạo nên năng lực cạnh tranh Những sản phẩmtồn tại trên thị trường này sẽ có chất lượng cao hơn so với nhữngthị trường xuất khẩu dễ tính hơn Khi thị trường trong nước khótính các doanh nghiệp sẽ tiếp xúc với những khách hàng khó tính

từ đó hiểu rõ hơn về nhu cầu và sở thích người tiêu dùng Nếunhững giá trị riêng biệt của sản phẩm trên thị trường nội địa đượccác thị trường nước ngoài chấp nhận thì các sản phẩm sản xuấttrong nước sẽ có năng lực cạnh tranh cao hơn trên thị trường xuấtkhẩu

Nếu muốn tăng năng lực cạnh tranh thì các doanh nghiệpsản xuất cần phải trực tiếp tiếp xúc với khách hàng tinh tế và khótính Phân tích và nghiên cứu đầy đủ về quy mô và thị phần của

Trang 21

nhu cầu nội địa, những khách hàng thông thạo Internet, nhữngngười mua hàng di động trong nước, phải có năng lực quan sát vàđáp ứng xu hướng thị trường trong nước để từ đó làm cơ sở đểxuất khẩu ra nước ngoài.

- Vấn đề liên kết ngành, đặc biệt là hợp tác liên kết quốc tế

bao gồm những nhà cung cấp và các ngành liên quan thường xảy

ra ở cấp độ khu vực hơn là cả nước Khả năng duy trì các liên kếtquốc tế có tầm quan trọng ngày càng lớn đối với các nước đangphát triển (UNCTAD, 1999) Do quá trình toàn cầu hoá, tự do hoáthương mại và quá trình hội nhập diễn ra ngày càng sâu rộng, vịthế cạnh tranh của các sản phẩm của các nước đang phát triểnngày càng xoay quanh khả năng thiết lập các liên kết quốc tế củacác doanh nghiệp và các ngành Quy mô của các doanh nghiệptrong nước thường nhỏ hơn rất nhiều so với các công ty xuyênquốc gia do vậy sẽ có năng lực thấp hơn các công ty xuyên quốcgia, đa quốc gia, nên khi chế độ thương mại được tự do hoá vàcác nền kinh tế mở cửa cho cạnh tranh nước ngoài, nếu cácngành, các doanh nghiệp trong nước không thực hiện tốt việc liênkết với các công ty nước ngoài thì sản phẩm của họ sẽ mất nănglực cạnh tranh trên thị trường

- Môi trường cạnh tranh Sự phát triển của năng lực cạnh

tranh của sản phẩm chịu ảnh hưởng bởi các chính sách của chínhphủ Chính phủ đóng vai trò then chốt trong việc tạo ra môitrường cạnh tranh, tính cạnh tranh Cụ thể là tác động đến nộidung và phạm vi của các hoạt động xuất nhập khẩu, các yếu tố về

Trang 22

môi trường thể chế, chính sách, các mối liên kết xuyên quốc gia Các chính sách và biện pháp của chính phủ đóng vai trò quantrọng, đặc biệt ở các nước đang phát triển Cần xác xây dựng cácchương trình và sử dụng các công cụ nhằm tạo điều kiện thuận lợicho các ngành nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm củamình Tuy nhiên, việc phân tích các chương trình cụ thể này phảixem xét các điều kiện và khuôn khổ kinh tế tổng thể, bằng cáchkiểm soát ảnh hưởng của các nhân tố như ổn định kinh tế vĩ mô,

sự cởi mở trong chính sách thương mại và chế độ đầu tư

- Năng lực tiếp thị ở tầm vĩ mô: Khả năng thu thập, phân

tích thông tin của các cơ quan đại diện chính phủ ở nước ngoài,các cơ quan nghiên cứu tầm cỡ quốc gia Các chiến lược phối hợpquốc gia, chính sách thương mại trong việc hỗ trợ sản phẩm thâmnhập thị trường nước ngoài như chính sách thuế, chương trình tíndụng, hỗ trợ thông tin cho doanh nghiệp trong xúc tiến thươngmại- tìm kiếm khách hàng, khuyến khích và ưu đãi đầu tư ra nướcngoài

- Năng lực tổ chức tiếp thị ở tầm vi mô phụ thuộc vào trình

độ nghiệp vụ, khả năng thu thập và phân tích thông tin của nhânviên nghiệp vụ marketing Khả năng khám phá thị trường và tiếpcận thị trường với phí tốn thấp nhất Cách thực lựa các chiến lược,

kỹ thuật phù hợp với loại sản phẩm để áp dụng vào công tác tiếpthị như quảng cáo, phân phối tài liệu, hội chợ, khuyến mãi nhằmtăng thị phần hàng hoá

Trang 23

Sản phẩm sẽ thực sự có giá trị, có năng lực cạnh tranh khibản thân nó có thương hiệu vì trong thực tế khách hàng thườngchọn một loại sản phẩm mang thương hiệu thoả mãn với mongmuốn của họ trong hàng trăm thương hiệu của các sản phẩm cùngloại trên thị trường Do nhãn hiệu này đã in đậm trong tâm trí của

họ tạo nên sự trung thành của khách hàng đối với sản phẩm Vìvậy, với những sản phẩm mới tham gia thị trường chưa có uy tín,tiếng tăm thường áp dụng chiến lược “sản xuất dán nhãn” hay

“mượn” thương hiệu của những hàng hoá mang đẳng cấp quốc tế

để “dán” vào hàng hoá do mình sản xuất nhằm nâng cao năng lựccạnh tranh

Ngày nay, cùng với xu hướng toàn cầu hoá, việc xác định,

đo lường năng lực cạnh tranh quốc tế của sản phẩm đang ngàycàng thu hút được sự quan tâm của các nhà kinh tế, đặc biệt trongviệc phân tích kinh tế quốc tế Tuy nhiên, do tính phức tạp, đaphương diện, đa chiều của lĩnh vực nghiên cứu, cho nên rất khó

có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu kinh tế ngay từ các kháiniệm về năng lực cạnh tranh sản phẩm trong thương mại quốc tế

Vì vậy, trên thực tế có rất nhiều cách tiếp cận khi tiến hành phântích, đo lường năng lực cạnh tranh sản phẩm theo các góc độ khácnhau

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm ở phạm vi quốc gia:

a Theo cách tiếp cận của WEF

Trang 24

Năng lực cạnh tranh quốc gia là yếu tố ảnh hưởng đến nănglực cạnh tranh của tất cả các sản phẩm trên thị trường nội địa vàxuất khẩu Theo khái niệm tiếp cận dựa trên tốc độ tăng trưởngkinh tế đất nước, WEF đưa 8 nhóm yếu tố chính xác định nănglực cạnh tranh tổng thể của một nước, đó là:

Nhóm 1: Độ mở cửa nền kinh tế, bao gồm các chỉ tiêu như

thuế quan và các hàng rào phi thuế quan, chính sách tỷ giá hốiđoái

Nhóm 2: Vai trò và hoạt động của Chính phủ, bao gồm: mức

độ can thiệp của Nhà nước, năng lực của Chính phủ, qui mô củaChính phủ, thuế và mức độ trốn thuế, chính sách tài khoá,

Nhóm 3: Các yếu tố về tài chính, bao gồm khả năng thực

hiện các hoạt động trung gian tài chính, hiệu quả và cạnh tranh,rủi ro tài chính, đầu tư và tiết kiệm

Nhóm 4: Các yếu tố về công nghệ bao gồm chỉ số về năng

lực phát triển công nghệ trong nước, khai thác công nghệ thôngqua đầu tư trực tiếp nước ngoài, hoặc phát triển công nghệ thôngqua các kênh chuyển giao khác

Nhóm 5: Các yếu tố về kết cấu hạ tầng bao gồm bưu chính

viễn thông, giao thông, cơ sở hạ tầng khác

Nhóm 6: Quản trị bao gồm các chỉ số về quản lý nguồn nhân

lực và quản trị không liên quan đến nguồn nhân lực

Nhóm 7: Các yếu tố về lao động, bao gồm các chỉ số về

trình độ tay nghề và năng suất lao động, độ linh hoạt của thịtrường lao động, hiệu quả của các chương trình xã hội

Trang 25

Nhóm 8: Các yếu tố về thể chế gồm các chỉ số về chất lượng

các thể chế pháp lý, các luật và các văn bản pháp qui khác

b Theo cách tiếp cận của Micheal Porter

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua năng lựccạnh tranh của các sản phẩm mà doanh nghiệp kinh doanh Vìvậy, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩmbao hàm các yếu tố từ phạm vi doanh nghiệp, ngành công nghiệpđến phạm vi quốc gia như:

- Điều kiện hay tình trạng về nhân tố sản xuất như nguồnnhân lực, tài nguyên thiên nhiên, vốn, kết cấu hạ tầng, tiềm năngkhoa học kỹ thuật Cần phân biệt các loại yếu tố đầu vào khácnhau: đầu vào cơ bản, cao cấp, đầu vào chung, đầu vào chuyênbiệt, và lưu ý rằng mỗi một dạng đầu vào tạo nên lợi thế cạnhtranh khác nhau

- Tình trạng và nhu cầu trong nước đối với sản phẩm và dịchvụ: Hai thuộc tính cơ bản của cầu trong nước có ảnh hưởng lớntới năng lực cạnh tranh của sản phẩm là: (1) Tính chất của nhucầu khách hàng; (2) Dung lượng và sự thay đổi của nhu cầu đốivới sản phẩm

- Dung lượng và sự thay đổi của nhu cầu trong nước đối vớisản phẩm có tác động trực tiếp đến lợi thế cạnh tranh của sảnphẩm Khi thị trường trong nước có dung lượng hay quy mô lớn

có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh4 trong những ngành có lợi ích kinh

tế nhờ quy mô, do khuyến khích các doanh nghiệp trong nước tích

Trang 26

cực đầu tư, sản xuất quy mô lớn, phát triển công nghệ và nâng caonăng suất.

Để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh

của sản phẩm người ta thường sử dụng mô hình tổng Porter Dunning Mô hình này được thể hiện thông qua cấu trúc sau đây:

Trang 27

-Hình 1: Mối liên kết giữa các nhân tố quyết định lợi thế

cạnh tranh

Mô hình này kết hợp được tất cả các yếu tố tác động đếnnăng lực của sản phẩm cả cấp độ quốc gia và quốc tế, cả phân tíchtĩnh và phân tích động Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình nàythường rất khác nhau Khó khăn lớn nhất là không thể đề cập đếntất cả các yếu tố và lượng hoá chúng, đặc biệt là ở các nước đangphát triển do hạn chế về số liệu thống kê Do đó, người ta thườngchỉ lựa chọn những yếu tố chủ yếu, có tác động lớn để phân tíchnăng lực cạnh tranh của sản phẩm

Theo khái niệm tiếp cận từ năng suất lao động, Porter M.(1985 &1989) cho rằng các yếu tố cấu thành lợi thế cạnh tranh5bao gồm 4 nhóm yếu tố:

Nhóm các điều kiện về nhân tố sản xuất thể hiện vị thế củamột quốc gia về nguồn lao động có đào tạo, có tay nghề, tàinguyên, vốn, kết cấu hạ tầng, tiềm năng khoa học và công nghệ:

Chiến lược công

ty, cơ cấu và đối thủ cạnh tranh

Điều kiện/tình trạng

về nhân tố sản xuất

Tình trạng về cầu trong nước

Thực trạng các ngành bổ trợ và liên quan

Thời cơ/

Cơ hội

Chính phủ

Trang 28

Nhóm các điều kiện về nhu cầu phản ánh bản chất của nhucầu thị trường trong nước đối với sản phẩm và dịch vụ của mộtngành;

Nhóm các yếu tố về các ngành công nghiệp có liên quan vàcác ngành công nghiệp hỗ trợ có năng lực cạnh tranh quốc tế;

Nhóm các yếu tố liên quan đến chiến lược công ty, cơ cấu

Vì vậy, các yếu tố xác định năng lực cạnh tranh của ngành/công

ty hay quốc gia được kết tinh lại trong sản phẩm, khi sản phẩm đóđược đặt trong môi trường cạnh tranh quốc tế Nói cách khác,năng lực cạnh tranh của sản phẩm trong thương mại quốc tế là kếtquả tổng hoà của năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, ngành vàquốc gia Bởi vì, sản phẩm hàng hoá có hai thuộc tính cơ bản làgiá trị và giá trị sử dụng Giá trị sử dụng (bao hàm cả các chỉ tiêuchất lương) là do doanh nghiệp sáng tạo ra Giá trị là kết tinh củalao động quá khứ và thực tại được thể hiện thông qua các chi phícủa các yếu tố đầu vào của sản xuất và tổ chức quản lý sản xuất

Trang 29

Các yếu tố đầu vào của sản xuất có thể được cung ứng trong nướchoặc được nhập khẩu và giá cả của nó đã bao hàm tác động củathị trường và của Chính phủ Đồng thời, giá trị sản phẩm đượcthực hiện thông qua thị trường và thể hiện bằng giá cả - giá bánsản phẩm không chỉ được hình thành do cạnh tranh mà còn do cáctác động của Chính phủ.

Như vậy, các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sảnphẩm trong thương mại quốc tế bao hàm các yếu tố từ phạm vidoanh nghiệp, ngành công nghiệp đến phạm vị quốc gia Nhìnchung, các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh sản phẩmtrong thương mại quốc tế có thể được tập hợp thành 4 nhóm cơbản sau:

Các yếu tố thuộc về lợi thế so sánh

Các yếu tố thuộc về khả năng tăng trưởng kinh tế đất nướcCác yếu tố thuộc về môi trường kinh tế của doanh nghiệpCác yếu tố thuộc về hoạt động doanh nghiệp

a/ Nhóm các yếu tố thuộc về lợi thế so sánh

Trong trường hợp này, năng lực cạnh tranh sản phẩm đượcxem là năng lực cạnh tranh thực và bằng với lợi thế so sánh.Trước hết, đó là sự dồi dào các yếu tố tài nguyên, thiên nhiên,cũng như con người (lao động) và nguồn vốn Các yếu tố nàyđược thể hiện qua mức giá bình quân thấp và đó cũng chính là cơ

sở căn bản của lợi thế so sánh và năng lực cạnh tranh sản phẩm(theo nghĩa hẹp) Một yếu tố khác thuộc nhóm này là năng suấtlao động của nhà sản xuất được phản ánh bằng các hệ số đầu vào

Trang 30

thấp Thực tế, không dễ tách bạch giữa sự dồi dào các nguồn lực

và năng suất lao động Bởi vì, sự dồi dào của một yếu tố nào đóvừa có thể là do năng suất lao động cao, vừa có thể do giá cao nênkích thích cung ứng

b/ Nhóm các yếu tố thuộc về khả năng tăng trưởng kinh tế đất nước

Theo khái niệm của Fargerberg, năng lực cạnh tranh quốc tếnhư là "khả năng của một đất nước trong việc nhận thức rõ mụcđích của chính sách kinh tế tập trung, nhất là đối với tăng trưởngthu nhập và việc làm, mà không gặp phải các khó khăn trong cáncân thanh toán" Bởi vì, tăng trưởng kinh tế của một quốc giađược xác định bởi năng suất của nền kinh tế quốc gia đó, mà năngsuất là yếu tố cơ bản tạo thành năng lực cạnh tranh quốc tế chosản phẩm

Trong nhóm này có 3 yếu tố liên quan đặc biệt tới viễn cảnhtăng trưởng kinh tế đất nước và tạo ra năng lực cạnh tranh cho sảnphẩm trên thị trường quốc tế là:

- Tài trợ và nợ nước ngoài có ảnh hưởng đến các luồng vốn

và chất lượng của nền tài chính quốc gia

- Tiết kiệm và đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốnđầu tư, nếu khả năng tiết kiệm bị hạn chế mà yêu cầu đầu tư quálớn sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát và lãi suất vốn vay cao

- Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng trực tiếp đến các hàng hoáxuất nhập khẩu Nếu tỷ giá của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ

Trang 31

quá thấp sẽ khuyến khích xuất khẩu nhưng sẽ làm tăng giá hàngnhập khẩu và gây khó khăn trong thanh toán nợ nước ngoài.

c/ Nhóm các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế của doanh nghiệp

Nhóm các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế của doanhnghiệp bao gồm những yếu tố như: các chính sách thương mại;môi trường đầu tư; chế độ tài chính; cơ cấu doanh nghiệp và tínhganh đua; năng lực sản xuất công nghiệp Cụ thể:

Chính sách thương mại của mỗi quốc gia vẫn luôn được sửdụng gây nên những tác động trái ngược nhau đến thương mạiquốc tế Đối với nhập khẩu, các nước thường áp dụng các chínhsách hạn chế nhập khẩu nhằm làm giảm bớt hoặc chống lại nănglực cạnh tranh cao của các sản phẩm nhập khẩu so với sản phẩmsản xuất trong nước Từ đó làm giảm năng lực cạnh tranh của cácsản phẩm nhập khẩu Đối với xuất khẩu, các nước thường áp dụngcác chính sách khuyến khích xuất khẩu nhằm làm tăng thêm nănglực cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu trên thị trường thế giới,giúp các nhà sản xuất trong nước phát triển nhanh thị trường tiêuthụ ngoài nước đến khi đạt được lợi thế nhờ qui mô

Môi trường đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếpcận các nguồn vốn của các doanh nghiệp; các thủ tục, qui chế vàhiệu lực trong việc thực hiện vay vốn của các doanh nghiệp; khảnăng phát triển của các nguồn vốn dài hạn

Chế độ tài chính: thực trạng và hoạt động của thị trường tàichính là một trong những nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh

Trang 32

chung của một nước Bởi vì, tăng trưởng kinh tế nhanh phụ thuộcchủ yếu vào khả năng của nền tài chính trong việc huy động vàphân bổ có hiệu quả tín dụng vào các ngành kinh tế của một đấtnước.

Cơ cấu doanh nghiệp và tính ganh đua có ảnh hưởng đến sựgia tăng về năng suất, năng lực cạnh tranh, nâng cao mức thunhập và tăng việc làm Cơ cấu doanh nghiệp phải nâng cao hiệuquả chung của ngành công nghiệp và phải tạo ra tính ganh đuagiữa các doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh bình đẳng.Tuy nhiên, cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp khôngphải là sự đánh đồng giữa các doanh nghiệp mà cần có sự nâng đỡđối với các doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ

Năng lực sản xuất công nghiệp của quốc gia hay ngànhkinh tế bao gồm, sự dồi dào của nguồn nhân lực được đào tạo, có

kỹ năng nghề nghiệp và trình độ công nghệ không ngừng đượcnâng cao Công nghệ ngày càng có vai trò quan trọng trong việcnâng cao năng suất tiềm tàng của tất cả các yếu tố sản xuất Trongnhiều ngành công nghiệp, lợi thế so sánh của các nước đang pháttriển dựa trên nguồn nhân lực rẻ đã giảm dần do sự phát triển củacông nghệ Hiện nay, hàm lượng công nghệ (chất xám) trong sảnphẩm ngày càng tăng lên do đó công nghệ là nhân tố ảnh hưởng

có tính chất quyết định đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm trênthị trường thế giới

d/ Nhóm các yếu tố thuộc về hoạt động doanh nghiệp

Trang 33

Các yếu tố thuộc về hoạt động doanh nghiệp có ảnh hưởngtrực tiếp đến chi phí cá biệt của doanh nghiệp và chất lượng sảnphẩm cũng như khả năng tiêu thụ sản phẩm và thị phần của doanhnghiệp Nhóm các yếu tố này gồm hiệu quả hoạt động doanhnghiệp và chiến lược phát triển của doanh nghiệp.

Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chính là các hoạtđộng của doanh nghiệp nhằm áp dụng công nghệ mới, sử dụngcác đầu vào mới hoặc thay thế, giới thiệu và phân phối sản phẩm,

đề ra các giải pháp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm

Chiến lược phát triển của doanh nghiệp nhằm mang lại chodoanh nghiệp triển vọng cạnh tranh dài hạn và cạnh tranh đaphương diện (cạnh tranh về giá, chất lượng sản phẩm, dịch vụtrước và sau bán hàng, phát triển khách hàng, )

1.3 TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI TỚI NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM

1.3.1 Bản chất và nội dung của tự do hoá thương mại

Có nhiều định nghĩa khác nhau về tự do hoá thương mại.Tuy nhiên, theo cuốn từ điển về thuật ngữ kinh tế của Nhà xuấtbản Từ điển bách khoa Hà nội năm 2001 định nghĩa “tự do hoáthương mại là thuật ngữ chỉ sự loại bỏ các cản trở hiện hành đốivới thương mại hàng hoá và dịch vụ: có có thể bao trùm cả hạnchế đầu tư nếu thị thị trường mục tiêu cần đầu tư để thực hiện tiếpcận thị trường”

Trong cuốn sách “Những vấn đề của toàn cầu hoá kinh tế”của TS Nguyễn Văn Dân đã định nghĩa “tự do hoá thương mại là

Trang 34

việc cho phép lưu thông hàng hoá liên biên giới với các mức thuếthấp và tiến tới xoá bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan”.

Để quản lý quá trình này quốc tế đã lập ra các tổ chức như Hộinghị về thương mại phát triển liên hợp quốc (UNCTAD), đượcthành lập năm 1964, và tổ chức thương mại thế giới (WTO) thànhlập năm 1995, với tiền thân là Hiệp định chung về Thuế quan vàMậu dịch (GATT), thành lập từ năm 1974 Ngày nay WTO đang

là tổ chức quốc tế quan trọng nhất trong lĩnh vực điều hành vềthương mại thế giới

Xem xét về nội dung của tự do hoá thương mại có thể nhìnnhận theo nhiều góc độ khác nhau Góc độ thứ nhất đó là quátrình cải cách thuế quan của các nước theo các khuôn khổ hiệpđịnh thương mại đặc biệt là sau Hiệp định chung về Thuế quan vàMậu dịch (GATT), và bước tiếp theo là các nước thực hiện quátrình cam kết bãi bỏ các hàng hàng rào bảo hộ mới đó là các hàngrào về kỹ thuật Trước kia, các nước đặc biệt là các nước đangphát triển chủ yếu dùng thuế để bảo hộ ngành sản xuất trong nướccủa mình Hiện nay các nước đặc biệt là các nước phát triển đangthay đổi chính sách bảo hộ của mình bằng cách phát triển một sốloại hàng rào bảo hộ mới mang tính chất kỹ thuật như các quyđịnh về vệ sinh an toàn thực phẩm, các quy định về chống bánphá giá, trợ cấp đối với hàng nông sản… thì quá trình tự do hoáthương mại không chỉ dừng lại ở mức độ cắt giảm hoặc bỏ cácloại thuế trực tiếp và gián tiếp đối với thương mại nữa Mà lúcnày tự do hoá thương mại còn bao gồm việc dỡ bỏ, không đưa

Trang 35

thêm mới các hàng rào kỹ thuật hoặc các chính sách về minh bạchhoá chính sách thương mại Giảm trợ cấp trong nông nghiệp…vàmức độ cao nhất của tự do hoá thương mại đó là các nước có thể

tự do buôn bán thương mại mà không gặp phải các cản trở nào.Những ví dụ về tự do hoá thương mại cao nhất như khu vực đồngtiền chung châu Âu, khu vực mậu dịch tự do mà Mỹ đã ký kết vớimột số nước như Mêhicô, Canada, Mỹ… đây là dạng tự do caonhất khi mà các nước sử dụng một đồng tiền và hầu như không cómột cản trở nào đối với việc di chuyển hàng hoá

Góc độ thứ hai, Các liên kết thương mại khu vực với cơ chếhợp tác phổ biến giữa các quốc gia, tồn tại một cách khách quanbên cạnh Hệ thống thương mại đa phương của WTO Ngay cả khiWTO được thiết lập vào năm 1995 cùng với sự chuyển biến cănbản về các qui định và mức độ cam kết thì xu hướng liên kết khuvực không những không suy giảm mà lại được phát triển với mức

độ cao hơn cả về mức độ cam kết, phạm vi lĩnh vực và thời gianhoàn thành Gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đã chuyển trọngtâm vào xây dựng các liên kết thương mại tự do song phương vàkhu vực (RTA/BFTA) Trong đó có không ít quốc gia trước đâyvốn chỉ dành sự ủng hộ mạnh mẽ cho cơ chế đa phương của WTOnhư EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canađa Điển hình là Hoa Kỳ, quagần 6 năm sau kể từ khi mở rộng Khu vực mậu dịch tự do Bắc -

Mỹ (NAFTA) và 15 năm kể từ khi ký kết một Hiệp định thươngmại tự do (FTA) song phương với Israel, Hoa Kỳ đã mở đầu chomột loạt các Hiệp định tự do hoá thương mại song phương với

Trang 36

Jordani (2001), Singapore (2003) và đang đàm phán với TháiLan, Australia, Marốc và một số thiết chế khu vực như Khu vựcmậu dịch tự do Trung Mỹ (CAFTA), Liên minh thuế quan NamPhi (SACU) về những thoả thuận tương tự Canada cũng có cáchiệp định tự do hoá song phương với Chilê (2001), Côstra Rica(2001), Israel và đang đàm phán xây dựng khu vực thương mại tự

do với Singapore, Nam Mỹ và EU Nhật Bản lần đầu tiên ký kếtmột FTA đầy đủ với Singapore vào năm 2002 và đồng thời đàmphán với nhiều đối tác khác trong khu vực Hàn Quốc, Phillipin,Thái Lan, Malaysia, Mêxicô và gần đây nhất là thiết lập mộtkhuôn khổ khung với ASEAN cũng với nội dung căn bản là thiếtlập các FTA với các nước ASEAN Trung Quốc, bất chấp nhữngthách thức mới từ việc gia nhập WTO năm 2001, nhanh chóng điđến ký kết một Hiệp định khung thiết lập một FTA đầu tiên vớiASEAN (2002) và triển khai đàm phán với ấn Độ, Australia vềmột FTA song phương Nước này cũng dự định sẽ cùng Nhật Bản

và Hàn Quốc thiết lập một Khu vực mậu dịch tự do Đông Á Ấn

Độ lâu nay được biết đến như một nền kinh tế mang nặng tính bảo

hộ đang thực sự chuyển mình trong xu thế này với việc bắt đầuxây dựng một FTA với ASEAN, Thái Lan, Trung Quốc

Tính đến tháng 5/2003, đã có 265 hiệp định BFTA/RTA đãđược thông báo cho WTO Trong đó, 138 hiệp định được thôngbáo sau khi WTO đã thành lập Hiện có khoảng 190 hiệp địnhđang có hiệu lực và khoảng 60 hiệp định khác sẽ sớm đi vào hoạtđộng mặc dù chưa thông báo chính thức WTO ước tính số lượng

Trang 37

các hiệp định đang trong quá trình đàm phán và dự kiến có thểthông báo cho WTO vào năm 2005 sẽ lên tới gần 300.

Góc độ thứ ba, Thương mại quốc tế những thập niên gầnđây đã có bước tăng trưởng đột biến cả về chất và lượng Songsong với sự tăng trưởng mạnh mẽ này, các khu vực và quốc giatrên thế giới cũng đã và đang tích cực mở cửa thị trường nội địacủa mình với quan niệm rằng tự do hoá thương mại là một xu thếkhách quan, là nền tảng của sự phát triển, tự do hoá thương mạiđưa các quốc gia xích lại gần nhau, thân thiện hơn trong quan hệsản xuất, kinh doanh và chia sẻ thịnh vượng chung Thời kỳ cocụm kinh tế, tự cung tự cấp và biệt lập với bên ngoài chỉ còn thấyđược trong các sách viết về lịch sử

Tuy nhiên, ở góc độ nào đi nữa tự do hoá thương mại cũng

là một xu thế chung của nền kinh tế thế giới Các nước không thểnằm ngoài xu thế này do đó cần chủ động đối phó với những ảnhhưởng của tự do hoá thương mại và có những bước đi cần thiếtnhằm trong bối cảnh tử do hoá thương mại đang diễn ra ngàycàng sâu rộng

1.3.2 Tác động của tự do hoá thương mại tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Tự do hoá thương mại như đã đề cập ở trên tác động đến rấtnhiều mặt của nền kinh tế cả vi mô và vĩ mô Một trong trongnhững tác động của tự do hoá thương mại đó là tác động tới nănglực cạnh tranh của sản phẩm Nếu như trước kia với nền kinh tếđóng thì năng lực cạnh tranh của sản phẩm được xem xét trong

Trang 38

nền kinh tế đóng tức là không cạnh tranh với sản phẩm cùng loạicủa nước ngoài hoặc không xem xét năng lực cạnh tranh của sảnphẩm khi xuất khẩu ra nước ngoài Nói theo cách khác tức là nănglực cạnh tranh khi chưa có tự do hoá thương mại là năng lực cạnhtranh theo nghĩa hẹp, khi xem xét năng lực cạnh tranh chỉ xem xétnăng lực cạnh tranh so với sản phẩm cùng loại trong nước Hoặcnếu có xem xét cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của nước ngoàithì vẫn chỉ xem xét dưới góc độ được bảo hộ tức là năng lực cạnhtranh cộng với các điều kiện về bảo hộ như thuế quan, chi phí vậntải hoặc các hàng rào phi thuế quan khác.

Khi quá trình tự do hoá thương mại trở thành một trào lưucủa hầu hết các nước thì quá trình này sẽ ảnh hưởng đến mọi mặtcủa nền kinh tế đặc biệt là ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh củasản phẩm của các nước

Tự do hoá thương mại trong tương lai thúc đẩy tăng trưởngkinh tế, thu nhập của người dân tăng các nước tăng lên theo Điều

đó sẽ làm tăng nhu cầu về các loại sản phẩm có giá trị cao Sựgiao lưu kinh tế và văn hoá giữa các khu vực, các dân tộc trongđiều kiện toàn cầu hoá sẽ dần dần làm thay đổi thói quen tiêudùng của người dân ở mỗi nước Vì vậy yêu cầu đối với sản phẩmngày càng cao hơn và sản phẩm nào đáp ứng được nhanh nhấtnhững yêu cầu của người tiêu dùng sẽ có năng lực cạnh tranh cao

và đứng vững trên thị trường

Buôn bán hàng hoá bán thành phẩm chiếm tỷ trọng lớn vàngày càng tăng Toàn cầu hoá khiến cho qui trình sản xuất được

Trang 39

thực hiện xuyên biên giới, nghĩa là các khâu độc lập của quá trìnhsản xuất được đặt ở nhiều quốc gia khác nhau Chi phí thông tingiảm và hệ thống vận tải được cải thiện cho phép phân phối hàngđúng thời hạn và phối hợp sản xuất nhịp nhàng Các qui tắcthương mại thế giới khuyến khích mạng lưới sản xuất toàn cầu vàviệc giảm hàng rào thuế quan đã và sẽ thúc đẩy thương mại nội bộcông ty gia tăng.

Cạnh tranh sẽ diễn ra ngày càng gay gắt trên cả 3 cấp độ lànền kinh tế, doanh nghiệp và hàng hoá Như trên đã đề cập, tự dohoá thương mại khiến cho mọi quốc gia dần dần mở cửa thịtrường của mình đối với các lĩnh vực, biên giới kinh tế quốc gia

bị lu mờ dần Các nhà sản xuất có thể thâm nhập vào mọi nơi trênthế giới để khai thác những thị trường tiềm năng Có nghĩa là bất

cứ nơi nào cũng diễn ra cạnh tranh nhằm tiêu thụ sản phẩm Bảo

hộ sẽ dần được loại bỏ tạo ra không gian mới cho cạnh tranh

Tự do hoá thương mại tác động đến năng lực cạnh tranh củasản phẩm trên hai góc độ: góc độ quốc gia và quốc tế Góc độ thứnhất là năng lực cạnh tranh trên phạm vi quốc gia Cùng với quátrình tự do hoá thương mại các nước tham gia vào quá trình đóphải điều chỉnh các chính sách quản lý kinh tế của mình cho phùhợp những quy định cũng như các cam kết mà quốc gia của mìnhcam kết với quốc tế Trong quá trình điều chỉnh này hàng loạt cácchính sách, luật pháp, quy định…cần phải được điều chỉnh Điềuảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm Điềunày có thể thấy rõ nhất là cùng với tự do hoá thương mại các quốc

Trang 40

gia sẽ bắt buộc phải cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuếquan-vốn là những công cụ bảo hộ trong nước hữu hiệu trước kia-

do đó sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của một số hàng hoá vàdịch vụ trong nước do hàng hoá nhập khẩu sẽ rẽ đi Và tình trạngnày có nguy cơ làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hoá nàyngay trên chính thị trường trong nước Tuy nhiên, đối với một sốhàng hoá phải nhập khẩu nguyên liệu đầu vào thi sẽ có lợi hơntrong điều kiện tự do hoá thương mại

Đối với những sản phẩm xuất khẩu, tự do hoá thương mại sẽtạo điều kiện thuận lợi hơn đối với xuất khẩu khi các hàng hàngrào thuế quan và phi thuế quan được bãi bỏ cũng với rất nhiều cácquy định khác được nới lỏng Tuy nhiên, đây mới chỉ xem xétdưới góc độ hẹp, nếu so sánh dưới góc độ rộng hơn thì chưa chắc

tự do hoá thương mại đã tạo thuận lợi cho xuất khẩu hay nâng caokhả năng lực tranh của hàng hoá và dịch vụ Trong nhiều trườnghợp tự do hoá thương mại làm giảm năng lực cạnh tranh của hànghoá và dịch trên phạm vi quốc tế Bởi vì, tự do hoá thương mạidiễn ra đối với tất cả các quốc gia tham vào quá trình tự do hoáthương mại Do đó các quốc gia có lợi thế cạnh tranh cao hơn sẽ

có lợi nhiều hơn và các quốc gia có lợi thế cạnh tranh kém hơn sẽphải đối mặt với sự cạnh tranh của các quốc gia có lợi thế cạnhtranh cao hơn Tương tự, một số sản phẩm vốn trước kia sốngđược nhờ các hình thức bảo hộ này sẽ gặp phải nhiều khó khănhơn trên thị trường nội địa Một trong những ví dụ rõ nét nhất đócùng với quá trình tự do hoá thương mại ngành dệt may sản phẩm

Ngày đăng: 07/05/2016, 20:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bạch Thụ Cường (2002) Bàn về cạnh tranh toàn cầu, Nxb, Thông tấn, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạch Thụ Cường (2002) "Bàn về cạnh tranh toàn cầu
2. Bộ thương mại (1997). Những điều cần biết về thị trường EU, NXB Nông nghiệp 1997, Hà nội, Tr 25-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ thương mại (1997). "Những điều cần biết về thị trường EU
Tác giả: Bộ thương mại
Nhà XB: NXB Nông nghiệp 1997
Năm: 1997
3. Bộ Thương mại (1999), Tổ chức thương mại thế giới (WTO): Cơ hội và thách thức với các doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Thương mại (1999), Tổ chức thương mại thế giới (WTO): "Cơ hội và thách thức với các doanh nghiệp
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 1999
6. Christopher Arup (1998), The new World Trade Organization Agrements, Nxb Cambrigdge, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Christopher Arup (1998), "The new World Trade Organization Agrements
Tác giả: Christopher Arup
Nhà XB: Nxb Cambrigdge
Năm: 1998
7. Chu Văn Cấp (2003), Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chu Văn Cấp (2003), "Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Chu Văn Cấp
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
8. Đại học Kinh tế quốc dân (2002) Đổi mới phương thức gia công xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế. Đại học Kinh tế quốc dân và JICA, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại học Kinh tế quốc dân (2002) "Đổi mới phương thức gia công xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế
9. Đại học kinh tế quốc dân (2003) Chính sách công nghiệp và thương mại của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, Nxb Thống kê, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại học kinh tế quốc dân (2003) "Chính sách công nghiệp vàthương mại của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
Nhà XB: Nxb Thống kê
10. Đỗ Kim Chi (1999) Thị trường hàng dệt may thế giới và khả năng xuất khẩu của Việt Nam Đề tài cấp bộ, Bộ thương mại, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Kim Chi (1999) "Thị trường hàng dệt may thế giới và khả năng xuất khẩu của Việt Nam
11. Đinh Văn Thành (2001), Dự báo thị trường thế giới đến năm 2010, Đề tài nhánh số 3 thuộc đề tài cấp Nhà nước“Chính sách và giải pháp phát triển thị trường hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001-2010, tầm nhìn đến 2020”, Viện nghiên cứu thương mại, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Văn Thành (2001), Dự báo thị trường thế giới đến năm 2010, Đề tài nhánh số 3 thuộc đề tài cấp Nhà nước “"Chính sách và giải pháp phát triển thị trường hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001-2010, tầm nhìn đến 2020
Tác giả: Đinh Văn Thành
Năm: 2001
12. Khalid Nadvi và những người khác (2002), Globalization and the Vietnamese Garment Industry: A trade and value chain analysis on responses to global challenges. WTO, Thuỵ sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khalid Nadvi và những người khác (2002), "Globalization and the Vietnamese Garment Industry: A trade and value chain analysis on responses to global challenges
Tác giả: Khalid Nadvi và những người khác
Năm: 2002
13. Krugnam K.R., Obstfeld M (1996), Kinh tế học quốc tế-lý thuyết và chính sách, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Krugnam K.R., Obstfeld M (1996), "Kinh tế học quốc tế-lý thuyết và chính sách
Tác giả: Krugnam K.R., Obstfeld M
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
14. Lê Thị Anh Vân (2003), Đổi mới chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Lao Động, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thị Anh Vân (2003), "Đổi mới chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Lê Thị Anh Vân
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2003
15. Lưu Lực (2002), Toàn cầu hoá kinh tế lối thoát của Trung Quốc là ở đâu, Nxb, Khoa học xã hội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu Lực (2002), "Toàn cầu hoá kinh tế lối thoát của Trung Quốc là ở đâu
Tác giả: Lưu Lực
Năm: 2002
16. Montague Lord (2002), “Khả năng cạnh tranh xuất khẩu của Việt Nam: liên kết giữa chính sách thương mại và Sách, tạp chí
Tiêu đề: Montague Lord (2002), “
Tác giả: Montague Lord
Năm: 2002
19. Nguyễn Văn Dân (2001) Những vấn đề của toàn cầu hoá kinh tế, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Dân (2001) "Những vấn đề của toàn cầu hoá kinh tế
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
21. Phạm Quang Thao (1997) Thị trường Nhật bản, Nxb Văn hoá Thông tin 1997, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Quang Thao (1997)" Thị trường Nhật bản
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin 1997
22. Phạm Thị Quý (2002), Chuyển đổi mô hình kinh tế ở Việt Nam- thực trạng và kinh nghiệm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Thị Quý (2002), "Chuyển đổi mô hình kinh tế ở Việt Nam- thực trạng và kinh nghiệm
Tác giả: Phạm Thị Quý
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
23. Philip Kotler (2000) Quản trị marketing, Philip Kotler, Nxb Thống Kê, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Philip Kotler (2000) "Quản trị marketing, Philip Kotler
Nhà XB: Nxb Thống Kê
24. Tổng cục thống kê (2003), Niên giám Thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng cục thống kê (2003)", Niên giám Thống kê
Tác giả: Tổng cục thống kê
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003
25. The WTO, Secretariat (2001), From GATT to the WTO, Nxb Kluwer Law International, Thuỵ sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: The WTO, Secretariat (2001), "From GATT to the WTO
Tác giả: The WTO, Secretariat
Nhà XB: Nxb Kluwer Law International
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Mối liên kết giữa các nhân tố quyết định lợi thế - Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may việt nam trong điều kiện tự do hoá thương mại
Hình 1 Mối liên kết giữa các nhân tố quyết định lợi thế (Trang 27)
Bảng 2. Nhập khẩu sản phẩm may của Ca-na-đa và Mỹ năm - Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may việt nam trong điều kiện tự do hoá thương mại
Bảng 2. Nhập khẩu sản phẩm may của Ca-na-đa và Mỹ năm (Trang 45)
Bảng 3. So sánh những sản phẩm may xuất khẩu có kim ngạch cao nhất vào thị trường Mỹ của Việt Nam và Trung - Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may việt nam trong điều kiện tự do hoá thương mại
Bảng 3. So sánh những sản phẩm may xuất khẩu có kim ngạch cao nhất vào thị trường Mỹ của Việt Nam và Trung (Trang 46)
Đồ thị 2: Thị phần áo jackét của các nước đang phát triển tại - Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may việt nam trong điều kiện tự do hoá thương mại
th ị 2: Thị phần áo jackét của các nước đang phát triển tại (Trang 54)
Bảng 6. Thị phần áo khoác, jacket dệt thoi sợi nhân tạo tại thị - Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may việt nam trong điều kiện tự do hoá thương mại
Bảng 6. Thị phần áo khoác, jacket dệt thoi sợi nhân tạo tại thị (Trang 55)
Bảng 7. Giá đơn vị tại thị trường EU: áo khoác, jacket dệt - Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may việt nam trong điều kiện tự do hoá thương mại
Bảng 7. Giá đơn vị tại thị trường EU: áo khoác, jacket dệt (Trang 56)
Bảng 10. Nhập khẩu sản phẩm may của Nhật Bản năm 2001 - Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may việt nam trong điều kiện tự do hoá thương mại
Bảng 10. Nhập khẩu sản phẩm may của Nhật Bản năm 2001 (Trang 58)
Đồ thị 3 : Thị phần áo sơ mi dệt thoi sợi nhân tạo tại thị - Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may việt nam trong điều kiện tự do hoá thương mại
th ị 3 : Thị phần áo sơ mi dệt thoi sợi nhân tạo tại thị (Trang 60)
Bảng 12. Giá đơn vị áo sơ mi dệt thoi sợi nhân tạo tại thị - Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may việt nam trong điều kiện tự do hoá thương mại
Bảng 12. Giá đơn vị áo sơ mi dệt thoi sợi nhân tạo tại thị (Trang 61)
Bảng 11. Thị phần áo sơ mi dệt thoi sợi nhân tạo tại thị - Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may việt nam trong điều kiện tự do hoá thương mại
Bảng 11. Thị phần áo sơ mi dệt thoi sợi nhân tạo tại thị (Trang 61)
Bảng 13. Nhập khẩu lụa thô và các sản phẩm lụa 1999-2000 - Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may việt nam trong điều kiện tự do hoá thương mại
Bảng 13. Nhập khẩu lụa thô và các sản phẩm lụa 1999-2000 (Trang 63)
Bảng 14. Kết quả xuất khẩu sản phẩm may so với xuất khẩu - Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may việt nam trong điều kiện tự do hoá thương mại
Bảng 14. Kết quả xuất khẩu sản phẩm may so với xuất khẩu (Trang 69)
Đồ thị 4 . Xuất khẩu sản phẩm may Việt Nam giai đoạn 1995- - Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may việt nam trong điều kiện tự do hoá thương mại
th ị 4 . Xuất khẩu sản phẩm may Việt Nam giai đoạn 1995- (Trang 71)
Bảng 15. Lợi thế so sánh của các nước ASEAN - Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may việt nam trong điều kiện tự do hoá thương mại
Bảng 15. Lợi thế so sánh của các nước ASEAN (Trang 73)
Bảng 16. Sản lượng một số sản phẩm may chủ yếu Mặt hàng ĐV - Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may việt nam trong điều kiện tự do hoá thương mại
Bảng 16. Sản lượng một số sản phẩm may chủ yếu Mặt hàng ĐV (Trang 76)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w